TÀI LIỆU TẶNG XUẤT PHÁT SỚM ĐĂNG KÝ NGAY KHÓA HỌC CHẤT LƯỢNG CAO ĐỂ SĂN 8+ VĂN CÙNG CHỊ HIÊN BỘ TÀI LIỆU CHI TIẾT 4 TÁC PHẨM TRỌNG TÂM TÂY TIẾN Quang Dũng I Bố cục Bố cục phân tích 1 14 câu thơ đầu Hì.
Trang 1BỘ TÀI LIỆU CHI TIẾT 4 TÁC PHẨM TRỌNG TÂM
TÂY TIẾN
Quang Dũng
I Bố cục
Bố cục phân tích
1 14 câu thơ đầu Hình ảnh người lính Tây Tiến gắn liền với thiên
nhiên miền Tây và những chặng đường hành quângian khổ
2 8 câu thơ tiếp Kỷ niệm về đêm liên hoan văn nghệ đốt lửa trại
và buổi chiều sông nước Tây Bắc mênh mang,
★ 2 câu thơ đầu:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơiNhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
- Một tiếng gọi đầy thiết tha, trìu mến
- Các hình ảnh xuất hiện trong câu thơ:
+ Hình ảnh dòng sông Mã - Tây Tiến - Con sông gắn với chặngđường hành quân, gắn với những kỷ niệm của binh đoàn Tây Tiến.+ Nỗi nhớ trực tiếp hướng tới binh đoàn Tây Tiến
=> Nhận ra tất cả đã “xa rồi", chỉ còn trong kỷ niệm
- Nỗi nhớ được đề cập đến: “nhớ về rừng núi" - nhớ thiên nhiên TâyBắc
- “Nhớ chơi vơi” - Nỗi nhớ thật đặc biệt có thể hiểu theo ý nghĩa:
Trang 2+ Đang đứng giữa lưng chừng nỗi nhớ, một nỗi nhớ da diết, mênhmang.
+ Nỗi nhớ quá rộng không biết đi về nẻo nào của nỗi nhớthương ★ 2 câu thơ tiếp:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơi”
- Hai địa danh: Sài Khao, Mường Lát: 2 mốc không gian địa lý gắnvới những kỷ niệm của một thời chiến binh - Thành mốc thời gian
in dấu những kỷ niệm
★ 4 câu thơ tiếp:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây, súng ngửi trờiNgàn thước lên cao, ngàn thước xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
- Dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm => Từ láy: Địa hình gập ghềnh,hiểm trở, gấp gãy
=> Khó đi; “Đèo cao, dốc đứng"
- Đặc tả độ cao: Cồn mây heo hút - Hình ảnh: những người lính TâyTiến đang hành quân qua những đồi núi chập chùng, núi cao tới nỗisúng có thể chạm vào mây
- Hình ảnh “súng ngửi trời”: sử dụng BPTT nhân hóa với mụcđích: + Đặc tả độ cao của núi rừng núi Tây Bắc
+ Chất lính: sự dí dỏm, vui nhộn, lạc quan, yêu đời
- Núi: cao thì cao vời vợi
- Vực; sâu thì sâu thăm thẳm
=> Đối: lên, xuống ; ngàn thước: lớn => Hiểm trở => Người đọcgiống như đang “chơi một trò bập bênh chóng mặt”
- Nơi đèo cao, dốc đứng, người lính đưa tầm mắt nhìn về những bảnlàng => Hình ảnh những nếp nhà Pha Luông ẩn hiện trong làn mưabụi => Gợi ra sự bình yên trong chính cảnh vật và trong cả tâm hồnngười lính => Quang Dũng kéo người đọc trở về với sự cân bằng
★ 2 câu thơ tiếp:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữaGục lên súng mũ bỏ quên đời”
Trang 3- Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với 2 lớp nghĩa: + Nhữngngười lính mỏi mệt, nghỉ ngơi trên chặng đường hành quân =>Hình ảnh rất đỗi giản dị, gần gũi nhưng lại vô cùng đẹp đẽ + Sự hysinh của những người lính Tây Tiến => Tư thế coi cái chết “nhẹ tựalông hồng” => “Không bước nữa" sử dụng BPTT nói giảm nóitránh.
