Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015, các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm những tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
MÔN HỌC: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA
Nhóm 1 – CLC45QTLA
GIẢNG VIÊN: Th.S Nguyễn Trần Bảo Uyên
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh
DANH SÁCH NHÓM 01 – CLC45QTLA
1 Trần Ngọc Bội 2053401020022 Thực hiện Bài tập + Tổng hợp,
chỉnh sửa bài
2 Hồ Nguyễn Phương
Dung
2053401020035 Thực hiện 5 nhận định
3 Lê Hoàng Gia Huy 2053401020074 Thực hiện 5 nhận định
4 Nguyễn Hoàng Lâm 2053401020089 Phân tích Bản án số
04/2018/DSPT
5 Trần Lê Diệu Linh 2053401020101 Phân tích Bản án số
04/2018/DSPT
6 Bùi Thu Ngọc 2053401020141 Thực hiện Bài tập + Tổng hợp,
chỉnh sửa bài
7 Nguyễn Đức Quân 2053401020175 Phân tích Bản án số
04/2018/DSPT
8 Lý Huỳnh Phương
Uyên
2053401020263 Phân tích Bản án số
04/2018/DSPT
Trang 3BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 3 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
PHẦN I: NHẬN ĐỊNH
1 Tranh chấp về cho thuê lại lao động là tranh chấp về dân sự.
Nhận định trên là Sai
CSPL: điểm b khoản 3 Điều 32 BLTTDS năm 2015, khoản 1 Điều 179 BLLĐ năm 2019
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 32 BLTTDS năm 2015, tranh chấp về cho thuê lại lao động là tranh chấp lao động, không phải là tranh chấp về dân sự
Hiện nay, pháp luật chưa có một khái niệm rõ ràng về tranh chấp dân sự Tranh chấp dân sự được hiểu là những tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự về các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 179 BLLĐ năm 2019: “Tranh chấp lao động là
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.”
2 Thẩm quyền xét xử tranh chấp về hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc về Tòa
án nhân dân cấp tỉnh.
Nhận định trên là Đúng
CSPL: điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 26, Điều 30 BLTTDS năm 2015
Điều 37 BLTTDS năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh Điểm a khoản 1 Điều 37 đã dẫn chiếu đến khoản 4 điều 26 Bộ luật này quy định về Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ
Như vậy, tranh chấp về chuyển giao công nghệ là tranh chấp thuộc về thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Trang 4việc gia đình với người sử dụng lao động.
Nhận định trên là Sai
CSPL: điểm c khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015, các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm những tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động sau khi thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hoặc hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải, tuy nhiên luật cũng quy định về các trường hợp không cần thông qua thủ tục hòa giải nhưng vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trong đó có trường hợp tranh chấp lao động giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động
Như vậy, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động
4 Tòa dân sự không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại.
Nhận định trên là Sai
CSPL: Điều 30, 31, Điều 37, khoản 1 Điều 38 BLTTDS năm 2015
Theo khoản 1 Điều 38 BLTTDS năm 2015 thì Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại Điều 37 BLTTDS năm 2015 và theo thủ tục phúc thẩm được quy định tại điểm b khoản
1 Điều 38 Bộ luật này: “Những vụ việc mà bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
Bộ luật này.”
Tòa dân sự là một tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 45 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014
Theo Điều 3 của Thông tư 01/2016/TT-CA thì “Tòa chuyên trách dân sự có
thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự; giải quyết các vụ việc kinh doanh thương
Trang 5mại, phá sản, lao động, hành chính trong trường hợp tại Tòa án đó không tổ chức Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính.”
5 Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
Nhận định này là Đúng
CSPL: khoản 5 Điều 27, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 423 BLTTDS năm 2015
Theo quy định về tại điểm b khoản 1 Điều 37 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết yêu cầu về dân sự được quy định tại Điều 27 Căn cứ theo khoản 5 Điều 27 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
Ngoài ra, các yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó
và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên theo điểm a khoản 1 Điều 423 BLTTDS năm 2015
PHẦN II: BÀI TẬP
Bài tập 1:
a Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp ?
