Dân số luôn là vấn đề không chỉ các nhà khoa học, các chuyên gia, mà ngay cả các chính phủ, các tổ chức xây dựng đếu rất quan tâm. Không chỉ ngày nay mà ngay cả trước kia, không chỉ nước ta mà ngay cả các nước trên thế giới đếu quan tâm. Sự quan tâm đó không chỉ vì sức ép của sự bùng nổ dân số, mà cả vì sức mạnh của quốc gia, không chỉ quan quan tâm hạn chế mà còn khuyến khích phát triển dân số. Tại sao mọi nơi, mọi lúc, mọi người lại quan tâm đến vấn đề dân số như vậy. Bởi vì dân số luôn luôn với hai tư cách vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng. Vì vậy quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng và chất lượng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
KHOA KINH TẾ
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI:
DỰA VÀO MÔ HÌNH MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ VÀ Y TẾ.
LIÊN HỆ ĐẾN VIỆT NAM
GVHD : Huỳnh Viết Thiên Ân
Sinh viên: Huỳnh Vũ Hòa Nam
Võ Thị Hợp Nguyễn Lê Khải Ngô Thị Kiều Trang Trần Thị Ly Na
41K20 41K20 41K20 41K05 41K05
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Dân số luôn là vấn đề không chỉ các nhà khoa học, các chuyên gia, mà ngay cả các chính phủ, các tổ chức xây dựng đếu rất quan tâm Không chỉ ngày nay mà ngay cả trước kia, không chỉ nước ta mà ngay cả các nước trên thế giới đếu quan tâm Sự quan tâm đó không chỉ vì sức ép của sự bùng nổ dân số, mà cả vì sức mạnh của quốc gia, không chỉ quan quan tâm hạn chế mà còn khuyến khích phát triển dân số Tại sao mọi nơi, mọi lúc, mọi người lại quan tâm đến vấn đề dân số như vậy Bởi vì dân số luôn luôn với hai tư cách vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng Vì vậy quy
mô, cơ cấu, tốc độ tăng và chất lượng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội
Sự tác động của các quá trình dân số tới sự phát triển kinh tế xã hội là sâu sắc, toàn diện và tất yếu Lĩnh vực y tế cũng không nằm ngoài sự tác động đó Sự tác động ngày càng rõ và toàn diện trên mọi khía cạnh Đổi lại thì vấn đề y tế cũng tác động trở lại mạnh mẽ đối với các quá trình dân số Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu mối quan hệ đó qua bài thảo luận này
Đây là vấn đề tuy không còn mới tuy nhiên trong quá trình thảo luận nhóm không tránh khỏi những thiếu sót và chắc chắn còn có những vấn đề cần nghiên cứu thảo luận thêm Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lại bài thảo luận nhóm của mình
Trang 4NGUỒN THAM KHẢO
Giáo trình dân số và phát triển, TS Nguyễn Thị Kim Thoa, Trường Đại học Công
Đoàn Báo cáo Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015– 2020 của Bộ Y Tế năm (2015)
Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015 của Bộ Y Tế
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình BPTT : Biện pháp tránh thai SKSS : Sức khỏe sinh sản SKTD: Sức khỏe tình dục
Trang 5CHỦ ĐỀ 5:
DỰA VÀO MÔ HÌNH MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ VÀ Y TẾ LIÊN HỆ ĐẾN
VIỆT NAM.
I Một số khái niệm về dân số, y tế
1 Dân số là gì?
Dân số theo nghĩa rộng là tập hợp những người cư trú thường xuyên trên một
lãnh thổ nhất định Lãnh thỗ đó có quy mô rất khác nhau như thế giới, châu lục (thí dụ: châu Á, châu Âu), khu vực (Đông Nam Á, Bắc Mỹ), quốc gia, vùng lãnh thổ, tỉnh, huyện
Dân số theo nghĩa hẹp (thường được dùng trong dân số học) là một tập hợp
người hạn định trong phạm vi lãnh thổ nào đó và có một số tính chất gắn liền với quá trình tái sản xuất dân cư
Đặc điểm dân số Việt Nam
• Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh
• Ở trẻ em và trẻ sơ sinh có dấu hiệu nghiêm trọng về mất cân đối giới tính
• Dân số phân bố không đều, di dân ngày càng sôi động
• Tỷ lệ dân đô thị hiện còn thấp nhưng sẽ tăng mạnh trong tương lai
• Mức sinh, mức chết đều giảm mạnh nhưng còn khác nhau giữa các vùng
• Chất lượng dân số có cải thiện nhưng vẫn chưa cao
Một vài số liệu
Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) cho biết, tính đến ngày 1/7/2016, dân số nước ta ước đạt 91,7 triệu người
• Dân số Việt Nam đứng thứ 14 trong số các quốc gia đông dân nhất thế
giới, đứng thứ 8 châu Á.