★ 2 câu thơ tiếp:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thétĐêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
- Sự đe dọa nơi “rừng thiêng, nước độc”
+ Thác gầm thét => Thiên nhiên rất dữ dội, hung bạo+ Cọp trêu người => Sự đe dọa của thú dữ
=> Biện pháp tu từ nhân hóa => Sự nguy hiểm nơi rừng núi TâyBắc mà trực tiếp những người lính Tây Tiến phải đối mặt
★ 2 câu thơ tiếp:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khóiMai Châu mùa em thơm nếp xôi”
- Kéo lại sự cân bằng cho người đọc với những hình ảnh thật mềmmại, nhẹ nhàng - Nhớ ôi Tây Tiến; Trực tiếp thể hiện cảm xúc - nỗinhớ: Nhớ về những bản làng trong khói bếp ban chiều => Một hìnhảnh rất đẹp, rất bình
yên, rất tình (tình cảm của người chiến sĩ với đồng bào) - MaiChâu: Địa danh với tên gọi gợi ra sự thanh thoát, nhẹ nhàng đi kèmvới hình ảnh “thơm nếp xôi" tạo ra những dư vị cảm xúc bình yêntrong tâm hồn người đọc
- “Mùa em” - mùa của sự đủ đầy, “mùa con ong đi lấy mật, con voixuống sông uống nước, mùa em đi phát rẫy làm nương” mùa ta gặpnhau, mùa trao yêu thương, vương luyến nhớ để xa rồi sẽ mãikhông quên => Một mùa thật lạ, thật đẹp, thật tình
III Liên hệ mở rộng
1 Nhận định
- Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên đã gọi “Tây Tiến là một tượng đài thica” Ông đánh giá bài thơ này “đột khởi một đỉnh núi Tây Tiến trong thơ hiệnđại Việt Nam mà mỗi câu chữ, mỗi dòng thơ vừa hằn vết chân hành quân vừavút tiếng ca quân hành”
“Đọc Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm nhạc trong miệng” (Xuân Diệu)
-“Quang Dũng đứng riêng một ốc đảo, đặc biệt với bài thơ Tây Tiến, ông không có
Trang 4điểm gì chung với những nhà thơ khác, ông đứng biệt lập như một hòn đảo giữacác nhà thơ kháng chiến” (Vũ Quần Phương)
- “Một bài thơ kỳ diệu và có một vị trí đặc biệt trong lòng công chúng, một bài thơđược kỷ niệm 60 năm ngày sáng tác (năm 2008), một bài thơ làm sống dậy cảmột trung đoàn, khiến địa danh Tây Tiến trường tồn trong lịch sử và ký ức mỗingười Nó như một viên ngọc sáng trong tâm hồn Việt, tấm lòng Việt và thơ caViệt” (Nguyễn Xuân Nghiêm)
- “Nếu như Chính Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thìQuang Dũng đã tái hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn đem đến mensay cho thi tứ, sự bay bổng của hình tượng Nếu thiếu đi cái chất lãng mạn,
“Tây Tiến” cơ hồ sẽ mất đi vẻ đẹp toàn bích của nó.” (nhà phê bình văn họcNguyễn Đăng Điệp)
- Nhà thơ Phan Quế đã từng bình về câu thơ “Sông mã gầm lên khúc độc hành”:
“Câu thơ như một tuyệt bút thiên nhiên về sông Mã Tôi chưa đọc câu thơ nàoviết về sông Mã hay hơn thế Âm vang của câu thơ là khí tiết của con sông chiếntrận, quả cảm và dũng mãnh trong độc khúc binh lửa của mình mà tạo nên chấthiệp sĩ của tứ thơ.”
