Đối tượng của tâm lý học lứa tuổi: Là một ngành của Tâm lý học TLH, đối tượng nghiên cứu của nó là động lựcphát triển theo lứa tuổi của con người, sự phát triển cá thể của các quá trìn
Trang 1PHẦN I.
TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
Chöông I.KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI
VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
I Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý lứa tuổi và tâm lý học sư phạm:
1 Đối tượng của tâm lý học lứa tuổi:
Là một ngành của Tâm lý học (TLH), đối tượng nghiên cứu của nó là động lựcphát triển theo lứa tuổi của con người, sự phát triển cá thể của các quá trình tâm
lý và cả những phẩm chất tâm lý trong nhân cách của con người
Tâm lý học lứa tuổi bao gồm những ngành như TLH tuổi thơ, TLH thiếu niên,TLH lứa tuổi thanh niên… TLH được gọi chuyên ngành này là TLH phát triển:xem xét quá trình con người trở thành nhân cách như thế nào?
TLH lứa tuổi nghiên cứu các đặc điểm của các quá trình và các phẩm chất tâm
lý riêng lẻ của cá nhân ở các lứa tuổi khác nhau Và sự khác biệt của chúng ởmỗi cá nhân trong cùng một lứa tuổi
TLHLT nghiên cứu các dạng hoạt động khác nhau của các cá nhân đang đượcphát triển
2 Đối tượng của Tâm lý học sư phạm (TLHSP):
Nghiên cứu những quy luật tâm lý của việc dạy học và giáo dục TLHSP nghiêncứu những vấn đề:
TLH của việc điều khiển qúa trình dạy học
Nghiên cứu sự hình thành của quá trình nhận thức
Tìm tòi những tiêu chuẩn đáng tin cậy của sự phát triển trí tuệ
Những điều kiện để đảm bảo phát triển trí tuệ có hiệu quả trong quá trình dạyhọc
Xem xét những vấn đề về mối quan hệ qua lại giữa nhà giáo dục và học sinhcũng như mối quan hệ giữa học sinh với nhau
Ngoài ra, TLHSP còn nghiên cứu những vấn đề gắn liền với sự đối xử cá biệt đốivới học sinh Mỗi lứa tuổi có những khó khăn và thuận lợi riêng Do vậy đòi hỏi phải
có phương pháp đối xử riêng…(nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục)
3 Mục đích và nhiệm vụ:
3.1 Mục đích:
TLHLT:
TLHLT cung cấp những quy luật chung nhất của sự phát triển tâm lý ở trẻ em (từ
sơ sinh thanh niên)
+ Các giai đoạn lứa tuổi, những đặc điểm tâm lý đặc trưng cho từng lứa tuổi
+ Các hoạt động chủ đạo tương ứng
+ Trên cơ sở những tri thức khoa học đó giúp cho học sinh (HS) có cơ sở khoa học
để cải tiến nội dung, chương trình giáo dục và giảng dạy ở trường phổ thông sau này
Trang 2+ Trên cơ sở đó giúp người học có sự chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai củamình
3.2 Nhiệm vụ: Từ những nghiên cứu đó, TLHLT&TLHSP có nhiệm vụ:
Rút ra những quy luật chung của sự phát triển nhân cách theo lứa tuổi
_ Những quy luật lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong quản lý quá trình giáodục và dạy học
_ Cung cấp những kết quả nghiên cứu để tổ chức hợp lý quá trình sư phạm, đểnâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập
_ Những kiến thức TLHLT & TLHSP sẽ giúp chúng ta tìm ra được những nguyênnhân, đưa ra những biện pháp tác động hợp lý đối với những trẻ phát triển không theoquy luật (sớm hoặc muộn hơn…) Tất cả đều diễn ra theo một quy luật nhất định
4 Mối quan hệ giữa TLHLT & TLHSP:
Sự thống nhất giữa TLHLT & TLHSP là do chúng có đối tượng nghiên cứu chung:trẻ em nói chung hay là lứa tuổi từ vườn trẻ đến thanh niên…
Đối tượng này là đối tượng của TLHLT nếu chúng được nghiên cứu về mặt độnglực phát triển theo lứa tuổi, và là đối tượng của TLHSP nếu chúng được xem như làngười học và người được giáo dục
TLH mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông là những ngành củaTLHLT
TLH dạy học, TLH giáo dục, TLH nhân cách và TLH thầy giáo thuộc TLHSP
Cả TLHLT & TLHSP đều là những chuyên ngành của TLH đều dựa trên cơ sở củaTLH đại cương TLH Đại Cương cung cấp cho TLHLT & TLHSP những khái niệm
cơ bản về càc hiện tượng tâm lý
TLHLT & TLHSP gắn bó chặt chẽ và thông nhất với nhau vì chúng có khách thểnghiên cứu là những con người bình thường ở các giai đoạn phát triển khác nhau.TLHLT chỉ có thể được nghiên cứu nếu không dừng ở mức độ thực nghiệm màđược tiến hành trong điều kiện của việc dạy và học, trong điều kiện tự nhiên của trẻ.Như vậy, TLHLT & TLHSP đều nghiên cứu trẻ em trong quá trình dạy học vàgiáo dục Do đó sự phân chia ranh giới giữa 2 phân ngành chỉ có tính tương đối
4.1 Sự ra đời của TLHLT:
Lý do ra đời:
+ Sự phát triển của TLH Đại cương & TLH Thực nghiệm đã dẫn các nhà tâm lýnghiên cứu những hiện tượng tâm lý ở các lứa tuổi, nhờ đó TLH Đại cương thu đượcrất nhiều tài liệu phong phú về lứa tuổi Từ đây người ta nhận rằng những quy luật củaTLH Đại cương không đủ giải thích những hiện tượng tâm lý của các lứa tuổi
+ Sự xuất hiện học thuyết tiến hoá của Lamac & Dacuyn đã gợi ý cho khoa họctâm lý có thể nghiên cứu các hiện tượng tâm lý theo sự phát triển của cá thể
+ Những người công tác trong ngành y tế và đặc biệt là trong ngành giáo dục luônphải va chạm với những phản ứng độc đáo của đặc điểm tâm lý lứa tuổi Trong sự tiếpxúc của các nhà khoa học giáo dục với trẻ em nổi lên ở trẻ những đặc điểm phát triểntrí tuệ độc đáo mà TLHĐC chưa giải thích được Do đó đã nảy sinh và hình thành mộtngành khoa học mới – ngành TLH Lứa Tuổi
4.2 Sự ra đời của TLH Sư phạm:
Được hình thành vào những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Lúc đầunhững vấn đề của TLHSP còn nằm trong TLH Thực nghiệm & Giáo dục học thựcnghiệm
+Những tác phẩm của TLHSP ra đời đầu tiên phải kể đến là: Tâm lý học Sư phạm(1877) của nhà giáo dục kiêm tâm lý học người Nga P.F.Kavterev, Cuốn “Nói chuyệnvới giáo viên về TLH” (1902) của nhà TLH người Mỹ W.James…
Trang 3+TLHSP được chính thức ra đời khi mà các nhà giáo dục nhận thấy rằng tâm lýkhông chỉ được biểu hiện mà còn được hình thành trong hoạt động Từ đây, TLHSPnhận rõ đối tượng của mình là nội dung tâm lý của quá trình dạy học và giáo dục.
II Lý luận về sự phát triển Tâm lý của lứa tuổi
1 Khái niệm về sự phát triển Tâm lý của trẻ
Các quan niệm về trẻ em:
+ Quan niệm thứ 1: Trẻ em là “người lớn thu nhỏ lại” Họ cho rằng sự khác nhau
giữa trẻ em và người lớn về các mặt như cơ thể, tư tưởng, tình cảm… chỉ ở kíchthước, tầm cỡ chứ không phải khác nhau về chất
+ Quan niệm thứ 2: J.J Rutxô (1712-1778), ngay tứ thế kỷ XVIII đã nhận xét rất
tinh tế về những đặc điểm tâm lý của trẻ Theo ông, trẻ em không phải là người lớnthu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyệnvọng, tình cảm độc đáo của trẻ em Bởi vì trẻ em có cách nhìn, cách suy nghĩ và cảmnhận riêng của nó Sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất
2 Quan điểm sai lầm về sự phát triển Tâm lý của trẻ
2.1 Quan điểm duy tâm:
_ Họ cho rằng sự phát triển tâm lý của lứa tuổi là sự tăng hoặc giảm về số lượngcủa các hiện tượng đang được phát triển chứ không phải có sự biến đổi về chất Chính
vì thế mà họ nhìn nhận sai lầm về nguồn gốc của sự phát triển tâm lý Sự phát triểnnày diễn ra theo một sức mạnh nào đó mà con người không thể điều khiển được,không nhận thức được, không thể nghiên cứu được
2.2 Thuyết tiền định, duy cảm hội tụ 2 yếu tố:
+ Thuyết tiền định:
_ Quan niệm này coi sự phát triển tâm lý là do các tiềm năng sinh vật gây ra, khi rađời con người đã có tiềm năng này Mọi đặc điểm tâm lý chung và có tính chất cá thểđều là tiền định, có sẵn trong cấu trúc sinh vật Sự phát triển chỉ là quá trình trưởngthành của những thuộc tính đã có sẵn từ đầu và được quyết định bằng con đường ditruyền Gần đây, sinh học đã phát hiện ra cơ chế gen của di truyền Người ta đã liên hệnhững thuộc tính của nhân cách, năng lực cũng được mã hoá… trong các trang bị gen.Ngoài ra, theo họ môi trường là yếu tố điều chỉnh, thể hiện Họ hạ thấp vai trò củagiáo dục Coi giáo dục chỉ là yếu tố bên ngoài làm tăng hoặc kìm hãm quá trình bộc lộnhững phẩm chất tự nhiên
Từ đó họ rút ra những kết luận sư phạm (KLSP) sai lầm là: Sự can thiệp vào quátrình phát triển tự nhiên của trẻ không thể tha thứ được
Duy tâm chủ quan phủ định bất cứ một thực tại nào ngoài ý thức của chủ thể –được quy định bởi tính tích cực của chủ thể
Đối lập với thuyết tiền định, thuyết duy cảm giải thích sự phát triển của trẻ chỉbằng những tác động của môi trường xung quanh Theo những người thuộc trườngphái này thì môi trường là nhân tố tiền định sự phát triển của trẻ em vì thế muốnnghiên cứu con người chỉ cần phân tích cấu trúc môi trường của họ: môi trường xung
Trang 4quanh như thế nào thì nhân cách của con người, cơ chế hành vi, những con đườngphát triển của hành vi sẽ như thế đó Nhưng các nhà TLH tư sản cho môi trường xãhội một cách siêu hình, coi môi trường xã hội là bất biến, quyết định trước số phậncon người, còn con người được xem như là đối tượng thụ động trước ảnh hưởng củamôi trường.
Quan điểm này xuất hiện ở nước Anh, coi trẻ em sinh ra như “tờ giấy trắng” hợac
“tấm bảng sạch sẽ” Sự phát triển tâm lý của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào tác động bênngoài, do vậy người lớn muốn vẽ trên tờ giấy cái gì thì nó nên thế…
Quan niệm như vậy sẽ không giải thích được vì sao trong môi trường như nhau lại
có những nhân cách khác nhau
+ Thuyết hội tụ 2 yếu tố:
Những người theo thuyết này tính tới tác động của hai yếu tố (môi trường và tính
di truyền) khi nghiên cứu trẻ em Nhưng họ hiểu về sự tác động của hai yếu tố đó mộtcách máy móc dường như sự tác động qua lại giữa chúng quyết định trực tiếp quátrình phát triển, trong đó di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường là những điềukiện để biến những đặc điểm tâm lý đã được định sẵn thành hiện thực
Theo họ, sự phát triển là sự chín muồi của những năng lực, những nét tính cách,những hứng thú và sở thích… mà trẻ sinh ra đã có Những nét và những đặc điểm tínhcách do cha mẹ hoặc tổ tiên truyền lại là tiền định
Một số người theo thuyết này có đề cập tới ảnh hưởng của môi trường đối với tốc
độ chín muồi của năng lực và nét tính cách được truyền lại cho trẻ (nhà tâm lý họcĐức V.Stecnơ) Nhưng môi trường không phải là toàn bộ những điều kiện và hoàncảnh mà đứa trẻ (hay người lớn) sống, mà chỉ là gia đình của trẻ Môi trường đó đượcxem như là cái gì riêng biệt, tách rời khỏi toàn bộ đời sống xã hội Môi trường xungquanh đó thường xuyên ổn định, ảnh hưởng một cách định mệnh tới sự phát triển củatrẻ Tác động của môi trường, cũng như ảnh hưởng của yếu tố sinh vật (di truyền) địnhtrước sự phát triển của trẻ, không phụ thuộc vào hoạt động sư phạm của nhà giáo dục,vào tính tích cực ngày càng tăng của trẻ
Thuyết hội tụ hai yếu tố cũng sai lầm không kém gì thuyết tiền định và thuyết duycảm Tính chất máy móc, siêu hình cảu các quan niệm này đều đã bị phê phán
Mặc dù quan niệm của những người đại diện cho các thuyết trên bề ngoài có vẻkhác nhau, nhưng thực chất đều có những sai lầm giống nhau
+Họ đều thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất biến hoặc tiền định, hoặc
là do tiềm năng sinh vật, di truyền, hoặc là ảnh hưởng của môi trường bất biến Vớiquan niệm như vậy thì trong trường hợp nào con em tầng lớp đều có đặc quyền, đặclợi cũng đều có trình độ phát triển tâm lý hơn con em bị giai cấp bóc lột (do họ có tổchức di truyền tốt hơn hoặc do họ sống trong môi trường trí tuệ có tổ chức cao) Dovậy sự bất bình đẳng trong xã hội là tất nhiên, là hợp lý
+Họ đánh giá không đúng vai trò của giáo dục Phủ nhận tính tích cực riêng của cánhân, những mâu thuẫn biện chứng là không có giá trị trong quá trình phát triển tâm
lý Coi đứa trẻ là một thực thể tự nhiên thụ động cam chịu ảnh hưởng của môi trường
tự nhiên hoặc yếu tố sinh vật
3 Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lý trẻ em
Triết học Mác Lênin khẳng định sự phát triển là quá trình biến đổi của sự vật từthấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đó là quá trình tích luỹ dần về số lượng dẫnđến sự thay đổi về chất lượng, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ do sự đấutranh giữa các mặt đối lập nắm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng
Quan điểm này được vận dụng để xem xét sự phát triển tâm lý của trẻ
Trang 5+Sự phát triển tâm lý của trẻ không phải là sự tăng hoặc giảm về số lượng mà làmột quá trình biến đổi về chất lượng tâm lý Sự thay đổi về lượng chất, hình thànhcái mới một cách nhảy vọt.
Những đặc điểm mới về chất như những cấu tạo tâm lý mới ở những giai đoạn lứatuổi nhất định
Trong các giai đoạn phát triển khác nhau, có sự cải biến về chất của các quá trìnhtâm lý và toàn bộ nhân cách trẻ em
+Xét trong toàn cục, phát triển là một quá trình kế thừa Sự phát triển tâm lý trẻ em
là một quá trình trẻ em lĩnh hội nền văn hoá xã hội của loài người
Bằng lao động của mình, con người ghi lại bằng kinh nghiệm, năng lực… trongcác công cụ sản xuất, các đồ dùng hằng ngày, các tác phẩm văn hoá nghệ thuật… conngười đã tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn xã hội của mình trong các đối tượng do ngườitạo ra và các quan hệ con người với con người Ngay từ khi ra đời đứa trẻ đã sốngtrong thế giới đối tượng và những quan hệ đó Đứa trẻ không chỉ thích nghi với thếgiới đồ vật và hiện tượng do con người tạo ra mà còn lĩnh hội thế giới đó Đứa trẻ đãtiến hành những hoạt động mà trước đó loài người đã thể hiện vào trong đồ vật, hiệntượng Nhờ cách đó nó lĩnh hội được những năng lực… đó cho mình Quá trình đó làquá trình tâm lý trẻ phát triển
_ Những biến đổi về chất trong tâm lý sẽ đưa trẻ từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khácmức độ của trình độ trước là sự chuẩn bị cho trình độ sau
* Tóm lại sự phát triển tâm lý của trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng Chính hoạt động của trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm lý của
nó được hình thành, phát triển.
Mặt khác, TLH Mácxít cũng thừa nhận rằng sự phát triển tâm lý chỉ có thể xảy ratrên nền một cơ sở vật chất nhất định Chúng là tiền đề, điều kiện cần thiết nhưng nókhông quyết định sự phát triển tâm lý Sự phát triển này còn phụ thuộc vào những yếu
tố khác nữa
4 Quy luật chung về sự phát triển tâm lý trẻ em
+ Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý:
Trong những điều kiện bất kỳ, hay thuận lợi nhất của việc giáo dục thì những biểuhiện tâm lý cũng không thể phát triển như nhau Tuỳ các thời kỳ khác nhau có thể đảmbảo cho sự phát triển tối ưu của các hoạt động tâm lý Giai đoạn thuận lợi nhất cho sựphát triên tâm lý là khoảng thời gian từ 1 5 tuổi Cho sự vận động là lứa tuổi họcsinh tiểu học Cho sự hình thành tư duy toán học là lứa tuổi 1520
+ Tính trọn vẹn của tâm lý:
Có nghĩa: sự phát triển tâm lý là sự chuyển biến dần các trạng thái tâm lý thànhcác đặc điểm tâm lý cá nhân Từ các tâm trạng rời rạc thành các nét của nhân cách Vídụ: Tâm trạng vui vẻ thoải mái… nảy sinh trong lao động sẽ chuyển thành lòng yêulao động (một nét của nhân cách)
Tính trọn vẹn của tâm lý còn phụ thuộc vào động cơ chỉ đạo hành vi Từ tuổi mẫugiáo thích hành động nhằm thoả mãn một điều gì đó, động cơ luôn thay đổi Lứa tuổithanh niên hành động theo động cơ xã hội
Trang 6* Sự phát triển tâm lý của trẻ không tuân theo quy luật sinh học mà tuân theo quyluật xã hội Do đó, con người muốn trở thành thực thể người với đầy đủ tính xã hộicủa nó phải tồn tại-sống, hoạt động trong một xã hội nhất định.