• Dân số Việt Nam chiếm khoảng 1,27% tổng dân số thế giới
• Mật độ dân số trung bình của Việt Nam là 305 người/km2
• Dân cư đô thị chiếm 33,6% tổng dân số (32,247,358 người)
• Tốc độ tăng dân số ở nước ta đến năm 2015 là 1%, đạt mục tiêu đề ra
• Tổng tỷ suất sinh từ 6,39 năm 1960 xuống còn 2,05 năm 2012
Trang 6• Tuy nhiên, với số dân gần 92 triệu, Việt Nam có mật độ dân số cao gấp 5,2 lần mật độ dân số thế giới, gấp 2 lần châu Á - Thái Bình Dương, gấp
2 lần Đông Nam Á và đứng thứ 3 trên thế giới
• Tỷ lệ giới tính khi sinh trên cả nước hiện chênh lệch rất lớn với hơn 112 nam/100 nữ Lựa chọn giới tính thai nhi do xem nhẹ giá trị của phụ nữ
và trẻ em gái là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh
2 Sức khỏe
• Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe là một trạng thái
hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh tật hay thương tật
• Sức khỏe của con người phụ thuộc vào các quy định dặc thù sinh học (giới tính, tuổi tác, sự di truyền và thể trạng bẩm sinh), phụ thuộc vào các điều kiện môi trường bên ngoài con người, đặc biệt là môi trường xã hội
• Sức khỏe là biểu hiện tổng hợp trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, trước hết là các điều kiện y tế Do đó, các quốc gia đều cho rằng sức khỏe
là yếu tố quan trọng của chất lượng cuộc sống của mỗi xã hội
3 Y tế
a Y tế là gì?
• Y học là ngành khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu dự phòng, chữa khỏi hoặc
giảm bớt tác động của các biểu hiện rối loạn, bệnh tật ảnh hưởng đến sức khỏe
• Y tế là một hệ thống tổ chức thực hiện các biện pháp cụ thể, đặc biệt là các
biện pháp kỹ thuật để dự phòng, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe con người
Vì vậy ảnh hưởng đến mức sinh và mức chết, tức là đến quá trình tái sản xuất dân số
• Y học và y tế là hai mặt hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân Y
học đi sâu vào vấn đề nghiên cứu lí thuyết, y tế đi sâu vào các biện pháp tổ chức, chỉ đạo, thực hiện cụ thể phòng chữa bệnh trong cuộc sống Mối quan
hệ giữa dân số và y tế có tính chất tương hổ Một mặt ngày nay y tế tác động tới toàn bộ quá trình tái sản xuất dân số, mặt khác sự bùng nổ dân số cũng đang tạo sức ép mạnh mẽ đối với ngành y tế
Qua các khái niệm trên ta có thể định nghĩa “Dịch vụ chăm sóc sức khỏe hay nói gọn là dịch vụ y tế’’ là các dạng hoạt động nhằm thõa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho mọi người, kể từ khi còn là bào thai cho đến khi già
Trang 7Sự phát triển của hệ thống y tế của mỗi quốc gia phụ thuộc vào các yếu tố sau:
• Trình độ phát triển kinh tế - xã hội (công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, khoa học – kỹ thuật, )
• Điều kiện tự nhiên môi trường (môi trường sinh thái)
• Tình hình phát triển dân số (quy mô, tốc độ gia tăng, cơ cấu, phân bố dân số)
• Chính sách của nhà nước đối với y tế và các điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân (chính sách đầu tư, đào tạo cán bộ, động viên các nguồn lực, )
b Vai trò của y tế và chăm sóc sức khỏe
• Sức khỏe là nhu cầu cơ bản của con người, là mục đích và điều kện của sự phát triển Mọi người có thể được lợi nhờ só sức khỏe tốt trong hiện tại và việc cải thiện sức khỏe của tầng lớp trẻ sẽ dấn tới một thế hệ khỏe mạnh hơn trong tương lai
• Các dịch vụ y tế làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực trong hiện tại lẫn tương lai
• Việc chăm sóc sức khỏe tốt làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng trong tương lai bằng việc kéo dài khả năng lao động, đồng thời làm tăng tuổi thọ
• Y tế và chăm sóc sức khỏe góp phần tạo nên một cộng đồng dân cư với thể lực, trí lực sung mãn, đáp ứng công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