Quan hệ pháp luật tranh chấp là quan hệ pháp luật về nhân thân Trường hợp này tài sản bà B giao cho ông A sở hữu toàn bộ nên không xảy ra tranh chấp Ông bà cũng không có nên việc tranh chấp quyền nuôi con cũng không xảy ra
b Theo anh, chị, Tòa án quận X thành phố Y giải quyết vụ án trên là đúng thẩm quyền theo cấp của Tòa án không? Tại sao?
Việc Tòa án quận X thành phố Y giải quyết vụ án trên là đúng thẩm quyền
Trang 6Ở đây, việc ly hôn của ông A và bà B được xem là thuận tình ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 29 BLTTDS năm 2015 Theo khoản 2 Điều 35 BLTTDS năm 2015, Tòa án cấp huyện sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ án này
Mà ông A và bà B đã đăng ký kết hôn ở quận X thành phố Y, theo quy định tại
khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một
trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn” Vậy nên có thể xác định quận X
thành phố Y là nơi cư trú của ông A hoặc bà B
Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015: “Tòa án nơi một
trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” Tòa án quận X thành phố Y thỏa mãn yếu tố là nơi
một trong các bên thuận tình ly hôn, ở đây là ông A hoặc bà B cư trú, thế nên Tòa án quận X thành phố Y hoàn toàn có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn trên
Trước đây có yếu tố bà B sinh sống và làm việc tại Pháp, tuy nhiên ông A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án quận X thành phố Y cho ly hôn với bà B sau khi bà B đã
về Việt Nam Chính vì thế, ở đây không xuất hiện yếu tố nước ngoài - đương sự ở nước ngoài Nên vấn đề này không thuộc sự điều chỉnh của khoản 3 Điều 35 BLTTDS năm 2015, vì thế thẩm quyền xử lý vụ án vẫn thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện -Tòa án quận X thành phố Y - chứ không thay đổi thành -Tòa án nhân dân cấp tỉnh - -Tòa
án nhân dân thành phố Y
PHẦN III: PHÂN TÍCH ÁN (Bản án số 04/2018/DSPT ngày 12/02/2018 của TAND tỉnh Thái Nguyên).
1 Xác định chủ thể và nội dung kháng cáo trong Bản án phúc thẩm nêu trên.
- Chủ thể:
o Nguyên đơn: Ông T1.
Ông T1 là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự vì ông T1 cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1 khi ông T2 và bà H không chịu trả cho ông số tiền đã vay là 1.400.000 đồng và lãi dù ông đã đòi nhiều lần
CSPL: khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015
Trang 7o Bị đơn: Ông T2 và bà H.
Ông T2 và bà H bị ông T1 khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án dân sự vì đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1 khi ông T2 và bà H không chịu trả cho ông số tiền đã vay là 1.400.000.000 đồng và lãi dù ông T1 đã đòi nhiều lần
CSPL: khoản 3 Điều 68 BLTTDS năm 2015
o Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông K.
Bà S là vợ ông T1, ở đây không nói đến yếu tố số tiền 1.400.000.000 đồng là tài sản riêng của ông T1, mà ông T1 và bà
S đang trong thời kỳ hôn nhân, nên khoản tiền này được xem là tài sản chung của 2 người Thế nên, bà S vẫn có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến số tiền cho vay 1.400.000.000 đồng này
CSPL: Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015
- Nội dung kháng cáo: Ông T2 và bà H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề
nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên bác yêu cầu của nguyên đơn đòi vợ chồng ông 1,4 tỷ đồng và buộc ông T1 phải trả lại cho vợ chồng ông 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng)
2 Hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm? Nhận xét về quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm theo cả hai hướng đồng ý và không đồng ý? (Lưu ý nêu
rõ luận cứ cho các nhận xét).
2.1 Hướng giải quyết của HĐXX phúc thẩm?
Hướng giải quyết của hội đồng xét xử phúc thẩm là hủy bản án sơ thẩm do có vi phạm nghiêm trọng về việc xác định quan hệ pháp luật cần phải giải quyết trong vụ án, chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật
2.2 Nhận xét về quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm theo cả hai hướng đồng ý và không đồng ý? (Lưu ý nêu rõ luận cứ cho các nhận xét).