III Sự phân chia các giai đoạn phát triển tâm lý.
1 Quan niệm về giai đoạn phát triển tâm lý.
Quan niệm bản chất của sự phát triển tâm lý như thế nào thì quan niệm tương ứng
về lứa tuổi như vậy Mỗi một cách quan niệm đều có những cách phân chia khác nhau.TLH Mácxit cho rằng: trong từng giai đoạn lứa tuổi có những đặc điểm chung, đặctrưng cho lứa tuổi đó nhưng lứa tuổi không phải là phạm trù tuyệt đối, bất biến Tuổichỉ có ý nghĩa như là yếu tố thời gian trong quá trình phát triển của trẻ
2 Chỉ số về sự phát triển tâm lý của trẻ
+ Sự phát triển về mặt nhận thức:
Khối lượng tri thức (phạm vi, mức độ trẻ phản ánh hiện thực)
Đặc tính của phương thức phản ánh: trẻ tích luỹ tri thức và đồng thời hìnhthành phương thức phản ánh mới
Mặt khác, khi trẻ quan hệ với những người xung quanh thì hành động của trẻtrong quan hệ đó được gọi là hành vi Sự phát triển của hành vi được đo bằng
sự phát triển có ý nghĩa xã hội của hành vi đó Những hành vi có tính xã hộingày càng chiếm ưu thế trong hoạt động của trẻ Sự thay thế các dạng hoạtđộng chủ đạo giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển tâm lý của trẻ
Tóm lại: Sự phát triển của trẻ là sự phát triển liên tục, nhảy vọt và khá ổn định.Động lực của sự phát triển chính là những nhu cầu mới của cuộc sống xã hội và nănglực sẵn có của trẻ Sự phát triển đó được biểu hiện cụ thể ở các mặt cơ bản: nhận thức,tình cảm và hành động
3 Sự phân chia các giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em:
Muốn phân chia tâm lý lứa tuổi người ta dựa vào:
+Hệ thống những yêu cầu đề ra cho trẻ trong giai đoạn đó
+Bản chất của các mối quan hệ giữa trẻ với môi trường xung quanh
+Các kiểu tri thức và kểiu hoạt động mà trẻ nắm được
+Phương thức lĩnh hội các tri thức đó
+Đặc điểm về thể chất
Người ta đã chia các thời kỳ chủ yếu trong sự phát triển tâm lý của trẻ:
Giai đoạn trước tuổi học:
+ Tuổi sơ sinh: Thời kỳ 2 tháng đầu sau khi sinh
+ Tuổi hài nhi: Từ 2 tháng đến 12 tháng
+ Tuổi vườn trẻ: Từ 1 đến 3 tuổi
+ Tuổi mẫu giáo: Từ 3 đến 5 tuổi
Giai đoạn tuổi học sinh:
+ Nhi đồng (Đầu tuổi học): 6 11, 12 tuổi
Trang 7+ Thiếu niên (Giữa tuổi học): 11, 12 14, 15 tuổi
+ Đầu tuổi thanh niên (Cuối tuổi học): 16, 17, 18 tuổi
+ Thời kỳ sinh viên: 18 24 tuổi
+ Trưởng thành: 24, 25 người già:55 60 tuổi
Mỗi một thời kỳ có một vai trò, vị trí nhất định trong quá trình chuyển từđứa trẻ mới sinh sang một nhân cách trưởng thành Mỗi thời kỳ mangnhững nét tâm lý đặc trưng riêng Sự chuyển biến từ thời kỳ này sang thời
kỳ khác đều gắn với những cấu tạo tâm lý mới
Chương II
Trang 8TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
I Vài nét về tâm lý lứa tuổi trước tuổi thiếu niên
1 Trẻ trước tuổi vườn trẻ
Lứa tuổi được cha mẹ nuôi nấng:
+ Nuôi: cho ăn gì? Bao nhiêu Calo, Protein, Vitamin?
+ Nấng: ngụ ý chỉ mặt tâm lý? Làm sao cho ăn ngon, cho vui, tạo không khí thoảimái, nếu không mất ngon, dễ bỏ ăn, biếng ăn
Khi đến tuổi đi học cần đến thầy dạy dỗ:
+ Dạy: truyền đạt kiến thức, luyện tập kỹ năng, đọc, viết, tính toán, là khoa học sưphạm của người thầy
+ Dỗ: động viên khuyến khích, làm cho việc học có hứng thú, không ép buộc, tạotình nghĩa thầy, trò
Khi tìm hiểu trẻ cần xét trên cả 3 mặt: Sinh học(S), Xã hội(X), Tâm lý(T)
+ Mặt S là mặt sinh lý: tức là cơ chế hoạt động điều hoà xem có bệnh gì không,khoẻ hay yếu
+ Mặt X là mặt quan hệ xã hội, trong gia đình, lớp học, nhà trường, khu phố, làngxóm, anh chị em, họ hàng, láng giềng
+ Mặt T là mặt tâm lý: là những đặc điểm về trí khôn, tình cảm, phong cách, thóiquen, tính nết (cơ cấu tâm lý) và cách vận động của các hiện tượng tâm lý (tức cơ chếtâm lý)
Mỗi biến động về mặt này hay mặt khác đều tác động đến 2 mặt kia
Ví dụ: Bị bệnh (Sinh học)… chạy chữa (Xã hội),… làm nũng (Tâm lý)
2 Tuổi vườn trẻ, mẫu giáo
Từ lúc sinh ra đến tuổi vào lớp một, trẻ trải qua giai đoạn của lứa tuổi vườn trẻ.Trẻ lớn lên theo một quá trình phát triển tâm lý Chúng ta cần hiểu được đặc điểm tâm
lý để tìm hiểu trẻ thuộc tuổi nào? Cùng lứa tuổi có những nét chung và riêng gì?
Cần quan sát việc ứng xử của trẻ để suy đoán tâm lý: cơ cấu tâm lý, cơ chế tâm lý
để nhận xét sơ bộ về trẻ
Đo lường trí tuệ qua trắc nghiệm cụ thể để rút ra chỉ số IQ Ở tuổi này là mốc quantrọng để các em bước vào ngưỡng cửa của tuổi đi học Tạm biệt tuổi mẫu giáo để vàolớp một
3 Tuổi học sinh
3.1 Tuổi vào lớp một: trẻ được 6 tuổi đã đến tuổi đến trường Tiểu học Trẻ không
được phép nũng nịu, chiều chuộng mà phải đi học chữ Trẻ đến với môi trường khác
lạ (khác môi trường gia đình quen thuộc)
Là lứa tuổi đặt nền móng cho cả quãng đời đi học: Bước đầu các em có tâm lý náonức, tự hào, vui vẻ vì có quần áo mới, cặp, dép mới,…
Các em đến lớp đúng giờ, ăn mặc sạch sẽ, sách bút gọn gàng,…
Ngồi học nghiêm túc, không được chạy nhảy, học đúng lịch Các em biết nghe lờithầy cô giáo, tiếp thu kiến thức Thầy cô là người đại diện cho xã hội, cho cả một nềnvăn hoá và cả những quy tắc, quy chế nghiêm ngặt,…
Trang 9Các em sinh hoạt cùng nhau với bạn bè, bước đầu tập làm quen với sự giao tiếp.
Do vậy trẻ đã có những thay đổi:
+ Chuyển từ tư duy tình cảm duy kỷ (mẹ, gia đình) bước sang tư duy trừu tượngkhách quan Từ cách đi đứng nói năng các em đã phải kiềm chế (thời gian không đếntrường các em vẫn chạy nhảy xả hơi và nũng nịu)
+ Từ quan hệ ruột thịt đến quan hệ xã hội: từ hình mẫu cha mẹ, ông bà chuyểnsang hình mẫu thầy cô giáo Những điều đúng sai, nên hay không nên làm đều tuântheo một nguyên tắc, quy tắc nhất định Từ đó các em tự suy nghĩ chấp nhận nhữnggiá trị đạo đức, tinh thần do người lớn truyền đạt lại, bước đầu có ý thức về mình.+ Quan hệ bạn bè: một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cáchcủa trẻ là quan hệ với bạn Đây là dạng quan hệ bình đẳng (khác với quan hệ cha mẹ,ông bà, thầy cô, tôn ti trật tự) Các em tuổi 6, 7 chưa biết và chưa có khái niệm sinhhoạt tập thể, chỉ mới là sinh hoạt chung Sinh hoạt tập thể phải có sự phân công, tôntrọng quy ước, đã giao việc phải làm xong, chơi thua thì phải chịu thiệt
+ Tuổi lên 6, 7 quan hệ bạn bè dần dần chiếm một vị trí quan trọng, các em đã cómột cuộc sống riêng, không muốn người lớn, cha mẹ,… chen vào Bước đầu việc gìcác em cũng mách thầy cô nhưng càng về sau càng lớn các em tự hiểu rằng mách làxấu là phản bội tình bạn bè
3.2 Lên tuổi 9, 10 quan hệ bạn bè ở trường, lớp thường tự phát họp thành nhóm,
có quy ước với nhau, sinh hoạt riêng, nhiều nhóm đã có thủ lĩnh Các em muốn sinhhoạt riêng để khẳng định mình Đây là nhu cầu tự nhiên của trẻ Về sau các em có sựlựa chọn kết thân bạn bè một cách cố định Tuổi này tuy cùng lớp, cùng trường nhưng
đã phân biệt trai gái Ở tuổi này các em gái phát triển nhanh hơn về tâm lý so với emtrai
* Lưu ý: Lứa tuổi từ vườn trẻ trở đi vẫn có thể xảy ra sự rối nhiễu tâm lý:
+ Nếu trẻ thỉnh thoảng tè dầm, khóc đêm là hiện tượng bình thường còn lúc nàocũng tè dềm, cũng khóc đêm là bất bình thường Hoặc nghỉ học một vài buổi là bìnhthường nhưng ngày nào cũng nghỉ học là điều không bình thường
+ Ở tuổi này có trẻ bỏ ăn, gầy Y học và Tâm lý gọi đó là bệnh bỏ ăn mang tínhtâm lý Ranh giới giữa những hiện tượng thuộc về cá tính và thuộc về bệnh lý cũngkhó vạch ra
Để mô tả hiện tượng không bình thường (bất thường) Nguyễn Khắc Viện dùng từ
nhiễu loạn Nhiễu là bị phá rối, làm cho sự phát triển hoặc ngưng lại hoặc chệch đi nhưng chưa bị phá huỷ những cơ cấu bình thường Còn Loạn là tình trạng cơ cấu bị
tan rã, nhân cách bị phá vỡ, làm mất khả năng thích nghi
Nhiễu loạn có các mức độ:
+ Mâu thuẫn không giải quyết kéo dài gọi là khổ tâm (chưa mang tính bệnh lý) + Nếu bị phá rối sự phát triển hoặc ngừng, hoặc chệch gọi là nhiễu tâm.
+ Cơ cấu tâm lý bị tan rã, nhân cách bị phá vỡ gọi là loạn tâm (có tính bệnh lý)
Có thể phân các chứng nhiễu loạn tâm lý (căn cứ vào nguyên nhân):
Mặt thể chất (S): những bệnh chứng chủ yếu do nguyên nhân thể chất
Mặt quan hệ xã hội (X): do nguyên nhân XH gây ra
Mặt Tâm lý (T): bệnh chứng do nguyên nhân thuộc về tâm tính
Biểu hiện:
+ Nhiễu loạn có các chức năng: cảm giác, vận động, ngôn ngữ, ăn ngủ, …
+ Nhiễu loạn trong sự phát triển trí khôn (thiểu năng) hay (chậm phát triển): Sựphát triển chứa đầy đủ, trí không còn non dại (non là phát triển chưa đầy đủ còn dại là
cơ cấu và cơ chế trí tuệ không hoàn chỉnh… chậm khôn)
Trang 10+ Nhiễu loạn về tính tình: có hành ví quấy rối cuộc sống chung trong gia đình,trường học, xã hội – gọi là trẻ hư hỏng Trẻ này có 3 mức:
Trẻ trái tính: quấy rối nhưng vẫn giữ được cách sống bình thường, sự thích nghichưa bị phá vỡ
Trẻ dở chứng: hành vi lặp lại nhiều lần, ngăn cản sự thích nghi, nhưng toàn bộnhân cách không bị phá vỡ: gọi là loạn tâm
Trẻ mất định hướng trong không gian và thời gian: gọi là loạn tâm
II Vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý tuổi thiếu niên
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở có độ tuổi khoảng từ 11, 12 đến 14, 15 (từ lớp6 9)
Lức tuổi này có một vị trí đặc biệt trong suốt cả thời kỳ phát triển của trẻ Thời kỳnày được gọi bởi các tên: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổibất trị”… Chứng tỏ một điều rằng lứa tuổi này mang tính phức tạp riêng, có tầm quantrọng đặc biệt trong cả quá trình phát triên của trẻ
Là thời kỳ chuyển từ tuổi thơ ấu nhi đồng sang tuổi trưởng thành:
+ Sự khác biệt của lứa tuổi này với các lứa tuổi khác là: sự phát triển mạnh mẽ,thiếu cân đối về cơ thể, sự phát dục, sự hình thành những phẩm chất mới về trí tuệ…+ Xuất hiện các yếu tố mới của sự trưởng thành: tự ý thức, các kiểu quan hệ (vớingười lớn, với bạn bè), hoạt động học tập, hoạt động xã hội…
+ Sự phát triển nhân cách ở tuổi này là tính tích cực xã hội nhằm chiếm lĩnh giá trị,những chuẩn mực, những quan hệ… nhằm vào bản thân, thiết kế nhân cách của mình,thể hiện những mục đích, nhiệm vụ, hoạt động mang tính độc lập cao
+ Quá trình hình thành cái mới thường kéo dài, phụ thuộc vào điều kiện sống, vàcác điều kiện khác Vì thế sự phát triển tâm lý ở tuổi này diễn ra không đồng đều Dovậy, ở các em tuổi này tồn tại song song vừa tính trẻ con vừa tính người lớn Cũng vìthế, trong cùng độ tuổi giữa các em với nhau lại có sự phát triển khác nhau của tínhngười lớn Sự khác nhau này do hoàn cảnh sống, do hoạt động khác nhau tạo nên.Biểu hiện cụ thể của hoàn cảnh:
* Những yếu tố của hoàn cảnh kìm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉchuyên chú vào việc học, nhiều gia đình không cho trẻ hoạt động trong gia đình cũngnhư ngoài xã hội
* Những yếu tố thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, vềphát dục Nhiều gia đình quá bận bịu, có gia đình gặp khó khăn trong cuộc sống, đòihỏi các em phải lao động nhiều để kiếm sống Do vậy, trẻ sớm có tính độc lập, tính tựchủ trong suy nghĩ cũng như trong hoạt động… Từ những hoàn cảnh đó (những điềukiện khác nhau của cuộc sống) mà ở tuổi này có những hướng phát triển tính ngườilớn khác nhau:
+ Ở một số em kiến thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều nhưng trong cuộcsống thì ít hiểu biết, như trẻ con
+ Một số em ít quan tâm đến việc học ở nhà trường chỉ quan tâm là thế nào chohợp mốt, hợp thời cuộc, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, trao đổi các vấn đềtrong cuộc sống, tỏ ra mình như là người lớn
+ Một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài nhưng đang cốgắng rèn mình để trở thành như người lớn như dũng cảm, tự chủ, độc lập, quyết đoán,
… còn quan hệ với bạn khác giới lại như trẻ con
Những hướng phát triển tính người lớn vừa nêu trên tuy có khác nhau về chi tiếtnhưng tựu trung lại giống nhau là mong muốn trở thành người lớn Sự biểu hiện tínhngười lớn khác nhau nên hình thành giá trị của cuộc sống có nội dung khác nhau
Trang 11III Điều kiện phát triển tâm lý của tuổi thiếu niên
1 Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lý
Là lứa tuổi phát triển mạnh nhưng không đồng đều về cơ thể:
+ Vóc dáng lớn lên trông thấy Một năm các em cao lên khoảng 5, 6 cm Nữ ở độtuổi 12, 13 phát triển chiều cao nhanh hơn nam nhưng đến 18, 20 tuổi thì sự phát triểnchiều cao dừng lại Tuổi 15,16 của các em nam cao đột biến vượt nữ, đến 24, 25 thìdừng lại
+ Cơ thể hằng năm tăng từ 2, 4 đến 6 kg
+ Sự phát triển của hệ xương – chủ yếu là xương tay, xương chân (trừ các ngónchân, ngón tay) rất nhanh
Do vậy ở tuổi này các em không mập béo mà gầy, cao, thiếu cân đối, thiếu thậntrọng, không khéo léo trong làm việc, hay làm đỗ vỡ… Vì thế đã gây cho các em mộtbiểu hiện tâm lý khó chịu Các em tự ý thức được sự vụng về, lóng ngóng của mình,
cố gắng che dấu điệu bộ không tự nhiên để người khác không chú ý tới bề ngoài củamình
+ Sẽ là không tốt nếu có một sự mỉa mai chế giễu nhẹ nhàng về hình thể, tư thế,cách đi, dáng đứng đều gây cho các em những ức chế và có phản ứng mạnh mẽ
+ Sự phát triển thế chất ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý (không ổn định, thayđổi)
+ Sự phát triển hệ tim mạch: thể tích của tim tăng nhanh, hoạt động cũng mạnhhơn nhưng kích thước của mạch máu lại phát triển chậm Do đó, có một số rối loạntạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, hay nhức đầu, chóng mặt,mệt mỏi khi làm việc
+ Tuyến nội tiết hoạt động mạnh thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thầnkinh Do đó, các em dễ bị xúc động, dễ bực mình, dễ nổi khùng Vì thế, thường thấycác em có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ, có những cơn xúc động
+ Hệ thần kinh của tuổi này chưa đủ khả năng chịu những kích thích mạnh, kéo dàihoặc đơn điệu Do vậy, thường gây ức chế hoặc thường bị kích động mạnh Làm chotrẻ dễ bị uể oải, thờ ơ, lơ đễnh… Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây sựkhông chú ý
Sự thay đổi về thể chất làm cho các em ở lứa tuổi này có những đặc điểm nhâncách khác với các em lứa tuổi trước Vì vậy, các nhà giáo dục (trực tiếp là các thầy, côgiáo), phụ huynh,… thấy được đặc điểm này (nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao,
