TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAMKHOA DƯỢC TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TRIẾT HỌC Đề tài 4: Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM
KHOA DƯỢC
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài 4: Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Hạnh Sinh viên thực hiện: Đặng Mai Thiên Hà
Mã sinh viên: 1575020053 Lớp: Dược- 1504
Hà Nội, tháng 4 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I 4
CON NGƯỜI - CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 4
2 Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội 6
3 Người lao động là yếu tố quyết định lực lượng sản xuất 7
CHƯƠNG II 8
TÌNH TRẠNG THỰC TIỄN 8
CHƯƠNG III 10
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGUỒN NHÂN LỰC 10
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay khi cả thế giới đã bước vào thời đại công nghệ, khoa học kỹ thuật có mặt trong mọi thứ, việc nghiên cứu về phạm trù của con người và vấn
đề về con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất vẫn luôn được đặt lên hàng đầu Lý do chính là bởi con người đóng vai trò là chủ thể, là mấu chốt, là điểm khởi đầu và cũng là cái đích của cả một quá trình dài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phương thức duy nhất để phát triển nền kinh tế thế giới nói chung và bất kỳ một quốc gia nào nói riêng, bỏ qua quá trình này sẽ khiến cả một đất nước đi chậm lại so với thời đại, lạc hậu so với thế giới
Cũng như bao quốc gia khác, Việt Nam không hề nằm ngoài quy luật chung đó Thế mạnh của Việt Nam chính là chúng ta có đông dân số, mặt khác,
đó cũng có thể trở thành gánh nặng cho đất nước nếu dân không được qua quá trình đào tạo, thay vào đó nếu họ được đào tạo bài bản chu đáo sẽ là một nguồn nhân lực mạnh mẽ tác động trực tiếp lên tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia
và cũng sẽ tạo nên sức hấp dẫn to lớn đối với các vốn đầu tư nước ngoài Có thể nói thứ quý giá nhất trong nguồn tài nguyên con người chính là trí tuệ Sự hiểu biết của con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội, luôn cố gắng tiếp tục nghiên cứu những nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác và
sử dụng, phát hiện hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên mới vốn không có sẵn trong tự nhiên Đi kèm với trí tuệ là sức lao động của con người bởi bộ óc điều khiển đôi bàn tay, nghĩa là bằng trí tuệ và lao động con người đã tiến hành hoạt động biến đổi tự nhiên làm nên lịch sử xã hội, đồng thời trong quá trình đó
đã biến đổi cả bản thân mình Cho đến ngày nay khi lực lượng sản xuất đã và đang tiếp tục phát triển thì con người vẫn có sức mạnh áp đảo vì con người luôn luôn đã và vẫn là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội
Con người ngày càng thể hiện rõ vai trò là “chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia” Vì
Trang 4vậy đối với một đất nước vẫn còn trong tình trạng lạc hậu như Việt Nam để có thể đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đưa sự nghiệp cách mạng lớn lao đó đến thành công, chúng ta phải phát triển con
người, đào tạo đội ngũ những người lao động lên một tầm cao mới Vậy có những phương pháp nào để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay? Các phương pháp được tiến hành ra sao, quy mô như thế nào? Tất cả đều được triết học giải đáp, do đó mà em chọn đề tài “Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay”
Trang 5CHƯƠNG I CON NGƯỜI - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay
Đầu tiên ta xét về người lao động: Vấn đề tăng thêm nguồn thu nhập để cải thiện điều kiện sống, để bù đắp lại các hao phí lao động mà người lao động đã bỏ ra, phát triển và hoàn thiện bản thân, tạo cơ hội thuận lợi cho cá nhân được tham gia các hoạt động xã hội như vui chơi, giải trí…, tiếp thu thêm kiến thức để nâng cao tầm hiểu biết và phát huy được năng lực tiềm năng sẵn có của bản thân cho công việc, doanh nghiệp và cho cả xã hội Tiếp đến ta xét về công ty: Nó sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc khai thác nguồn nhân lực sẵn có Đồng thời biết sử dụng nguồn nhân lực đó một cách có hiệu quả để năng suất lao động không ngừng được nâng cao đi kèm với cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển, thúc đẩy sự cạnh tranh với các mặt hàng cùng loại trên thị trường
Xét về mặt xã hội: Khi năng suất lao động xã hội đã được tăng lên nhờ phát huy động lực cho người lao động, dẫn đến nền kinh tế của xã hội sẽ tăng trưởng Theo đó khi đó con người sẽ cảm thấy yêu thích, vui, tự hào khi được lao động, xã hội sẽ ngày càng phát triển và văn minh hơn
Con người với ý thức chủ quan thuần túy không thể tạo ra cũng như vô hiệu hóa các quy luật của thế giới khách quan, nhưng lại có thể hiểu được các quy luật này để áp dụng vào hoạt động thực tiễn nhằm hạn chế các mặt tiêu cực, có hại, các khía cạnh tích cực và có lợi của một loại nhất định thì được phát huy Con người có khả năng nhận thức thế giới và phát triển quá trình này đến mức có thể hình thành nên các lĩnh vực khoa học Khoa học,
Trang 6khi được áp dụng vào thực tế, đã giúp con người tăng sức mạnh và biết sử dụng các lực lượng tự phát của tự nhiên hiệu quả để sản xuất ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội
2 Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội.