Nhóm cho rằng Hướng giải quyết của HĐXX phúc thẩm không đơn thuần chỉ là phần Quyết định, mà còn bao gồm những luận điểm trong phần Nhận định của TAND
Vì vậy, nhóm sẽ nhận xét về quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm thông qua việc bình luận các luận điểm ấy, những luận điểm nào Nhóm cho rằng có thể đi theo hai hướng Đồng ý và Không đồng ý thì Nhóm sẽ nêu ra luận cứ theo từng hướng
2.2.1 Tòa án cấp phúc thẩm đã triệu tập họp lệ lần thứ hai nhưng T1 và S vẫn vắng mặt không lý do Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Trang 8HĐXX cấp phúc thẩm đã quyết định đúng với quy định của pháp luật Cụ thể, tại khoản 3 Điều 296 BLTTDS 2015:
“Điều 296 Hoãn phiền tòa phúc thẩm
…
Người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác đã được Tòa
án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành xét xử
vụ án.”
Khi Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ nhất, nếu người không kháng cáo nhưng có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thì buộc phải hoãn phiên tòa Đó là
để bảo vệ quyền lợi cho cá nhân vắng mặt Tuy nhiên, Khi Tòa án đã triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai, mà người ấy vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án sẽ tiến hành xét xử vụ án dựa trên những chứng cứ đã có, mà không cần có sự hiện diện của người đó tại phiên tòa Đây
là một quy định nhằm rút gọn thời gian xét xử, trong khi vẫn đảm bảo rằng Tòa án đã tạo mọi điều kiện để người vắng mặt thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, thể hiện ở điểm Tòa án đã thông báo triệu tập hai lần
2.2.2 Phía bị đơn không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của bên nguyên đơn Tòa án căn cứ điểm a khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015 không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của ông T1.
HĐXX quyết định như vậy là đúng với tinh thần và quy định của pháp luật Nguyên tắc này tồn tại nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của phía bị đơn Bởi lẽ, nguyên đơn thường sẽ có tâm lý muốn rút đơn khởi kiện khi nhận thấy bản thân đang gặp bất lợi Việc rút đơn khởi kiện này sẽ trực tiếp tác động tiêu cực tới các quyền lợi của bên
bị đơn, vì vậy cần phải hỏi ý kiến của phía bị kiện khi bên khởi kiện vụ án muốn rút đơn Nguyên tắc này được quy định rõ ràng tại điểm a khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015:
“Điều 299 Nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm
1 Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:
a) Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn;
b) Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.”
Trang 92.2.3 Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay
nợ là sai quan hệ pháp luật, phải xác định là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nhóm cho rằng, đây là yếu tố chính dẫn thành hai hướng Đồng ý hay Không đồng ý với quyết định của HĐXX cấp phúc thẩm
Xác định sai quan hệ pháp luật của vụ án sẽ dẫn tới sai lầm trong xét xử, làm thay đổi nội dung, tính chất của vụ án Ơ đây, Nhóm sẽ bình luận theo cả hai hướng Đồng ý và Không đồng ý
Đồng ý
Hợp đồng vay nợ chỉ là cam kết được hai bên dựng nên vì một lý do nào khác, còn nội dung sâu xa bên trong lại bắt nguồn từ những mâu thuẫn trong việc mua bán đất đai, là sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi giao kết và thực hiện hợp đồng Vì thế, phải xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất
Cụ thể hơn, ta phân tích dựa trên tình tiết của vụ án Khi thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên bán là ông T1 đã không thực hiện đủ theo những gì đã cam kết, và vì ông T2 muốn đảm bảo cho quyền lợi của mình không bị ảnh hưởng nên mới xác lập nên giấy vay nợ Có thể hiểu việc ông T2 đang giữ một khoản tiền tuy được gọi là tiền nợ đối với ông T1, nhưng thực chất đây là một khoản tiền nhằm để đảm bảo việc nhận được diện tích đất mà ông T1 chưa giao đủ cho ông Vì tiền trong hợp đồng vay nợ đó có nguồn gốc từ mâu thuẫn trong quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hai bên nên tranh chấp thực sự ở đây phải là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Không đồng ý.
