1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chức năng kinh tế của tư pháp quốc tế

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chức năng kinh tế của tư pháp quốc tế
Tác giả Vũ Hoàng Nhật Tân
Trường học Hà Nội University
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 28,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu Trong bối cảnh hiện nay khi mà các hoạt động thương mại hay văn hóa, xã hội đang được triển khai trên phạm vi toàn thế giới một cách mạnh mẽ bất chấp sự chững lại trong thời

Trang 1

Tiểu Luận : CHỨC NĂNG KINH TẾ CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Người thực hiện : VŨ HOÀNG NHẬT TÂN

Mssv : 1311110605

Hà Nội, tháng 5, 2017

1 Giới thiệu

Trong bối cảnh hiện nay khi mà các hoạt động thương mại hay văn hóa, xã hội đang được triển khai trên phạm vi toàn thế giới một cách mạnh mẽ ( bất chấp sự chững lại trong thời gian gần đây); thì một hiện thực không thể chối cãi là pháp luật điều chỉnh các hoạt động đó mới chỉ đạt đến độ bao phủ trong phạm vi quốc gia Tất nhiên việc pháp luật điều chỉnh trên phạm vi quốc tế là có, nhưng vẫn chưa thực sự đi sâu vào cụ thể và nếu có đi sâu vào cụ thể thì vẫn gặp rất nhiều rào cản Xét riêng trên lĩnh vực kinh tế, liệu có một cơ chế pháp lý nào có thể điều chỉnh các hoạt động xuyên quốc gia của những thành phần kinh tế với nhau hoặc hoạt động kinh doanh của chính nhưng thành phần ấy Từ lâu nay sự mâu thuẫn giữa các nền tảng pháp luật khác nhau là luôn hiện hữu, thế nhưng với sự pha trộn và hòa nhập hiện nay thì việc đảm bảo các nguyên tắc không bị phá vỡ cần một nền tảng lý thuyết và áp dụng thực tiễn mãnh mẽ mà ở đó

Tư Pháp Quốc Tế ( TPQT ) nổi lên như một giải pháp cho vấn đề này Vai trò của TPQT càng quan trọng hơn khi mà nó nắm giữ chức năng kinh tế, một tấm vé để điều chỉnh các hoạt động kinh tế liên quốc gia và định hướng dòng tiền trên thế giới Bài tiểu luận sẽ được viết theo hướng quy nạp cụ thể nó sẽ xem xét các vấn đề sau đây: Phần 1: Sự ràng buộc giữa pháp luật và ý chí cá nhân nhìn từ góc độ kinh tế

Phần 2: Tranh chấp giữa các chủ thể tư trong thương mại quốc tế nhìn từ góc độ trình

tự giải quyết vấn đề

Trang 2

Phần 3: Chức năng kinh tế của TPQT

2 Nội dung bài tiểu luận

Phần 1: Sự ràng buộc và đối lập giữa: quy định pháp luật và ý chí cá nhân

nhìn từ góc độ kinh tế.

Về cơ bản, chúng ta đồng ý với nhận định tự do cá nhân được thực hiện dựa trên khuôn khổ pháp luật cho phép, sự điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi cá nhân dựa trên những học thuyết về tự do cá nhân và nền tảng hình thành nhà nước Theo đó, chúng ta có thể phân ra làm hai dạng :

- Nhà nước là một thực thể được xây dựng để tạo ra sự áp đặt ( bắt công dân đóng thế, tham gia chiến tranh,… ) và pháp luật được sử dụng như một công cụ để thực thi quyền lực đó, theo đó cá nhân không thể tách rời được xã hội;

- Nhà nước không gì hợn là một cơ chế do những người cùng sống trên một khu vực lãnh thổ tạo ra để thay họ quản lý hoạt động xã hội chung, còn lại thì cá nhân có quyền tự do rất lớn

Và, nếu xét trên các bình diện khác nhau thì sự tự do cá nhân được nới lỏng hay thắt chặt ở mức độ khác nhau

Mà đỉnh cao của sự tự do thỏa thuận trong kinh tế có thể kể ra trong lĩnh vực hợp đồng, khi mà các chủ thể có thể tự do lựa chọn và viết ra “luật” cho bản thân họ và phát triển đến ngày nay thậm chí họ có thể lựa chọn một nền tảng luật khác từ một vùng đất khác ngoài lãnh thổ quốc gia, hoặc một tập quán của quốc tế để điều chỉnh hoạt động của đôi bên Điển hình như điều 664 và 680 BLDS Việt Nam 2015 đều cho phép các

