TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT CỦA MÌNH VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG NGOẠI LỆ CHUNG ĐIỀU XX GATT 1994 ĐỐI VỚI BẢO VỆ ĐẠO ĐỨC CÔNG CỘNG. PHÂN TÍCH MỘT VỤ KIỆN LIÊN QUAN ĐẾN NGUYÊN TẮC NÀY VÀ RÚT RA MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Trang 1TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN HỌC: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TÊN ĐỀ TÀI: TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT CỦA MÌNH VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN
ÁP DỤNG NGOẠI LỆ CHUNG ĐIỀU XX GATT 1994 ĐỐI VỚI BẢO VỆ ĐẠO ĐỨC CÔNG CỘNG PHÂN TÍCH MỘT VỤ KIỆN LIÊN QUAN ĐẾN NGUYÊN TẮC NÀY VÀ RÚT RA MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT
NAM
Trang 2:
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG NGOẠI LỆ ĐỐI VỚI BẢO VỆ LỢI ÍCH CÔNG CỘNG 2
1.1 Khái quát về điều kiện áp dụng ngoại lệ chung của Điều XX 2
1.2 Biện pháp áp dụng của Điều XX đối với bảo vệ đạo đức công cộng 3
2 PHÂN TÍCH VỤ KIỆN LIÊN QUAN 3
2.1 Các thông tin chính 4
2.2 Nội dung vụ kiện 5
2.2.1 Tham vấn 5
2.2.2 Các thủ tục của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm 7
2.3 Luật áp dụng 10
3 KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 11
3.1 Đề xuất về việc xây dựng và thực thi chính sách 11
3.2 Đề xuất về tham gia tranh tụng thương mại quốc tế 12
3.3 Đề xuất về việc đàm phán thương mại quốc tế 13
3.4 Một số đề xuất khác 14
3.4.1 Đề xuất tăng cường vai trò của các hiệp hội và các tổ chức, cá nhân có chuyên môn 14
3.4.2 Đề xuất nâng cao vai trò của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội .15 3.4.3 Đề xuất đối với hoạt động giáo dục và đào tạo 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Điều XX là một điều khoản quan trọng trong GATT 1994 vì điều này liệt kêcác ngoại lệ pháp lý mà các nước thành viên WTO có thể viện dẫn nhằm giải thíchcho các biện pháp họ đã áp dụng để hạn chế thương mại mà có thể bị coi là vi phạmcác quy tắc của GATT 1994 Điều khoản ngoại lệ này làm phát sinh vấn đề pháp lýliên quan đến sự cân bằng giữa chính sách ngoại lệ chung của GATT 1994 và bảo
vệ tự do thương mại Đã có rất nhiều các vụ việc giải quyết tranh chấp thương mạixảy ra giữa các thành viên WTO liên quan đến việc giải thích phạm vi của các ngoại
lệ được quy định ở Điều XX dựa trên việc phân tích các quyết định và vụ việc ở cáccấp giải quyết tranh chấp của WTO Một số vụ, thậm chí, mang ý nghĩa nền tảngđối với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, như vụ tranh chấp “cá hồi Úc”1 giữa
Úc và Canada, vụ tranh chấp “tôm – rùa biển”2 giữa Mỹ và các nước Thái Lan, Ấn
Độ, Pakistan, Malaysia; vụ tranh chấp “amiăng của EU”3 giữa EC và Canada; vụtranh chấp “Các sản phẩm từ Hải Cẩu” giữa Na Uy và EC … Có thể thấy trên thực
tế là những ngoại lệ này được các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO giải thíchrất hẹp và chặt chẽ, không thể được sử dụng rộng rãi để biện minh cho việc khôngtuân thủ các quy định của GATT 1994
1 Xem WTO, quyết định của cơ quan phúc thẩm WTO - vụ tranh chấp “Biện pháp thương mại của Úc ảnh hưởng tới sản phẩm cá hồi nhập khẩu”, WT/DS18/AB/R (1998)
2 Xem WTO, quyết định của cơ quan phúc thẩm WTO - vụ tranh chấp “Quy định hạn chế nhập khẩu tôm và một số loại sản phẩm từ tôm”, WT/DS58/AB/R 9 (1998), WT/DS58/AB/RW (2001)