Ta có thể nói rằng lao động là hoạt động xã hội vì vậy nên mọi sự khác biệt giữa con người và động vật đều là kết quả của cuộc sống con người trong xã hội Cá nhân là một thực thể xã hội, và bản chất con người mang tính lịch sử cụ thể Điều này quyết định sự khác biệt giữa con người ở các thời đại khác nhau, và sự khác biệt này phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội, những thay đổi trong quan hệ xã hội và sự tương tác Vì vậy, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội hiện tại và quá khứ Từ đó ta rút
ra được ba kết luận về bản chất con người: Đầu tiên bản chất phổ biến và sâu sắc nhất là tổng hòa các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội diễn ra hiện nay và trong quá khứ Tiếp theo, bản chất con người không cố định mà có tính lịch sử cụ thể và cuối cùng là không thể hiểu bản chất con người bên ngoài mối quan hệ giữa cá cá nhân và xã hội Mối quan hệ trong lao động là bàn không khí tập thể trong công ty, bao gồm những điều như: mối quan hệ giữa lãnh đạo với công nhân, mối quan
hệ giữa công nhân với công nhân Những mối quan hệ này nếu tốt đẹp và thuận lợi sẽ tạo ra một môi trường thoải mái, một bầu không khí hòa thuận cho mọi người cùng quan điểm góp phần xây dựng doanh nghiệp Người tốt giúp đỡ người yếu kém làm công việc của cấp trên giao, gần gũi với cấp dưới, thấu hiểu, chia sẻ khó khăn, cùng cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ được giao để công ty, doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả, tiềm năng của những người lao động vươn lên Nếu các mối quan hệ này không tốt có thể ảnh hưởng đến công việc kinh doanh, gây bất ổn nội bộ, gây xích
Trang 7mích, mất đoàn kết, người lao động trì trệ, không còn hứng thú với công việc Qua
những điều trên ta có thể thấy, trong cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tạo động lực cho người lao động là chìa khóa quan trọng để xây dựng và phát triển một doanh nghiệp, xí nghiệp vững mạnh