2 Liên hệ với tác phẩm khác
Câu thơ toàn thanh bằng: “Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi”
Chọn lọc chi tiết, từ ngữ đắt giá, cô đọng gợi ý tượng hình: Mường Hịch, Pha Luông,Mai Châu, đời xanh Nhịp thơ, tiết tấu âm thanh thích hợp, luôn chuyển biến lênxuống như một âm ba để thích nghi với thi tứ, thi cảnh: “Dốc lên khúc khuỷu, dốcthăm thẳm/ Heo hút cồn mây, súng ngửi trời/ Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống/Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi” Nhạc thơ du dương vốn có sẵn vì nhà thơ sử dụngthể thơ mới bảy chữ đã có tính nhạc truyền thống theo âm bình trắc Trừ một đôi chỗphá cách để bất ngờ tạo cảm giác mơ hồ, chơi vơi và mênh mang cho người đọc “Nhà
ai Pha Luông, mưa xa khơi” nhà thơ chỉ sử dụng toàn thanh bằng – một biện phápnghệ thuật cũng được sử dụng ở các nhà thơ nổi tiếng: “Giang hồ mê chơi quên quêhương” (Thăm mả cũ bên đường – Tản Đà) hoặc “Sương nương theo trăng ngừng lưngtrời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Nhị hồ - Xuân Diệu) Ta cũng không thểkhông biết nhà thơ Quang Dũng từng có những vần thơ tuyệt bút về tình yêu “Em mãi
là hai mươi tuổi/ Ta mãi là mùa xanh xưa/ Những cây ổi thơm ngày ấy/ Và vầng hoangâu mưa Thu/ Tóc anh đã thành mây trắng/ Mắt em dáng thời gian qua ” (Khôngđề)
Nỗi nhớ trong “Tây Tiến”
Bài thơ bắt đầu từ nỗi nhớ Nhớ là một tình cảm thảng thốt, trào dâng, quay quắt,không nén được, bắt người ta phải cất lên thành tiếng gọi “Huế ơi, quê mẹ của ta ơi”(Tố Hữu) Những bài thơ viết từ nỗi nhớ là những bài thơ sâu sắc, đáng tin và dễ haynhất Ca dao tuyệt vời ám ảnh với “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớai/ Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm”; “Khăn thương nhớ
Trang 5ai/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất / Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt”.Viết về nỗi nhớ, lý trí không chỉ đạo, mà tuôn theo dòng tình cảm, bởi thế nó có sự tựnhiên như nhiên, không gò gẫm, không lệ thuộc vào sự chi phối bên ngoài, không cảhướng theo “mục đích” của tác giả Chỉ là sự tự thể hiện.
IV Mở bài, kết bài
thắng ngày mai + Vấn đề nghị luận.
Mẫu 2:
“Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương? ”
Ôi! Trái tim bạn đọc đã từng bao lần phải sửng sốt trước đôi mắt “dìu dịu buồn TâyPhương” mà Quang Dũng miêu tả về người em trong thi phẩm quen thuộc này Một đôimắt vừa tình tứ, vừa linh động thật hợp với hồn thơ của thi sĩ xứ Đoài mây trắng: hồnhậu, phóng khoáng, lãng mạn và tài hoa Bên cạnh mảng thơ viết về quê hương “đểthương, để nhớ” của mình, người nghệ sĩ đa tài ấy còn đặc biệt gây ấn tượng với bạnđọc về mảng thơ ca kháng chiến – cụ thể viết về hình ảnh người lính “Tây Tiến” chính
là một trong số những bài thơ như thế - tác phẩm nổi bật trong mảng thơ ca thời kỳ đầu
kháng chiến chống Pháp + Vấn đề nghị luận.
2 Kết bài
Mẫu 1:
“Tây Tiến” - câu chuyện của nỗi nhớ thương, sự tự hào và cả những xót xa tiếc nuối
mà Quang Dũng viết lên Những vần thơ ấy cứ như những dấu ấn để khi đến với nó rồithì ai cũng sẽ không khỏi bồi hồi, nhớ thương theo từng khung cảnh thiên nhiên, câuchuyện về người lính Tây Tiến đầy bi hùng Những rung cảm trong “Tây Tiến” thật sựcuốn hút lòng người trong từng câu chữ, ý thơ Vậy mới thấy “Thơ hay luôn có sứcrung động mãnh liệt”
Mẫu 2:
Thời gian vô tình cứ trôi đi mãi để lại cho con người biết bao nhiêu là kỉ niệm, lànhững nỗi niềm nhớ thương Từng hình ảnh của thiên nhiên, của những người lính Tây
Trang 6Tiến được khắc họa lại bằng nỗi nhớ, bằng những kí ức của Quang Dũng thực sự khiếncon người ta xúc động Lịch sử có thể ngày càng lùi xa nhưng sự dũng cảm, những hisinh can trường của những người lính ấy vẫn mãi ở đây, mãi là niềm tự hào cho mọi thế
hệ về một đất nước Việt Nam độc lập
V Sơ đồ tư duy
VIỆT BẮC
Tố Hữu
I Bố cục
Bố cục phân tích
1 8 câu thơ đầu Khúc hát chia ly giữa kẻ đi người ở
2 12 câu thơ tiếp Những năm tháng chia ngọt sẻ bùi của đồng bào Việt
Bắc với cán bộ Cách mạng
3 22 câu thơ tiếp Khẳng định lòng thuỷ chung tình nghĩa và tái hiện lại
vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc
4 10 câu tiếp Bức tranh tứ bình
Trang 75 10 câu tiếp Tái hiện lại kỷ niệm những ngày kháng chiến gắn với
thiên nhiên Việt Bắc
6 12 câu tiếp Những con đường ra trận
7 16 câu thơ cuối Người ra đi nhớ Việt Bắc cũng chính là nhớ nơi ghi dấu
bao hoạt động của Trung ương Đảng và Chính phủ
…Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
★4 câu đầu: Lời của người ở lại
- Câu hỏi tu từ: Người ở lại - Đồng bào VB - hỏi người ra đi: khi vềvới Hà Nội rồi liệu còn nhớ nơi đây nữa hay không?