3 Xem WTO, quyết định của cơ quan phúc thẩm WTO - vụ tranh chấp “Biện pháp thương mại của EC ảnh hưởng tới sản phẩm amiăng và những sản phẩm chứa chất amiăng”, WT/DS135/AB/R (2000)
Trang 51 ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG NGOẠI LỆ ĐỐI VỚI BẢO VỆ LỢI ÍCH CÔNG CỘNG
1.1 Khái quát về điều kiện áp dụng ngoại lệ chung của Điều XX
Điều XX của GATT 1994 với tiêu đề “Các ngoại lệ chung” cho phép bảo vệmột số giá trị phi thương mại cốt lõi, trong đó quan trọng nhất có thể kể đến nhưsức khỏe và đời sống con người hay động thực vật (khoản XX(b)), đảm bảo sự tuânthủ với các quy định không trái với luật pháp WTO (khoản XX(d)), các nguồn tàinguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt (khoản XX(g)), đạo đức công cộng (khoảnXX(a)) hay các giá trị nghệ thuật, lịch sử, khảo cổ quốc gia (khoản XX(f))
Trong thực tiễn, khi xem xét một số vụ tranh chấp, Cơ quan phúc thẩm đãcho rằng phải có sự kiểm tra cả hai phương diện theo Điều XX GATT 1994 Theo
đó, để được áp dụng các ngoại lệ cần đáp ứng được hai yêu cầu quan trọng sau:
Thứ nhất, quốc gia viện dẫn có nghĩa vụ chứng minh rằng biện pháp đóthuộc một hoặc nhiều ngoại lệ được quy định ở các khoản từ (a) đến (j) của Điều
XX GATT 1994 và việc áp dụng các biện pháp đó là “cần thiết” hay “liên quan”
Sự “cần thiết” ở đây đòi hỏi phải đánh giá khả năng tồn tại và áp dụng hợp lý trênthực tế Liệu có biện pháp nào trên thực tế tuân thủ quy định của GATT 1994 và cóbiện pháp nào ít mâu thuẫn hơn hay mâu thuẫn ít nhất với GATT 1994 Nếu câu trảlời là “có” thì thực tế vẫn tồn tại biện pháp có khả năng đạt được mục tiêu đề ra và
ít hạn chế thương mại hơn so với biện pháp mà quốc gia đang lựa chọn áp dụng thìbiện pháp quốc gia viện dẫn được xem là không “cần thiết” Biện pháp “cần thiết”phải nằm ở cấp độ “không thể thiếu” dựa trên các yếu tố: tính hiệu quả của biệnpháp, tầm quan trọng của mục tiêu và khả năng hạn chế thương mại của biện pháp4
Thứ hai, biện pháp đó phải đáp ứng các yêu cầu được nêu ở phần nói đầu củaĐiều XX GATT 1994, tức là việc áp dụng các biện pháp đó không nhằm tạo ra sựphân biệt đối xử phi lý, độc đoán hay hạn chế trá hình thương mại quốc tế Điều XXGATT 1994 và cho phép các thành viên được làm khác đi so với các nguyên tắc cơbản của WTO trong một số trường hợp nhằm bảo vệ các lợi ích quan trọng Điều
4 Giáo trình Luật Thương mại Quốc tế - Phần I Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Hồng
Đức – Hội Luật gia Việt Nam, 2013, trang 145 – 154
Trang 6XX GATT 1994 áp dụng cho thương mại hàng hoá và tất nhiên việc áp dụng khôngđược tạo ra sự phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiệnnhư nhau hay tạo ra sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế
1.2 Biện pháp áp dụng của Điều XX đối với bảo vệ đạo đức công cộng
Trên thực tế, đã có nhiều vụ tranh chấp được cơ quan giải quyết tranh chấpcủa WTO đưa ra phán xét, mà nội dung là các quốc gia nguyên đơn khởi kiện cácquốc gia bị đơn về việc quốc gia bị đơn thi hành các chính sách mà họ cho là viphạm các nguyên tắc của WTO và xâm phạm đến lợi ích của quốc gia mình, và cácquốc gia bị đơn viện dẫn ngay đến ngoại lệ chung tại trong GATT 1994 Đối vớimỗi trường hợp cụ thể, cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đều giải thích cácngoại lệ này theo hướng rất hẹp và chặt chẽ, nhằm tránh việc các quốc gia thànhviên WTO sử dụng rộng rãi chúng để biện minh cho việc không tuân thủ các quyđịnh của GATT 1994 để tạo ra sự phân biệt đối xử hay rào cản thương mại
