TÊN ĐỀ TÀI Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam và những vấn đề đặt ra Tháng 9 năm 2022 MỞ ĐẦU Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng phổ biến khách quan trên thế giới do sự phát t.
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam và
những vấn đề đặt ra
Tháng 9 năm 2022
Trang 2MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng phổ biến khách quan trên thế giới do sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế, dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật cũng như đòi hỏi đáp ứng các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế ngày càng cao…đã cuốn hút hầu hết các quốc gia vào xu thế đó với những mức độ không giống nhau Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra những cơ hội và thách thức lớn cho Việt Nam trong quá trình mở rộng kinh
tế đối ngoại
Là một nước nghèo trên thế giới, sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam đang bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, từ một nền kinh tế tự túc nghèo nàn bắt đầu mở cửa tiếp xúc với nền kinh
tế thị trường rộng lớn đầy rẫy khó khăn, sức ép Nhưng đứng trước xu thế phát triển tất yếu, nhận thức được cơ hội mà hội nhập đem lại, Việt Nam không thể khước từ hội nhập
Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam rất nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đem lại không ít khó khăn thử thách Nhưng theo chủ trương chính sách của Đảng: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” nên sẽ dần dần từng bước cố gắng để hội nhập kinh tế quốc tế, chủ trương hòa nhập không hòa tan vào kinh tế thế giới
Nhóm xin chọn đề tài: “Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam và những vấn đề đặt ra” Đây là đề tài sâu rộng, mang tính thời sự, do sự
hiểu biết hạn chế của bản thân, nhóm em xin đóng góp một phần kiến thức của mình phân tích trong vấn đề này
Trang 3NỘI DUNG
1 Thực trạng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Sau hơn 35 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, tham gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước được hiện thực hóa một cách sinh động:
Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn Nối lại các quan hệ với các nước lớn: Trung Quốc, Hoa Kỳ, kết quả Chính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam năm 1994, Tổng thống Mỹ tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam năm 1995, tháng 7/2000, ký Hiệp định Thương mại Việt Nam -Hoa Kỳ Khai thông và phát triển quan hệ với Nhật Bản và năm 1992 Chính phủ Nhật nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam Năm 1991, Chính phủ Australia bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán với Việt Nam Năm 1992, Việt Nam - Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trong tổ chức Liên hiệp quốc và có quan hệ kinh tế - thương mại, gần
60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được xem là một trong những nước có nền kinh tế hướng xuất khẩu mạnh mẽ nhất trong khối các nước ASEAN Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh
tế đa phương
Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN và tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), từ tháng 1 năm 1996 bắt đầu thực hiện nghĩa
Trang 4vụ và các cam kết trong chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của AFTA, theo đó đến 1/1/2006, Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết với mức thuế nhập khẩu còn 0 - 5% (trừ một số mặt hàng nông sản nhạy cảm sẽ thực hiện vào năm 2010), ngoài ra Việt Nam còn tham gia đàm phán các hiệp định, chương trình như: Hiệp định về thương mại, dịch vụ, chương trình hợp tác trong các lĩnh vực giao thông, nông nghiệp Tháng 3 năm 1996, Việt Nam là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), nội dung hợp tác chủ yếu là tập trung vào quá trình tự do hóa thương mại, đầu tư và hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp Á - Âu Tháng 6 năm 1996, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), đến cuối năm 1998 được công nhận chính thức là thành viên của tổ chức này Đây là Diễn đàn hợp tác kinh tế được thành lập từ năm 1998, đến nay có 21 nền kinh
tế thành viên ở châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương Tổng số dân của các thành viên APEC là 2,67 tỷ người, chiếm 41% dân số thế giới; tổng GDP khoảng 31,6 ngàn tỷ USD, bằng 57% GDP thế giới; tổng giá trị thương mại khoảng 5,5 ngàn tỷ USD, bằng khoảng 50% thương mại thế giới Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia các hoạt động của Diễn đàn này một cách có hiệu quả