3 Người lao động là yếu tố quyết định lực lượng sản xuất.
Con người sử dụng thể lực của mình và một số bộ phận của cơ thể làm thành phần vật chất của tự nhiên, tham gia vào lực lượng sản xuất và tác động đến các bộ phận khác của giới tự nhiên Trong quá trình cải tạo tự nhiên, đồng thời con người cũng chuyển mình, để sức mạnh của mình trước thiên nhiên không ngừng được nâng cao Con người không chỉ tham gia vào lực lượng sản suất với sức mạnh cơ bắp, mà còn có cả trí óc và cả
ba hoạt động thể chất và ý thức của họ Phần vật chất của năng suất con người được điều khiển bởi trí thông minh, vì vậy nó trở nên khéo léo, linh hoạt và uyển chuyển, sự năng động làm cho không bộ phận vật chất nào của tự nhiên có tính sáng tạo như các cơ quan vật chất của cơ thể con người Con người không chỉ nắm vai trò quyết định sự ra đời của các công
cụ và máy móc, mà còn nắm bắt sự vận hành và tính hữu dụng của chúng Con người cũng luôn luôn cải tiến đối tượng lao động Vào buổi bình minh của lịch sử, sức lao động sản xuất còn thấp, con người chủ yếu dựa vào đối tượng lao động do tự nhiên cung cấp Nền sản xuất càng phát triển, khả năng nhận thức của con người càng mạnh, tư liệu và công cụ lao động càng tân tiến thì đối tượng lao động nhân tạo càng chiếm tỉ trọng cao hơn những đối tượng có sẵn trong tự nhiên Vì vậy, con người là cơ quan chủ yếu của lực lượng sản xuất, đồng thời họ sử dụng tất cả các yếu tố của lực lượng sản xuất Con người là nhân tố năng động nhất quyết định năng suất
Vì chỉ có yếu tố con người mới có trí tuệ cũng và có khả năng tự phát triển,
Trang 8tự hoàn thiện Người lao động không chỉ tái sản xuất ra sức lao động mà chất lượng lao động cũng luôn được nâng cao do kế thừa và phát triển các yếu tố xã hội
Con người làm ra lực lượng sản xuất tới đâu thì năng lực sản xuất của mình cũng tăng lên tới đó Có thể nói rằng con nguời là chủ thể và cũng là động lực chủ đạo để quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất
Không có con người thì không có quá trình sản xuất
Trang 9CHƯƠNG II TÌNH TRẠNG THỰC TIỄN
Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay
Việt Nam hiện đang có những bước phát triển đột phá và tiến bộ Tuy nhiên, năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn thua xa so với thế giới và thậm chí là Đông Nam Á
Về số lượng nguồn nhân lực: Việt Nam hiện có nguồn lao động dồi dào
so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Năm 2020, tổng dân số của Việt Nam là 97.757.118, trở thành quốc gia đông dân thứ ba ở Đông Nam Á, trong đó có 54,56 triệu người trong độ tuổi lao động (chiếm gần 58% dân số) Tỷ lệ dân số tham gia lực lượng lao động cao nhất ở nhóm tuổi 25-29
Tiếp theo về chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo: Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam đang ở mức thấp hơn trong thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có kỹ năng và tay nghề cao Lực lượng lao động Việt Nam cho thấy, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề và công nhân
kỹ thuật trình độ cao Chỉ có 11,39 triệu người (chiếm 20,87%) có trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo bằng cấp/ chứng chỉ (gồm sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học) và sau đại học, chiếm 20,92% tổng lực lượng lao động Tỷ lệ lao động được đào tạo đã tăng đáng kể trong 10 năm qua, nhưng vẫn còn 76,9% người tham gia lực lượng lao động chưa được đào tạo chuyên ngành Trong lúc nền kinh tế nước nhà đang khan hiếm nguồn nhân lực có trình độ cao, kỹ thuật tốt ở nhiều ngành nghề như vị trí tư vấn, thiết kế, quản trị nhân sự, lãnh đạo doanh nghiệp cấp cao, luật sư, khoa học môi trường, kỹ sư công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, kỹ sư điện, điện tử, cơ khí, logistics… thì giới thanh niên sau khi tốt nghiệp ra trường
Trang 10chủ yếu là cử nhân tài chính, ngân hàng, kế toán, luật, hành chính văn phòng…, đồng thời Việt Nam cũng
đang thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề để tăng năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp thì hầu hết thanh niên học xong lớp 12 đã chọn đi theo con đường học đại học Trong khi những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm và phẩm chất lao động công nghiệp hiện đại tại doanh nghiệp thì thanh niên ra trường thường chỉ được trang bị những lý thuyết chung, năng lực thực tiễn yếu, thiếu những kỹ năng sống cơ bản quan trọng Đặc biệt, lao động trình độ cao còn yếu tin học và ngoại ngữ, thiếu những công cụ sắc bén để làm việc đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng làm việc độc lập và nâng cao năng suất