- 15 năm: Khoảng thời gian sinh hoạt, chiến đấu cùng đồng bào VB;
Trang 8- Câu hỏi tu từ: Nhắc nhớ về những năm tháng đã trôiqua - Cây - núi: Nhớ về thiên nhiên VB
- Sông - nguồn: Cội nguồn của nghĩa tình
★4 câu thơ tiếp: Lời đáp lại của người ra đi
- Tiếng ai - Đại từ phiếm “ai” - đồng bào Việt Bắc
- Câu thơ như một lời hồi đáp của người ra đi rằng chúng tôi đã nghethấy những điều gửi gắm của người của ở lại - đồng bào VB - Đảotừ: “Trong dạ bâng khuâng, bước đi bồn chồn” - Nhấn mạnh vào mặtcảm xúc của người ra đi: Lòng đầy lưu luyến, bâng khuâng Bước đingập ngừng cứ đi rồi lại dừng, ngoái nhìn cảnh vật và con người nơiđây => Vừa vui, vừa buồn; vừa tiếc nuối, vừa hào hứng, - “Áochàm” => Hoán dụ
- Áo chàm hình ảnh trang phục quen thuộc của đồng bào VB - Màuchàm: màu thể hiện cho sự giản dị, mộc mạc, bền bỉ, chịu thươngchịu
khó, màu của nghĩa tình
=> Đồng bào Việt Bắc, tô đậm những vẻ đẹp phẩm chất của người ởlại => Hình ảnh đồng bào VB trong buổi chia tay cán bộ cách mạng
về xuôi
III Liên hệ mở rộng
1 Nhận định
- “Thời đại ta đã may mắn có được nhà thơ Tố Hữu” (Hoài Thanh)
- Việt Bắc là đỉnh thơ cao nhất mà Tố Hữu đã bước lên (Xuân Diệu - "Tập thơ ViệtBắc của Tố Hữu")
- “Với Tố Hữu, thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng Ðó chính là đặc sắc và cũng là
bí quyết độc đáo của Tố Hữu trong thơ ca” (Đặng Thai Mai - Lời giới thiệu tậpthơ Từ ấy, Văn học, 1959)
- Cảnh vật và tinh thần Việt Bắc đã nhập vào hồn tôi, máu thịt tôi, Việt Bắc ở trongtôi (Tố Hữu - "Nhà văn nói về tác phẩm")
Trang 9- Sức mạnh của thơ Tố Hữu trong những ngày đen tối ấy chính là vì nó nói với tráitim, chính là bởi người cách mạng ấy là một thi sĩ chính cống, thật sự (XuânDiệu - "Tố Hữu với chúng tôi")
- “Tố Hữu không tô vẽ lên nhân vật quần chúng những nét sơn hào nhoáng, giả tạo.Tình cảm của nhân vật thơ anh biểu hiện lên từ bản chất giai cấp, từ đời sốngthực.Người bộ đội chiếm một địa vị quan trọng trong tập thơ Việt Bắc, chính làngười nông dân nghèo khổ” (Hoàng Trung Thông - Chặng đường mới củachúng ta, 1961)
- Thơ của chàng thanh niên Tố Hữu khi ấy từ trái tim vọt ra cũng như thơ củachúng tôi, cũng lãng mạn như thể chúng tôi, nhưng là thứ lãng mạn khác, cónhiều máu huyết hơn; thơ chúng tôi chỉ đập cho mở cửa trời, nhưng thơ Tố Hữuthì mới có chìa khóa: Cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng cho người laokhổ (Tố Hữu với chúng tôi, 1975, Xuân Diệu)
- Thơ là đi giữa nhạc và ý Rơi vào cái vực ý, thì thơ sẽ sâu, nhưng rất dễ khô khan.Rơi vào cái vực nhạc, thì thơ dễ làm đắm say người, nhưng cũng dễ nông cạn
Tố Hữu đã giữ được thế quân bình giữa hai vực thu hút ấy Thơ của anh vừa rungười trong nhạc, vừa thức người bằng ý (Chế Lan Viên - "Lời nói đầu tuyểntập thơ Tố Hữu")
