Trong đó: S: tỉ suất sinh thô s: số trẻ em sinh ra trong năm D tb : dân số trung bình Có nhiều yếu tố tác động đến tỉ suất sinh làm cho nó thay đổi theo thời gian và không gian,trong đó
Trang 1Bài Luận
Đề tài:
Mối lien hệ giữa dân số và môi trường
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I KHÁI QUÁT VỀ DÂN SỐ 3
1.1 Dân số và sự gia tăng dân số 3
1.1.1 Gia tăng tự nhiên 3
1.1.2 Gia tăng cơ học 4
1.1.3 Gia tăng dân số 5
1.2 Gia tăng dân số trên thế giới và Việt Nam 5
1.2.1 Gia tăng dân số thế giới 5
1.2.2 Gia tăng dân số của Việt Nam 5
II TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ LÊN TÀI NGUYÊN VÀ MƠI TRƯỜNG 6
2.1 Mối tương quan giữa dân số, tài nguyên và mơi trường 6
2.1.1 Cơng thức chung 6
2.1.2 Tĩm tắt các ảnh hưởng 8
2.1.2.1 Dân số lên tài nguyên 8
2.1.2.2 Dân số lên ơ nhiễm 8
2.1.2.3 Tài nguyên lên dân số 8
2.1.2.4 Tài nguyên lên ơ nhiễm 8
2.1.2.5 Ơ nhiễm lên dân số 8
2.1.2.6 Ơ nhiễm lên tài nguyên 8
2.2 Các tác động cụ thể 9
2.2.1 Cạn kiệt tài nguyên 9
2.2.1.1 Cạn kiệt tài nguyên đất 11
2.2.1.2 Cạn kiệt tài nguyên nước 12
2.2.1.3 Suy giảm tài nguyên rừng, đa dạng sinh học 14
2.2.2 Ơ nhiễm mơi trường 16
2.2.2.1 Ơ nhiễm khơng khí 18
2.2.2.2 Ơ nhiễm nước 19
2.2.2.3 Ơ nhiễm đất 21
2.3 Chất lượng cuộc sống giảm 24
III MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ, MƠI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 25
3.1 Tổng quan về phát triển bền vững 25
3.2 Mối quan hệ giữa dân số, mơi trường và phát triển bền vững 26
3.3 Dân số, mơi trường và phát triển bền vững ở nước ta 27
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Dân số, môi trường và môi trường trong những năm gần đây đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế Gia tăng dân số đang gây sức ép nặng nề tới môi trường toàn cầu Quá trình hoạt động công nghiệp đã ngày càng làm cho cạn kiệt tài nguyên,
ô nhiễm môi trường và hậu quả cuối cùng là làm suy thoái chất lượng sống của cộng đồng Đã đến lúc phải thay đổi lối tư duy, nhận thức về thế giới Làm cách nào để ngăn ngừa những hiểm hoạ do chính con người gây nên? Phát triển như thế nào để "thoả mãn những nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng các thế hệ tương lai"? Giữ gìn tài nguyên và môi trường trong sạch cho muôn đời sau? Trong giới hạn bài tiểu luận này, chúng em đã tìm hiểu và xin trình bày nội dung bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Nội dung vấn đề thì lớn nhưng khuôn khổ kiến thức tập tiểu luận này chỉ có hạn nên khó tránh khỏi những sai sót, hạn chế nên chúng em mong được đóng góp ý kiến từ phía Thầy và các bạn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4I KHÁI QUÁT VỀ DÂN SỐ
1.1 Dân số và sự gia tăng dân số
Dân số học là khoa học về dân số, nghiên cứu các chỉ tiêu dân số và các điều kiện môi trườngảnh hưởng lên chúng Hiện nay người ta quan tâm đặc biệt tới dân số học loài người, vì sự giatăng quá nhanh dẫn tới sự bùng nổ dân số như hiện nay Một trong những chỉ tiêu quan trọngnhất là tỉ lệ gia tăng dân số thường được biểu diễn bằng phần trăm (%)
1.1.1 Gia tăng tự nhiên