c Các chỉ tiêu đánh giá
Các chỉ tiêu để đánh giá trình độ phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe của một quốc gia:
• Số cán bộ y tế (ngành y)/1 vạn dân (số bác sĩ/1 vạn dân; số y tá, y sĩ/1 vạn dân)
• Số giường bệnh/1 vạn dân
• Chi tiêu cho y tế (%GDP)
• Tuổi thọ trung bình
Ngoài ra còn chú ý đến tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh
II Mối quan hệ giữa dân sô và y tế
Dân số và y tế liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau cùng nhau phát triển
1 Ảnh hưởng của dân số đến Y Tế
a Quy mô dân số ảnh hưởng đến quy mô và mức đầu tư kinh phí cho ngành
y tế
Quy mô dân số là tổng số người hay tổng số dân sinh sống trên một đơn vị
lãnh thổ tại một thời điểm nhất định
Trang 8 Quy mô ngành y tế được hiểu là:
• Các cơ sở khám chữa bệnh, phòng bệnh và phục vụ hồi chức năng
• Cán bộ công nhân viên ngành y tế
• Phương tiện phục vụ cho khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng
• Đầu tư cho y tế: Hiện nay ở nước ta đầu tư cho y tế bao gồm các thành phần như: nhà nước, tư nhân và các tổ chức xã hội khác
Nhiệm vụ của ngành y tế là phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng cho người dân
Do vậy khi quy mô dân số tăng lên thì nhu cầu về chăm sóc y tế cũng tăng theo, khi đó quy mô ngành y tế cũng tăng theo
Để hiểu rõ hơn, ta gọi P là quy mô dân số, H là số lần khám và chữa bệnh trong năm đó Ta có
D = P.H
Rõ ràng, nếu H không đổi thì tổng cầu D tỷ lệ thuận với số dân (P) và gia tăng theo tỷ lệ gia tăng của quy mô dân số
Mặt khác, dân số tăng quá nhanh trong khi điều kiện kinh tế - xã hội chưa đáp ứng kịp ở các nước đang và kém phát triển sẽ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe:
• Dân số tăng nhanh trong khi điều kiện về kinh tế và xã hội đang còn kém phát triển, thu nhập của người dân còn thấp, giao thông đi lại khó khăn, phương tiện phục vụ cho khám chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng còn thiếu thốn, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi, dịch bệnh xảy ra triền miên do môi trường bị ô nhiễm, các cơ sở chăm sóc y tế sẽ quá tải, làm cho nhu cầu chăm sóc y tế của mỗi cá nhân sẽ tăng lên
• Dân số tăng nhanh tập trung ở các nước nghèo, khả năng dinh dưỡng, hạn chế, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên, trước hết là bệnh suy dinh dưỡng Dân số đông và tăng quá nhanh dẫn đến nhà ở chật chội, vệ sinh không đảm bảo nhất là nguồn nước sinh hoạt, dinh dưỡng kém và môi trường bị ô nhiễm là những điều kiện thuận lợi cho bệnh tật phát triển
• Ở các nước đang phát triển, nhiều người không có việc làm, quản lý
xã hội khó khăn nên tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông tăng lên, những nguyên nhân này cũng góp phần làm tăng bệnh tật và thương tật
• Dân số tăng nhanh dẫn đến việc đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình do
đó cũng nâng cao số cầu đối với y tế
Do đó, số lần khám và chữa bệnh của một người (H) tăng lên và do đó làm
cho tổng cầu (D) tăng lên Quy mô ngành y tế tăng
Nhưng quy mô dân số tăng quá nhanh sẽ gây áp lực lớn cho ngành y tế đặc biệt là ở các nước đang và kém phát triển
Quy mô dân số quá lớn, tốc độ tăng dân số cao đòi hỏi quy mô của hệ thống
y tế (số bệnh viện, số cơ sở, vật chất, số giường bệnh, số bác sĩ,…) cũng
Trang 9phải tác động với một mức độ thích hợp để đảm bảo các hoạt động khám và chữa bệnh cho người dân
Tuy nhiên trên thực tế hiện nay ở các nước đang và kém phát triển quy mô ngành y tế không bắt kịp so với mức độ tăng dân số Nguyên nhân chủ yếu
là do kinh tế chưa phát triển nên mức đầu tư vào y tế còn thấp
Liên hệ Việt Nam:
• Dân số trung bình năm 2015 là 91,7 triệu người Với tốc độ tăng như hiện nay, dân số nước ta có thể đạt hơn 95 triệu vào năm 2019 Quy mô dân số lớn, mật