Tháng 11-2006, sau một tuần Việt Nam gia nhập WTO, nước ta đã đăng cai tổ chức Tuần lễ cấp cao APEC lần thứ 14 rất thành công, tạo được tiếng vang lớn với nhiều ấn tượng tốt đẹp về một Việt Nam đang phát triển ổn định, là một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài, tạo nên sự tăng trưởng ngoạn mục trong thu hút FDI trong các năm 2007 và 2008 Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này Đây là sự kiện đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào kinh tế thế giới
Với việc gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách kinh
tế, thương mại, đầu tư đồng bộ, theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, góp phần quan trọng cho việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam Trong những năm gần đây, thế giới đang được chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của các Hiệp định thương mại tự do để thiết lập các Khu vực thương mại
tự do Phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực, tiến
Trang 5trình đàm phán và ký kết các FTA của Việt Nam đã được khởi động và triển khai cùng với tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực
Việt Nam đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trong khung khổ của 6 FTA khu vực, bao gồm: ASEAN – Trung Quốc vào năm 2004, ASEAN – Hàn Quốc vào năm 2006, ASEAN – Nhật Bản năm 2008, ASEAN – Ôt-xtrây-lia và ASEAN – Niu-Di-lân vào năm 2009, ASEAN – Ấn Độ năm 2009 Ngoài việc ký kết và tham gia các Hiệp định Thương mại tự do với tư cách là thành viên khối ASEAN thì Hiệp định Thương mại tự do đầu tiên mà Việt Nam ký kết với tư cách là một bên độc lập là Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (2008), tiếp đó là Hiệp định Thương mại tự
do Việt Nam – Chi Lê (11/11/2011), đã đăng cai năm APEC 2006 và tiến tới sẽ đăng cai APEC năm 2017 với hàng trăm cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao
Điểm nổi bật hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là tháng 10/2015 Việt Nam đã hoàn tất đàm phán để ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 02/2016 Đây là một Hiệp định được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21 Việc tham gia vào Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình hội nhập kinh tế khu vực đem lại, đồng thời Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực châu Á
- Thái Bình Dương nói riêng
Từ 2015 đến nay, Việt Nam đã hội nhập quốc tế khá toàn diện và đầy đủ trên tất
cả các lĩnh vực Những kết quả quan trọng nổi bật trên các lĩnh vực chính trị, an ninh -quốc phòng, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo đã khẳng định chủ trương, chiến lược đúng đắn của Đảng và vai trò quan trọng của công tác hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh, phức tạp, khó dự báo
Việt Nam hiện có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ
Là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng, như Liên minh châu Âu
Trang 6(EU), Nhật Bản, Mỹ Ở tất cả các thị trường mà Việt Nam có ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đều ghi nhận xuất khẩu tăng trưởng vượt trội hằng năm Năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 245 tỷ USD, tăng 13,8%; xuất siêu đạt 7,2 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay
Đặc biệt, chúng ta đã chủ động, linh hoạt thực hiện thành công việc ký kết và thực thi có hiệu quả các FTA với các đối tác thương mại quan trọng (cũng là đối tác chiến lược) của Việt Nam, như Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á - Âu (mà trọng tâm là Nga), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Trong đó, CPTPP và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) là các FTA thế hệ mới, cấp độ tiêu chuẩn cao hơn, cân bằng lợi ích, toàn diện với những nội dung thương mại phi truyền thống, như di chuyển thể nhân, lao động, công đoàn, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, bảo vệ môi trường
Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một
“mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới mới (gồm 12 FTA đã ký, 4 FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tư do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam), đồng thời tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc
tế cao của khu vực và thế giới, góp phần tăng trưởng kinh tế ổn định và chuyển đổi
cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng phát triển các ngành hàng để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các thị trường đã có FTA với Việt Nam