Sự biến động dân số trên thế giới (tăng lên hoặc giảm đi) là do hai nhân tố chủ yếu quyết định:sinh đẻ và tử vong
a) Tỉ suất sinh thô
Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ởcùng thời điểm Đơn vị tính là phần nghìn (‰) Đây là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánhgiá mức sinh
Trong đó: S: tỉ suất sinh thô
s: số trẻ em sinh ra trong năm
D tb : dân số trung bình
Có nhiều yếu tố tác động đến tỉ suất sinh làm cho nó thay đổi theo thời gian và không gian,trong đó quan trọng nhất là các yếu tố tự nhiên – sinh học, phong tục tập quán và tâm lí xã hội,trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách phát triển dân số của từng nước
b) Tỉ suất tử thô
Tỉ suất tử thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với số dân trung bình ở cùng thờiđiểm Đơn vị tính là phần nghìn (‰)
Trong đó: T: tỉ suất tử thô
t: tổng số người chết trong năm
D tb : dân số trung bình
Tỉ suất tử thô trên toàn thế giới nói chung, ở các khu vực và trong từng nước nói riêng có xuhướng giảm đi rõ rệt so với thời gian trước đây nhờ các tiến bộ về mặt y tế và khoa học – kỹthuật, nhờ sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nhờ các điều kiện sống, mức sống và thunhập ngày càng được cải thiện Các nguyên nhân dẫn tới tỉ suất tử thô cao chủ yếu là kinh tế -
xã hội (chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật…) và thiên tai (động đất, núi lửa, hạn hán, bão lụt…)
tb
s S D
tb
t T D
Trang 5Trong tỉ suất tử thô, người ta còn lưu ý đến tỉ suất tử vong trẻ em (dưới 1 tuổi) vì đây là chỉ số
dự báo nhạy cảm nhất, phản ánh trình độ nuôi dưỡng và tình hình sức khoẻ của trẻ em
Mức tử vong của dân số còn liên quan chặt chẽ đến tuổi thọ trung bình của dân số một nước.Nhìn chung, tuổi thọ trung bình của dân số trên thế giới ngày càng tăng và được coi là mộttrong những chỉ số cơ bản đánh giá trình độ phát triển con người
c) Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được xác định bằng hiệu số giữa tỉ suất sinh thô và tỉ suất tửthô, đơn vị tính là phần trăm (%)
Trong đó: T g : tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên
S: tỉ suất sinh thô T: tỉ suất tử thô
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên có ảnh hưởng rõ rệt đến tình hình biến động dân số và đượccoi là động lực phát triển dân số Sự gia tăng dân số quá nhanh và sự phát triển dân số khônghợp lí ở các nước đang phát triển đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với kinh
tế - xã hội và môi trường Vì vậy, các nước đang phát triển phải giảm tốc độ gia tăng dân số,điều chỉnh số dân cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở nước mình
Ngược lại, một số nước phát triển có tỉ suất gia tăng tự nhiên bằng 0 và âm, không đủ mức sinhthay thế nên đang vấp phải nhiều khó khăn do không đủ lao động cho phát triển sản xuất, tỉ lệngười già cao Ở các nước này, Nhà nước cần phải có chính sách khuyến khích sinh đẻ, cácbiện pháp ưu đãi cho gia đình đông con…
1.1.2 Gia tăng cơ học
Con người không chỉ sinh sống trên một lãnh thổ cố định Do những nguyên nhân và mục đíchkhác nhau, họ phải thay đổi nơi cư trú, di chuyển từ một đơn vị hành chính này sang một đơn