Trang 3

chủ thể trong hợp đồng tự do lựa chọn luật áp dụng, điều 7 công ước La Hay 1958 về

tư pháp quốc tế cũng tương tự, cho phép các bên lựa chọn luật Thậm chí, pháp luật các nước còn ủng hộ việc sử dụng cơ quan tranh chấp là trọng tài tư nhân để giải quyết vấn

đề dân sự Đó là những bước tiến lớn của pháp luật trên thế giới xóa nhòa đi các cổ điển như quy tắc Westphalia trong bối cảnh ngày nay

Như vậy, nói một cách hình tượng, dần dần các hoạt động của các chủ thể kinh tế thoát dần khỏi bàn tay điều chỉnh của một hệ thống pháp luật một cách hợp pháp Trường hợp thứ nhất có thể kể đến Coca-Cola Việt Nam với hiện tượng chuyển giá Một lợi thế của tập đoàn đa quốc gia là họ là một con bạch tuộc với hàng tá những xúc

tu khác nhau, việc mua bán của Coca-Cola được thực hiện giữa những công ty con khác nhau của nó đặt tại các quốc gia khác nhau, qua đó họ có thể khai khống giá trị của những bản hợp đồng này lên để các báo cáo tài chính chỉ ra rằng việc kinh doanh của Coca-Cola là lỗ Những thủ thuật như vậy khiến cho một công ty lỗ liên tục nhiều năm tại Việt Nam vẫn có khả năng tái đầu tư nhiều nhà máy sản xuất mới, thực hiện các chiến dịch maketing đắt đỏ Cần phải nói một điều là hiện tượng này đã được chính phủ BIẾT nhưng bất lực hoàn toàn vì nó đúng luật

Một trường hợp khác là xu thế Offshoring trong hoạt động thương mại Thực ra, hàng trăm năm trước với sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân, việc thực hiện Offshoring đã được đẩy mạnh, điều khác biệt là những quốc gia mà các nhà tư bản tìm đến để tìm kiếm lợi thế cạnh tranh và lợi thế tuyệt đối là “thuộc địa”, chính vì thế sự rằng buộc pháp luật với “Mẫu quốc” vẫn còn Tuy nhiên đến ngày nay, nó đã phát triển thành những hình thái khác hơn dưới góc độ đầu tư quốc tế, việc tuồn những xúc tu ra

cá nước đang phát triển hay các nước nghèo nhưng giàu tài nguyên và nguồn lao động giúp các tập đoàn đa quốc gia giảm tối đa chi phí Trong quá trình đó, các quốc gia hưởng lợi từ nguồn tiền đầu tư đó tạo ra một cuộc đua lớn về thu hút đầu tư bằng các

ưu đãi về chính sách và về thuế, đồng thời hiện tượng tham nhũng tràn lan tại các nước nhận đầu tư đó tạo cho các tập đoàn đa quốc gia hay các nhà tư bản những lợi ích đặc

Trang 4

biệt về pháp lý mà pháp luật nước mà các quốc gia nơi các tập đoàn hay nhà tư bản đó

có quốc tịch không thể sờ mó tới mặc cho nó có vi phạm pháp luật hay không

Xin kể ra đây một vài vụ việc mà có thể đặc trưng cho các lợi ích có thể bị đánh cắp của các quốc gia có thể mất khi hiện tượng offshoring xảy ra

Vấn đề đầu tiên là hiện tượng trốn thuế Điều này có lẽ không xa lạ gì trong nhưng năm gần đây, đặc biệt sau vụ Hồ Sơ Panama nổi tiếng và sự nổi lên của các thiên đường thuế “Thiên đường thuế” – Tax Haven ( đúng hơn là nơi trú ẩn thuế, nhưng có

vẻ đây mà một trường hợp chơi chữ haven – haeven nên cái danh hiệu thiên đường thuế được biết đến nhiều hơn) là cách gọi bóng bẩy của khái niệm “Offshore Zone”-một khu vực mà về mặt pháp lý mức thuế được ấn định hoặc rất thấp hoặc được miễn hoàn toàn Cụ thể, một công ty ma sẽ được lập ra tại một thiên đường thuế và tất nhiên

đó sẽ là dạng một công ty có vốn đầu tư nước ngoài, người trốn thuế chuyển tiền vào công ty ấy, bây giờ thì để trốn thuế, công ty này người ta chỉ việc bán công ty ma này với giá cực rẻ cho chính mình với lãi suất vay 0% Tiền vào các công ty ma là bất hợp pháp nhưng thông qua các khoản đầu tư và cho vay nó trở nên hợp pháp Vụ hồ sơ Panama là một điển hình của việc trốn thuế trên toàn cầu và vì nó “hợp pháp” nên hàng năm các nước phát triển mất hàng trăm tỷ USD tiền thuế