2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam
Quá trình mở cửa, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam Thể hiện trên những mặt chính sau:
Thứ nhất, tác động tới phát triển kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế về cơ bản đã tác động tích cực và dài hạn , góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển
Trang 7kinh tế của đất nước trong thời gian qua: hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy tăng trưởng giá trị thương mại hai chiều giữa Việt Nam với các đối tác, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn FDI, ODA cho phát triển kinh tế đất nước
Thứ hai, tác động tới năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Thông qua những cam kết minh bạch, rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm huy động nguồn vốn và các nguồn lực khoa học – công nghệ cho phát triển nền kinh tế Bên cạnh đó, cũng thông qua tính minh bạch và hấp dẫn của môi trường đầu tư, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, hài hòa hóa các quy trình,… hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam tại các thị trường trong và ngoài nước
Thứ ba, thông qua việc mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia trong khu vực
và thế giới, Việt Nam đã tiếp thu được khoa học - công nghệ mới và cách quản lý tiên tiến trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật, văn hóa - xã hội… góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh… Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cũng đã góp phần đào tạo cho Việt Nam có được đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ và năng lực cả về chuyên môn lẫn quản lý Hội nhập kinh
tế quốc tế cũng góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, cải cách thể chế kinh tế thị trường, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Thứ tư, tác động tới việc xây dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ Thông qua hoàn thiện môi trường kinh doanh, Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần nâng cao
Trang 8năng lực canh tranh quốc gia Việc thực hiện các cam kết trong các khuôn khổ hợp tác, đặc biệt là trong khuôn khổ Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) và việc gia nhập WTO đã giúp Việt Nam hoàn thiện được một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ và đồng bộ với quy định của WTO, tạo ra môi trường kinh doanh ngày càng bình đẳng và thông thoáng hơn Ngoài ra, thông qua quá trình đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do các đối tác đã công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ
Thứ năm, tác động tới xã hội, văn hóa, môi trường, chính trị, an ninh quốc phòng Trong quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã chú trọng thực hiện các vấn đề an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo Việt Nam đã mở rộng đối tượng và tăng mức trợ cấp cho các đối tượng bảo trợ xã hội, hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo trợ xã hội cũng ngày càng được hoàn thiện thêm nữa, các chính sách bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc cũng tăng cường thực hiện Các vấn đề về môi trường cũng được để ý và giải quyết Ngoài ra, Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần nâng cao các thiết chế dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đi đôi với đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Thông qua Hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là thông qua việc tham gia ASEAN và các Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam đã mở rộng, tăng cường, liên kết và hợp tác với các nước, điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội Song song với đó, hoạt động an ninh quốc phòng tiếp tục được đảm bảo, chính trị được giữ ổn định góp phần bảo vệ vững chắc tổ quốc
3 Những hạn chế trong quá trình hội nhập
Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế muốn thành công phải trên cơ sở phát huy
nội lực của nền kinh tế, nhưng chúng ta chưa làm tốt điều này, trong hội nhập còn thua thiệt, hạn chế, còn xảy ra những vụ kiện tranh chấp
Thứ hai, chúng ta vẫn chưa xác lập được một cách thật sự bền vững môi trường
kinh doanh và đầu tư thuận lợi cho phát triển kinh tế, quan hệ với một số đối tác thương mại quan trọng của ta còn nhiều trở ngại, nhất là quan hệ của ta với các nước đối tác lớn
Thứ ba, việc triển khai các cam kết chưa kịp thời, sự phối hợp giữa các cấp, các
ngành còn chưa nhịp nhàng và đồng bộ
Trang 9Thứ tư, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