vị hành chính khác, thay đổi chỗ ở thường xuyên trong một khoảng thời gian xác định Giatăng cơ học bao gồm hai bộ phận: xuất cư (những người rời khỏi nơi cư trú) và nhập cư (nhữngngười đến nơi cư trú mới) Sự chênh lệch giữa số người xuất cư và số người nhập cư được gọi
là hiện tượng gia tăng cơ học
Trên phạm vi toàn thế giới, gia tăng cơ học không ảnh hưởng đến số dân, nhưng đối với từngkhu vực, từng quốc gia và từng địa phương thì nhiều khi nó lại có ý nghĩa quan trọng, làm thayđổi số lượng dân cư, cơ cấu tuổi, giới và các hiện tượng kinh tế - xã hội
g
T S T
Trang 61.1.3 Gia tăng dân số
Đây là thước đo phản ánh trung thực, đầy đủ tình hình biến động dân số của một quốc gia, mộtvùng Nó được thể hiện bằng tổng số giữa tỉ suất gia tăng tự nhiên và tỉ suất gia tăng cơ học(tính bằng %) Mặc dù gia tăng dân số bao gồm hai bộ phận cấu thành, song động lực pháttriển dân số vẫn là gia tăng tự nhiên
1.2 Gia tăng dân số trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Gia tăng dân số thế giới
Hiện nay, dân số thế giới gia tăng hàng năm thêm khoảng 90 triệu người, với tỉ lệ gia tăng là1,7% Tỉ lệ gia tăng này khác biệt lớn tùy theo trình độ phát triển của các nước Các nước côngnghiệp phát triển, tức là các nước giàu thì tỉ lệ này là 0,5%/năm; còn đa số các nước nghèo là2,1%/năm
Năm 1950, số lượng người sống ở thành phố chỉ bằng 1/3 của năm 1990 (2,5 tỉ người) Khi ởcác nước phát triển, dân số đô thị chỉ tăng gấp 2 lần thì các nước đang phát triển tăng lên 5 lầntrong cùng thời gian Bước vào thế kỉ XXI, dân số thế giới đã vượt quá 6 tỉ người Theo ướctính 2006 của Cục Dân số LHQ, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,5 tỷ người trong 43 năm tới, từmức 6,7 tỷ người hiện nay - một sự gia tăng tương đương với tổng dân số thế giới năm 1950(http://vietnamnet.vn/thegioi/2007)
Quy mô dân số giữa các nước rất khác nhau Trong số hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trênthế giới thì 11 quốc gia đông dân nhất có số dân trên 100 triệu người mỗi nước, chiếm 61%dân số toàn thế giới Trong khi đó 17 nước ít dân nhất chỉ có số dân từ 0,01 đến 0,1 triệu ngườimỗi nước (1,18 triệu người, chiếm 0,018% dân số toàn thế giới) Sự gia tăng dân số thế giới sẽdiễn ra chủ yếu tại các nước ít phát triển hơn Dân số của các nước này sẽ tăng từ 5,4 tỷ ngườitrong năm 2007 lên 7,9 tỷ trong năm 2050 Dân số của các nước nghèo như Afghanistan,Burundi, Congo, Guinea- Bissau, Liberia, Niger, Đông Timor và Uganda dự đoán sẽ tăng ítnhất 3 lần vào giữa thế kỷ này Cứ 4 ngày thì thế giới bổ sung thêm 1 triệu người hay nói cáchkhác thì mỗi giây có 3 người chào đời Chính sự gia tăng dân số làm ảnh hưởng đến sản lượnglương thực, thực phẩm Có khoảng 88 nước trên thế giới đang ở tình trạng nghèo đói, trong đóChâu Phi chiếm tới một nửa
1.2.2 Gia tăng dân số của Việt Nam
Việt Nam thuộc các nước đang phát triển, dân số gia tăng nhanh Với sinh suất 3,8% và tử suất1,7% như hiện nay thì tỉ lệ gia tăng dân số của nước ta là 2,1%/năm (1987) Với đà gia tăngnày, khoảng năm 2030, dân số nước ta tăng gấp đôi con số hiện nay (77 triệu), để đạt tới con
số 154 triệu người!