độ dân số cao, đặc biệt ở các thành phố lớn và các khu vực đồng bằng, đặt ra nhiều áp lực cho hệ thống y tế trong việc bảo đảm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và cho bà mẹ và trẻ em nói riêng
• Tuy nhiên, với số lượng vị thành niên và thanh niên chiếm đến một phần ba dân số, việc xây dựng lối sống lành mạnh và chăm sóc SKSS cũng đặt ra nhiều thách thức đáng kể cho ngành y tế cũng như toàn xã hội Bên cạnh đó, phụ nữ
và trẻ em chiếm tới 33,8% dân số, trong đó 1,7 triệu trẻ em dưới 1 tuổi, 5,9 triệu trẻ em từ 1 đến 4 tuổi, 24,1 triệu phụ nữ tuổi sinh đẻ cũng là những đối tượng có nhu cầu CSSK cao Mặt khác, tỷ lệ người góa, ly hôn, ly thân cũng tăng lên theo xu hướng của xã hội hiện đại, từ 7,9% năm 2009 lên 8,5% năm
2014 với sự khác biệt rõ rệt giữa hai giới (3,3% ở nam so với 13,4% ở nữ)
• Việt Nam là một trong 10 quốc gia có tỷ lệ già hoá dân số nhanh nhất thế giới
Tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh liên tục từ 7,1% năm 1989 lên 8,7% năm 2009
và 10,2% năm 2014 Chỉ số già hoá dân số tăng nhanh, từ 18,2% năm 1989 lên 44,6% năm 2014 và sẽ tiếp tục tăng trong giai đoạn sắp tới
• Tỷ lệ dân số cao tuổi càng lớn, gánh nặng bệnh tật và tử vong, nhất là với các BKLN càng lớn Điều này đặt ra những gánh nặng đối với gia đình, xã hội và
hệ thống y tế trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc kéo dài, tốn kém cho người cao tuổi
• Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam đã ở trong mức báo động và vẫn đang trong giai đoạn tiếp tục tăng Năm 2013, tỷ số giới tính khi sinh đã là 113,8 trẻ trai/100 trẻ gái, cao hơn so với mục tiêu vào năm 2015 của Kế hoạch 5 năm
2011 – 2015 Kết quả điều tra dân số giữa kỳ thời điểm 1/4/2014 cho thấy tỷ số giới tính khi sinh là 112,2 trẻ trai/100 trẻ gái và số liệu ước tính cho năm 2015
là 112,8 trẻ trai/100 trẻ gái, tăng đáng kể so với năm 2009 (110,5 trẻ trai/100 trẻ gái) Đặc biệt, tỷ số giới tính khi sinh ở nông thôn (113,1 trẻ trai/100 trẻ gái) đã cao hơn đáng kể so với ở thành thị (110,1 trẻ trai/100 trẻ gái) Mong muốn cũng như áp lực buộc phải sinh con trai cùng với khả năng tiếp cận các dịch vụ chọn lọc giới tính hiện đại của phụ nữ nông thôn trong những năm gần đây tăng lên là lý do chính dẫn đến tình trạng chênh lệch này
Mất cân bằng giới tính khi sinh có thể chưa gây nên những tác động lớn trước mắt về y
tế nhưng có thể gây ra những hệ lụy lâu dài về mặt xã hội Với những giải pháp kiểm
Trang 10soát tích cực, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam sẽ đạt mức đỉnh 115 trẻ trai/100 trẻ gái vào năm 2020 và sau đó sẽ trở về mức chuẩn sinh học vào năm 2030
Việt Nam là một nước đang phát triển, với dân số tăng nhanh dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng sẽ gây ra áp lực lớn lên hệ thống y tế Quy
mô ngành y tế ở nước ta còn nhiều hạn chế, tuy nhiên trong những năm gần đây nhờ sự quan tâm và đầu tư của Chính phủ, quy mô ngành y tế đã có những bước cải tiến
Sau đây là một vài số liệu về quy mô ngành y tế ở Việt Nam qua các năm và mục tiêu trong tương lai
Trích báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015 của Bộ Y Tế
Hệ thống y tế ngày càng được cải thiện Ví dụ như số bác sĩ, dược sĩ/vạn dân liên tục tăng qua các năm
Trang 11 Quy mô dân số tăng dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng => Quy mô ngành y tế cũng tăng để đáp ứng nhu cầu đó
Số liệu được trích từ báo cáo: Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống
khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015– 2020 của Bộ Y Tế năm (2015)
Trang 12Để quy mô ngành y tăng chính phủ cần tăng cường đầu tư vào ngành y tế.