có nhiều dự định…) để tổ chức dạy học và giáo dục có hiệu quả
Một đặc điểm nữa không thể không nói đến là lứa tuổi ứng với thời ký phát dục.Phải lưu ý rằng: Đây là một hiện tượng bình thường, diễn ra theo quy luật sinh học,chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên và xã hội Ở các em trai vào khoảng 15, 16tuổi, ờ các em nữ có sớm hơn khoảng 13, 14 tuổi Thời kỳ này xuất hiện những dấuhiệu phụ của giới tính Phát dục sớm hay muộn còn phụ thuộc vào yếu tố dân tộc, khíhậu Chẳng hạn, các em sống ở miền Nam sớm hơn miền Bắc Ngoài ra còn phụ thuộcvào chế độ sinh hoạt của cá nhân, chế độ lao động, nghi ngơi, trạng thái tinh thần, chế
độ ăn uống… Hiện nay do sự phát triển về các mặt của đời sống xã hội nên đã có sựphát triển của thể chất cũng như phát dục
Kết luận sư phạm (KLSP): Ở tuổi này các em chưa kiểm tra được hành vi, tình
cảm, chưa biết xây dựng mối quan hệ tình cảm nên các nhà giáo dục cần giúp đỡ các
em một cách tế nhị, khéo léo để các em hiểu được thực chất vấn đề, đừng làm cho các
em băn khoăn lo lắng, gây tâm lý sợ hãi hoặc chán chường…
Trang 122 Sự thay đổi điểu kiện sống
2.1 Gia đình: Ở tuổi này, địa vị của các em đã thay đổi, được gia đình thừa nhận
như là một thành viên tích cực trong gia đình, được cha mẹ tin tưởng giao nhiệm vụnhư nấu cơm, giặt giũ, chăn nuôi,… Ở những gia đình neo đơn đã phải tham gia laođộng đóng góp thu nhập cho gia đình Và các em đã ý thức được điều này Một điểmnữa là các em được tham gia bàn bạc một số công việc trong gia đình Các em đã quantâm đến việc bảo vệ uy tín của gia đình hơn lứa tuổi trước
2.2 Nhà trường: Hoạt động học tập của các em ở lứa tuổi này có những thay đổi
đáng kể như:
+Nội dung dạy học: các em được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau Mỗi
môn học gồm một hệ thống tri thức, nhiều khái niệm trừu tượng, nội dung sâu sắc,phong phú Do vậy đòi hỏi các em phải thay đổi cách học, không học thuộc từng bài
mà phải biết cách làm đề cương để học theo cách hiểu của mình Khối lượng tri thứctăng nhiều, sự hiểu biết được mở rộng…
+ Có sự thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức dạy học:
Có sự tham gia giảng dạy của nhiều thầy cô, các em được học nhiều môn Mỗi mộtmôn có phương pháp phù hợp với nó; mỗi thầy, cô có cách trình bày riêng… Sự khácnhau này ảnh hưởng đến việc lĩnh hội tri thức, đến sự phát triển trí tuệ, nhân cách củacác em
Như vậy, so với nhà trường tiểu học, các em lứa tuổi này có nhiều thay đổi Tất cảnhững sự thay đổi đó là điều kiện quan trọng cho hoạt động nhận thức cũng như nhâncách của các em có sự thay đổi về chất
2.3 Xã hội: Các em được xã hội thừa nhận như là một thành viên tích cực và được
giao một số công việc như tuyên truyền, cổ động, giúp gia đình neo đơn nghèo khó,gia đình liệt sỹ… Lứa tuổi này ham thích làm công việc xã hội vì:
+ Có sức lực, muốn mọi người thừa nhận mình như là người lớn, được nhiều ngườibiết đến, và được cùng làm với người lớn
+ Được làm công tác xã hội là đã thể hiện mình là người lớn Vì các em cho rằngcông tác xã hội là công việc của người lớn Đó cũng là một nhu cầu của các em, bỏviệc nhà, việc học để tham gia công tác xã hội
+ Đây là dạng hoạt động tập thể Với các em tuổi này thường cũng thích nhữngcông việc mang tính chất tập thể, liên quan đến nhiều người, cùng tham gia với nhiềungười
+ Do tham gia công tác xã hội nên các em có quan hệ rộng, mở rộng được tầmhiểu biết của mình, kinh nghiệm cuộc sống phong phú, nhân cách hình thành và pháttriển
*Tóm lại: Sự thay đổi điều kiện sống, điều kiện hoạt động của tuổi thiếu niên
trong gia đình, nhà trường, xã hội mà vị trí của các em được nâng lên Các em ý thứcđược sự thay đổi và cố gắng tích cực hoạt động cho phù hợp Do vậy, đặc điểm tâm
lý, nhân cách của các em được phát triển phong phú hơn lứa tuổi trước đó
IV Hoạt động học và sự phát triển trí tuệ
1 Hoạt động học của học sinh THCS
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh, nhưng ở tuổi này được xây dựnglại một cách căn bản so với tuổi học sinh tiểu học Theo nghiên cứu của các nhà TLH:+ Thời kỳ đầu của tuổi này chưa có kỹ năng để tổ chức tự học (chỉ tự học khi cónhiệm vụ được giao)
+ Thời kỳ tiếp theo là độc lập nắm vững tài liệu mới
+ Hình thành mức độ hoạt động tự học tập mức độ cao nhất
Trang 13* Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng động cơ học tập của các em có cấu trúcphức tạp:
_ Động cơ xã hội được xếp thành một khối: học để phục vụ xã hội, lao động…_ Động cơ nhận thức và động cơ riêng (muốn có uy tín, địa vị trong lớp) liên quanvới sự tiến bộ và lòng tự trọng
_ Sự mâu thuẫn giữa muốn trao đổi ý thức và thái độ bàng quan, phớt lờ với điểmsố
* Sở dĩ có tình trạng trên là do các nguyên nhân sau:
+ Do sự thất bại trong học tập;
+ Do xung đột với giáo viên,
+ Do xúc động mạnh khi thất bại;
+ Do lòng tự trọng của các em thường thờ ơ với thành tích học tập của mình
_ Học sinh thường nhắc bài cho nhau bởi do các động cơ thuộc về nhận thức đạođức Các em nhắc bài là muốn giúp bạn – giúp bằng mọi phương tiện Có em muốn tỏ
rõ sự hiểu biết của mình, … Đó là động cơ đa dạng, phong phú…
Thái độ học tập của các em cũng rất khác nhau, được biểu hiện cụ thể:
+ Thái độ học tập: từ thái độ tích cực đến lười biếng trong học tập.
+ Sự hiểu biết: sự hiểu biết từ mức độ cao, lòng ham hiểu biết ở một số em đến
tầm hiểu biết kém ở một số em
+ Phương thức lĩnh hội: từ những em có kỹ năng học tập đến những em chưa có
kỹ năng hoặc học thuộc lòng
+ Hứng thú: từ có hứng thú đến hoàn toàn không có hứng thú học tập.
* Để giúp các em có thái độ đúng đắn với việc học:
+ Tài liệu học tập phải súc tích về nội dung khoa học
+ Tài liệu học tập phải gắn với cuộc sống của các em
+ Tài liệu phải gây được hứng thú
+ Khi trình bày phải gợi cho các em có nhu cầu tìm hiểu tài liệu
+ Phải giúp các em biết cách học, có phương pháp học cho phù hợp
2 Sự phát triển trí tuệ của học sinh THCS
Nếu trước đây các em học sinh tiểu học thường cố gắng ghi nhớ từng chữ, từng bàithì bây giờ các em học sinh THCS thường phản đối yêu cầu của giáo viên bắt họcthuộc lòng và có khuynh hướng tái hiện bằng lời nói của mình Vì thế giáo viên phải:+ Dạy cho HS phương pháp đúng đắn của việc ghi nhớ logic (kỹ năng biết phânđoạn theo ý nghĩa, biết tách ra các ý làm điểm tựa để nhớ, biết ôn tập, lập dàn bài sơlược để ghi nhớ…)
+ Cần giải thích cho các em rõ sự cần thiết phải ghi nhớ chính xác những địnhnghĩa, những quy luật Ở đây phải chỉ cho các em thấy nếu ghi nhớ thiếu một từ nào
đó, thì ý nghĩa của nó không còn chính xác nữa
+ Rèn luyện cho các em có kỹ năng trình bày chính xác nội dung bài học theo cáchdiễn của mình
+ Khi tổ chức quá trình ghi nhớ, học sinh THCS thường kiểm tra hiệu quả của ghi
nhớ bằng sự nhận lại: nhưng hiệu quả của ghi nhớ không phải đo bằng sự nhận lại,
mà bằng sự tái hiện Vì thế để kiểm tra sự ghi nhớ, phải bằng sự tái hiện thì mới biết
được hiệu quả của sự ghi nhớ
+ Một đặc điểm nữa trí nhớ của HS THCS là sự thiết lập các mối liên tưởng phứctạp hơn, gắn tài liệu mới với tài liệu cũ, đưa tài liệu cũ vào hệ thống trí thứcI.A.Xamarin và những người cộng tác với ông đã xác định quá trình hình thành hệthống tri thức đều dựa vào việc thiết lập những riêng lẻ (liên tưởng cục bộ) và liêntưởng hệ thống (trí thức về từng vấn đề tồn tại tách rời nhau) Đó là đặc điểm liên
Trang 14tưởng của học sinhTHCS, đặc điểm liên tưởng đó ở mức độ cao hơn, từ mức độ hìnhthành mối liên tưởng bên trong bộ môn đến mối liên tưởng giữa các môn học.
* Sự phát triển chú ý của HS THCS diễn ra phức tạp: chú ý có chủ định được hìnhthành, mặt khác do sự rung động, những ấn tượng,… đã có những dạng chú ý khôngbền vững ảnh hưởng đến quá trình học tập
* Hoạt động tư duy của các em lứa tuổi này cũng có những biến đổi cơ bản Do nộidung học tập phong phú phức tạp, mới mẻ nên đòi hỏi các em phải dựa vào tư duy độclập, khái quát, so sánh, phán đoán mới có thể rút ra kết luận, mới hiểu được tài liệu.Khả năng tư duy trừu tượng của các em được tăng lên hàng năm Do đó, trong dạy họcphải tạo mọi điều kiện để cho dạng tư duy này phát triển
V Giao tiếp của lứa tuổi THCS.
1 Hình thành quan hệ mới
+ Học sinh THCS có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn, mong người lớnquan hệ bình đẳng với họ như người lớn, không muốn người lớn coi chúng như trẻcon
+ Kiểu quan hệ như trước đây của người lớn với họ không phù hợp nữa Trẻ muốncải tổ lại quan hệ này Các em muốn người lớn tôn trọng nhân cách và mở rộng tínhđộc lập của các em
+ Các em thường có những thái độ như chống cự, không phục tùng… để duy trì sựthay đổi mối quan hệ
+ Việc chuyển kiểu quan hệ này là biểu hiện của kiểu quan hệ mới về chất Việcchuyển tiếp này có thể diễn ra thuận lợi hoặc khó khăn tuỳ thuộc vào thái độ củangười lớn
Nếu người lớn không chịu thay đổi kiểu quan hệ sẽ dễ gây ra xung đột Các em dễ
có những hành vi như xa lánh, không tin tưởng vào người lớn, cho rằng người lớnkhông hiểu, hoặc không chịu hiểu Tác dụng giáo dục bị giảm Như vậy, cần tạo điềukiện cho trẻ có khoảng thời gian hợp lý để giao lưu với bạn bè, người lớn (vui chơi,sinh nhật, học tổ, nhóm…)
2 Hoạt động giao tiếp của học sinh THCS với bạn bè
Mối quan hệ này rất phức tạp và đa dạng so với tuổi HS tiểu học Sự giao tiếp đãvượt ra ngoài phạm vi học tập, nhà trường, mở rộng những hứng thú mới… vì các emmuốn hoạt động tập thể, cùng nhau, cùng nhiều bạn bè, mặt khác muốn được bạn bèthừa nhận, công nhận, tôn trọng… Các em cho rằng mình có quyền quan hệ, nếu có sựcan thiệp thô bạo của người lớn không thuận hoà thì sự giao tiếp với bạn cùng lứacàng tăng, ảnh hưởng của bạn càng mạnh
+ Sự thiếu thốn tình bạn, sự bất hoà trong bạn bè Đặc biệt là thiếu bạn thân hoặctình bạn bị phá vỡ đều sinh ra những cảm xúc nặng nề, có thể dẫn đến những bi kịch.+ Có sự bất hoà trong tình bạn cùng lớp dễ dẫn đến sự kết bạn ngoài giới hạn(muốn bạn bè chú ý quan tâm và có thiện cảm với mình)
+ Đối với HS THCS điều quan trọng để kết bạn là những phẩm chất về tình bạn “
Bộ luật tình bạn” của họ là sự tôn trọng lẫn nhau, quan hệ bình đẳng, giúp đỡ lẫnnhau, trung thành, trung thực
+ Các em ở tuổi này thường thích giao tiếp, kết bạn Lúc đầu thích giao tiếp vớinhững em có uy tín được mọi người tôn trọng, phạm vi giao tiếp lúc đầu rộng khôngbền có tính chất tạm thời Đó là thời kỳ lựa chọn tìm kiếm bạn thân Những bạn thânthường có cùng hứng thú, có nguyện vọng hoặc những sự yêu thích nào đó thì họ gắn
bó với nhau, giao tiếp, chuyện trò, haọt động cùng nhau
Trang 15+ Trong giao tiếp các em cĩ ảnh hưởng đến nhau rất rõ rệt Chẳng hạn, mình làngười khơng thích hoạt động đĩ nhưng vì chơi với bạn nên lây sang chính mình Vìthế trong giao tiếp với bạn đã nảy sinh các hứng thú mới.
+ Bạn thân cũng cĩ thể trở thành hình mẫu cho mình Chẳng hạn những ưu điểm,những cái tốt ở bạn… làm cho mình phải suy nghĩ nghiêm túc…
+ Chuyện trị ở các em giữ một vai trị quan trọng, cĩ một ý nghĩa đáng kể Các em
cĩ thể nĩi cho nhau nghe tất cả những mặt sinh hoạt, đời sống, suy nghĩ,… cĩ khi nĩi
cả những điều bí mật với bạn bè (những điều mà các em chưa hẳn nĩi với người thântrong nhà) Vì thế các em cĩ yêu cầu cao với bạn; đã là bạn thì phải cởi mở, tế nhị,hiểu nhau, vị tha, đồng cảm và giữ bí mật cho nhau Các em thường cũng tranh luận,thảo luận với nhau về các vấn đề cĩ liên quan
Tĩm lại: hoạt động giao tiếp ở tuổi này là một hoạt động đặc biệt Nội dung của sự
giao tiếp là xây dựng quan hệ qua lại, những hành động trong quan hệ đĩ Nhờ hoạtđộng giao tiếp mà các em hiểu được người bạn, người lớn và hiểu được mình Quagiao tiếp, đã hình thành và phát triển một số kỹ năng so sánh, khái quát… hành vi củabạn, của mình làm phong phú thêm những biểu tượng về nhân cách (bạn & mình)
KLSP: Để nhân cách các em hình thành và phát triển thuận lợi, những người làm
cơng tác giáo dục phải tạo điều kiện để các em giao tiếp với nhau, hướng dẫn, kiểm traquan hệ của các em, tránh sự hạn chế, ngăn cấm…
Lưu ý: ở lứa tuổi này quan hệ giữa các em trai và các em gái cĩ những thay đổi cơbản Chẳng hạn, các em đã biết quan tâm lẫn nhau và dẫn đến quan tâm đến vẻ bềngồi của mình… Lúc đầu ở các em nam chỉ là sự trêu chọc xơ đẩy các em nữ.Thường các em gái cĩ phản ứng, bực tức về những hành vi đĩ nhưng hiểu được động
cơ của hành vi đĩ nên lại khơng giận dỗi Ở một số em cịn ngượng ngùng, nhút nhát,
e thẹn; một số em khác được che dấu bằng thái độ thờ ơ giả tạo “khinh bỉ” đối vớingười khác giới Hành vi này mang tính chất hai mặt: sự quan tâm đến nhau và sựphân biệt nam nữ Ở những em cuối cấp thường để ý vấn đề ai yêu ai (với bạn bè); yêuai; ai yêu Ngược lại, ở những em đầu cấp tình bạn giữa nam và nữ ít nảy sinh
Lứa tuổi mà quan hệ nam nữ cĩ thể lệch lạc, quan niệm khơng đúng mực, đua địi,chơi bời, bỏ cả học, cả cơng việc… Những người làm cơng tác giáo dục cần hướngdẫn, uốn nắn cho tình bạn ở tuổi này thật lành mạnh, trong sáng Quan hệ tốt đẹp sẽ làđộng lực thúc đẩy quá trình học tập, rèn luyện
VI Sự phát triển nhân cách ở tuổi học sinh THCS
1 Sự hình thành ý thức
+ Ở lứa tuổi này đã biết quan tâm đến bản thân, đến những phẩm chất nhân cáchcủa mình Các em biết tự đánh giá mình, so sánh mình với người khác Muốn hiểu biếtmặt mạnh, yếu trong nhân cách của mình
+ Bắt đầu hình thành tự ý thức đã ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của lứa tuổi này,đến học tập, đến quan hệ với mọi người
+ Sự tự ý thức là một quá trình diễn ra từ từ, từ chỗ tự nhận thức chính mình.Những nhận xét, đánh giá về mình thường bằng con mắt của người khác (nhất làngười lớn) Những phẩm chất mà các em ý thức trước liên quan đến nhiệm vụ học tậpnhư sự chú ý, tính kiên trì, siêng năng, chuyên cần