Trang 7Bảng 1.1: Tăng trưởng dân số Việt Nam (1921-2005)
(triệu người)
Số dân tăng thêm sau
10 năm (triệu người)
Tỷ lệ tăng dân số trungbình hằng năm trong kỳ
(%)1921
2,23,22,2
-9,912,612,312,111,1
1,331,661,00
-3,323,072,291,961,37
II TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ LÊN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
2.1 Mối tương quan giữa dân số, tài nguyên và môi trường
Trong đó: Rt: tài nguyên của loài người tại thời điểm t cần nghiên cứu – tính từ khi loài
người xuất hiện.
Ro: tài nguyên khi mới xuất hiện loài người.
e: cơ số lg tự nhiên (e= 2,7183).
t: thời gian loài người đã sử dụng tài nguyên.
Khi t=0 có nghĩa là lúc mới xuất hiện loài người, lúc này (1) hoặc (2) sẽ có Rt = Ro đó là tínhđúng đắn của công thức
k: hệ số tiết kiệm tài nguyên
(3) k= P F/ γ
Trong đó: P: dân số trên hành tinh Trong những điều kiện khác nhau nếu dân số càng
đông thì tài nguyên còn lại của loài người càng ít (theo (1) và (2)).
F: Mức độ ô nhiễm môi trường do con người sản sinh ra:
+ Khi mức độ ô nhiễm càng lớn thì F>1,0
Trang 8+ Khi môi trường trong lành thì F =1,0
Công thức (2): Tác động môi trường của sự gia tăng dân số có thể mô tả bằng công thức đơn
giản hơn như sau:
I= C.P.E
Trong đó:
C: Sự gia tăng tiêu thụ tài nguyên trên đơn vị đầu người.
P: Sự gia tăng tuyệt đối dân số thế giới.
E: Sự gia tăng tác động đến môi trường của một đơn vị tài nguyên được loài người khai thác.
I: Tác động môi trường của sự gia tăng dân số và các yếu tố liên quan đến dân số.
Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế giới biểu hiện ở các khíacạnh:
Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trái Đất do khai thác quá mức các nguồntài nguyên phuc vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất côngnghiệp, v.v
Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trongcác khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp
Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp hoá và các nước đangphát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêu phí dư thừa ởcác nước công nghiệp hoá Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị và nông thôn, giữa cácnước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến sự di dân ở mọi hình thức
Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị làm cho môi trườngkhu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, câyxanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư Ô nhiễm môi trường không khí, nước tănglên Các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô thị ngày càng khó khăn
2.1.2 Tóm tắt các ảnh hưởng
Trang 92.1.2.1 Dân số lên tài nguyên
Số lượng dân xác định nhu cầu tài nguyên, cách thụ, số lượng dùng Các nhân tố dân số (trình
độ xã hội, kinh tế của một nước) có ảnh hưởng lên việc sử dụng tài nguyên Các nước côngnghiệp có nhu cầu về tài nguyên phức tạp và có khuynh hướng sử dụng nhiều tài nguyênkhông thể tái tạo Các nước đang phát triển sử dụng nhiều tài nguyên tái tạo được Sự phân bốdân cư cũng ảnh hưởng lên sự cung cấp, khai thác và sử dụng tài nguyên
2.1.2.2 Dân số lên ô nhiễm
Dân số gây ra ô nhiễm qua việc khai thác và sử dụng tài nguyên Ô nhiễm có thể xảy ra từ việc
sử dụng một tài nguyên như là nơi chứa rác thải sinh hoạt và công nghiệp Ngoài ra khai tháctài nguyên (than đá, dầu và khí) gây ra sự suy thoái môi trường Khối lượng tài nguyên và cáchthức khai thác và sử dụng chúng xác định khối lượng ô nhiễm