- Một tiếng nói yêu thương luôn luôn chan hòa ánh sáng, tự nó cũng là ánh sáng,lại hết sức linh hoạt và uyển chuyển, mỗi lúc một khác, mỗi nơi một khác, kể cảnhững lúc chỉ là sự im lặng giữa các dòng thơ Phải chăng đây chính là bản sắcriêng của thơ Tố Hữu (Chuyện thơ, 1978, Hoài Thanh)
- Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch trình tiến triển về tưtưởng và trình độ giác ngộ, về sức hoạt động của Tố Hữu Thơ Tố Hữu khôngphải là một trò tiêu khiển mà là một khí cụ đấu tranh, một công tác vận động củangười cách mạng Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩ nhưng chúng tađừng quên cốt cách của nó là thi sĩ
- Thơ Tố Hữu bao giờ cũng mới, càng ngày càng mới, vì nó thể hiện thế giới quancách mạng của chủ nghĩa Mác, hệ tư tưởng vô sản, đạo đức cộng sản chủ nghĩa
là những tư tưởng càng ngày càng trở thành cách nhìn, nếp sống phổ biến củanhững con người mới của thời đại (Bình luận văn học, 1964, Như Phong)
- "Tố Hữu là một nhà thơ lớn Nói đúng hơn, ông là nhà thơ lãng mạn cách mạng
Cả cuộc đời ông gắn bó với cách mạng Thơ với đời là một Trước sau đều nhấtquán Tố Hữu nhìn cách mạng bằng con mắt lãng mạn của một thi sĩ Thơ ôngdường như chỉ có một giọng Đó là giọng hát tưng bừng ca ngợi cách mạng.Đọc ông trong bất cứ hoàn cảnh và tâm trạng nào, ta cũng thấy phấn chấn, náonức như đi trẩy hội Đến đâu cũng nghe vang tiếng trống, tiếng kèn Mà thơ ôngđâu chỉ có trống phách linh đình như một đám rước, ông còn bắn cả 21 phát đạibác vang trời Cho đến nay, chỉ có ông là nhà thơ Việt Nam duy nhất đã bắn đạibác “ trang trọng như thế” ( Chân dung và đối thoại- Trần Đăng Khoa )
Trang 10- "Cuối cùng, như mọi kiếp người, ông đã giã từ đời sống về nơi cát bụi trong mộtngày mùa đông giá rét Ông không còn được lưu lại trên thế gian để đón thêmmột mùa xuân nữa Từ đây, những câu thơ viết về mùa xuân của ông mà có thờirất nhiều người đọc Việt Nam chờ đợi khi xuân tới sẽ chẳng bao giờ sinh ra.Một lần, tôi gặp ông trong một cuộc hội thảo, ông bảo tôi: "Hôm nào tới nhàmình chơi, mình kể cho ông mấy chuyện hay lắm ông có khả năng viết tư liệuđấy" Nhưng cuộc trò chuyện ấy không bao giờ có được Có thể sau này, khi tôicũng thành người thiên cổ và gặp ông ở cõi vĩnh hằng thì có thể tôi sẽ được ông
kể cho nghe Nhưng tôi nghĩ trong cõi vĩnh hằng, những chuyện dở, chuyện haychẳng còn quan trọng gì nữa Vì nơi ấy, mọi đau khổ đều được chữa chạy, mọităm tối đều được chiếu sáng, mọi lầm lỗi đều được tha thứ, mọi sợ hãi đều đượcche chở, mọi tuyệt vọng đều được cứu vớt Giờ đây, linh hồn ông đang mỉmcười hay đang suy ngẫm, thở phào nhẹ nhõm hay dằn vặt khổ đau" (Tố Hữu vàngọn đèn đã tắt - Nguyễn Quang Thiều)
- Thơ Tố Hữu là thơ một con người biết trân trọng lấy đời mình, muốn làm cho đờimình trở nên hữu ích Vậy thì ai kia còn phung phí đời mình, làm gì cũng được,sống sao cũng xong, trong khi đọc thơ này hãy bắt đầu thử dừng lại mà biết quýlấy đời mình, mà đem xây dựng nó