Do đó, quy mô dân số tăng dẫn đến mức đầu tư kinh phí cho ngành y tế cũng tăng
Nhưng trên thực tế, ở các nước đang và kém phát triển mức kinh phí đầu tư cho ngành y tế còn thấp, nguyên nhân chủ yếu là thu nhập của nền kinh tế còn thấp, dẫn đến chất lượng của dịch vụ y tế chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân
Kinh phí đầu tư cho ngành y tế ở Việt Nam tăng qua các năm
Nguồn: Hội khoa học kinh tế y tế Việt Nam (http://vhea.org.vn/)
Như vậy : Muốn cải thiện việc cung cấp các dịch vụ y tế cả về số lượng và chất lượng
thì tốc độ phát triển nguồn nhân lực y tế cũng như các phương tiện, điều kiện phục vụ cho chăm sóc sức khỏe phải cao hơn tốc độ phát triển dân số
b Cơ cấu dân số theo giới, phong tục tập quán, tôn giáo ảnh hưởng đến chất lượng và cơ cấu ngành y tế
• Mỗi quốc gia đều có một văn hóa, tập quán riêng Lối sống, phong tục, suy nghĩ đều khác nhau
Theo tổ chức UNDP, ta thấy được sự phân biệt rõ rệt giữa các châu lục qua chỉ
số bất bình đẳng giới:
Trung Phi CHDC
Công gô
Trang 13Châu Âu Thụy Điển 0,049 1 0,055 2
• Cơ cấu dân số không hợp lý ảnh hưởng trực tiếp tới hình thái hôn nhân trong tương lai, gây ra các tệ nạn xã hội như buôn bán phụ nữ, trẻ em, mại dâm, bạo lực gia đình,giới, làm cho ngành y tế phải giải quyết các hậu quả của các hành
vi trên
• Phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng rất lớn tới sự phân biệt giới tính
• Các dịch vụ dân số và tôn giáo, cũng như trình độ học vấn của dân cư ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng các dịch vụ y tế Ví dụ như đồng bào dân tộc thích dùng thuốc dân gian để chữa bệnh hơn là thuốc tây
• Trình độ học vấn ảnh hưởng tới việc làm có thu nhập cao hay thấp sẽ ảnh hưởng tới việc sử dụng dịch vụ y tế
c Tác động của phân bố dân cư đến hệ thống y tế.
Ở các khu vực địa lý khác nhau như đồng bằng, miền núi, thành thị, nông thôn có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, về kinh tế - xã hội nên có cơ cấu bệnh tật khác nhau
Chênh lệch giữa các vùng miền về một số chỉ số sức khỏe chung năm 2014
thọ*
Suy dd, nhẹ cân
,3
10,2
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 72
,5
17,0
,7
8,4
,4
15,0
Ghi chú: *Số liệu phân vùng là của năm 2013
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2015) Báo cáo tóm tắt Kết quả điều tra dân số giữa kỳ 1/4/2014,Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2015)
Ví dụ:
Ở đồng bằng, vùng ven biển miền bắc Việt Nam thì các bệnh đường tiêu hóa, bệnh hô hấp là phổ biến, nhưng miền núi cao thì bệnh sốt rét, bệnh biếu
cổ là bệnh cần quan tâm phòng chống Các bệnh xã hội nguy hiểm và hay lây lan như giang mai, hoa liễu, AIDS… thường tập trung ở các thành phố lớn có mật độ dân số cao