2.1.2.3 Tài nguyên lên dân số
Tác động dương Khám phá và sử dụng tài nguyên mới (dầu, than) làm tăng dân số, cũng như
sự phát triển xã hội, kinh tế, công nghệ Tài nguyên cho phép con người di chuyển đến các nơi
ở mới cũng như việc lấy và sử dụng tài nguyên trước đây không được dùng Thêm vào đó sựphát triển tài nguyên tạo nhiều nơi ở trong các môi trường khó khăn
Tác động âm Cạn kiệt tài nguyên làm giảm dân số và làm giảm sự phát triển xã hội, kinh tế,
công nghệ Suy thoái môi trường (ô nhiễm không khí) có thể làm giảm dân số hay tiêu diệtquần thể
2.1.2.4 Tài nguyên lên ô nhiễm
Khối lượng, cách thức khai thác và sử dụng tài nguyên có thể ảnh hưởng lên ô nhiễm Càngkhai thác và sử dụng nhiều tài nguyên thì càng gây nhiều ô nhiễm Cạn kiệt tài nguyên có thểlàm giảm ô nhiễm
2.1.2.5 Ô nhiễm lên dân số
Ô nhiễm có thể làm giảm dân số cũng như giảm sự phát triển xã hội, kinh tế và công nghệ Ônhiễm làm gia tăng tử vong và bệnh tật nên ảnh hưởng xấu lên kinh tế và xã hội Ô nhiễm cóthể làm thay đổi thái độ của con người từ đó làm thay đổi luật lệ, cách thức khai thác và sửdụng tài nguyên
2.1.2.6 Ô nhiễm lên tài nguyên
Ô nhiễm một môi trường có thể gây thiệt hại lên môi trường khác Các luật mới nhằm làmgiảm ô nhiễm có thể thay đổi sự cung cầu, khai thác và sử dụng tài nguyên
Nhìn chung, sự đông dân khiến người ta sử dụng nhiều tài nguyên hơn và làm suy thoái môitrường nhiều hơn Chừng nào chúng ta chưa thay đổi cách sống, chưa ngừng hủy hoại môi sinh
và các sinh vật khác thì sự sống sót và sự phát triển cuả chúng ta còn bị nhiều nguy cơ
Trang 10Các thành phố và thị trấn càng phát triển thì càng phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn tàinguyên cũng như tác động môi trường - mà người ta thường gọi là “dấu chân sinh thái” Dấuchân sinh thái của London, Vương quốc Anh rộng gấp 120 lần diện tích thành phố này Mộtthành phố cỡ trung bình của Bắc Mỹ với số dân 650.000 người cần diện tích đất là 30.000 km2
để phục vụ các nhu cầu của thành phố Trái lại, một thành phố có diện tích tương tự nhưngkém khả giả hơn ở Ấn Độ chỉ cần 2.800 km2 Từ 1950, tổng mức tiêu thụ nhiên liệu đã tăng500% Mức tiêu thụ nước tăng gấp đôi tính từ 1960 và công suất đánh bắt hải sản tăng gấp 4lần
Một thành phố với 10 triệu dân, như Manila, Cairo hoặc Rio de Janeiro- mỗi ngày phải nhập ítnhất là 6.000 tấn thực phẩm Hơn một nửa lượng nước ngọt khai thác cho con người được sửdụng để cung cấp cho các khu đô thị: công nghiệp, nước uống và sinh hoạt, hoặc tưới nước chocây trồng Có tới 65% lượng nước sử dụng để tưới bị thất thoát Nhiệt độ không khí ở đô thị cóthể nóng hơn các vùng nông thôn xung quanh tới 5oC một khi thảm che phủ đất tự nhiên bịthay thế bằng đường sá và các toà nhà
2.2 Các tác động cụ thể
2.2.1 Cạn kiệt tài nguyên
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong
tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống Tài nguyênthiên nhiên phân bố không đồng đều giữa các nơi trên Trái Đất và trên cùng một lãnh thổ cóthể tồn tại nhiều loại tài nguyên, tạo ra sự ưu đãi của tự nhiên đối với từng vùng lãnh thổ, từngquốc gia Đại bộ phận các nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế cao được hình thànhqua quá trình lâu dài của tự nhiên và lịch sử