Vấn đề thứ hai xin kể đến những chính sách của tổng thống Mỹ Donal Trump trong thời gian gần đây nhằm đưa việc làm quay lại với người dân mỹ bằng cách rút lui khỏi các hiệp định quốc tế và khu vực, tăng cường các rào cản di chuyển vốn và việc làm ra khỏi nước Mỹ, chính xác là người dân Mỹ bị mất việc làm và mất rất nhiều việc làm dành cho lao động phổ thông Trong cuốn sách Thế Giới Phẳng của Thomas Freidman hơn chục năm về trước đã cho ra một cái nhìn rất hay về sự di chuyển của tư bản và việc làm, người dân Mỹ mỗi ngày có cả triệu cuộc gọi đến các tổng đài điện thoại thế nhưng họ không hề biết giọng nói ngọt ngào của người nhân viên bên phía kia đầu dây

có thể đến từ một đất nước cách đó rất xa như Ấn Độ chẳng hạn Và hiện nay, khá lâu sau khi cuốn sách ra đời sự việc tồi tệ đến nỗi sau cuộc khủng hoảng năm 2008, người

Trang 5

Mỹ mất việc làm nhiều vô số kể, và đó là một nguyên nhân nặng đô mà tổng thống Trump có thể đắc cử năm vừa rồi Nhìn vào chính sách của Trump người ta nhìn thấy

hình bóng của chủ nghĩa Dân túy và chủ nghĩa Trọng thương, bản thân tôi còn nhìn thấy dấu vết của Nationalism

Trang 6

Phần 2: Tranh chấp giữa các chủ thể tư trong thương mại quốc tế nhìn từ góc

độ trình tự giải quyết vấn đề

Đây là một đề mục khá rộng để bàn luận đến cùng vì nó trải rộng dưới cực kỳ nhiều hình thức khác nhau Tại đây chúng ta chỉ nói tới hiện trạng những thiệt hại kinh tế nếu các xung đột lợi ích giữa các công ty diễn ra trong sự thiếu vắng một cơ chế pháp lý để giải quyết chúng Để bàn luận về vấn đề này, tôi muốn nói đến nó trong một quá trình

để giải quyết vụ việc Tất nhiên thỏa thuận hòa giải luôn là cách tốt nhất để giải quyết, nhưng nếu khong hòa giải được thì sao ?

Đầu tiên, hợp đồng luôn là văn bản mà cần phải căn cứ trước tiên để giải quyết xung đột lợi ích giữa các bên nhất là vấn đề giải quyết tranh chấp tại đâu và như thế nào Nhưng khoan một chút, trước tiên cần làm rõ liệu hợp đồng có hợp lệ ? nhất là về mặt chủ thể và ký kết

+ Về chủ thể, rất nhiều công ty đã bỏ qua vấn đề này trong những vụ làm ăn của mình trong bối cảnh đối tác đến từ một địa phương xa lắc xa lơ Rất nhiều công ty Việt Nam nhân được đề nghị giao kết hợp đồng cả chào bán và chào mua chỉ nhìn vào tên đối tác

và ngại kiểm tra đối tác của mình, việc kiểm tra đối tác có thể mất phí và thời gian thông qua một bên trung gian như đại sứ quán hay văn phòng luật tại quốc gia đối tác làm cho các công ty “lười”

+ Về việc ký kết, liệu người ký kết có hợp pháp theo pháp luật về Doanh nghiệp Việt Nam thì người đại diện theo pháp luật sẽ có quyền ký kết một số loại hợp đồng thế nhưng tôi lấy ví dụ về công ty cổ phần một số công ty quy định nhưng vụ làm ăn có giá trị bằng 50% vốn điều lệ chẳng hạn thì việc ký kết cần có quyết định của đại hội đồng

cổ đông, nếu không có thì dù là người đại diện theo pháp luật ký kết cũng không có hiệu lực Vấn đề ở đây là lấy quy định nào để thể hiện sự hợp pháp của người ký kết hợp đồng ? Luật nước ngoài hay Việt Nam ?