Khoản (a) Điều XX GATT 1994 liên quan đến đạo đức công cộng là mộtngoại lệ rộng bởi không có một định nghĩa hay quy định cụ thể “đạo đức côngcộng” là gì? Ở mỗi quốc gia, việc đánh giá đạo đức công cộng là khác nhau phụthuộc vào những nền văn hoá khác nhau Việc đánh giá thế nào là “đạo đức cộngcộng” tuỳ thuộc vào từng vụ tranh chấp cụ thể liên quan đến các quốc gia cụ thể mà
cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ xem xét đưa ra các lập luận để đánh giá tính cầnthiết của biện pháp bảo vệ đạo đức công cộng nào đó
2 PHÂN TÍCH VỤ KIỆN LIÊN QUAN
Theo một báo cáo được công bố vào tháng 4 năm 2015 trên trang web chínhthức của Tổ chức Public Citizen tại Mỹ, trong 20 năm kể từ khi WTO được thànhlập (1995) cho đến tháng 4/2015, tổng cộng có 40 vụ tranh chấp viện dẫn Điều XXGATT, trong đó 23 vụ liên quan đến nguyên tắc MFN hoặc NT Trong số 40 vụviệc này, chỉ 1 vụ duy nhất thành công (DS 135), còn lại hơn 97% đã thất bại quacác bước xét xử Trong đa số các vụ việc thất bại, các biện pháp gây tranh chấp đềukhông thỏa mãn các điều kiện của một trong các khoản từ (a) đến (j) của Điều XX
Trang 7Ở một vài vụ việc, biện pháp gây tranh chấp được chấp nhận là thuộc phạm vi củamột trong các khoản từ (a) đến (j) nhưng lại không thỏa mãn đoạn mở đầu của Điều
XX Trong 23 vụ việc liên quan tới nguyên tắc không phân biệt đối xử thì có 4 vụliên quan đến “đạo đức công cộng”5 Và dưới đây là bài phân tích cụ thể về vụ kiệnliên quan đến “đạo đức công cộng”:
Vụ kiện EC - Biện pháp cấm nhập khẩu và marketing đối với sản phẩm
từ hải cẩu DS401 6
2.1 Các thông tin chính
- Tên viết tắt: EC - Các sản phẩm từ hải cẩu
- Các bên tham gia:
+ Nguyên đơn: Na Uy
+ Bị đơn: Cộng đồng Châu Âu – EC
+ Bên thứ ba: Argentina Canada Trung Quốc Colombia Ecuador Iceland – Nhật Bản - Mexico - Namibia – Liên Bang Nga – Hoa Kì
Các hiệp định liên quan (được đề cập trong yêu cầu tham vấn): Hiệp địnhNông nghiệp: Điều 4.2; Hiệp định GATT 1994: Điều I:1, III:4, XI:1; Hiệpđịnh Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT): Điều 2.1, 2.2, 5, 5.1, 5.2,5.4, 5.6, 6, 6.1, 7.1, 7.4, 7.5, 8.1, 8.2, 9.2, 9.3
- Yêu cầu tham vấn nhận được: Ngày 5 tháng 11 năm 2009
- Báo cáo của Ban hội thẩm được luân chuyển: Ngày 25 tháng 11 năm 2013
- Báo cáo của Ban Phúc thẩm: Ngày 2 tháng 5 năm 2014
2.2 Tóm tắt vụ kiện
5 Các vụ tranh chấp:
+ DS400 - DS401: Tên rút gọn: Cộng đồng Châu Âu - Các sản phẩm hải cẩu (EC - Seal Products); nguyên đơn: Canada (DS400), Na Uy (DS401) ; bị đơn: EC; báo cáo Hội thẩm: ngày 25/11/2013; báo cáo Phúc thẩm: ngày 22/05/2014.
+ DS363: Tên rút gọn: Trung Quốc - Các ấn phẩm và các sản phẩm giải trí nghe nhìn (China - Publications and Audiovisual Products); nguyên đơn: Mỹ; bị đơn: Trung Quốc; báo cáo Hội thẩm: ngày 12/08/2009; báo cáo Phúc thẩm:ngày21/12/2009.
+ DS285: Tên rút gọn: Mỹ - Đánh bạc (US - Gambling); nguyên đơn: Antigua và Barbuda; bị đơn: Mỹ; báo cáo Hội thẩm: ngày 10/11/2004; báo cáo Phúc thẩm: ngày 07/04/2005.