Trong khoa học môi trường, người ta chia tài nguyên thiên nhiên ra làm 2 loại:
- Tài nguyên tái tạo (renewable resources) như là nước, đất, sinh vật… là loại tài nguyên màsau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu, nó có thể tự duy trì và tự bổ sung nếu đượcquản lý một cách hợp lý Tuy nhiên, các loại tài nguyên này có thể bị suy thoái nếu sử dụng vàquản lý không hợp lý
- Tài nguyên không tái tạo (unrenewable resources) là dạng tài nguyên bị biến đổi và mất đisau quá trình sử dụng Tài nguyên không tái tạo thường giảm dần về số lượng sau quá trìnhkhai thác của con người
Thí dụ như tài nguyên khoáng sản và nguồn gen con người là dạng tài nguyên không tái tạođược
Nhìn chung, tài nguyên là hữu hạn và phải biết khai thác sử dụng và bảo vệ một cách hợp lý
Trang 11Vì dân số thế giới tiếp tục gia tăng, nhiều nguồn tài nguyên cần thiết cho sự sống còn của conngười và hàng triệu sinh vật khác sẽ ít đi Các nước đang phát triển thì sử dụng quá đáng cácnguồn tài nguyên có thể tái tạo được, trong khi các nước phát triển thì tiêu xài quá mức cácnguồn tài nguyên không thể tái tạo được.
Theo báo cáo của Quỹ Quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (WWF), hiện nay con người tiêu thụnhiều hơn 20% so với khả năng tạo ra nguồn tài nguyên mới của Trái Đất Các vùng đất ngậpnước, rừng, savan, cửa sông, ngư trường đánh bắt ven biển và các nơi cư trú khác tham gia vàochu trình khí, nước và chất dinh dưỡng cho tất cả sinh vật sống trên Trái Đất đang bị huỷ hoại
- Do nhu cầu của con người đối với lương thực, nước ngọt, gỗ, sợi và nhiên liệu, đất đai ngàycàng bị khai thác cho nông nghiệp, trong 60 năm qua, diện tích được khai thác nhiều hơn cảthế kỷ 80 và 90 gộp lại
- Ước tính 24% diện tích bề mặt Trái Đất đang được canh tác
- Lượng nước bơm hút lên từ các sông và hồ đã tăng gấp đôi trong thời gian 40 năm qua Conngười hiện nay sử dụng 40-50% lượng nước ngọt có sẵn chảy ra từ đất liền
- Ít nhất một phần tư trữ lượng thuỷ sản đã bị khai thác quá mức Tại một số nơi, sản lượngđánh bắt hiện thấp hơn 100 lần so với trước khi đánh bắt công nghiệp Số lượng động vật sốngtrên cạn, nguồn nước và các loài sinh vật biển đã được con người sử dụng hết 40% từ năm1970-2000
- Kể từ 1980, khoảng 35% các khu rừng ngập mặn đã biến mất, 20% các rạn san hô thế giới bịhuỷ hoại và 20% khác bị suy thoái trầm trọng
- Sự tiêu thụ nguồn nhiên liệu liệu như than, khí và dầu lửa cũng tăng khoảng 700% từ năm1961-2000
Một số tài nguyên điển hình bị cạn kiệt có thể kể ra như sau:
2.2.1.1 Cạn kiệt tài nguyên đất
Đất là nguồn tài nguyên vô giá đang bị xâm hại nặng nề Diện tích đất đai bình quân trên mộtđầu người ngày càng thu hẹp dần mà nguyên nhân cơ bản nhất chính là vấn đề tăng dân số một
Trang 12cách nhanh chóng trên toàn thế giới, trong đó các quốc gia đang phát triển và kém phát triển là
có tỉ lệ tăng dân số mạnh mẽ nhất
Diện tích đất phân bố rất không đồng đều trên toàn thế giới: hiện nay, diện tích các thành phốtrên thế giới chiếm 0,3% diện tích Trái Đất và 40% dân số thế giới Diện tích trên Trái Đất vớihơn 70% là đại dương còn lại là đất liền nhưng con người chỉ cư trú được với một diện tíchchiếm 32% diện tích đất liền, mặt khác dân số lại phân bố không đồng đều ở các quốc gia Cácnước kém phát triển hoặc đang phát triển thì có mật độ dân số cao hơn nhiều so với các quốcgia phát triển