+ Thể hiện thái độ với người khác như tình đồng chí, tình bạn, lịng vị tha,…
2 Sự hình thành tình cảm.
+ Tình cảm ở lứa tuổi này dễ xúc động, dễ bị kích động, tình cảm bồng bột, vuibuồn chuyển hố dễ dàng Điều này do ảnh hưởng của quá trình phát dục, thần kinhkhơng cân bằng (hưng phấn mạnh hơn ức chế)
Trang 16+ Các em thường vui quá trớn, buồn ủ rũ; lúc quá hăng say, lúc thì chán nản Tâmtrạng thay đổi nhanh chóng và dễ dàng (như bỏ thuốc lá…) – đang vui chuyển quabuồn đang buồn lại cười khanh khách ngay Do sự thay đổi này mà tình cảm của các
em nhiều lúc tỏ ra mâu thuẫn
Tóm lại: Tình cảm ở tuổi này thường bồng bột, sôi nổi, dễ bị kích động, dễ thayđổi, có lúc mâu thuẫn… Nhưng, tình cảm của các em ở tuổi này đã biết phục tùng lýtrí, tình cảm đạo đức đã phát triển Vốn kinh nghiệm của các em dần dần phong phú
mà tính bột phát dần bị mất đi nhường chỗ cho tình cảm có ý thức phát triển
Trang 17Chương III TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý lứa tuổi THPT
1 Khái niệm tuổi thanh niên
Trong tâm lý học lứa tuổi, người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát
triển bắt đầu từ lúc dậy thì (giới hạn thứ nhất) và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn (giới hạn thứ hai) Chính cái định nghĩa mà giới hạn thứ nhất là giới hạn sinh lý và
giới hạn thứ hai là giới hạn xã hội đã chỉ ra tính chất phức tạp và nhiều mặt của giaiđoạn lứa tuổi này, có nhiều lý thuyết khác nhau về lứa tuổi thanh niên
Tâm lý học Macxit cho rằng cần nghiên cứu tuổi thanh niên một cách phức hợp,phải kết hợp quan điểm tâm lý học xã hội với việc tính đến những quy luật bên trongcủa sự phát triển Đó là một vấn đề phức tạp và khó khăn, vì không phải lúc nào nhịpđiệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm, sinh lý cũng trùng hợp với các thời hạntrưởng thành về mặt xã hội B.D.Annanhiev đã viết: “Sự bắt đầu trưởng thành của conngười như là một cá thể (sự trưởng thành về thể chất), một nhân cách (sự trưởng thànhcông dân), một chủ thể nhận thức (sự trưởng thành trí tuệ) và một chủ thể lao động(năng lực lao động) là không trùng hợp nhau về thời gian”
Do gia tốc phát triển của trẻ ngày càng lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng sớm hơn
So với hai, ba thế hệ trước, tuổi dậy thì được bắt đầu và kết thúc sớm hơn hai năm
Các nhà sinh lý học phân chia quá trình này thành 3 giai đoạn: giai đoạn trước dậy thì, dậy thì và sau dậy thì Tâm lý lứa tuổi lại thường gắn tuổi thiếu niên với hai giai
đoạn đầu, tuổi thanh niên bắt đầu cùng với giai đoạn thứ ba
Do gia tốc phát triển mà các giới hạn của tuổi thanh niên được hạ thấp Ngày naytuổi thiếu niên được kết thúc ở tuổi 14-15 tuổi Tương ứng như vậy tuổi thanh niêncũng được bắt đầu sớm hơn… Nhưng nội dung cụ thể của thời kỳ phát triển này đượcquyết định không đơn giản chỉ bởi tuổi, mà trước hết là những điều kiện xã hội (vị trícủa thanh niên trong xã hội, khối lượng trí thức, kỹ năng, kỹ xảo mà họ nắm được, vàmột loạt những nhân tố khác phụ thuộc vào những điều kiện xã hội đó) Ngày nayhoạt động lao động và hoạt động xã hội ngày cnàg phức tạp Do đó thời kỳ chuẩn bị
đã được kéo dài thì sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm Do đó mà
có sự kéo dài của thời kỳ tuổi thanh niên và tính xác định của các giới hạn lứa tuổi.Tuổi thanh niên trong khoảng từ 14, 15 đến 25 tuổi, được chia làm hai thời kỳ: từ
14, 15 đến 17, 18 gọi là giai đoạn tuổi đầu thanh niên (tuổi thanh niên mới lớn, tuổithanh xuân, tuổi thanh niên học sinh)., Từ 19 tuổi đến 25 tuổi là giai đoạn thứ hai củatuổi thanh niên
2 Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý lứa tuổi thanh niên mới lớn
Tất cả các lứa tuổi đều có sự tác động của các yếu tố cơ bản:
+ Bẩm sinh, di truyền
+ Môi trường: quyết định gián tiếp sự phát triển tâm lý
+ Giáo dục: đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển tâm lý cá nhân
+ Hoạt động cá nhân (tính tích cực): giữ vai trò quyết định trực tiếp sự phát triểntâm lý
2.1 Sự hoàn thiện về thể chất.
+Tuổi thanh xuân là thời kỳ có sự phát triển mạnh về thể lực nhưng sự phát triển
cơ thể này còn kém so với người lớn
+Sự phát triển về chiều cao và trọng lượng chậm lại Nữ đạt được sự tăng trưởngkhoảng tuổi 16, 17 (sớm hoặc muộn hơn 13 tháng) Nam đạt được sự tăng trưởng
Trang 18khoảng tuổi 17, 18 (sớm hoặc muộn hơn 10 tháng) Trọng lượng của nam đã đuổi kịpcác em nữ và tiếp tục vươn lên.
+Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng Cấc trúc của vỏ báncầu đại não phát triển, số lượng dây thần kinh liên hợp tăng
Nhìn chung, đây là giai đoạn lứa tuổi có cơ thể phát triển cân đối, khoẻ và đẹp.Thể chất phát triển bình thường so với tuổi thiếu niên, trọng lượng và chiều cao tiếptục phát triển, tăng trung bình hàng năm từ 2 đến 4 kg, 6 kg Chiều cao ở cuối tuổithanh niên: đối với nữ không tăng, đối với nam có tăng nhưng chậm lại Về hệ thốngxương căn bản đã cốt hoá xong (tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu) Thanh niên có thể tham gialao động nặng Hệ cơ cũng đã phát triển ở mứa độ cao, sức mạnh của các bắp thịt, sứclàm việc dẻo dai của tay chân được tăng cường Hệ tuần hoàn phát triển bình thường.Riêng về hệ thần kinh: trọng lượng não không tăng nhưng tiếp tục hoàn thiện về chứcphận Do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành những mối liên hệ thần kinhtạm thời phức tạp hơn
KLSP: Ở lứa tuổi này vẫn còn có một số em có sự phát dục chậm nên họ có thể
lực nhỏ, yếu Những em này thường hay mặc cảm về tầm vóc, sức khoẻ, thể lực vànhững biểu hiện về giới tính của mình Vì thế giáo viên cần đối xử hết sức tế nhị vàthông cảm với các em Như đã nêu ở phần trên, lứa tuổi này cơ thể phát triển rất cânđối, khoẻ, đẹp… một sự hoàn chỉnh về thể chất như vậy có ảnh hưởng lớn đến sự pháttriển tâm lý của lứa tuổi này như hoạt động nhanh nhẹn, hoạt bát, khả năng tư duy, óctưởng tượng cao, sáng tạo, ngôn ngữ phát triển…
2.2 Môi trường gia đình, nhà trường, xã hội.
+ Gia đình: Phần lớn thanh niên Việt Nam đều sinh ra và lớn lên ở gia đình nông
thôn, tham gia trực tiếp vào lao động nông nghiệp Thanh niên được tiếp thu nhữngtruyền thống tốt đẹp của gia đình, của dân tộc như tính cần cù, chịu khó, chịu đựnggian khổ, chất phác, giản dị…
Những truyền thống tốt đẹp đã tạo nên tâm lý tốt đẹp trong thanh niên Nhưngcũng chính xuất phát từ nông thôn nên thanh niên còn chịu nhiều ảnh hưởng củanhững tập quán lạc hậu, những nếp sống của những người sản xuất nhỏ, cá thể Nhữngđiều đó đã ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này
Vị trí của tuổi thanh niên đã có những biến đổi không giống như tuổi thiếu niên.Nếu thiếu niên muốn tỏ ra mình là người lớn nhưng thực sự chưa phải là người lớn thìthanh niên đã có nhiều quyền lợi và nghĩa vụ ngang bằng với người lớn
Cuộc sống của thanh niên mới lớn ở nước ta thực tế là một cuộc sống vừa học tập
vừa lao động Các em đã thực sự có ý thức quan tâm đến thái độ chính trị của gia đình
mình với xã hội, quan tâm nhiều đến thu nhập, chi tiêu của gia đình Nhiều em đượccha mẹ tin tưởng hỏi ý kiến về những điều quan trọng trong gia đình, tham gia giảiquyết những khó khăn trong gia đình
Kết luận: Cương vị của thanh niên trong gia đình được nổi lên rõ rệt Các em thấy
trách nhiệm của mình đối với gia đình nặng nề hơn trước Trái lại, những nếp sốngtrong gia đình, sự giáo dục của ông bà, cha mẹ, anh chị,… cũng có tác dụng trở lại đến
sự phát triển tâm lý của thanh niên trong gia đình đó Cũng chính từ vị trí đó đã thúcđẩy thanh niên ý thức tự giáo dục, tính tự trọng của họ
+ Nhà trường: Trong nhà trường, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của
thanh niên mới lớn Nhà trường có vị trí và tác dụng đặc biệt quan trọng tới sự hìnhthành và phát triển tâm lý của trẻ Thanh niên biết nhận thức rõ ràng nhiệm vụ, mụcđích học tập và luôn luôn có ý thức tự phấn đấu và tu dưỡng để chuẩn bị bước vàocuộc sống tự lập Ngoài hoạt động học tập thanh niên còn tham gia vào các hoạt độnglao động sản xuất, hoạt động văn hoá, thể thao và các hoạt động xã hội khác Thông
Trang 19qua những hoạt động này thì tính tự quản, tính độc lập của thanh niên được hình thành
và được tôi luyện Trong quá trình học tập ở trường PTTH các em đã đến tuổi gianhập Đoàn THCSHCM Sự kiện này là cái mốc để các em phấn đấu và đánh dấu sựtrưởng thành về mặt chính trị của các em
+ Xã hội:
-Bản chất của xã hội được in dấu sâu sắc vào tâm hồn thanh niên Bản chất xã hộiđược biểu hiện ở những yêu cầu của gia đình, nhà trường, xã hội đối với thanh niên.Thanh niên hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình với xã hội
-Cuối tuổi học sinh các em được pháp luật công nhận quyền bầu cử, ứng cử đồngthời thanh niên cũng được pháp luật công nhận đến tuổi thành hôn Hai sự kiện nàydẫn tới thanh niên bước đầu có ý thức của người công dân Các em hiểu rõ tráchnhiệm xã hội của mình
-Thanh niên đã đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động Đặc biệt phảichịu trách nhiệm trước toà án về tội hình sự
* Từ những điểm vừa nêu trên chúng ta nhận thấy rằng: Thanh niên có đầy đủnghĩa vụ, quyền lợi như người lớn Và điều này làm cho thanh niên luôn hoạt động cósuy nghĩ, có trách nhiệm thúc đẩy quá trình trưởng thành về mặt tâm lý của họ
* Tuy vậy, thanh niên chưa hẳn trở thành người lớn thật sự bởi những lý do sau:_ Thanh niên vẫn còn giữ những nét của tính phụ thuộc khiến cho địa vị của họgần với trẻ con hơn
_ Về vật chất, thanh niên là học sinh PTTH nên còn phụ thuộc vào cha mẹ
_ Trong nhà trường, một mặt người ta yêu cầu thanh niên phải học tập, rèn luyệnnhư người lớn, mặt khác lại bắt thanh niên phải vâng lời như là một đứa trẻ
Kết luận: Sự phức tạp này (xét về mặt này thanh niên là người lớn, xét ở khía
cạnh khác, quan hệ khác họ chưa phải là người lớn) đã phản ánh tính độc đáo trong sựphát triển tâm lý của tuổi thanh niên mới lớn Người lớn phải tìm cách tạo điều kiệncho việc xây dựng một phương thức sống phù hợp với mức độ phát triển chung củathanh niên, khuyến khích sự giáo dục lẫn nhau trong thanh niên
II Hoạt động học tập của học sinh THPT
1 Hoạt động học tập:
-Nội dung và tính chất của hoạt động học ở tuổi thanh niên học sinh khác hẳn vớilứa tuổi thiếu niên Sự khác nhau không chỉ ở nội dung học mà ở chỗ hoạt động họccủa thanh niên phải năng động, độc lập với mức độ cao hơn
-Thái độ của các em ngày càng có ý thức hơn đối với việc học Bởi các em đãtrưởng thành, kinh nghiệm sống ngày càng phong phú, các em càng có ý thức đượcmình rằng đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời
-Thái độ của các em đối với các môn học ngày càng có lựa chọn hơn Các em đãhình thành những hứng thú học tập gắn với khuynh hướng nghề nghiệp Hứng thú nàyliên quan với việc chọn một nghề nào đó
-Thái độ học tập ở một số em có nhược điểm là: một mặt các em rất thích học một
số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, mặt khác các em lạisao nhãng một số môn khác nhằm chỉ đạt điểm trung bình Người thầy giáo phải làmcho các em hiểu được ý nghĩa, chức năng của giáo dục phổ thông
2 Sự phát triển trí tuệ:
Ở lứa tuổi này tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức._ Tri giác có mục đích đã đạt tới mức cao Quá trình quan sát có mục đích và hệthống, toàn diện, chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai Tuy vậy cần có sựchỉ đạo của giáo viên, hướng các em vào nhiệm vụ nhất định để quan sát có hiệu quả
Trang 20_ Ở tuổi thanh niên ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ._ Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển nên tư duy củathanh niên học sinh có sự thay đổi quan trọng.
Tuy vậy, hiện nay một số thanh niên học sinh THPT chưa đạt tới mức tư duy củalứa tuổi Nhiều em chưa phát huy hết năng lực suy nghĩ độc lập của bản thân, kết luậnvội vàng theo cảm tính
III Những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thanh niên mới lớn
1 Đặc điểm về hoạt động nhận thức:
Do sự hoàn thiện về cấu tạo đặc biệt của võ não và các giác quan; do sự phong phú
về tri thức và kinh nghiệm sống; do những yêu cầu mới cao hơn của bản thân, của nhàtrường, gia đình và xã hội Vì thế hoạt động nhận thức được phát triển ở mức độ cao
Sự phát triển cảm giác: đạt tới mức phát triển khá cao Ngưỡng tuyệt đối, tính nhạycảm tuyệt đối được phát triển mạnh mẽ làm cho học sinh có khả năng sáng tạo vàthưởng thức các loại hình nghệ thuật chính xác
-Ít mắc sai lầm khi tri giác không gian và thời gian
-Tri giác chủ định chiếm ưu thế
Bên cạnh đó còn một số thanh niên còn đại khái, phiến diện, vội vàng khi quan sátcũng như khi rút ra kết luận Nhược điểm này đã nhắc nhở giáo viên lưu ý hướng dẫnhọc sinh quan sát và ghi chép đầy đủ
+ Trí nhớ: Trí nhớ có chủ định chiếm ưu thế, có phương thức ghi nhớ có ý nghĩa.Tuy nhiên cũng còn một số em ghi nhớ chung chung và hời hợt, điều này có ảnhhưởng trực tiếp tới kết quả học tập của các em
+ Tưởng tượng: ở lứa tuổi này trí tưởng tượng phát triển mạnh, có nhiều biến đổi
về chất Nội dung tưởng tượng phong phú Biểu tượng của tưởng tượng gắn với hiệnthực hơn, tưởng tượng sáng tạo phát triển
+ Tư duy: Năng lực tư duy trừu tượng phát triển Các em có đủ khả năng biệnluận, giải thích hay chứng minh một vấn đề, một chân lý, một quy luật nào đó hoặc tựmình muốn rút ra một quy luật Có năng lực khái quát hoá, hệ thống hoá Các thao tác
tư duy phát triển Năng lực tư duy logic có những biến đổi về chất lượng Thanh niênthường đòi hỏi ở mình cũng như người khác khi phán đoán, suy lý phải chặt chẽ, nhấtquán và có căn cứ vũng chắc Cũng do tư duy phát triển nên đã nảy sinh một hình thứctâm lý mới là tính hoài nghi khoa học
+ Ngôn ngữ: Ngôn ngữ đựơc phát triển mạnh mẽ cùng với tư duy Được biểu hiện:Cách đặt câu, dùng từ đã được chuẩn hoá, nội dung phong phú Dùng ngôn ngữ diễnđạt một cách trung thành những suy nghĩ của mình Cũng chính từ đây xuất hiện nhucầu tự tu dưỡng về ngôn ngữ
Riêng ngôn ngữ bên trong được phát triển trở thành công cụ của tư duy Nhiều emthích đọc sách trong im lặng và tự suy nghĩ Bên cạnh cách chọn, dùng từ đặt câu chochuẩn, một số thanh niên học sinh bắt chước lối đặt câu, dùng từ sáo rỗng, màu mè,cầu kỳ Có em dùng từ đặt câu chưa chuẩn
Điều này, người thầy giáo cần chú ý uốn nắn và làm gương trong cách nói, cáchviết của mình
Tóm lại, ở lứa tuổi này năng lực trí tuệ phát triển mạnh Một số em đã đạt tới đỉnhcao
2 Những nét nhân cách nổi bật
2.1 Thế giới quan và lý tưởng:
+ Thế giới quan của tuổi thanh niên nói chung phát triển ở mức độ cao, sâu sắc vàtoàn vẹn Họ quan tâm tới quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cống hiến và hưởng
Trang 21thụ, giữa tình cảm và nghĩa vụ, giữa quyền lợi và trách nhiệm Họ đã biết quan tâmđến những vấn đề thuộc về lẽ sống của cuộc đời Nhìn chung thanh niên giải quyếtđúng đắn các mối quan hệ Tuy vậy, cón một số thanh niên thế giới quan còn mâuthuẫm, ảnh hưởng thế giới quan lạc hậu.