- Nhà thi sĩ ấy tự muốn mình là tiếng nói của dân tộc mình Vậy thì dân tộc ấy cónăng khiếu thơ thông qua nhà thi sĩ Các dân tộc hiện đại, đã công nghiệp hóarồi, đã bị san phẳng bởi những phương tiện tuyên truyền, không còn có mộtnăng khiếu về hình tượng như thế nữa; không còn suối nguồn ở bản thân mìnhnữa Nhưng Tố Hữu đắm mình trong dân tộc của mình, đồng thời là một thi sĩđộc đáo, một nhà sáng tạo ra các hình thể Người ta càng cảm thấy điều đó rõhơn khi anh nói một cách rất hay về thơ (Lời tựa tập thơ Máu và hoa, xuất bản
ở Pháp, năm 1975, Pierre Emmanuel)
2 Liên hệ với các tác phẩm khác
Khúc hát chia ly
“Phút chia tay ta chỉ nắm tay mìnhLời chưa nói thì bàn tay đã nóiMình đi rồi hơi ấm còn ở lạiCòn bồi hồi trong những ngón tay ta.”
Trang 11“Ôi sáng xuân nay xuân 41Trắng rừng biên giới nở hoa mơBác về im lặng con chim hótThánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”)
Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng.”
(Tố Hữu)
IV Mở bài, kết bài 1 Mở bài
Mẫu 1:
Trong “Tiếng hát con tàu” Chế Lan Viên đã viết:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn”!
Trong quá trình sáng tác nghệ thuật, mỗi người nghệ sĩ đều có một không gian nghệthuật của riêng mình, không gian ấy là nơi gắn bó sâu nặng với cuộc đời sáng tác củamỗi người Nếu như Hoàng Phủ Ngọc Tường một đời tìm về với Huế thương, HoàngCầm cả cuộc đời gắn với mảnh đất Kinh Bắc nơi có dòng sông Đuống “nghiêngnghiêng trong kháng chiến trường kỳ” Thì Tố Hữu lại một lòng một dạ với mảnh đấttình nghĩa Việt Bắc Một trong những thi phẩm được đánh giá “đỉnh cao đời thơ Tố
Hữu” đó là “Việt Bắc” + Vấn đề nghị luận.
mà Tố Hữu bước lên + Vấn đề nghị luận.
2 Kết bài
Mẫu 1:
Trang 12“Việt Bắc” thực sự là đỉnh cao của thơ ca Tố Hữu Đến với “Việt Bắc” là đến với cảmột bầu trời thương nhớ, những tháng năm gắn bó mặn nồng của cán bộ và nhân dânViệt Bắc Mối ân tình ấy đọng lại trong trái tim, trong tâm thức của những người conViệt Nam đầy tha thiết và tự hào Những vần thơ, những tiếng ca ấy sẽ mãi luôn vangvọng với đầy đủ những cảm xúc, chan chứa tình yêu thương và niềm tự hào dân tộc.
Mẫu 2:
Khép lại những trang thơ của “Việt Bắc”, người đọc cảm nhận được những vần thơ ấykhông chỉ là thơ nữa mà đó là cả trái tim, linh hồn, máu thịt của Tố Hữu vậy Quêhương Việt Bắc, tình nghĩa đồng bào đã chắp cánh cho ngòi bút của Tố Hữu Nỗi nhớthương, hình ảnh thiên nhiên, con người Việt Bắc đi vào từng trang thơ của Tố Hữunhẹ nhàng mà đằm thắm biết bao, để lại trong lòng người đọc bao cảm xúc dạt dào vềmột mảnh đất nghĩa tình, như lời thơ ngọt ngào mà Chế Lan Viên đã từng viết:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”
V Sơ đồ tư duy
ĐẤT NƯỚC
Nguyễn Khoa Điềm
I Bố cục
Bố cục phân tích