Ngày 6/6/2011, ông T2 vay lại của vợ chồng ông T1 và H 1.400.000.000 và trả lãi theo lai suất của Ngân hàng thiết lập giấy vay ghi rõ số tiền và thời hạn trả, có chữ
ký đầy đủ của hai bên Theo điều 463 BLTTDS 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng
và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Có thể thấy, Tòa án cấp sơ thẩm không hề xác định sai quan hệ pháp luật của vụ
án Tình tiết của vụ việc cho thấy rằng số tiền hai bên đang tranh chấp là thuộc về quan
hệ hợp đồng vay tài sản Số tiền liên quan tới việc tranh chấp đất là thuộc về quan hệ hợp đồng mua bán đất, số tiền liên quan tới việc vay mượn là thuộc về hợp đồng vay tài sản Hai quan hệ là độc lập và không liên quan tới nhau Điều này thể hiện ở chi tiết phía bị đơn không hề dẫn ra được những bằng chứng xác thực số tiền này có liên quan tới hoạt động giao dịch đất giữa hai bên Nếu như bảo rằng số tiền này là phía nguyên
Trang 10đơn thiếu bị đơn thì phía bị đơn đã có thể dùng các loại hợp đồng khác có lợi hơn cho phía mình, ví dụ như họp đồng tặng cho tài sản
2.2.4 HĐXX cấp phúc thẩm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm phải coi yêu cầu của T2 và H là yêu cầu phản tố
Phản tố là một trong các quyền lợi cơ bản của bên phía bị đơn một vụ án dân sự nào đó‚ có nghĩa là người bị kiện được quyền kiện ngược lại (nhưng vẫn trong cùng một vụ án) người đã làm đơn khởi kiện mình tại tòa án Người phản tố sẽ nộp đơn phản tố tại tòa án với nội dung có liên quan đến vấn đề đặt ra trong đơn khởi kiện‚ cùng với đơn khởi kiện trước đó của nguyên đơn tòa án sẽ tiếp tục xem xét và đưa ra hướng giải quyết vụ kiện này
Đơn phản tố của người bị kiện (bị đơn) được tòa án chấp thuận nếu như đáp ứng được điều kiện về nội dung quy định tại Điều 200 BLTTDS 2015:
+ Yêu cầu trong đơn phản tố nhằm mục đích bù trừ nghĩa vụ cho yêu cầu của nguyên đơn‚ những người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan đến vụ án dân sự này sẽ
có yêu cầu độc lập khác
+ Nội dung yêu cầu của bị đơn trình bày trong đơn phản tố khi được toà án chấp thuận sẽ dẫn đến hệ quả là loại trừ sự chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu của nguyên đơn‚ những người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan đến vụ án dân sự này sẽ
có yêu cầu độc lập khác”
Có thể thấy để xác định khi nào có thể xem là phản tố cũng không hề dễ dàng, việc này cũng dễ dàng dẫn tới những mâu thuẫn giữa các bên Ở đây, nhóm cũng chia thành hai ý là Đồng ý hay Không đồng ý với HĐXX cấp phúc thẩm:
· +Đồng ý:
- Đây là quyền của phía bị đơn nên bị đơn hoàn toàn được phép thực hiện quyền phản tố
- Yêu cầu phản tố này cũng có thể xem là bù trừ nghĩa vụ cùng loại, là bù trừ nghĩa vụ tài sản Vì nếu như xem đây là quan hệ hợp đồng vay mượn, việc phía bị đơn cho rằng bên khởi kiện cũng đang nợ mình một số tiền sẽ bù trừ đi phần nghĩa vụ
về tài sản mà phía ông T2, bà H đang thiếu vợ chồng T1 Còn nếu xem nó là quan hệ hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì yêu cầu phản tố của phía bị đơn có sự liên quan mật thiết với yêu cầu khởi kiện của bên nguyên đơn, rõ ràng giúp đỡ cho quá trình tố tụng trở nên chính xác và nhanh gọn hơn
· Không đồng ý.
Xét trường hợp yêu cầu phản tố của ông T2 và bà H không được Tòa án chấp nhận, thì căn cứ theo khoản 6 Điều 72 BLTTDS 2015 quy định: “Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng
vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác”
Theo điều khoản trên, dù có hay không có đơn yêu cầu phản tố của ông T2 và
bà H thì vụ án vẫn có thể được giải quyết triệt để