Số liệu của Liên hợp quốc cho thấy cứ mỗi phút trên phạm vi toàn cầu có khoảng 10 ha đất trởthành sa mạc Diện tích đất canh tác trên đầu người giảm nhanh từ 0,5 ha/người xuống còn 0,2ha/người và dự báo trong vòng 50 năm tới chỉ còn khoảng 0,14 ha/đầu người Ở Việt Nam, sốliệu thống kê cho thấy sự suy giảm đất canh tác, sự suy thoái chất lượng đất và sa mạc hoácũng đang diễn ra với tốc độ nhanh Xói mòn, rửa trôi, khô hạn, sạt lở, mặn hoá, phèn hoá, v.v.đang xảy ra phổ biến ở nhiều nơi đã làm cho khoảng 50% trong số 33 triệu ha đất tự nhiênđược coi là “có vấn đề suy thoái”
Bảng 2.1 Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới(ha/người)
Bảng 2.2 Sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ở Việt Nam
Năm Dân số (triệu người) Diện tích đất nông
nghiệp (triệu ha)
Bình quân đầungười (ha /người)
Trang 130,190,120,130,110,1050,095
2.2.1.2 Cạn kiệt tài nguyên nước
Nước vừa là một nguồn tài nguyên thiết yếu đối với con người vừa là nguồn tài nguyên đặcbiệt, sự phân bố của nó không hề tương ứng với những nhu cầu đang ngày càng tăng của conngười Trong tổng lượng nước của toàn thế giới, có tới 97% là nước mặn và trong số 3% nướcngọt có thể sử dụng, có tới 70% tồn tại dưới dạng băng ở hai vùng cực và tuyết trên nhữngđỉnh núi cao Nước ngọt có thể sử dụng chỉ chiếm 1% tổng lượng nước toàn cầu Về mặt địa lí,
sự phân bố của nước là không đồng đều 15% lượng nước ngọt toàn cầu được giữ tại khu vựcAmazon Ngay trong khu vực Địa trung hải, các nước giàu về tài nguyên nước (Pháp, Ý, ThổNhĩ Kì, Nam Tư cũ) chiếm tới 2/3 lượng nước toàn khu vực Tình trạng này dẫn đến sự phânhóa những nước giàu và nghèo tính theo tỉ lệ tài nguyên nước trên đầu người: giao động từchưa đến 100m3/năm đến 10.000m3/năm Dưới ngưỡng 1000m3/năm/đầu người những căngthẳng bắt đầu xuất hiện và ngưỡng thiếu nước được xác định ở mức 500m3/năm Không nhữngthế lượng nước lại có sự phân bố không đồng đều theo thời gian Có một sự mất cân đối vềlượng nước giữa mùa khô hạn và mùa mưa và giữa các năm
Trong vòng một thế kỉ vừa qua, trong khi dân số toàn cầu tăng lên ba lần thì mức tiêu thụ nước
đã tăng lên sáu lần, trong đó nông nghiệp tiêu thụ tới 75% lượng nước ngọt toàn cầu và nhucầu tưới tiêu của nông nghiệp lại không ngừng tăng lên cùng với sự phát triển dân số Ngay cảnhững nước có khí hậu ôn hòa như Pháp thì lượng nước dành cho nông nghiệp cũng chiếm tới30% tổng lượng nhu cầu
Tiêu thụ ở những thành phố lớn cũng không ngừng tăng lên, nhất là trong hoạt động du lịch.Tính trung bình, một khách du lịch trong một khách sạn hạng sang tiêu thụ từ 500 đến 800lnước/ngày, gấp nhiều lần mức tiêu thụ của cư dân bản địa
Kèm theo là các dịch vụ giải trí và vệ sinh Một sân golf hằng năm tiêu thụ khoảng 10.000m3
nước cho một ha, tương đương với một diện tích trồng trọt trong nông nghiệp Thêm vào đóthủy điện và công nghiệp cũng là những kẻ tiêu thụ nước với số lượng lớn Cùng với những tácđộng xấu đến sinh thái và văn hóa – xã hội ở các khu vực nhà máy Sự gia tăng nhu cầu sửdụng nước đã dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước
Trang 14Theo Liên Hợp Quốc thì một nửa trong tổng số 500 dòng sông lớn nhất thế giới đang trở nêncạn kiệt và ô nhiễm trầm trọng Lượng nước của các con sông lớn nhất thế giới đang sụt giảmlàm ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, các loài vật và tương lai của cả hành tinh.
