Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa • Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi từ nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao
Trang 1Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Luật
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Đề tài số 5: Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0
Họ và tên: Vila khone THONGSOMSANID
Mã sinh viên: 11207821
Lớp(220)_25
Khóa:62
Hà Nội-2021
Trang 2các cường quốc năm châu.
• Hiện tại, cách mạng công nghiệp 4.0 đưa tới nền kinh
tế thông minh và đang phát triển rất mạnh mẽ, tạo cơ hội phát triển cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Đây sẽ là bước ngoặt, bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại Tuy nhiên, nó cũng tạo
ra những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, nhiều đối tượng xã hội, trên nhiều lĩnh vực Có thể thấy rằng,
Trang 3nếu nước ta có thể tận dụng được tối đa những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại thì hoàn toàn có thể đẩy mạnh và rút ngắn thời gian tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời cũng có thể khiến chúng ta trở nên tụt hậu và bỏ lại ngày càng
xa nếu không tận dụng được cơ hội này
• Thực ra đó đang đặt ra vấn đề cần phải có những giải pháp phù hợp đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bây giờ Vì vậy, em chọn đề tài:
“Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận
• * Lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0
Trang 4• 1.Quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
• 1.1 Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
• Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi
từ nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao động thủ công là chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo ra năng suất lao động xãhội cao
• Theo Bách khoa toàn thư mở: Công nghiệp hóa
là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng
• Hiểu một cách đơn giản, “Công nghiệp hóa” là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp
• Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhânloại, rút những kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá, và từ thực tiễn công nghiệp hoá ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khoá VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI IĐảng Cộng sản Việt Nam
đã xác định: công nghiệp hoá, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Khái niệm công nghiệp hoá trên đây được Đảng ta xác
Trang 5định rộng hơn những quan niệm trước đó, bao hàm cả
về hoạt động sản xuất, kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến, hiện đại cùng với kỹthuật và công nghệ cao Như vậy, công nghiệp hoá theo
tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần
để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây
• 1.2 Đặc điểm của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại nước
• Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước, công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
• công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá.
Sở dĩ như vậy là vì trên thế giới đang diễn ra cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, một số nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nên phải tranh thủ ứng dụng
những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ, tiếp cận kinh 178/281 tế tri thức để hiện đại hoá những ngành, những khâu, những lĩnh vực có điều kiệnnhảy vọt
• công nghiệp hoá nhằm mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hoá là tất yếu với tất
cả các nước chậm phát triển nhưng với mỗi nước, mục tiêu và tính chất của công nghiệp hoá có thể khác nhau
Ở nước ta, công nghiệp hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc
Trang 6• công nghiệp hoá, hiện đại hóa trong điều kiện
cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Điều này làm cho công nghiệp hoá trong giai đoạn hiện nay khác với công nghiệp hoá trong thời kỳ trước đổi mới Trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung – hành chính, bao cấp, công nghiệp hoá được thực hiện theo kế hoạch, theo mệnh lệnh của Nhà nước Trong cơchế kinh tế hiện nay, Nhà nước vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá Nhưng công nghiệp hoá không xuất phát từ chủ quan của Nhà nước, nó đòi hỏi phải vận dụng các quy luật khách quan mà trước hết là các quy luật thị trường
• công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc
dân trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tấtyếu đối với đất nước ta Công nghiệp hoá trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở có thể đi nhanh nếu
chúng ta biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ quốc tế Công nghiệp hoá trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở cũng gây nên không
ít trở ngại do những tác động tiêu cực của nền kinh tế thế giới, do “trật tự” của nền kinh tế thế giới mà các nước tư bản phát triển thiết lập không có lợi cho các nước nghèo, lạc hậu Vì thế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế độc lập, tự chủ Những đặc điểm trên đây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay
Trang 7• 2 Điểm yếu khách quan của CNH, HĐH tại Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0
• Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa ra đời là nấcthang phát triển cao hơn phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa, tất yếu phải xây dựng cho mình một cơ sởvật chất, kỹ thuật hiện đại hơn Cho đến nay, hầu hếtcác nước tiến hành cách mạng giải phóng dân tộcthắng lợi và chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hộiđều có nền công nghiệp chưa phát triển Vì vậy, để cónền tảng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội tất yếuphải thực hiện CNH
• Trong bộ Tư bản, C.Mác đã phân tích kỹ sự phát triểncủa cách mạng công nghiệp và cho thấy quy luật tấtyếu phải thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp
• thừa quan điểm cách mạng và khoa học của Mác, khicách mạng tháng Mười Nga thành công, Lênin đã đặcbiệt nhấn Kế mạnh vai trò của CNH và sự nghiệp
CNH Người đã khẳng định: “Chủ nghĩa cộng sản là
chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc…
Chỉ khi nào nước ta đã điện khí hóa, chỉ khi nào côngnghiệp, nông nghiệp và vận tải đã đứng vững trên cơ
sở kỹ thuật của đại công nghiệp hiện đại, thì lúc đó,
chúng ta mới có thể đạt được thắng lợi hoàn toàn” [
3-tr.195] Nhận thức rõ tính tất yếu phải thực hiện CNHtrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,ngay từ những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ởMiền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “nhiệm vụquan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảngvật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắctiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nôngnghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến.Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta
Trang 8phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tếmới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài” [ 4-tr.13] Trên cơ sở nhận thức sâu sắc và vận dụng lýluận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh vào thực tế ở nước ta.
nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển, đưa đất nước thoát nghèo và lạc hậu, nâng cao mức sống của người dân Đánh giá
chung về thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0
có thể khái quát trên một số nét như sau:
• Duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân
• Về cơ bản, từ năm 1991 đến nay, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá Trong đó, giai đoạn 2006 – 2010 đạt bình quân 6,32%/năm, giai đoạn
2011 – 2015 đạt bình quân khoảng 5,82%/năm, giai đoạn 2015-2019 đạt bình quân 6,64%/năm
• Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 9• Trong cơ cấu ngành công nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất của công nghiệp khai khoáng giảm dần, trong khi
tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống.Trong đó, cácngành dịch vụ gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa như dịch vụ tài chính, ngân •ang, tư vấn pháp lý, bưu chính viễn thông… phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP
• Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực
• Gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phục vụ tốt hơn các mục tiêu CNH, HĐH Tỷ trọng laođộng ngành nông nghiệp đã giảm mạnh còn 38% năm
2019, tỷ trọng lao động ngành công nghiệp – xây dựng
tương ứng của Việt Nam chỉ tăng từ mức 337 USD lên 2.072 USD GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 chỉ ngang bằng mức GDP bình quân đầu người của Trung Quốc năm 2006, In-đô-nê-xi-a năm
2007, Thái Lan năm1993
Trang 10• Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả cơ cấu
ngành, cơ cấu lao động đã “chững lại” trong nhiều năm nhưng chậm có sự điều chỉnh phù hợp.
• Các ngành dịch vụ thâm dụng tri thức, khoa học công nghệ phát triển còn chậm
• Nếu như trong giai đoạn đầu của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa cơ cấu kinh tế có tốc độ
chuyển dịch khá, cơ cấu ngành nông nghiệp trong GDPgiảm mạnh, từ mức 38% năm 1986 xuống 27% năm
1995 và 19,3% năm 2005, thì từ năm 2006 đến nay, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm không đáng
kể Năm 2014, ngành nông nghiệp vẫn chiếm hơn 18%GDP, cao hơn đáng kể so với tỷ trọng ngành nông
nghiệp trong GDP của các nước xung quanh (tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP của Trung Quốc là
10,1%, của In-đô-nê-xi-a là 14,4%, của Ma-lai-xi-a là 10,1% và của Thái Lan là 12,3%) Dù vậy, năm 2019,
tỷ trọng ngành nông nghiệp cũng đã giảm xuống còn 13,69% trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch
vụ không có quá nhiều sự thayđổi
• Sự hợp tác, liên kết trong phát triển công nghiệp còn yếu, công nghiệp hỗ trợ phát triển còn chậm, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên, phụ liệu.
• Sức cạnh tranh nền kinh tế còn thấp, năng suất lao động có khoảng cách lớn so với nhiều nước và chậm được cải thiện
• Theo số liệu từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu
2018 – 2019 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, nền kinh
tế Việt Nam đứng thứ 67 trong số 148 quốc gia trong
Trang 11bảng xếp hạng, tăng 10 bậc so với thứ hạng 77 trong năm 2012 – 2013 Việt Nam luôn nằm trong nhóm các quốc gia gần thuộc nửa cuối bảng xếp hạng, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á (Ma-lai-xi-a đứng thứ 27, Thái Lan đứng thứ 40, In-đô-nê-xi-a đứng thứ 50, Phi-líp-pin đứng thứ 64) và còn một khoảng cách rất xa so khu vực Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản).