Trang 7

Tại đây nảy sinh vấn đề về lựa chọn luật để xác định tính hợp pháp của hợp đồng, nếu không có một sự xem xét cẩn thân và một sự ràng buộc pháp lý thì liệu thiệt hại kinh tế nào có thể xảy ra và đặc biệt là sự gian lận trong kinh doanh thương mại kìm hãm sự phát triển kinh tế bởi sự dè dặt của bên bị thiệt hại và ảnh hưởng từ tư duy đám đông của nó

Thứ hai, sau khi xét được hợp đồng có hiệu lực hay không, chúng tôi nghĩ đến vấn đề xử lý vụ việc ở cơ quan nào, tất nhiên sự đồng thuận của các bên sẽ là điều tốt nhất Hiện nay, rất nhiều hợp đồng đề cập tới việc lựa chọn trọng tài, nhưng vấn đề là trọng tài ở đâu và liệu phán quyết đó có được cho thi hành Theo đó công ước New York 1958 không hoàn toàn được tất cả các nước tham gia hoặc tham gia chỉ một phần, hoặc tham gia có điều kiện kèm theo Lại nói đến phán quyết của toàn án nước ngoài, việc một bản án được chấp nhận và cho thi hành tại một quốc gia khác là rất khó khăn Một thực tế cho thấy là rất nhiều bản án đã bị tuyên không có giá trị khi được đưa ra theo yêu cầu cho thi hành tại một quốc gia khác Điều đó đến từ nhiều nguyên nhân: + Cảm xúc cá nhân ? tại một số quốc gia như Đức hay Mỹ chẳng hạn, thẩm phán có quyền lực lớn hơn và có khả năng hoạt động độc lập hơn, một số thẩm phán thậm chí

đã thừa nhận họ không thích cho thi hành bản án của tòa án hay trọng tài nước ngoài + Bản án vô lý so với điều kiện quốc gia ? Rõ ràng khi tòa án Tây Ban Nha ra phán quyết truy nã cựu chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân thì phán quyết đó tuyệt đối không có giá trị thi hành gì trên lãnh thổ Trung Quốc cả

+ Nền tư pháp không có liên quan gì đến nhau vì vậy việc thông qua bản án thậm chí không phù hợp trình tự tố tụng của các quốc gia ?

Ngoài ra còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa, do đó tựu chung lại những điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng là một mớ giấy lộn nếu phán quyết không được thi hành Điều này gây ra ảnh hưởng kinh tế cựu kỳ to lớn vì không ai muốn tham

Trang 8

gia giao dịch trong một điều kiện pháp lý thiếu rõ ràng và không có khả năng ràng buộc được các bên cả

Xin kể ra đây một ví dụ1

Trophay là một nhà phân phối đồng hồ ở Hà Lan Công ty này dự định nhập khẩu một lô hàng đồng hồ từ công ty điện tử Sanyo Nhật Bản Trước khi tiến hành đàm phán, Trophay đã mời một công ty luật Nhật làm cố vấn cho mình, đồng thời yêu cầu luật sư thu thập thông tin tình báo về Sanyo Từ thông tin nhận được, ông được biết bên Sanyo không những đang gặp khó khăn về tài chính mà mẫu đồng hồ phía Sanyo định cung cấp cho Trophay trong lần giao dịch này cũng được cung cấp cho một công

ty thứ ba khác Dựa theo tình hình này thì nếu giao dịch tiếp tục biết đâu sẽ xảy ra một

số tranh chấp về thương hiệu sản phẩm sau này, nhưng nếu bỏ qua giao dịch này Trophay có thể mất một cơ hội kiếm tiền béo bở

Biện pháp tốt nhất hiện giờ là tìm cách giải quyết tranh chấp nếu có trong tương lai Trong bản hợp đồng phía Sanyo gửi cho Trophay trước cuộc đàm phán, bên Sanyo

đề nghị giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại Osaka Nhật Bản Như thế, nhiều khả năng, trọng tài Nhật có thể thiên vị doanh nghiệp nước mình, nhưng nếu đề xuất giải quyết ở Hà Lan thì chắc chắn Sanyo không đồng ý Cuối cùng, Trophy nảy ra sáng kiến: giải quyết tranh chấp tại tòa án Osaka Nhật Bản Lý do là, phán quyết của tòa án Nhật dù thế nào đi nữa thì phán quyết đó cũng không có hiệu lực ở Hà Lan Họ không thể buộc ông thi hành những điều khoản đó Như vậy, nếu nảy sinh tranh chấp, ông hoàn toàn có quyền không xuất hiện trước tòa Đến cả phí tố tụng cũng không phải bỏ

ra đồng nào

Phát hiện phía Sanyo đã bán hai dòng sản phẩm gần như giống nhau hoàn toàn cho hai công ty tiêu thụ khác nhau Vì thế ông từ chối thanh toán 200 triệu yên của tiền hàng còn thiếu Sanyo ngay lập tức phái người đến găp Trophay đòi nợ Sau một hồi