Liên Hợp Quốc đã đưa ra cảnh báo về một thảm họa đối với một số con sông trong số này.Sông Nile ở châu Phi và sông Hoàng Hà ở Trung Quốc từng được xem là các hệ thống tướitiêu lớn của thế giới nay đang có lượng nước đổ ra đại dương ở mức thấp kinh khủng Tất cả
20 con sông lớn nhất thế giới hiện đang bị các con đập ngăn chặn
Hậu quả là 1/5 chủng loài cá hoặc đã tiệt chủng hoặc đang bên bờ tuyệt chủng Sông Jordan(bang Utah, Mỹ) và sông Rio Grande được xem là 2 con sông cạn nhất so với chiều dài của nó.Tại Anh, 1/4 tổng số 160 con sông của nước này đang cạn dần do quá nhiều nhà cửa và do cácngành nông nghiệp, công nghiệp phát triển tạo ra nhiều chướng ngại vật
Tại Việt Nam, lượng nước sẵn có trên đầu người ngày càng giảm đi Cùng với sự phát triểnkinh tế - xã hội, sự gia tăng dân số với tỷ lệ tăng dân số hàng năm 1,7% ở nước ta, nhu cầu sửdụng nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế tăng lên không ngừng trong khi đó tài nguyênnước trong tự nhiên là có hạn chính vì thế lượng nước sẵn có theo đầu người có xu hướnggiảm dần theo thời gian
Năm 1943 lượng nước bình quân đầu người của Việt Nam là 16.641 m3/người, nếu dân sốnước ta tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn đạt 2467 m3/người, năm xấp xỉ với những quốc gia
Trang 15hiếm nước Hiện nay lượng nước bình quân đầu người của Việt Nam chỉ khoảng3.840m3/người/năm, thấp hơn 160m3 so với quy định của thế giới (trên 4.000m3/người/năm).
2.2.1.3 Suy giảm tài nguyên rừng, đa dạng sinh học
Không gian sống của con người luôn luôn cần mở rộng Do đó con người luôn giành giật vớisinh vật mà điển hình nhất chính là tình trạng phá rừng diễn ra khắp nơi trên thế giới
Nhiều diện tích đất rừng bị phá hoại nghiêm trọng Con người phá rừng với các mục đích mởrộng diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương thực, trong đó những ngườisản xuất nhỏ du canh là nguyên nhân quan trọng nhất, nhu cầu lấy củi, chăn thả gia súc, khaithác gỗ và các sản phẩm rừng, phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản Ngoài ra còn
có một nguyên nhân khác làm giảm diện tích rừng là do việc cháy rừng nhưng nguyên nhânsâu xa cũng là do các hoạt động của con người gây ra cháy rừng
Vào thời kỳ tiền sử diện tích rừng đạt tới 8 tỷ ha (2/3 diện tích lục địa), đến thế kỷ 19 cònkhoảng 5,5 tỷ ha và hiện nay chỉ còn khoảng 2,6 tỷ ha Năm 1991 diện tích rừng bị phá củatoàn thế giới lên tới 17 triệu hecta so với 11,3 triệu hécta của 10 năm trước đó Việc chặt phárừng ở vùng nhiệt đới bắt đầu diễn ra mạnh từ thế kỷ XVIII và XIX do mở rộng diện tích trồng