6
Trang 8Vào ngày 5 tháng 11 năm 2009, Na Uy đã yêu cầu tham vấn với EC về Quyđịnh (EC) số 1007/2009 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu về buôn bán các sảnphẩm con dấu Quy chế được thông qua vào ngày 16 tháng 9 năm 2009 và đượccông bố vào ngày 31 tháng 10 năm 2009 Quy chế này có hiệu lực sau 20 ngày kể từngày công bố Quy định cấm tiếp thị các sản phẩm có nguồn gốc từ hải cẩu trên thịtrường EU và được thực thi ở biên giới Nó áp dụng cho các sản phẩm niêm phongđược sản xuất tại EU và các sản phẩm nhập khẩu Nó không áp dụng cho quá cảnhqua EU Lệnh cấm tiếp thị có hiệu lực từ ngày 20 tháng 8 năm 2010 Vào ngày 10tháng 8 năm 2010, Ủy ban đã thông qua quy định 737/2010, quy định này đưa racác biện pháp thực thi, cũng có hiệu lực vào ngày 20 tháng 8 năm 2010 Na Uy đãcáo buộc rằng các biện pháp này không phù hợp với Điều 2.2 của Hiệp định TBT
2.2 Nội dung vụ kiện
2.2.1 Tham vấn
Đây là tranh chấp liên quan tới các quy định của Liên minh châu Âu “Quyđịnh về sản phẩm từ hải cẩu của EU” ngăn cấm việc nhập khẩu và đưa vào thịtrường các sản phẩm từ hải cẩu Những quy định này cũng đưa ra các trường hợpngoại lệ đối với lệnh cấm nếu các điều kiện nhất định được đáp ứng, kể cả đối vớicác sản phẩm có nguồn gốc từ săn bắt hải cẩu của người Inuit hoặc các cộng đồngbản địa (ngoại lệ IC) và săn bắt cho mục đích quản lý tài nguyên biển (ngoại lệMRM)7
Na Uy tuyên bố rằng quy định của EU về sản phẩm từ hải cẩu gây ra việccấm nhập khẩu và bán các sản phẩm từ hải cẩu và đặt ra một số trường hợp ngoại lệ
có tính phân biệt đối xử có lợi cho các sản phẩm từ hải cẩu có nguồn gốc từ EU vàmột vài nước thứ ba khác Na Uy cũng khẳng định thêm rằng các quy định của EUcũng bao gồm các yếu tố của một hệ thống chứng nhận có phân biệt đối xử các sảnphẩm từ hải cẩu phù hợp với các điều kiện có liên quan để được đưa vào thị trường
EU và mang tính hạn chế thương mại ở một số khía cạnh Hơn nữa, Quy định (EC)
7 Trường ĐH Luật TP.HCM (2010), Giải quyết tranh chấp thương mại WTO: Tóm tắt một số vụ kiện và phán
quyết quan trọng của WTO, tr 17-18, NXB Lao động – Xã hội
Trang 9số 1007/2009 và các tham vấn bổ sung theo yêu cầu liên quan đến Quy chế của Ủyban (EU) số 737/2010 đã không thiết lập các thủ tục đầy đủ để đánh giá sự phù hợpcủa sản phẩm từ hải cẩu được nhập khẩu với các điều kiện có liên quan để được đưavào thị trường EU.