Xét về đặc điểm địa lý: lực lượng lao động (từ tiểu học trở lên) được đào tạo có trình độ, chứng chỉ ở thành thị gấp 2,5 lần ở nông thôn Tỷ lệ lực lượng lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ cao nhất ở Đồng bằng sông Hồng (31,8%) và Đông Nam bộ (27,5%), thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (13,6%)
Năng suất lao động: Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm
2019, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,6% của Singapore; 19,5% của Malaysia; 37,9% của Thái Lan; 45,6% của Indonesia; 56,9% của Philippines và 68,9% của Brunei
Còn về phía nhu cầu: Mô hình tăng trưởng của chúng ta chưa thúc đẩy nhu cầu và chất lượng của lao động trình độ cao Mô hình tăng trưởng hiện nay với các trụ cột chính của Việt Nam là: khai thác tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ và chất lượng thấp, đầu tư vốn lớn và dễ dàng, và khu vực doanh nghiệp nhà nước mạnh nhưng hiệu quả không cao Kết quả là cơ cấu công nghiệp của chúng ta bị biến dạng - thiếu cơ sở công nghiệp hỗ trợ, thiếu sức mạnh thương mại liên kết và tham gia chuỗi sản xuất thế giới,
Trang 11thiếu lao động có tay nghề cao để dẫn dắt nền kinh tế nên không thể cạnh tranh và phát triển bình thường
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGUỒN NHÂN LỰC
Để hỗ trợ cải thiện được tình hình nguồn nhân lực hiện nay, Chính phủ
và các cơ quan chức năng cần có chính sách, biện pháp kết hợp giữa đào tạo và sử dụng lao động vào tình hình chung của phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng nguồn lao động hiệu quả, chất lượng cao, cần thiết cho sự phát triển yêu cầu kinh tế Cụ thể:
Thứ nhất, Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực kết hợp với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế; xác định rõ xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định và các tổ chức, cũng như trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị
Thứ hai, các cơ quan chức năng của Chính phủ cần có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết những vấn đề cấp bách và duy trì sự lâu dài về nguồn nhân lực, bao gồm phát triển, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực Những người không được đào tạo ở trường lớp vẫn là những người tạo ra năng suất, có kỹ năng và kinh nghiệm làm việc Ở các nước phát triển, việc chuẩn hóa được thực hiện bằng bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề hoặc chuẩn năng lực quốc gia, doanh nghiệp cũng có thể tự đào tạo theo bộ tiêu chuẩn này, người lao động tự học, tự đào tạo, thực hiện công nhận trình độ kỹ năng, năng lực hành nghề theo khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia Thứ ba, Nhà nước cần có kế hoạch điều phối, tạo nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức; xây dựng kế hoạch phát triển, đào tạo, tu dưỡng và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực Bên cạnh đó, nên chủ động hội nhập, để có thể hội nhập sâu hơn vào môi trường kinh doanh và phát triển
Trang 12quốc tế với mục tiêu phát triển bền vững nguồn nhân lực chúng ta cần chủ động hội nhập với những định hướng cơ bản là: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về phát triển nguồn nhân lực phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng không trái với thông lệ và luật pháp quốc tế
về lĩnh vực này mà chúng ta tham gia, ký kết, cam kết thực hiện; Thiết lập khung trình độ quốc gia phù hợp với khu vực và thế giới Xây dựng lộ trình nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo để đạt được khung trình độ quốc gia đã xây dựng, phù hợp chuẩn quốc tế và đặc thù Việt Nam; Tham gia kiểm định quốc tế chương trình đào tạo Thực hiện đánh giá và quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, liên kết, trao đổi về giáo dục và đào tạo đại học, sau đại học và các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và thế giới; Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà giáo, nhà khoa học có tài năng và kinh nghiệm của nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực đại học và nghiên cứu khoa học, công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam; Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực
xã hội, kêu gọi đầu tư nước ngoài, thu hút các trường đại học, dạy nghề có đẳng cấp quốc tế vào Việt Nam hoạt động
Thứ tư là không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, học vấn Hiện nay, nhìn chung trình độ học vấn bình quân đầu người của cả nước chỉ khoảng lớp 6 Tỷ lệ người biết chữ mới đạt khoảng 93% Vì vậy, cần phải tìm mọi cách để nâng cao trình độ dân trí của cả nước và thực hiện việc học tập và lao động cho toàn xã hội
Và cuối cùng, cả nước cần tổng kết lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực Việt Nam hàng năm, đồng thời đánh giá và rút ra những kinh nghiệm kịp thời, trên cơ sở đó xây dựng chính sách nguồn nhân lực mới của Việt Nam, điều chỉnh các chính sách nhân lực hiện có như hướng nghiệp, dạy