+ Lý tưởng: Tuổi thanh niên mê say với lý tưởng cao đẹp Vì lý tưởng mà họ sẵnsàng xả thân vì nghiệp lớn Hình ảnh lý tưởng của thanh niên trước hết là những mẫungười lý tưởng (trong sách báo hoặc trong hiện thực) Lý tưởng của thanh niên cònmang tính chất lãng mạn
2.2 Tình bạn, tình yêu
+ Tình bạn: Bên cạnh ý nghĩa ngày càng tăng của cuộc sống tập thể, ở lứa tuổi
thanh xuân nhu cầu tình bạn thân thiết riêng cũng được tăng cường một cách rõ rệt.Ngay cả Rutxô (Rouseau) cũng viết rằng, tình cảm đầu tiên xuất hiện ở con người trẻtuổi được giáo dục chu đáo không phải tình yêu mà là tình bạn
Những quan niệm về tình bạn ở tuổi thanh niên và mức độ tâm tình thân mật thực
tế của nó không như nhau ở những người khác nhau (có đôi bạn thì dốc hết bầu tâm
sự, có đôi bạn thì còn giữ kẽ…) Ở các em gái, do sự trưởng thành sớm hơn nên nhucầu tình bạn thân mật xuất hiện sớm hơn so với các em trai Ở tuổi thanh niên mới lớn,những yêu cầu về tình bạn ở các em gái thường cao hơn các em trai Ở tuổi lớn hơn sựkhác biệt này là không còn nữa
Lứa tuổi 15, 16 cả nam và nữ đều coi tình bạn là quan trọng nhất trong số các quan
hệ Thanh niên nhiều khi lý tưởng hoá không những bản thân mình trong tình bạn mà
cả tình bạn trong bản thân mình Biểu tượng của thanh niên về tình bạn thường gầngũi với “cái tôi” hiện thực của họ Trong khi đòi hỏi những tình cảm gắn bó mạnh mẽ,đôi khi thanh niên không nhận thấy những thuộc tính thực tế của đối tượng gây ra tìnhcảm đó Nhiều khi sự say mê một chiều đối với người khác như một người bạn cùngtuổi hay một người lớn tuổi được coi là tình bạn Những thanh niên ở cuối bậc PTTHthường có nhu cầu khao khát tình bạn và họ cũng rất thận trọng khi lựa chọn bạn Họđòi hỏi bạn phải là người có mục đích, có cùng nguyện vọng, cùng sở thích…
+ Tình yêu: Ở lứa tuổi thiếu niên quan hệ qua lại giữa các em nam và nữ bị hạn
chế, còn ở lứa tuổi thanh xuân biểu hiện một cách rõ rệt Phạm vi quan hệ bạn bè được
mở rộng, nhu cầu tình bạn hỗn hợp được tăng cường
Bên cạnh sự âu yếm ngây thơ của trẻ con (như những cái nhìn, những lá thư ngắn,những lời giải thích bâng quơ, đôi khi cả những cái hôn…) đã xuất hiện tình cảm thầmkín, một nhu cầu thực sự về tình yêu
* Tình yêu đầu (mối tình đầu…) Tình yêu nam nữ là một dạng tình cảm hết sức tựnhiên Nó nảy nở trên những điều kiện sinh lý và tâm lý mới của tuổi thanh xuân Lứatuổi mà theo Shakespeare “Ái tình của bọn trẻ không thực sự nằm ở trong tim chúng
mà là nằm ở đôi mắt chúng” Đây là mối tình đầu nên có những đặc điểm sau:
Mối tình thuần khiết, mang tính lý tưởng được nảy nở từ sự quý mến, tôn trọngnhau là được rồi, không gặp thì thấy nhớ nhưng khi gặp nhau lại chẳng nói với nhauđược câu nào, thật là khó hiểu Một mối tình chỉ thầm yêu, trộm nhớ, ít biểu hiện rabên ngoài Khi đã yêu nhau, họ tìm cách che dấu tình cảm của mình (tất nhiên làkhông thể che dấu được, bởi lẽ khi yêu người ta chẳng dấu được điều nào cả:Antiphanes đã viết: “một người có thể dấu mọi thứ trừ có hai điều: say rượu và đangyêu-(A man can hide all things, excepting that he is drunk and that he is in love).Không phải là dạng tình yêu vụng trộm mà rất trong trắng ngây thơ và có thể nói là rất
dễ thương
Trang 22-Giáo viên cần hướng dẫn các em trong các mối quan hệ về tình bạn, tính yêu Tốtnhất, khuyên các em chưa nên đặt vấn đề yêu đương vì hai lý do: thứ nhất là chưa cónghề nghiệp trong tay, thiếu cơ sở vật chất; thứ hai là phải tập trung cho việc học.-Giáo viên cần có biện pháp giáo dục tốt đừng để chớm nở tình yêu nam nữ Nếuthấy có sự xuất hiện thì không được dùng biện pháp thô bạo để ngăn cản học sinh màphải khuyên bảo, ân cần góp ý, giải thích để tình cảm các em phát triển đúng hướng
3 Tính cách và nhu cầu tự tu dưỡng:
-Thanh niên bộc lộ rõ tinh thần làm chủ tập thể, thái độ đúng đắn với lao động.-Thanh niên có tinh thần dũng cảm, dám nghĩ, dám làm, xung phong nhận việc khó
và làm tròn nhiệm vụ được giao
-Thanh niên có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, biết tuân theo những quy định, quytắc của tập thể, của tồ chức, và xã hội
-Thanh niên biểu hiện tính tự kiềm chế và tự chủ, hành động chín chắn và có suynghĩ, biết tự điều chỉnh những hoạt động của mình
-Thanh niên có tính kiên trì, nhẫn nại, có khả năng chịu đựng những thiếu thốn vềvật chất và tình cảm để thực hiện nhiệm vụ
* Mối quan hệ giữa họ với những người xung quanh là mối quan hệ trong sángthẳng thắn và có lòng tự trọng và ý thức danh dự rất cao Tuổi thanh niên xuất hiệnnhững nhu cầu về tu dưỡng sau đây:
+ Các em rất thích và có nhu cầu trau dồi cái đẹp Do vậy thầy giáo cần hướng dẫncác em đọc các loại sách báo nhất là những cuốn sách liên quan đến vấn đề lý tưởng,cái đẹp trong cuộc sống, cách thức hành động, xử sự giữa người với người, cách tổchức cuộc sống gia đình… Đặc biệt những loại sách nói về tình bạn, tình yêu, về hônnhân, về những hoạt động tâm lý của người trưởng thành, cách nuôi dạy con cái rấthấp dẫn được thanh niên ưa thích
+ Xuất hiện việc ghi nhật ký, sổ tay ghi chép những đoạn thơ những câu danhngôn, những câu nói bất hủ thậm chí cả những đoạn thơ tình, những bài thơ tình đượctrích dẫn từ những tác phẩm văn học, trên sách báo… là biểu hiện của nhu ầu tự tudưỡng rất đáng trân trọng và khích lệ
+ Thanh niên luôn khao khát hoạt động để tu dưỡng, thử thách và thể nghiệm bảnthân mình Nhật ký là một hình thức đặc biệt của nhu cầu tự thể nghiệm và đánh giábản thân thanh niên mới lớn Cũng thông qua nhật ký là biểu hiện một ý chí mãnh liệtnghiêm khắc đối với bản thân mình và để tự phấn đấu, rèn luyện mình
Tóm lại: Toàn bộ tính cách của con người trưởng thành đã được hình thành khá
hoàn chỉnh ở lứa tuổi này Và cũng từ đây thanh niên trở thành người lớn
4 Đường đời, xu hướng nghề nghiệp
+ Xu hướng chọn nghề của thanh niên có tác động rất mạnh đến việc điều chỉnh,thúc đẩy nhiều mặt hoạt động Thanh niên chọn nghề trên hai cơ sở động cơ: động cơ
cá nhân và động cơ xã hội
-Động cơ cá nhân: Tuỳ theo sở thích, hứng thú và năng lực của bản thân
-Động cơ xã hội: Do yêu cầu về đào tạo cũng như nhu cầu thực tiễn (liên quan đếnviệc ngành mở ít, ngành mở nhiều, thu nhập khi ra trường, nhu cầu của xã hội vềngành nghề)
+ Trong khi chọn nghề thanh niên thường có xu hướng đi vào lĩnh vực tri thức vàlao động mới được xã hội chú ý, nhất là những ngành công nghiệp hiện đại…
Nhìn chung ở nước ta, tuổi thanh niên mới lớn có xu hướng chọn nghề đúng đắn,lành mạnh, hợp khả năng Tuy nhiên cũng còn có một số thanh niên chọn nghề vì cảmtính, vì động cơ cá nhân nhu sợ gian khổ, ham tiền tài, địa vị, danh vọng…
Trang 23* Một số chú ý trong công tác giáo dục thanh niên hiện nay:
+ Nhìn chung lứa tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi háo hức muốn tìm hiểu cuộcđời để chuẩn bị bước vào đời Do đó chúng cũng có những nhược điểm không thểtránh khỏi Được biểu hiện cụ thể ở chỗ:
-Ý chí phấn đấu kém bền vững, gặp thất bại hay nản chí, khi thành công dễ kiêungạo
-Tình cảm giai cấp, ý thức giác ngộ về giai cấp còn thấp Một số em còn mơ hồtrong nhận thức
-Một số thanh niên hiện nay ít nhìn vào hiện thực, dễ quên quá khứ, có mơ ướcviễn vông, đánh giá quá cao năng lực của bản thân mình
-Còn rơi rớt lại những biểu hiện của lối sống truïy lạc, càn quấy
Khi chúng ta nhận thức được những điểm yếu đó mới có biện pháp giáo dục đúngđắn Thông qua những hoạt động giáo dục có tổ chức của nhà trường và xã hội, chúng
ta mới có điều kiện tốt để uốn nắn các em Muốn giáo dục cần đi theo hai hướng: thứnhất là giáo dục theo 5 điều Bác Hồ dạy, thứ hai là thông qua các hình thức giáo dụcnhư: Cho các em tiếp xúc trực tiếp với lao động sản xuất trong đấu tranh; Sinh hoạttập thể; Giáo dục truyền thống; Giáo dục tư tưởng thông qua hoạt động văn hoá nghệthuật; Phê bình và tự phê bình
Kết luận:
Tuổi thanh niên là thời kỳ đặc biệt quan trọng của cuộc đời Thời kỳ kết thúc cănbản cả một quá trình phát triển lâu dài của đứa trẻ cả về tâm, sinh lý Đây là thời kỳnăng lực trí tuệ, thế giới quan, nhân sinh quan và toàn bộ nhân cách của con ngườiđang biến đổi lớn về mặt chất lượng Tuy vậy, trong quá trình phát triển một số thanhniên còn có những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, cách nghĩ, cách sống và hành vi củamình Do vậy, gia đình, nhà trường, xã hội cần gấp rút và tích cực chuẩn bị về mọimặt để các em bước vào cuộc sống vững vàng
Trang 24Chương IV TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
I Khái niệm chung:
Tâm lý học dạy học là một bộ phận của tâm lý học sư phạm Tâm lý học dạy học
có cơ sở từ tâm lý đại cương Nó có đối tượng là quá trình dạy học của giáo viên vàquá trình học tập của học sinh Được biểu hiện ở hai yếu tố:
-Yếu tố bên ngoài: Là việc nắm vững, tiếp thu những cơ sở khoa học để phát triểntrí tuệ, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan
-Yếu tố bên trong: Là tìm hiểu sự học tập trong những hình thức khác nhau, tuỳthuộc vào nội dung học tập và đặc điểm tâm lý cá nhân
II Một số thuyết về tâm lý học dạy học
1 Thuyết liên tưởng:
1.1 Quan điểm của lý thuyết: Thuyết liên tưởng cho sư lĩnh hội kinh nghiệm xã
hội thực chất là lĩnh hội các liên tưởng
Họ lập luận, trong thực tế các sự vật, hiện tượng có liên quan chặt chẽ với nhautrong không gian, thời gian Chúng quan hệ với nhau theo nhiều kiểu khác nhau:giống nhau, khác nhau, trái ngược nhau, hoặc quan hệ nhân quả…
Hiện thực khách quan được phản ánh vào trí óc Nếu được tác động theo một cáchthức nào đó chúng được ghi lại trong ý thức chứa đựng một nội dung (tư tưởng, kháiniệm, quy luật, nguyên lý…) nhất định Thường sự nhớ lại một sự vật, hiện tượng nào
đó dẫn đến sự nhớ lại một sự vật hay hiện tượng khác Hiện tượng như vậy gọi là liêntưởng Do vậy, trong dạy học, muốn hình thành tư tưởng, khái niệm, quy luật, cáchthức… phải dựa vào các liên tưởng
1.2 Các loại liên tưởng trong dạy học: Trong dạy học người ta chia thành 4 loại
liên tưởng:
+ Liên tưởng khu vực: Loại liên tưởng này tương đối cô lập, chưa có mối liên hệ
qua lại với nhau, chỉ mới cho những kiến thức riêng lẻ Ví dụ: thủ đô nước Việt Nam
là Hà Nội, dân số trên thề giới là 5,7 tỷ người…
+ Liên tưởng biệt hệ: Trong loại này đã có mối liên hệ giữa các liên tưởng, song
các liên tưởng đó đang đóng khung trong một phạm vi hẹp Chẳng hạn, kiến thứctrong một chương, một phần của một tài liệu học tập nào đó
Ví dụ: các khái niệm về nguyên tố, á kim, kim loại, đơn chất, hợp chất… trongphần nhập môn của giáo trình hoá học đại cương Hoặc tâm lý, ý thức, ý thức bản ngã,nhân cách… trong các phạm trù về tâm lý
+ Liên tưởng nội hệ: Loại này chỉ các mối liên tưởng trong phạm vi một khoa
học, một ngành nghề
Ví dụ: Những kiến thức trong tâm lý học: người, tâm lý, sự phát triển tâm lýngười, các giai đoạn phát triển tâm lý, sự hình thành nhân cách, phương pháp tiếp cậnhoạt động - nhân cách…
Kiến thức trong loại liên tưởng này đã có mối liên hệ riêng, chúng có tác dụng lớntrong việc hình thành kiến thức, khái niệm, phạm trù này hay phạm trù khác trongphạm vi một khoa học nhất định
Liên tưởng liên môn: Đây là loại kiến thức có cơ sở liên tưởng liên quan giữa các
ngành khoa học Chẳng hạn: Khái niệm phản ánh được xem xét dưới những quanđiểm khác nhau như quan điểm triết học, quan điểm tâm lý học… Cũng như vậy, phảnứng hoá học được nhìn nhận, xem xét dưới những quan điểm khác nhau như quanđiểm triết học, quan điểm năng lượng, quan điểm cấu trúc, quan điểm ôxy hoá khử…
Trang 25Loại liên tưởng này cần để hoàn chỉnh một học vấn chuyên môn, một trình độuyên thâm Vì vậy, nó là loại liên tưởng cần hình thành cuối cùng trong việc hìnhthành một học vấn, một nhân cách.