Tháng 5/2009, Na Uy yêu cầu Tham vấn với Cộng đồng chung Châu Âu(EC) liên quan đến Quy định số 1007/2009 của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồngchung Châu Âu vào ngày 16/9/2009 về việc mua bán sản phẩm hải cẩu và các biệnpháp liên quan tiếp theo (“Chế độ về Hải cẩu của EC”) Theo Na Uy, cơ chế của ECcấm việc nhập khẩu và mua bán những sản phẩm hải cẩu qua chế biến và chưa chếbiến, trong khi vẫn duy trì những ngoại lệ ưu tiên tiếp cận thị trường EU đối với cácsản phẩm hải cẩu có nguồn gốc từ EC và các nước thứ ba, trừ Na Uy
Na Uy khiếu nại rằng các biện pháp trên là không phù hợp với nghĩa vụ của
EC theo Điều 4.2 Thoả ước Nông nghiệp; Điều 2.1 và 2.2 của Thoả ước về Hàngrào kỹ thuật (Hiệp định TBT); Điều I:1, III:4 và XI:1 của GATT 1994 1194 Tháng11/2009, Ireland yêu cầu tham gia Tham vấn Ngày 20/11/2009 Canada cũng yêucầu tham gia Tham Vấn
Na Uy cho rằng cơ chế EU áp đặt một lệnh cấm trên việc nhập khẩu và muabán sản phẩm hải cẩu và thiết lập những ngoại lệ mang tính phân biệt đối xử trong
đó ưu tiên cho các sản phẩm hải cẩu có nguồn gốc từ EU và nước thứ ba Na Uycòn khiếu nại thêm rằng cơ chế EU cũng bao gồm hệ thống các yếu tố yêu cầu việcxác nhận sản phẩm hải cẩu phù hợp với những điều kiện liên quan để được phéphiện diện tại thị trường Châu Âu là mang tính phân biệt đối xử và hạn chế thươngmại ở một số khía cạnh
Na Uy cho rằng cơ chế EU là không phù hợp với Điều 2.1, 2.2, 5.1, 5.2, 5.4,5.6, 6.2, 7.1, 7.5, 8.1 và 8.2 của Thoả thuận TBT; Điều I:1, III:4 và XI:1 của GATT1994
Vào ngày 28/10/2010, Canada yêu cầu tham gia tham vấn bổ sung Tháng3/2011, Na Uy yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm Vào cuộc họp ngày 25/3/2011, Bangiải quyết tranh chấp (DSB) trì hoãn việc thành lập Ban hội thẩm
Trang 102.2.2 Các thủ tục của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm
Tại cuộc họp ngày 21/4/2011, DSB thiết lập Ban hội thẩm xem xét vụ việc.Bên thứ ba: Agrentina, Canada, China, Colombia, Ecuador, Ireland, Japan, Mexico,Namibia và Hoa Kỳ Vào tháng 11/2013, báo cáo của Ban hội thẩm được chuyểncho các thành viên
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO ra phán quyết rằng vụ tranh chấpliên quan đến quy định của EU cấm nhập khẩu và tiếp cận thị trường của sản phẩmhải cẩu Cơ chế EU cũng đưa ra những ngoại lệ khác nhau đối với việc cấm đoánnày theo những điều kiện nhất định, trong đó bao gồm các sản phẩm hải cẩu đượcđánh bắt bởi cư dân Inuit hoặc cộng đồng bản địa (IC exception) và những hành visăn bắt thực hiện với mục đích quản lý nguồn thuỷ hải sản (MRM exception)
Ban hội thẩm quyết định rằng cơ chế EU là quy định mang tính kỹ thuật và
cơ chế này không vi phạm điều 2.2 của TBT bởi vì nó thực hiện mục tiêu nhân danhđạo đức công cộng vì lợi ích bảo vệ hải cẩu trong một phạm vi nhất định và không
có biện pháp thay thế nào được thể hiện để tạo nên sự đóng góp tương đương hoặclớn hơn nhằm thực hiện mục tiêu này
Ban hội thẩm kết luận rằng ngoại lệ IC theo cơ chế EU vi phạm Điều I:1 củaGATT 1994 bởi vì một đặc lợi được ban bố bởi EU đối với sản phẩm có nguồn gốc
từ Greenland (đặc biệt, với dân cư Inuit) là không tuân theo nguyên tắc “ngay lậptức” và “vô điều kiện” đối với sản phẩm tương tự từ Na Uy Liên quan đến ngoại lêMRM, Ban hội thẩm cho rằng nó đã vi phạm Điều III:4 của GATT 1994 bởi vì nóquy định các biện pháp đối xử kém thuận lợi đối với các sản phẩm hải cẩu nhậpkhẩu so với các sản phẩm nội địa tương tự Ngoại Lệ IC và MRM không công bằngtheo Điều XX (a) của GATT 1994 ("sự cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng") bởi
vì nó không đáp ứng yêu cầu theo Điều XX Ban hội thẩm cũng tìm thấy thêm rằng
EU đã không thực hiện prima facie case để nói lên rằng cơ chế EU là công bằngtheo Điều XX của GATT 1994 EU đã hành động không phù hợp với nghĩa vụ theoĐiều 5.1.2 của Thoả ước TBT bởi Thủ tục đánh giá sự phù hợp theo cơ chế EU