về hội nhập kinh tế quốc tế chưa được các cấp, các ngành quán triệt đầy đủ, chậm được cụ thể hóa và thể chế hóa; các đơn vị chưa thực sự chủ động tận dụng các cơ hội, cũng như chưa thấy được thách thức mới nảy sinh để chủ động ứng phó, chưa lường trước các tác động tiêu cực từ bên ngoài để có những biện pháp hạn chế hữu hiệu
Thứ năm, hội nhập kinh tế quốc tế gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, phát triển
bền vững chưa được tiến hành đồng bộ với quá trình gia tăng liên kết giữa các vùng, miền trong cả nước Cơ chế chỉ đạo, điều hành, giám sát và phối hợp quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ Trung ương đến địa phương, giữa các ban, ngành còn nhiều bất cập
Thứ sáu, hội nhập quốc tế về các lĩnh vực khác chưa thực sự gắn kết và tạo tác
động tích cực đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; trong nhiều trường hợp còn bị động
4 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KTQT Ở VIỆT NAM
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần phải có những biện pháp sau để hòa nhập mà không hòa tan với nền kinh tế thế giới:
Một là, thống nhất nhận thức, tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu
rộng và toàn diện, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế, trở thành động lực quan trọng góp phần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo lập môi trường kinh doanh và đầu tư thực sự minh bạch, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài
Hai là, đổi mới cách thực hiện và nâng cao hiệu quả các cơ chế phối hợp hiện
có giữa các ban chỉ đạo liên ngành với nhau và giữa các bộ, ngành, địa phương để phù hợp với những chuyển biến nhanh của tình hình hội nhập kinh tế quốc tế Vai trò của công tác phối hợp trong nước cần có những bước chuyển quan trọng, làm nền tảng xây dựng các định hướng lớn về hội nhập kinh tế quốc tế tập trung vào phát huy nội lực, nâng cao “quốc lực” của nền kinh tế, tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập kinh tế quốc
tế thành công hơn nữa Phát huy mạnh mẽ hiệu lực và hiệu quả của cơ chế liên ngành, nâng cao hiệu quả phối hợp từ Trung ương đến địa phương để hỗ trợ doanh nghiệp
Trang 10trong quá trình triển khai các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc của doanh nghiệp về các vấn đề chính sách và thực thi cam kết FTA, giúp doanh nghiệp tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, thực sự là lực lượng nòng cốt của nền kinh tế
Ba là, cần có sự đồng bộ về chính sách và thống nhất về hành động từ Trung
ương đến địa phương, giữa các bộ, ngành, hiệp hội, doanh nghiệp Tập trung triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc
tế, trong đó chú trọng việc nâng cao toàn diện năng lực thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế Theo đó, gắn việc thực thi đầy đủ các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế với quá trình rà soát, bổ sung và hoàn thiện pháp luật và thể chế trong nước, hài hòa pháp luật của Việt Nam với các cam kết quốc tế; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh
tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường đôn đốc, giám sát và đánh giá tình hình thực thi các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong việc ứng phó với sức ép cạnh tranh gay gắt trên cả các cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp, ngành hàng và quốc gia; đồng thời giải quyết khéo léo các lĩnh vực được coi là nhạy cảm của nền kinh tế trước áp lực cắt giảm thuế quan, như
ô-tô, mía đường, gạo, xăng dầu
Bốn là, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp cần chủ động nâng
cao hiểu biết và vận dụng hiệu quả các luật lệ, quy định về kinh tế, thương mại cũng như tập quán của các thị trường nước ngoài, nhất là các thị trường đã có FTA với Việt Nam, bảo đảm có thể bảo vệ được lợi ích của sản phẩm, doanh nghiệp, quốc gia trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại Đây là bài học quan trọng khi các FTA mới
mà Việt Nam đang và sẽ thực thi đòi hỏi phải cải cách sâu sắc hệ thống pháp luật trong nước, không chỉ về kinh tế, thương mại mà cả các vấn đề thương mại phi truyền thống, như quyền của người lao động, tiêu chuẩn lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ Trong các FTA thế hệ mới, có nội dung nhà đầu tư nước ngoài có thể kiện chính phủ và các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương nước sở tại nếu có các quyết định sai, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, do
đó, việc phân cấp giấy phép đầu tư cho các địa phương cần nâng cao năng lực các cơ quan địa phương, tránh xảy ra kiện