1.3 Nhận xét:
Lý thuyết này có những ưu điểm sau đây:
Phân loại được các liên tưởng hình thành trong ý thức, trong vốn hiểu biết
Thấy được các mối liên quan trong các liên tưởng
Bên cạnh các ưu điểm trên, lý thuyết này còn có một số vấn đề cơ bản còn chứađược làm sáng tỏ như:
Chưa vạch ra được cơ chế, các giai đoạn hình thành các liên tưởng như thế nào Không đánh giá đúng mức vai trò của chủ thể trong sự hình thành các liên tưởng
2 Thuyết hành vi:
Sự ra đời và quan điểm của thuyết: Hành vi, tiếng Anh là behaviour thường dùng
trong sách vở tâm lý học Trong tiéng Pháp có hai từ khác nhau: comportement vàconduite Trong tiếng Việt cũng có hai từ tương ứng: ứng xử và hành vi
Thế kỷ 19, nền sản xuất ngày càng phát triển mạnh Cuộc sống đòi hỏi phải có sựhiểu biết thực sự khoa học về con người, về tâm lý con người Nền sản xuất lớnTBCN đòi hỏi hành vi của con người phải thích nghi với cuộc sống (người-máy: mộtcuộc sống hiện đại) Xã hội ngày càng đòi hỏi giáo dục phải có cơ sở khoa học, cơ sởtâm lý học để đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội Do vậy dòngtâm lý học duy tâm nội quan, siêu hình không giúp gì cho việc hình thành tâm lý giáodục con người, nguồn gốc phát sinh, phát triển, vai trò, chức năng của tâm lý
Vì vậy trong khoảng 10 năm đầu thế kỷ XX (1905-1915) đã xuất hiện 3 dòng tâm
lý học khách quan (Hành vi, Ghestal, phân tâm học của Freud), trong đó có tâm lý họchành vi
Mở đầu bài: “Tâm lý học dưới con mặt của nhà hành vi” của Oátsơn (Watson:1878-1958, người Mỹ) viết năm 1913, bài báo này được coi là cương lĩnh của tâm lýhọc mới
Tâm lý học hành vi không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ muốnnghiên cứu những ứng xử hay những hành vi có thể quan sát được
Hành vi ở đây được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài được nảy sinh để đáp lạimột kích thích nào đó theo cơ chế: kích thích-phản ứng (Stimulus-Reaction)…
Nguyễn Khắc Viện (Từ điển tâm lý học, Nhà xuất bản ngoại văn, Turng tâmnghiên cứu trẻ em, H,;1991) đã viết các ông Oátsơn, đặc biệt là Toocđai(E.L.Thordike) và Xkinnơ (B.E.Skinner) đã thực hiện điều kiện hoá khi dạy vật làmxiếc, dạy chim múa, hổ nhảy qua lửa, khỉ đi xe đạp Khi có một tác động (một độngtác, một hành vi nào đó…) - gọi là S (kích thích) con vật như chim, hổ, khỉ… tiếpnhận các hành vi đó và chúng có phản ứng (R:Reaction) Hành vi đúng được hìnhthành Cứ mỗi lần con vật đáp ứng đúng thì người dạy xiếc củng cố bằng cách chothức ăn Cho nên họ mô tả cơ chế đó như sau: S R P (Prize: thưởng)
Từ cách lý giải trên, nhiều thực nghiệm được tiến hành nhằm lý giải quá trìnhluyện tập và học tập của con người Điều kiện hoá trong thuyết hành vi đóng một vaitrò quan trọng trong rèn luyện, giáo dục và hình thành nhân cách (tuy nhiên khôngphải được sự ủng hộ đông đảo của các nhà tâm lý học)
Nhận xét:
Thuyết hành vi có những đóng góp lớn cho tâm lý học:
Xác định được một phạm trù cơ bản trong nghiên cứu tâm lý: phạm trù hành vivới tư cách là biểu hiện tâm lý, ý thức Từ đó xây dựng được phương pháp khách quantrong nghiên cứu tâm lý học
Trang 26Dù là thô sơ nhưng đã tìm ra cơ chế, cấu trúc của sự lĩnh hội, trong đó xác định rõvai trò, chức năng của kích thích (S)-đầu vào và đáp ứng (R)- đầu ra.
Tuy nhiên nhiều vấn đề của tâm lý học chưa được đề cập một cách thoả đáng, nhất
là trong lĩnh vực học tập:
Không đề cập đúng mức hoạt động tự giác của con người
Phủ nhận sự gia công trí tuệ của con người
3 Thuyết hoạt động
3.1 Sự ra đời và quan điểm của thuyết
Theo quan điểm của C.Mac: “cái tinh thần chẳng qua là cái vật chất được chuyểnvào trong đầu mỗi người và được cải tiến trong đó”, tâm lý học đã phát hiện ra phạmtrù hoạt động Mở đầu là Vưgốtxki với bài báo: “Ý thức là vấn đề của thuyết hành vi”(1925) sau đó là một loạt các công trình về lý thuyết và thực nghiệm của các thế hệnhà tâm lý học, đứng đầu là A.N.Leonchiev và S.L.Rubixtein đã khẳng định phạm trùhoạt động thực sự là phạm trù công cụ xây dựng nên tâm lý học hoạt động
Vậy quan điểm vế lý thuyết hoạt động như thế nào?
A.N.Leonchiev cho rằng hoạt động là một tổ hợp các quá trình con người tác độngvào đối tượng nhằm đạt mục đích thoả mãn môt nhu cầu nhất định và chính kết quảcủa hoạt động là sự cụ thể hoá nhu cầu của chủ thể Nói cách khác, hoạt động là mốiquan hệ giữc chủ thể và khách thể
Hoạt động của con người bao gồm các quá trình:
+Quá trình bên ngoài: con người tác động vào khách thể, sự vật, tri thức, cả hànhvi…
+Quá trình bên trong: các quá trình tinh thần, trí tuệ,…
Như vậy, ta có thể khẳng định rằng, hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý,công việc chân tay lẫn công việc trí não Hoạt động là phương thức tồn tại của conngười trong xã hội, hoạt động là nơi nảy sinh tâm lý và cũng là nơi tâm lý vận hành.Cho nên, tâm lý, ý thức, nhân cách của con người tự tạo ra bằng hoạt động củachính mình, thông qua hai quá trình: quá trình chuyển hoá từ ngoài vào trong(interiorisatio) và quá trình chuyển từ trong ra ngoài (exteriorisatio)
Hoạt động có những đặc điểm cơ bản:
+ Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng Tức lá quá trình tác động vàomột đối tượng Ví dụ: hoạt động học là nhằm vào tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… để hiểu,tiếp thu tài liệu đưa vào vốn kinh nghiệm của bản thân
+ Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Thí dụ: giáo viên là chủ thể củahoạt động dạy, học sinh là chủ thể của hoạt động học (chủ thể có thể là một hoặcnhiều người)
+ Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: trong hoạt động người ta dùngcông cụ như cái cày, cuốc, cưa, bào, máy móc… để tác động vào đối tượng lao động.Công cụ lao động làm vai trò trung gian giữa chủ thể lao động và đối tượng lao động.Tương tự: tiếng nói, chữ viết, các hình ảnh tâm lý (hình tượng, biểu tượng, quyluật…) đều là các công cụ tâm lý sử dụng để tổ chức, điều khiển thế giới tinh thần ởcon người Vậy là công cụ tâm lý cũng đóng vai trò trung gian như công cụ lao độngtrong hoạt động, tạo ra tính chất gián tiếp trong hoạt động
+ Hoạt động bao giờ cũng có mục đích nhất định Trong hoạt động của con ngườitính mục đích được biểu hiện rõ nét Lao động tạo ra của cải tinh thần, vật chất đảmbảo cho sự tồn tại của xã hội, của bản thân; đáp ứng nhu cầu ăn mặc, vui chơi, giải trí,nghỉ ngơi… Tính mục đích của hoạt động thường là gián tiếp hoặc trực tiếp với sựthoả mãn nhu cầu của chủ thể Nó bao giờ cũng gắn với đối tượng
3.2 Phương pháp tiếp cận hoạt động và vận dụng vào dạy học:
Trang 27Vận dụng lý thuyết hoạt động vào nghiên cứu, lý giải sự hình thành, phát triển tâm
lý người gọi là phương pháp tiếp cận hoạt động Phương pháp tiếp cận hoạt động dựctrên những nguyên tắc:
+Tâm lý, ý thức được nảy sinh, hình thành, phát triển bởi hoạt động Hoạt độngđược xem là quy luật chung nhất của tâm lý học người
+Hoạt động vừa tạo ra tâm lý vừa sử dụng tâm lý làm khâu trung gian của hoạtđộng tác động vào đối tượng
+Tất cả các quá trình tâm lý Các chức năng tâm lý kể cả ý thức, nhân cách phảiđược nghiên cứu trong cấu trúc của hoạt động
Vận dụng phương pháp tiếp cận hoạt động vào giáo dục giúp chúng ta có cáchnhìn khách quan đối với việc giáo dục thế hệ trẻ Theo lý thuyết này, cuộc đời của conngười là một dòng hoạt động, trong đó có hoạt động dạy và học Hoạt động dạy vàhoạt động học cùng thực hiện cơ chế di sản xã hội, nghĩa là thế hệ trước truyền chothế hệ sau tiếp tục các kinh nghiệm lịch sử, xã hội (tri thức, kỹ năng, giá trị…) Cơ chế
di sản và cơ chế di truyền là hai cơ chế đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài người
và con người Qua cứ liệu khoa học khi nghiên cứu con người cho rằng nếu không có
cơ chế di sản xã hội, không có giáo dục và như vậy sẽ không có học vấn, không cóvăn hoá, không có văn minh… Và, như vậy là không có tiến bộ xã hội, loài ngườicũng không tồn tại với tư cách là loài người
Vận dụng phương pháp này vào dạy học, phải làm sao cả thầy và trò thực sự trởthành chủ thể của hoạt động dạy và học; cùng thực hiện mục đích của hoạt động này
để hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
III Hoạt động dạy
1 Hoạt động dạy là gì?
Là hoạt động của người lớn tổ chức và điều khiển hoạt động của trẻ nhằm giúpchúng lĩnh hội nền văn hoá, tạo ra sự phát triểntâm lý, hình thành nhân cách Nhữngngười thầy được đào tạo một cách chính quy để thực hiện nhiệm vụ dạy, với tư cách làmột nghề, xã hội giao cho họ tiến hành nhiệm vụ theo phương thức nhất định
2 Mục đích của hoạt động dạy
Giúp trẻ lĩnh hội nền văn hoá, phát triển tâm lý, hình thành nhân cách Bản thânđứa trẻ không tự mình biến năng lực của nhân loại thành năng lực của bản thân màphải có sự giúp đỡ của người lớn Như vậy, sự lĩnh hội nền văn hoá của trẻ được thựchiện một cách gián tiếp thông qua sự giúp đỡ của người lớn Quá trình này thúc đẩy sựphát triển tâm lý, tạo cơ sở để hình thành nhân cách Đó chính là mục đích của dạyhọc
Vậy, muốn thực hiện mục đích chúng ta phải làm gì?
Trước tiên, chúng ta cần phân biệt dạy trong đời sống hàng ngày và hoạt động dạytrong nhà trường Dạy ăn, dạy nói, dạy gói, dạy mở hay dạy ăn, dạy gói, dạy nói, dạyđùm thường đưa lại cho trẻ những sự hiểu biết mang tính chất kinh nghiệm Việc dạytrong nhà trường đưa lại cho trẻ những tri thứ khoa học tiến hành theo một phươngthức chuyên biệt (phương thức nhà trương)
Thông qua hoạt động dạy, người thầy là chủ thể của hoạt động này Người thầy cónhiệm vụ đặc trưng chủ yếu là tổ chức quá trình tái tạo ở trẻ (người thầy không sángtạo ra tri thức mới, không tái tạo lại tri thức cũ mà chỉ thực hiện nhiệm vụ đặc trưngtrên) Người dạy phải sử dụng tri thức đó nhu một phương tiện vật liệu để tổ chức vàđiều khiển người học Khi thực hiện nhiệm vụ này, người thầy không những tự pháttriển chính mình mà còn tổ chứ tái tạo nền văn hoá nhằm tạo ra cái mới trong tâm lýhọc sinh
Trang 28Để thực hiện được mục đích, trong qúa trình dạy học cần phải tạo được tính tíchcực độc lập trong hoạt đọng của học sinh Hai hoạt động dạy và học (thầy và trò) thựchiện hai chức năng khác nhau: chức năng tổ chức và chức năng lĩnh hội Hai hoạtđộng này khác nhau nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau Trong lý luận dạy học, người takhẳng định quá trình dạy học là một quá trình thuận nghịch có mục đích được thay đổimột cách kế tiếp nhau giữa thầy và trò, trong đó thầy tổ chức và điều khiển, trò lĩnhhội kinh nghiệm xã hội.
Tóm lại: dạy là một hoạt động chuyên biệt (theo phương thức nhà trường) đượcngười lớn (người được đào tạo nghề dạy học) đảm nhiệm Sự tái tạo nền văn hoá phảidựa trên cơ sở hoạt động tích cực của trẻ Hoạt động dạy muốn tiến hành có kết quảđòi hỏi người thầy phải có những yếu tố tâm lý cần thiết
IV Hoạt động học
1 Học là hoạt động tích cực, tự lực sáng tạo của HS.
Học là hoạt động trung tâm trong quá trình dạy học; là loại nhận thức đặc biệt Bất
kỳ một nhận thức nào, trong đó có sự học là một quá trình tích cực, thể hiện ở chỗ:+ Sự phản ánh SVHT của hiện thực diễn ra trong quá trình hoạt động của các bộphận tích cực của võ não
+ Sự phản ánh đó đòi hỏi sự lựa chọn: chủ thể tích cực lựa chọn chỉ những cái trởthành đối tượng phản ánh Như chúng ta đã biết, con người sinh ra đều được và chỉđược thừa hưởng những giá trị của thế hệ trước để lại Những giá trị đó như là nguyênvật liệu đối với họ Họ phải chế biến những giá trị đó theo những quy trình nhất định
mà loài người bằng các quy trình đó đã tạo ra giá trị văn hoá Bằng cách đó những giátrị văn hoá của nhân loại mới trở thành tài sản của từng cá nhân Trong quá trình đócon người hình thành và phát triển
Tuy vậy những giá trị văn hoá đó trẻ phải nhờ người lớn làm khâu turng gian tổchức và điều khiển Hành động của trẻ có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng tri thức
mà họ tiếp thu được
Hoạt động học bao gồm các thành phần sau:
+ Thành phần động cơ: trong đó có nhu cầu, hứng thư, động cơ… Những thànhphần thu hút HS vào quá trình học tập tích cực
+ Thành phần định hướng: bao gồm trong đó việc HS ý thức được những mục đíchhoạt động nhận thức
+ Thành phần nội dung-thao tác: bao gồm hai bộ phận tố thành: hệ thống tri thứcchủ đạo (sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết) và cách học (công cụ tiếp nhận vàchế biến thông tin)
+ Thành phần năng lượng: bao gồm sự chú ý để tập trung hành động trí tuệ vàomục đích hoạt động và ý chí nhằm đảm bảo mức độ cao tính tích cực nhận thức
+ Thành phần đánh giá: là HS tiếp nhận có hệ thống những thông itn về tiến trìnhhoạt động nhận thức trên cơ sở tự kiểm tra, tự đánh giá
2 Tính tích cực, tính tự lực nhận thức:
2.1 Tính tích cực nhận thức
Là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động các chứcnăng tâm lý nhằm giải quyết các vấn đề học tập-nhận thức Nó vừa là mục đích,phương tiện và là điều kiện để đạt mục đích
Phụ thuộc vào sự huy động các chức năng tâm lý nào mà người ta phân thành 3loại tính tích cực:
+ Tính tích cực tái hiện: chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện.
Trang 29+ Tính tích cực tìm tòi: được đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi tích
cực về mặt nhận thức, sáng kiến, khao khát hiểu biết… không hạn chế trong khuônkhổ của yêu cầu giáo viên
+ Tính tích cực sáng tạo: là mức độ cao nhất của tính tích cực Được đặc trưng
bằng sự khẳng định con đường riêng của mình (khác với con đường của người khác,chuẩn hoá) để đạt được mục đích
2.2 Tính tự lực nhận thức
Theo nghĩa rộng, bản chất của tính tự lực nhận thức là sự sẵn sàng về mặt tâm lýcho sự tự học, được biểu hiện cụ thể ở chỗ:
+ Ý thức được nhu cầu học tập của mình, của xã hội, của tập thể…
+ Ý thức được mục đích học tập, làm thoả mãn nhu cầu nhận thức của mình
+ Suy nghĩ, đánh gia đúng điều kiện hoạt động học tập của mình
+ Dự đoán trước diễn biến của quá trình trí tuệ, cảm xúc, động cơ, ý chí củamình…
+ Động viện được sức lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ
Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, nhu cầu học tập và tính tổchức học tập cho phép HS tự học
Tính tự lực nhận thức có những thành phần cấu trúc như sau:
NĂNGLỰC HỌC TẬP
TỔ CHỨCHỌC TẬP
HÀNHĐỘNG ÝCHÍ
NHU CẦU HIỂU BIẾT HỨNG THÚ NHẬN THỨCĐỘNG CƠ CÓ TÍNH CHẤT XH THẾ GIỚI QUAN
TRI THỨC, KỸ NĂNG, KỸ XẢO LÀM CƠ SỞ
SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ, PP SUY NGHĨ
KỸ NĂNG LẬP KẾ HOẠCH
KỸ NĂNG TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
TỰ KIỂM TRA TÍNH MỤC ĐÍCH
TÍNH KIÊN TRÌ HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ ĐỀ RA
TINH THẦN KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN ĐỂ HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ
PHƯƠNG PHÁP LAO ĐỘNG
Trang 30*Thành phần đầu tiên là động cơ nhận thức thể hiện ở nhu cầu nhận thức, hứng
thú nhận thức, động cơ cĩ tính chất xã hội, thế giới quan
*Thành phần thứ hai là năng lực học tập được đặc trưng ở tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo; sự phát triển trí tuệ, phương pháp suy nghĩ Từ đĩ người học xác định đượcnhiệm vụ nhận thức
*Thành phần thứ ba là tổ chức học tập: Sự tổ chức học tập là sự thống nhất giữ
phương phá suy nghĩ và phương pháp lao động chung Phương pháp lao động chungnày bao gồm việc tổ chức lao động và tự kiểm tra
*Thành phần thứ tư là mặt hành động ý chí: thể hiện ở tính mục đích, tính kiên
trì, tinh thần khắc phục khĩ khăn nhằm thực hiện cĩ kết quả nhiệm vụ học tập
Tự kiểm tra ở thành phần thứ ba cĩ liên hệ với hành động ý chí (thành phần bốn)
Tự kiểm tra địi hỏi phải cĩ sự nổ lực của ý chí Do vậy tự kiểm tra là điều kiện để rènluyện ý chí Tự kiểm tra quan hệ với năng lực học tập thể hiện ở khơng chỉ tính chấttái hiện mà cả tính chất sáng tạo
2.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực và tính tự lực nhận thức:
+ Tính tích cực nhận thức liên hệ chặt chẽ với tính tự lực nhận thức Tính tích cựcnhận thức là điều kiện cần thiết của tính tự lực nhận thức
+ Tính tích cực nhận thức cũng là kết quả và là sự biểu hiện của sự nảy sinh, pháttriển tính tự lực nhận thức
+ Trong tính tự lực nhận thức đã thể hiện tính tích cực nhận thức
3 Vai trị của hứng thú nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh:
+Hứng thú nhận thức là khuynh hường lựa chọn đặ biệt của cá nhân đối với quátrình nhận thức Tính chất lựa chọn của cá nhân được biểu thị trong một lĩnh vực trithức nào đĩ
+Trong dạy học, hứng thú nhận thức thể hiện ở sự ham muốn học tập trong mộtmơn học hoặc nhiều mơn học
+Học tập là một quá trình nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo địi hỏi phải căngthẳng và cĩ sự nổ lực thường xuyên Quá trình học tập này thiếu sự kích thích hứngthú thì việc học khơng cĩ kết quả
+Hứng thú làm giảm sự căng thẳng, giảm sự mệt mỏi, tăng sự hiểu biết…
+Dựa trên sự hứng thú, HS khơng chỉ nắm vững tri thức mà cịn tạo thái độ tốt đốivới việc học (một hoạt động dễ chịu và vui sướng)
+Thực tiễn dạy học đã chứng minh rằng nếu thiếu hứng thú học tập là một trongnhững nguyên nhân dẫn tới sự yếu kém trong học tập Ngược lại khi đã yếu kém thìthường dẫn tới việc mất hứng thú trong học tập
+Đối với HS tiểu học hứng thú thường thể hiện mạnh ở thái độ cảm xúc Các em
HS THCS (tuổi thiếu niên) hứng thú nhận thức của các em được quy định bởi đặcđiểm lứa tuổi là muốn làm người lớn, muốn thể hiện sự tự lực của mình, tuy vậy vẫnchưa thốt khỏi những hứng thú tình tiết, sự mơ tả Cịn HS lứa tuổi thanh xuân thìhứng thú nhận thức cũng gần giống lứa tuổi thiếu niên nhưng xu hướng hứng thú của
họ thay đổi Đã xuất hiện hứng thú đối với con người, địa vị của con người, với sự tựnhận thức, sự định hướng vào trong cuộc sống, địa vị của mình trong cuộc sống.+Nguồn gốc cơ bản của sự hứng thú đối với sự hoạt động học tập trước hết là nộidung học tập và những biện pháp đặc biệt nhằm nâng cao nội dung đĩ Cĩ những biệnpháp cụ thể như sau:
-Tạo điều kiện cho HS củng cố lịng tin vào sức mình: giao viên cĩ thể biểu dươngnhững HS cĩ cố gắng, trả lời chính xác, đúng…
-Ra những bài tập theo nguyện vọng của HS và những bài tập bắt buộc
-Thu hút HS vào những cơng việc tự chọn
Trang 31-Thu hút vào công tác ngoại khoá.