• Mức độ tham gia của các doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị toàn cầu còn rất hạn chế
• Việt Nam đã thực hiện cải cách và mở cửa trong gần
30 năm, xuất khẩu liên tục đượcmở rộng nhưng mức
độ tham gia của các doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị toàn cầu còn rất hạn chế Hàm lượng giá trị gia tăng của xuất khẩu còn thấp Các mặt •ang có lợi thế so sánh cao vẫn thuộc các nhóm sử dụng nhiều nguyên liệu, tài nguyên và lao động rẻ như nhóm •angcông nghiệp nhẹ (da giầy, thủ công mỹ nghệ…), nhóm nông sản, thủy sản
•
• 3 Các giải pháp thực hiện đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với việc đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế
• Trên cơ sở phân tích thực trạng đất nước, dự báo về bốicảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế và các mục tiêu, định hướng về CNH, HĐH, để đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước thời gian tới, cần tập trung thực hiện có kết quả 8 nhóm giải pháp chủ đạo sau đây:
Trang 12• 1 Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, chuyển đổi môhình kinh tế
• 2 tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước; nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách, thực hiện phối hợp hiệu quả trong quản lý kinh tế vĩ mô; tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ thận trọng, linh hoạt đảm bảo duy trì và củng cố
ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường công tác thông tin kinh tế - xã hội, công tác kế toán, thống kê
• 3 thực hiện có kết quả các giải pháp xác định tại Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020 gắn với việc thực hiện tái
cơ cấu ngành nông nghiệp theo nội dung Quyết định số889/QĐ-TTg ngày 10/06/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
• 4 nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác xâydựng quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, địa bàn theo các mục tiêu, yêu cầu về CNH,
HĐH Bốn là, tiếp tục củng cố và tái cấu trúc hệ thống tài chính, các ngân •ang thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh tổ chức quản lý và hoạt động của các nhà đầu tư định chế; cải thiện và nâng cao hiệu lực các chuẩn mực về công khai, minh bạch hóa thông tin trên thị trường; tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các giao dịch trên thị trường chứng khoán; đưa thêm các sản phẩm mới, có chất lượng vào thị trường
Trang 13Thực hiện có kết quả các giải pháp đảm bảo an ninh,
an toàn tài chính quốc gia trên cơ sở đảm bảo thực hiện
có kết quả mục tiêu giảm dần bội chi NSNN, tăng
cường quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia,kiểm soát, giám sát chặt chẽ nguồn vốn đầu tư gián tiếp, đặc biệt là sự thay đổi của các nguồn vốn ngắn hạn, đảm bảo sự ổn định của thị trường vốn
5 Tăng cường hiệu quả huy động, phát triển nguồn lực tàichính
• Hoàn thiện thể chế về tài chính phù hợp với quá trình hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thu hút nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển, chú trọng đến quá trình cơ cấu lại nền kinh
tế, góp phần phát huy lợi thế cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, địa phương, ngành và sản phẩm
• Cụ thể, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thu đi đôi với cơ cấu lại thu Đến năm 2020 xây dựng một hệ thống thuế đồng bộ, bền vững, đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết, hợp lý của NSNN để khuyến khích cạnh tranh, tích tụ vốn cho sản xuất – kinh doanh
• Cùng với đó, mở rộng cơ sở thuế, áp dụng mức thuế suất hợp lý, đảm bảo công bằng, bình đẳng về thuế giữa các đối tượng nộp thuế; đảm bảo phù hợp theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), các cam kết tham gia thành lập các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương Đồng thời,nghiên cứu xây dựng và tổ chức thực hiện một số luật thuế mới như Luật Phí, Lệ phí (thay thế cho Pháp lệnh Phí, Lệ phí), Luật Thuế bất động sản
• Bên cạnh đó, rà soát, sử dụng tốt các kênh huy động vốn, bao gồm cả đầu tư gián tiếp của nước ngoài,