1

http://cafef.vn/quan-tri/nghe-thuat-thuong-thuyet-do-thai-nhuong-doi-thu-chui-vao-bay-201401201550218104.chn

Trang 9

đàm phán, đôi bên vẫn không thể tìm ra điểm chung nào, cuối cùng Sanyo quyết định đưa sự việc lên tòa án Osaka Những lúc bấy giờ mới ngã ngửa ra, vì tòa án là cơ quan đại diện Pháp luật quốc gia, nên các phán quyết không mang tính chất quốc tế, một công ty nước ngoài không có nghĩa vụ phải tuân theo phán quyết tòa án của một nước

Mà muốn chuyển sang tòa án Hà Lan cũng không được, vì trong hợp đồng đã quy định

rõ là xử lý tranh chấp ở tòa án Osaka Nhật Bản nên kể cả mang đến Hà Lan thì tòa án

Hà Lan cũng không chịu thụ lý

Luật sư của Trophay còn cắt đứt hy vọng của Sanyo khi nói:

“Giả như các phán quyết của tòa án Nhật có hiệu lực tương tự như ở Hà Lan, quý công ty vẫn không thể lấy được 1 đồng nào từ tay của Trophay Ngài cũng biết rằng, khoản thuế thu nhập của hầu hết các quốc gia Châu Âu đều nặng nề

Vì vậy rất nhiều người đã đến Hà Lan thành lập công ty vì đây là nơi có thuế suất tương đối thấp Mọi thứ của công ty đều nằm trong ví tiền của ông chủ, không hề

có một tài sản thực tế nào Công ty của Trophay cũng như vậy, tiền của công ty nằm ở đâu chỉ có một mình Trophay biết.”

Kết luận cho phần này xin dành cho phần sau là phần quan trọng nhất của bài tiểu luận này

Phần 3: Chức năng kinh tế của tư pháp quốc tế

Chức năng kinh tế của tư pháp quốc tế là gì ?

Trong quá trình tham khảo tài liệu thì hầu như tôi không thể tìm được nguồn tài liệu tiếng Việt nào đề cập cụ thể và đích xác về chức năng kinh tế của tư pháp quốc tế

Do vậy có thể hiểu chức năng này theo nhiều ý hiểu

Trang 10

+ Ý hiểu 1: Tư pháp quốc tế có khả năng ( diễn đạt một cách bình dân) là làm ra tiền –

cả trực tiếp và gián tiếp, hoặc tiết kiệm tiền

+ Ý hiểu 2: Tư pháp quốc tế là một nhân tố giúp kiểm soát, thúc đẩy cũng như tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới

Bài tiểu luận thực tế chấp nhận ý thứ 2 để tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu Trước tiên tôi muốn làm rõ về khái niệm tư pháp quốc tế: “Tư pháp quốc tế là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập và là một ngành luật độc lập bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài.” Điều này được công nhận phổ biến bởi các giáo trình pháp luật về tư pháp quốc tế ở nước ta Một đặc điểm khác của TPQT là nó quan tâm nhiều hơn đến vấn đề thẩm quyền xét xử và lựa chọn luật giải quyết vấn đề chứ khống phải đi sâu vào nội dung để phân định đúng sai Theo đó, sau khi nghiên cứu chức năng kinh tế của TPQT, tôi cho rằng chức năng kinh tế của ngành luật này cực kỳ quan trọng được thể hiện rất rộng theo nhưng khía cạnh sau đây

Thứ nhất, Tư Pháp Quốc Tế giúp kiểm soát các nguồn lực kinh tế đối với nhiều nước

+ Một sự nỗ lực trong tư pháp quốc tế giữa các nước hiện nay là kiện toàn một

hệ thống định giá chuyển nhượng chung Theo đó, APA2 - cơ chế thoả thuận trước về xác định giá đã được khuyến nghị Biện pháp này đang được áp dụng rộng rãi tại châu

Âu và nhiều nước trong khu vực như: Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Malaysia Tại Việt Nam, theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý Thuế, từ 1/7/2013 cơ quan thuế được phép áp APA Qua đó như một công cụ giúp thanh tra thuế có thể thắt chặt thanh tra đối với giao dịch nội bộ các tập đoàn, đồng thời tòa án cũng như thanh tra thuế các nước có thể liên kết để minh bạch hóa chuyển nhượng cũng như kiểu soát hiện tượng chuyển giá;

2 Advance Pricing Agreements

Ngày đăng: 23/08/2022, 20:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w