-Giúp HS nhận thức rõ ý nghĩa của bộ môn
-Để tăng tính hấp dẫn trong học tập nên đưa những bài tập có tính chất trò chơi.-Ra những bài tập có tính tới dự định nghề nghiệp của HS
-Tăng cường tính vấn đề trong dạy học
-Khuyến khích HS đọc thêm sách, báo
V Những cơ sở của tâm lý học dạy học
1 Bản chất của việc học và những quy luật của nó
+ Đảm bảo cho HS lĩnh hội được những cơ sở của các khoa học một cách tích cực,
tự giác và có hệ thống
+ Học tập với tư cách là sự lĩnh hội tri thức một cách sáng tạo phụ thuộc vào 3 yếu
tố: Dạy cái gì? Ai dạy & dạy như thế nào? Dạy ai?
Như vậy: +Điều thứ nhất (dạy cái gì) là tính chất của việc học phụ thuộc vào tàiliệu cần lĩnh hội, nội dung của tài liệu
+Điều thứ hai (ai dạy & dạy như thế nào): phụ thuộc vào tài năng nghiệp
vụ và kinh nghiệm của người thầy, phương pháp cụ thể được sử dụng riêng biệt trongmỗi trường hợp
+Điều thứ ba (dạy ai) quá trình học tập phụ thuộc vào cả những đặcđiểm của HS, thái độ học tập và thiên hướng hứng thú của nó
*Tóm lại: Quá trình dạy học được thực hiên gián tiếp thông qua những đặc điểmtâm lý các nhân của HS chứ không phải là kết quả đơn giản và xác định của việcngười ta dạy cái gì và dạy như thế nào cho HS
+Qúa trình dạy học liên quan đến các thành phần tâm lý của sự lĩnh hội kiến thứccủa HS Bao gồm 4 thành phần chủ yếu:
@Thái độ học tập của HS với việc học
@Các quá trình tìm hiểu tài liệu một cách trực tiếp và cảm tính (thông qua cảmgiác, tri giác)
@Quá trình tư duy với tư cách là quá trình cải biến tài liệu thu nhận được
@Quá trình ghi nhớ, bảo tồn có cải biến thông tin thu nhận được
Trước hết chúng ta có thể xét qua những điểm tổng quan như sau:
1.1.Thái độ học tập: thái độ học tập tốt là một điều kiện rất cần thiết để lĩnh hội tri
thức Theo các nhà nghiên cứu tâm lý học ba nhân tố sau đây giúp hình thành thái độhọc tập:
_ Tài liệu học tập có tính tư tưởng-khoa học sâu sắc
_ Việc trình bày tài liệu có tính chất nêu vấn đề và gợi cảm
_ Thái độ học tập của HS thể hiện ở sự chú ý
.Chú ý là điều kiện tất yếu để việc học đạt kết quả tốt
.Hứng thú thường mang màu sắc xúc cảm, là sự thể nghiệm những tình cảm sâusắc và tích cực của HS Thông thường sự hứng thú mang tính chất chọn lọc
.Hứng thú phụ thuộc vào ý nghĩa của tài liệu (có thể liên quan đến những hứngthú bên ngoài của HS ngoài phạm vi học tập)
.Phụ thuộc vào mức độ giáo viên trình bày tài liệu
.Trong việc giáo dục hứng thú không nên lạm dụng tính chất lý thú, không nên
để các em quen làm những gì các em thích Bởi lẽ cần phải làm cho các em nhận thứcđược ý nghĩa của môn học, tầm quan trọng của tri thức với đời sống xã hội Trngnhững trường hợp đó HS sẽ toàn tâm toàn ý làm cả những công việc không hứng thú
Nhận xét sự chú ý
Phải biết nhận xét đúng sự chú ý và phân tích nguyên nhân cảu sự không chú ý
Trang 32+ Biểu hiện bề ngoài: Cách ngồi, nét mặt, điệu bộ, cách nhìn (chăm chăm khôngchớp mắt, há hốc miệng, chau mày, nhăn trán, nhìn xa xa như hướng vào những ýnghĩ nội tâm, những cái khác trở nên xa lạ, kìm hãm những động tác thừa…) Khi thấy
HS ngồi uể oải, không dốc sức làm việc, mắt lờ đờ hoặc hướng về một cái gì bênngoài… Đó là những biểu hiện của hiện tượng không chú ý
+ Đối với những trường hợp nghi vấn sự chú ý nên kiểm tra vấn đáp hoặc gọi HS
đó nhắc lại vấn đề giáo viên vừa giảng nhằm nhắc nhở HS tập trung học (có em thôngminh trả lời ngay lời thầy (cô): Em hãy nhắc lại lời thầy(cô)vừa nói
+ Những nguyên nhân gây ra sự không chú ý:
1 Do thể trạng mệt mỏi vì đau ốm, đau đầu hoặc do bẩm sinh như cận thị, tai bịnghễnh ngãng
2 Do những biến cố xảy ra trong đời sống tinh thần của bản thân, gia đình
3 Do thiếu hứng thú với môn học hoặc do phải cố gắng quá sức mà vẫn không tinvào kết quả học tập của mình (thường xảy ra ở những em có học lực yếu)
4 Do phương pháp dạy học của giáo viên gây ra như trình bày bài giảng khó hiểu,không chú ý đến những đề mục khó trong bài học, không có sự căng thẳng hợp lý vớitừng loại HS
+ Biện pháp thu hút sự chú ý của HS:
_ Sử dụng đa dạng các thủ thuật tổ chức hoạt động học tập của HS như giảngbàisinh động, trình bày giảng có tính chất nêu vấn đề, gợi cảm, trình bày bảng dễ hiểu,duy trì kỷ luật một cách tế nhị
_ Loại trừ các tác nhân làm phân tán chú ý, hình thành năng lực đấu tranh vàchống lại các tác động làm phân tán chú ý Nếu không làm như vậy sẽ hình một sựchú ý được nuông chiều, một thói quen làm việc chỉ trong những điều kiện thuận lợi._ Tổ chức hợp lý nhịp điệu hoạt động của HS Nếu nhịp độ chậm làm phân tán chú
ý, hạ thấp tính tích cực của HS Nhịp độ nhanh sẽ không có lợi vì đa số HS theokhông kịp ý nghĩ của giáo viên dễ tạo ra căng thẳng, các em dễ mệt mỏi làm suy yếuphân tán sự chú ý Nhịp độ tối ưu là do giáo viên quy định tương ứng với từng lớpdựa trên vốn sư phạm của người đó
_ Biết cách tổ chức và điều khiển các loại chú ý của HS tuỳ theo nhiệm vụ đề ratrong học tập
_ Biết điều chỉnh các thuộc tính của chú ý (khối lượng, tập trung, phân phối, dichuyển…)
_ Cần có đối xử cá biệt khi đấu tranh chống đãng trí: có em đãng trí chỉ là ngẫunhiên, có em đãng trí do thói quen, có em do hiếu động, có em do ưu tư lầm lì, có em
do thể lực, có em do giáo dục gia đình không thuận lợi
1.2 Vai trò của tài liệu trực quan cảm tính
+ Quan sát và tri giác tài liệu một cách tích cực, có kế hoạch có một ý nghĩa rấtlớn
+ Theo quan điểm tâm lý học, người ta phân biệt trực quan đồ vật, trực quan tạohình, trực quan từ ngữ…
_ Đồ vật: HS tri giác trực tiếp các sự vật, hiện tượng, các thí nghiệm…
_ Tạo hình: tranh, ảnh, khuôn mẫu, phim…
.Tạo hình thật: Các hình ảnh thật của các sự vật hiện tượng
.Trực quan tượng trưng: tranh vẽ, hình vẽ, sơ đồ, bảng biểu…
_ Trực quan từ ngữ: Dùng từ ngữ trong sáng, có hình ảnh, sinh động của giáo viên
để tạo nên ở HS những biểu tượng cụ thể
Tuy nhiên việc dừng lại qúa lâu ở tri giác cảm tính sẽ dẫn tới có hại, bởi vì nó kìmhãm sự phát triển của tư duy trừu tượng
Trang 331.3 Sự thông hiểu tài liệu học tập
_ Hiểu là đưa tài liệu mới vào hệ thống những liên tưởng đã được hình thành, gắntài liệu chưa biết với tài liệu đã biết
_ Phải đưa tri thức vào trong một hệ thống: quan hệ cục bộ trong một môn học vàgiữa các bộ môn
_ Sự thông hiểu tài liệu liên quan đến tư duy Tư duy của HS thường được biểuhiện ở hai dạng chủ yếu:
.Tư duy cụ thể (mang tính trực quan): Đó là loại tư duy mà đối tượng của nóđược tri giác (là tư duy trực quan-đối tượng) hay được hình dung (gọi là tư duy trựcquan- hình tượng)
.Tư duy trừu tượng: là loại tư duy khái quát bằng những khái niệm
Xét về mặt phát sinh, tư duy cụ thể có trước còn tư duy trừu tượng lại được hìnhthành chủ yếu trong quá trình đi học (lứa tuổi học)
Hai loại tư duy này hoà vào thành một quá trình thống nhất không tách rời nhau,nên người ta thường nói đến các thành phần trực quan-hình tượng và khái niệm (từngữ-logic) của tư duy Cả hai loại tư duy này đều được phát triển dần dần và liên tục.Trình độ phát triển cao của tư duy torng tuổi HS là tư duy lý luận-hinìh thức, tưduy biện chứng, khái quát Tất cả đều hướng vào việc giải thích cá hiện tượng, cácquy luật, chung nhất, tạo khả năng tiên đoán
1.4 Thông tin thu nhận cải biến nhờ tư duy phải được giữ gìn trong trí nhớ
+ Khi cần sử dụng cũng rút ra được trong kho trí nhớ những tri thức cần thiết+ Sự ghi nhớ phụ thuộc vào tính chất hoạt động của HS
_ Học thuộc lòng: hoạt động được tổ chức một cách đặc biệt để ghi nhớ
_ Ghi nhớ có ý nghĩa tài liệu học tập là cần thiết có hiệu quả hơn ghi nhớ máymóc
_ Thông qua các hình thức phân tích, tổng hợp dưới sự điều khiển của giáoviên
_ Tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo: không phải tự động hoá mà có sự tham gia của ýthức và luyện tập là một điều kiện cần thiết để củng cố kỹ năng, kỹ xảo
2 Vấn đề điều khiển quá trình dạy học
Có ý kiến cho rằng: Quá trình dạy học là một quá trình chưa được điều khiển đầy
đủ Nhưng gọi nó là một quá trình hoàn toàn không đựơc điều khiển thì không đúng
Và điều này dẫn tới mâu thuẫn với tư tưởng dạy học có mục đích Vậy làm thế nào đểviệc dạy học trở thành một quá trình được điều khiển?
+ Cần tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức như là một quá trình đã định trước
+ Xây dựng quá trình dạy học theo giai đoạn: định hướng hành động, phân chiahành động
+ Quá trình dạy học có điều khiển gắn với việc nghiên cứu những cơ sở tâm lý củadạy học chương trình hoá:
-Phía người dạy: truyền thụ tri thức
-Phía người học: lĩnh hội thông tin
Thầy và trò là hai khâu của qúa trình dạy học Một khâu là chủ thể, khâu kia làkhách thể của quá trình dạy học Theo cách nói của ngôn ngữ điều khiển học là có cáckênh liên hệ thuận nghịch
Trang 34_ Việc dạy học dẫn tới sự phát triển trí tuệ của HS như là một vấn đề được thừanhận
_ Theo Lêvitốp: Vấn đề tiêu chuẩn nội dung của sự phát triển trí tuệ gồm:
*Tính độc lập của tư duy,
*Tốc độ bền vững của sự lĩnh hội tài liệu học tập
*Tốc độ định hướng trí tuệ (sự nhanh trí)
*Đi sâu vào bản chất của các hiện tượng (kỹ năng phân biệt cái bản chất và cáikhông bản chất)
*Óc phê phán, không thiên hướng vào những phán đoán có sẵn, không có căncứ
Trang 35Chương V TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH NGƯỜI THẦY GIÁO
I Trau dồi nhân cách người thầy:
1 Sản phẩm lao động của người thầy giáo là nhân cách HS.
-Sự trau dồi nhân cách người thầy là một nhiệm vụ không thể thiếu được và là một
yêu cầu cấp thiết
-Sản phẩm lao động của người thầy là kết quả của cả thầy và trò nhằm biến những
tinh hoa của văn minh xã hội thành tài sản riêng của người học
-Nghề dạy học cần phải có những phẩm chất tâm lý cần thiết trong nhân cách của
người thầy
2 Thầy giáo là người quyết định trực tiếp chất lượng đào tạo
Thầy giáo là lực lượng cốt cán, người trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo.Người thầy phải có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, khảnăng chuyên môn… Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên, vào chínhnhân cách của họ
Vai trò của người giáo dục rất quan trọng, bởi lẽ “không mộ điều lệ, khôgn một cơquan giáo dục, không một chương trình nào thay thế được nhân cách con người trong
sự nghiệp giáo dục” (K.D.Ushinxki)
3 Thầy giáo là dấu nối giữa nền văn hoá nhân loại và dân tộc với việc tái tạo nền văn hoá đó trong thế hệ trẻ
Sự lĩnh hội nền văn hoá của thế hệ trẻ là sự bảo tồn nền văn hoá nhân loại và dântộc Muốn sự lĩnh hội này được đầy đủ và chính xác phải tuân theo một phương thứcđặc biệt và thông qua vai trò của người thầy Sự hoạt động này được tiến hành theo cơchế:
+ Thầy: tổ chức, điều khiển hoạt động
+ Trò: hoạt động để chiếm lĩnh nền văn hoá đó
Cả thầy và trò đều là chủ thể của hoạt động dạy học Nền văn hoá (tri thức khoahọc) là phương tiện dạy của thầy và đồng thời là mục đích hoạt động của trò Ngườihọc hoạt động theo sự tổ chức, điều khiển của người thầy để tái sản xuất nền văn hoánhân loại và dân tộc Thầy đã biến quá trình giáo dục của mình thành quá trình tự giáodục của trò
II Đặc điểm lao động của người thầy
1 Đối tượng trực tiếp là con người
Nghề nào cũng có đối tượng trực tiếp của mình Người ta đã chia thành 4 loại:+ Nghề quan hệ với kỹ thuật: thợ lắp máy, sữa chữa máy
+ Nghề quan hệ với tín hiệu: thợ sắp chữ, sữa bản in, đánh máy…
+ Nghề quan hệ với động vật và thiên nhiên: địa chất, chăn nuôi, thú y…
+ Nghề quan hệ trực tiếp với con người: người bán hàng, cán bộ quản lý, hướngdẫn viên du lịch, thầy thuốc, thầy giáo
Đòi hỏi tất yếu cần có đối với nghề quan hệ trực tiếp với con người là quan hệ giữacon người với con người: Sự tôn trọng nhau, tình yêu thương, đối xử công bằng, thái
Trang 362 Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình
Nghề nào cũng có công cụ để lao động Trong dạy học và giáo dục, người thầygiáo dùng nhân cách của chính mình để tác động vào HS Được biểu hiện cụ thể ởnhững phẩm chất chính trị, lòng yêu nghề mến trẻ, là trình độ học vấn, là sự thànhthạo nghề nghiệp, là lối sống, cách xử sự, giao tiếp của người thầy…
Là một nghề đào tạo con người, một nghề lao động nghiêm túc, không cho phéptạo ra thứ phẩm, không cho phép có phế phẩm như một số ngành khác Làm hỏng mộtcon người là một tội lớn, không có gì chuộc lại được
Để trở thành một người thầy tốt cần phải có một cuộc sống chân chính, vẹn toàn,
có ý thức và kỹ năng tự hoàn thiện mình
3 Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội
Loài người muốn tồn tại, phát triển cần phải sản xuất và tái sản xuất của cải vậtchất, của cải tinh thần Sức lao động chính là toàn bộ sức mạnh vật chất hay tinh thầntrong con người, trong chính nhân cách sinh động của cá nhân
Chức năng của giáo dục là bồi dưỡng và phát huy sức mạnh đó trong mỗi conngười Thầy giáo là lực lượng chủ yếu tạo ra sức lao động đó Giáo dục đào tạo sứcmạnh đó không phải ở dạng giản đơn mà có lúc tạo ra những hiệu quả rất lớn khônglường được Do vậy mà người ta cho rằng đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lãi nhất
4 Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật, tính sáng tạo
Lao động sư phạm là một loại lao động căng thẳng, tinh tế, không rập khuôn,không đóng khung trong một giờ giảng, không khuôn khổ nhà trường Dạy cho HSgiải được một bài toán, viết được một câu văn đúng… là một việc làm không khó, cáikhó hơn là dạy cho HS nắm được phương pháp, tiến đến chân lý, phát triển trí tuệ…mới là công việc khó “người thầy giáo dở là người mang chân lý đến sẵn, người thầygiỏi là người biết dạy HS đi tìm chân lý” (Diesteweg-nhà sư phạm người Đức)
Người thầy phải dựa trên nền tảng khoa học chung, khoa học bộ môn, khoa họcgiáo dục Ap dụng chúng vào những tình huống sư phạm nhất định, thích ứng với từng
cá nhân
5 Nghề lao động trí óc chuyên nghiệp
Lao động trí óc có hai đặc điểm nổi bật:
+ Thứ nhất là phải có một khoảng thời gian đầu để lao động đi vào nề nếp Thời kỳnày hiệu quả lao động thấp hoặc có khi không tạo ra hiệu quả Lao động trí óc cónhiều khi phải trăn trở đêm ngày không chắc sẽ cho ra sản phẩm Lao động của ngườithầy giáo khi giải quyết một tình huống sư phạm phức tạp cũng có tính chất như vậy.+ Thứ hai là có quán tính của trí tuệ Người thầy giáo khi ra khỏi lớp học còn trăntrở, vẫn còn phải suy nghĩ bao điều… Thời gian làm việc của người thầy không đóngkhung trong không gian lớp học, trong thời gian 8 tiếng mà ở khối lượng, chất lượng,tính sáng tạo
Do vậy chính chúng ta-đội ngũ những người thầy tự thấy trách nhiệm của chínhmình Mặt khác, một vấn đề cần đặt ra là xã hội cần phải dành cho nhà giáo một vị trítinh thần, một sự ưu đãi về vật chất thật xứng đáng để họ an tâm với nghề
III Nhân cách của người thầy giáo
1 Nhân cách-cấu trúc nhân cách của người thầy
Nhân cách nói chung của con người là tổng thể những phẩm chất và năng lực.Phẩm chất là đức, năng lực là tài
Phẩm chất:
+ Phẩm chất xã hội (đạo đức, chính trị như thế giới quan, lý tưởng, niềm tin…)+ Phẩm chất cá nhân (đạo đức, tư cách: tính nết, thói quen…)
Trang 37+ Phẩm chất ý chí: tính mục đích, tính tự chủ, tính kỷ luật, tinh thần phê phán…+ Ứng xử: tác phong, tính khí, lễ tiết…
2 Phẩm chất của người thầy
+ Thế giới quan khoa học:
Thế giới quan của người thầy là thế giới quan MácLênin, bao hàm những quanđiểm duy vật biện chứng về các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Thếgiới quan này đựợc hình thành dưới nhiều ảnh hưởng như trình độ học vấn, việcnghiên cứu nội dung giảng dạy, ảnh hưởng của thực tế nước nhà (khoa học, kinh tế,văn hóa, nghệ thuật…)
Thế giới quan này chi phối các hoạt động của người thầy như lựa chọn nội dunggiảng dạy, phương pháp giảng dạy, sự kết hợp giữa nội dung giảng dạy với thực tiễncuộc sống, phương pháp xử lý các biểu hiện tâm lý của HS…
+Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ:
Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ là hạt nhân trong cấu trúc nhân cách của người thầy
Lý tưởng của người thầy có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách củaHS
Lý tưởng này được biểu hiện cụ thể bằng niềm say mê nghề nghiệp, lương tâmnghề nghiệp, lòng yêu thương trẻ, tác phong làm việc cần cù, có trách nhiệm, sốnggiản dị, chân thành, tận tâm với nghề…
Lý tưởng này không phải là cái có sẵn, không phải được truyền từ người này sangngười khác một cách áp đặt Sự hình thành lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ được hình thành
và phát triển trong quá trình hoạt động giáo dục Trong quá trình đó sự nhận thức vềnghề càng được nâng lên, tình cảm nghề nghiệp càng sâu sắc…
+Lòng yêu trẻ:
Trước hết là lòng yêu thương con người Đó là đạo lý của cuộc sống Lòng yêuthương con trẻ càng sâu sắc bao nhiêu thì càng làm được nhiều việc có ích bấy nhiêu.Xukhômlinxki-một nhà giáo công huân người Liên Xô cũ (1918-1970): “Tôi nghĩrằng đối với một nhà giáo dục điều chủ yếu là tình người, đó là một nhu cầu sâu sắctrong con người Có lẽ những mầm móng của hứng thú sư phạm là ở chỗ hoạt độngsáng tạo đầy tình người để tạo ra hạnh phúc cho con người… Đó là một điều vô cùngquan trọng Vì khi tạo ra niềm vui cho người khác, cho trẻ thơ thì họ sẽ có một tài sản
vô giá: đó là tình người mà tập trung là sự nhiệt tâm, thái độ ân cần và chu đáo, lòng
vị tha”
Trang 38Lòng yêu trẻ được biểu hiện:
+ Người thầy cảm thấy sung sướng khi được tiếp xúc với trẻ Thật là sung sướngkhi nhìn thấy những khuôn mặt ngây thơ, những giọng nói thơ ngây, tò mò trong hiểubiết… khi nhận thấy rằng các em ngày một khôn lên, trí óc ngày một giàu thêm trithức thì niềm vui khôn tả…
+ Lòng yêu trẻ được biểu hiện trong thái độ ân cần, thiện ý với tất cả HS dù đó là
HS kém hay vô kỷ luật…
+ Luôn tỏ thái độ giúp đỡ bằng lời nói hoặc hành động một cách chân thành vàgiản dị Đừng bao giờ có thái độ đối xử phân biệt
“Để đạt được thành tích trong công tác, người thầy phải có một phẩm chất-đó làtình yêu Người thầy giáo có tình yêu trong công việc là đủ để cho họ trở thành giáoviên tốt.”
+Phẩm chất đạo đức và phẩm chất ý chí của người thầy:
Điều quan trọng đầu tiên là mối quan hệ thầy trò Nội dung, tính chất và cách xử lýmối quan hệ này ảnh hưởng đến chất lượng dạy học Cần xây dựng mối quan hệ để tạođiều kiện kích thích tính tích cực hoạt động học tập ở HS
Người thầy giáo dục HS không những bằng hoạt động trực tiếp mà còn cả hành vi,thái độ của mình
Người thầy phải biết lấy những quy luật khách quan làm chuẩn mực cho tác động
sư phạm và mặt khác phải có những phẩm chất đạo đức, phẩm chất ý chí cần thiết.Những phẩm chất đó là:
Tinh thần nghĩa vụ, tinh thần “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, thái độnhân đạo, lòng tôn trọn, tính tình ngay thẳng, trung thực, giản dị, khiêm tốn, tínhnguyên tắc, kiên nhẫn, tự kiềm chế, tự chiến thắng với thói hư tật xấu, kỹ năng điềukhiển tình cảm, tâm trạng cho thích hợp với các tình huống sư phạm…
3 Năng lực sư phạm của người thầy
Hoạt động của người thầy biểu hiện ở những hình thức khác nhau của công tác sưphạm nhưng tựu trung lại ở hai dạng đặc trưng: công tác dạy học và công tác giáo dục.Thực chất hai công việc này gắn chặt với nhau, trong dạy học đã có giáo dục và ngượclại Tất cả đều nhằm vào một mục đích là xây dựng nhân cách cho HS
Có nhiều ý kiến về cách phân loại các nhóm năng lực sư phạm Chúng ta sẽ xétmột số năng lực điển hình như: nhóm năng lực dạy học, nhóm năng lực giáo dục,nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm
3.1 Nhóm năng lực giảng dạy
+ Năng lực hiểu HS trong quá trình dạy học và giáo dục
Dạy học chỉ có hiệu quả cao khi quá trình đó thực sự điều khiển được Người thầycàng hiểu HS bao nhiêu thì quá trình sự học càng có căn cứ Một năng lực sư phạm cơbản không thể thiếu được là năng lực hiểu HS
Trang 39Sự hiểu biết này là sự hiểu biết thế giới bên trong của trẻ Người thầy có năng lựcquan sát tinh tế sẽ hiểu được nhân cách, những biểu hiện tâm lý, trình độ văn hoá…của HS trong quá trình dạy học.
+ Tri thức và tầm hiểu biết của người thầy:
Đây là một năng lực cơ bản năng lực trụ cột của người dạy học Thầy giáo pháttriển nhân cách HS nhờ một phương tiện đặc biệt là quan điểm là tri thức, kỹ năng,thái độ… nắm vững tri thức thì người thầy mới có thể tổ chức cho HS tái tạo lại, lấylại những cái cần cho sự phát triển tâm lý, nhân cách của họ Từ đó hình thành phẩmchất, năng lực của mình Nghề dạy học đòi hỏi ở người thầy một tầm hiểu biết vừarộng vừa chuyên sâu Tri thức và tâm hồn của người thầy có tác động mạnh đến HS.+ Năng lực chế biến tài liệu học tập
Đó là năng lực gia công về mặt sư phạm của người thầy đối với tài liệu học tậpnhằm phù hợp tối đa tâm lý lứa tuổi và đặc điểm cá nhân HS
Người thầy phải đánh giá đúng tài liệu học tâp Khi đó người thầy sẽ xác lập đượcmối quan hệ giữc yêu cầu kiến thức của chương trình và trình độ nhận thức của HS.Đảm bảo được yêu cầu như trên là làm cho tài liệu học tập phù hợp với trình độnhận thức, khả năng tiếp thu của HS
+ Năng lực chế biến tài liệu học tập
Đó là năng lực gia công về mặt sư phạm của người thầy đối với tài liệu học tậpnhằm phù hợp tối đa tâm lý lứa tuổi và đặc điểm cá nhân HS
Người thầy phải đánh giá đúng tài liệu học tâp Khi đó người thầy sẽ xác lập đượcmối quan hệ giữa yêu cầu kiến thức của chương trình và trình độ nhận thức của HS.Đảm bảo được yêu cầu như trên là làm cho tài liệu học tập phù hợp với trình độnhận thức, khả năng tiếp thu của HS Mặt khác lại đảm bảo được chương trình giảngdạy Người thầy biết chế biến gia công tài liệu nhằm làm cho nó vừa đảm bảo logiccủa sự phát triển khoa học vừa đảm bảo tính logic sư phạm
Để truyền đạt kiến thức cho người khác hiểu thật sự không đơn giản Bởi vì, mọicái người thầy hiểu khi truyền đạt lại cho trẻ cũng hiểu đúng và đầy đủ như mình.Việc gia công, xây dựng lại cấu trúc là một quá trình lao động sáng tạo Tuy vậy cầnlưu ý là phải phù hợp với trình độ nhận thức-tính vừa sức chứ không làm cho tài liệutrở nên đơn giản, thô thiển, hạ thấp trình độ của các em HS
+ Nắm vững kỹ thuật dạy học:
Kết quả lĩnh hội tri thức của HS phụ thuộc vào ba yếu tố:
_ Trình độ nhận thức của HS (người thầy phải hiểu HS);
_ Hai là, nội dung bài giảng (người thầy phải biết cách chế biến tài liệu);
_ Cuối cùng là cách dạy của người thầy (áp dụng các hình thức và phương phápdạy học cho thích hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm tâm lý của các em)
Việc nắm vững kỹ thuật dạy học là nắm vững kỹ thuật tổ chức và điều khiển hoạtđộng nhận thức của trò Nắm vững kỹ thuật dạy học biểu hiện ở chỗ:
*Nắm vững kỹ thuật dạy học mới;
*Truyền đạt tài liệu dễ hiểu, rõ ràng
*Gây hứng thú và kích thích HS suy nghĩ;
*Tạo tâm thế có lợi cho việc nhận thức: gây được sự chú ý, giảm sự căng thẳng(từ trạng thái làm việc sang trạng thái nghỉ-với khoảng thời gian đủ thư giãn); khắcphục thái độ thờ ơ, uể oải trong học tập
+ Năng lực ngôn ngữ:
Nếu không có năng lực ngôn ngữ thì sẽ không có năng lực dạy học, đó là một điềuhiển nhiên Dùng ngôn ngữ để truyền thụ kiến thức mới, kiểm tra kiến thức cũ, thuyết
Trang 40phục HS tin vào một chân lý, một lẽ phải; cĩ khi thơng qua lời nĩi biểu thị một sự ủng
hộ đồng tình hay phản đối
Đây là một năng lực của người thầy khơng thể thiếu được và nĩ đĩng vai trị hếtsức quan trọng Là một cơng cụ, phương tiện đảm bảo cho người thầy thực hiện chứcnăng dạy học và giáo dục của mình
Bằng ngơn ngữ, người thầy thực hiện (các việc sau đây):
_ Truyền đạt thơng tin (từ thầy đến trị)
_ Thúc đẩy sự chú ý, sự suy nghĩ của HS vào bài giảng;
_ Điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của HS
Năng lực ngơn ngữ của người thầy thường được biểu hiện cả nội dung lẫn hìnhthức
3.2 Nhĩm năng lực giáo dục
+Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh.
+Năng lực giao tiếp sư phạm:
Người thầy phải cĩ kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp Phương tiện giao tiếpđặc trưng của con người là thơng qua sự hoạt động của lời nĩi (ngơn ngữ) Trong khigiao tiếp, ngữ điệu đĩng vai trị quan trọng, tác động mạnh đến tình cảm “Lời nĩikhơng mất tiền mua, lựa lời mà nĩi cho vừa lịng nhau” là vậy
Ngồi ra, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười, trang phục… thể hiện thái độ của thầygiáo đối vơi HS (thể hiện thái độ nghiêm túc hay xuề xồ, cứng rắn hay mềm dẻo…)
+Năng lực cảm hố học sinh
+Năng lực đối xử khéo léo sư phạm.
Người thầy phải hiểu biết tâm lý trẻ em, hiểu được những gì đang diễn ra trongtâm hồn của các em, thầy phải biết cách giải quyết linh hoạt những tình huống sưphạm
Vậy đối xử khéo léo sư phạm, theo Xtrakhốp là kỹ năng tìm ra những phương thứctác động đến HS cĩ hiệu quả nhất, cân nhắc đúng đắn nhiệm vụ sư phạm, phù hợp tìnhhuống sư phạm cụ thể…
Biểu hiện cụ thể là:
+ Thái độ ân cần, nhân đạo, cơng bằng, lạc quan, kiên trì…
+ Thái độ chín chắn, thận trọng khi kết luận, quyết định đánh giá HS cĩ thể chạmtới lịng tự ái của HS
+ Sự đánh giá đúng tri thức của HS giúp HS ý thức được thành tích của mình, hiểuđược mặt mạnh, yếu củaminh Ngược lại sự đánh giá khơng đúng sẽ cĩ ảnh hưởng tới
ý thức, tâm trạng, tới tình cảm của HS
+ Thái độ tơn trọng của giáo viên đối với HS giữ vai trị quan trọng trong việcđánh giá tri thức, hành vi của HS
+ Cĩ thái độ yêu cầu cao với HS nhưng khơng được hạ thấp phẩm giá HS thể hiện
sự cơng bằng, thiện chí và tơn trọng các em
+ Tính kiềm chế, tự chủ khơng thể thiếu được trong thái độ đối xử khéo léo sưphạm của người thầy
+ Người thầy cần cĩ định hướng, quyết định đúng đắn mang ý nghĩa cần thiết.+ Vấn đề thể hiện tình cảm của người thầy rất quan trọng như giận dỗi, vui mừng,yêu mến… rất cĩ lợi, đơi khi như là phương tiện cần thiết của tác động sư phạm.+ Giáo viên cần biết lựa chọn thời điểm, nơi chốn… khi tiến hành hĩi chuyện với
HS Chẳng hạn, khi cĩ mặt bạn bè, cha mẹ, một thầy một trị, khi lên lớp, dạo chơi…Với những HS cĩ lỗi thì những lúc như thế là các em sẽ bình tĩnh lại, suy nghĩ về cửchỉ, hành vi… của mình