chúng sanh đưa vàovô dư niết bàn mà không thấy có một chúng sanh nào nhập niết bàn, đây là phá luôn khái niệm Niết bàn.khái niệm thứ nhất về chúng sanh chúng ta phá rồi, khái niệm thứ ha
Trang 1BÀI 1 – GIỚI THIỆU
- Kinh Kim Cang là bài kinh rất quan trọng, là nhân duyên cho người tu thiền chưa chứng nương theo mà
tu chứng( ví như Lục tổ Huệ Năng, khi nghe một câu trong kinh Kim Cang “ bất ưng trụ sắc sanh tâm bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” Mà chứng đạo) cũng như
nương theo Kinh mà kiểm chứng trình độ tu chứng của bản thân
- Chúng ta học kinh Kim Cang nếu không ngộ được như Lục tổ thì cũng là chìa khóa để mở ra cánh cửathâm nhập vào tạng kinh văn của Đại Thừa
- Kinh Kim Cang này nó có ba cấp độ: hiểu Thật sự nó là chứng ngộ nó ta gọi là thật tướng bát-nhã,tương tợ Bát- nhã và văn tự bát-nhã
- Kinh Kim Cang thuộc dòng văn học bát-nhã của Phật giáo Đại thừa Phật giáo Đại thừa có 3 giai đoạn:1tiền Đại thừa, 2 là đại thừa, 3 là hậu Đại thừa
- Dòng văn học Bát- nhã thuộc về giai đoạn đầu của Đại thừa, chấm dứt giai đoạn Bồ Tát Thừa đã quagiai đoạn Đại Thừa Bồ Tát thừa là giai đoạn mà những bài kinh không nói chữ Đại Thừa chỉ nói từ BồTát thừa Ví dụ kinh Pháp Kính do ngài Khương Tăng Hội dịch và viết lời tựa của Kinh Pháp kính, trong
đó có phần Thẩm cư sĩ hỏi Đức Thế Tôn là con đường tu Bồ Tát Có mấy loại , Đức Thế Tôn nói có hailoại, một là Bồ Tát xuất gia hai là Bồ Tát tại gia Bồ Tát xuất gia là những người mà không màng chuyệnthế sự vào ở trên núi thẳm rừng sâu, nơi đồng không mông quạnh, nơi nhà trống và lánh xa cuộc đời,chuyên tu để chứng ngộ Đó gọi là Bồ Tát xuất gia Còn Bồ Tát tại gia là những vị cư sĩ thực hiện cácpháp Ba-la-mật đi vào đời hóa độ chúng sanh, bố thí trì giới, tinh tấn…
- Phật giáo bắt đầu đi vào đời Bắt đầu trong hàng tăng sĩ là hòa thượng Thái Hư Nhưng trước đó lànhững vị cư sĩ ở Việt Nam có HT Thích Nhất Hạnh HT Thích Trí Quảng
- Kinh Kim Cang sẽ cho chúng ta một cánh cửa và chiếc chìa khóa để chúng ta ngộ đạo Kinh nhấn mạnh
cho chúng ta hai phương pháp để nghiên cứu, hai tinh thần là bỏ trụ và bỏ chấp hay còn gọi là phá sở tri chướng và phá phiền não chướng chúng ta hay bị trói buộc bởi hai chướng là sở tri chướng và phiền
não chướng Phá được hai chướng này thì chúng sẽ vào được Đạo
- Theo thiền sử Trung Quốc thì Kinh xuất phát từ đầu thế kỷ thứ VI sau CN
- Từ thời của tổ Hoàng Nhẫn mới bắt đầu Truyền thừa kinh Kim Cang, còn trước đó thì truyền thừa KinhLăng Già, hay còn gọi là Lăng Già Tâm Ấn là lấy Tâm ấn Tâm Kinh Lăng già Nếu nghiên cứu thì Chitiết hơn kinh Kim Cang ở chỗ là phân tích tâm lý của mình thành tám thức, các tâm sở và nơi kết hợpgiữa các thức với Như Lai tạng Lại có sự so sánh, đối chiếu, kết hợp, đồng nhất hóa Như Lai tạng chỉ làmột phần thanh tịnh của A Lại Gia thức Kinh Lăng già chúng ta chịu học và tu theo thì sẽ phát hiện được
Trang 2tâm của chúng ta bằng con đường đi từ tướng vào tâm, tức đi từ A lại gia thức vào Như Lai tạng Phá bỏ
khái niệm A lại gia thức để ngộ được Như Lai tạng, kinh Lăng Già thuộc dòng văn học hữu Kinh Kim Cang thì ngược lại, đi từ tánh để hiểu được các pháp và nó thuộc dòng văn học vô theo sự phân chia hữu
và vô của người Trung Quốc Truyền thuyết cho rằng ảnh hưởng từ lúc Bồ Đề Đạt Ma truyền kinh Lăng
Già vào Trung Quốc Cuốn kinh Lăng Già được truyền cho đến các vị tổ sau này và được xem như là lấy tâm ấn tâm và kinh này thuộc về duy thức học có nghĩa là người học chỉ hiểu bằng chữ nghĩa thôi, như
Ngài Thần Tú đã ngộ kinh Lăng Già và giảng giải theo pháp tướng, theo duy thức học Còn tổ Huệ Năng
thì ngộ từ kinh Kim Cang, ngộ tánh Không
- Theo Ancient Origins, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa (Vajracchedika prajnaparamita sutra) đượcdịch từ tiếng Phạn với nhiều tên khác nhau như Kinh Kim Cương hoặc Kinh Kim Cang Kinh này là mộttrong những văn bản được tôn kính nhất của Phật giáo Đại thừa, chứa đựng bài giảng, giáo lý cao siêu củaĐức Phật
- Năm 401, Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) lần đầu tiên dịch Kinh Kim Cương sang tiếng Trung Quốc.Trong thế kỷ tiếp theo, hoàng tử Chiêu Minh, con trai của Lương Vũ Đế, chia kinh sách thành 32 chương
và đặt tiêu đề cho chúng, những tiêu đề này ngày nay ít được sử dụng.
- Năm 1907, Aurel Stein, nhà khảo cổ học người Anh gốc Hungary đến thăm hang động Mạc Cao (haycòn gọi là Thiên Phật Động) ở Đôn Hoàng Ông gặp Wang Yuanlu (người phát hiện bản sao của KinhKim Cang trong hang động Mạc Cao ở Đôn Hoàng, Trung Quốc, vào đầu thế kỷ 20 Đây là cuốn sách inhoàn chỉnh, cổ nhất thế giới từng được biết đến, có niên đại năm 868 sau Công nguyên, thời vua ĐườngHuyền Tông) Aurel Stein mua lại các bức tranh, đồ thêu dệt, di vật, bản thảo bao gồm Kinh Kim Cang.Cuốn sách đang được trưng bày tại Thư viện Anh tại London Bản Kinh Kim Cang này gồm 60 miếnggiấy lụa được in và kết lại
Hiện tại có 7 bản dịch, bản của ngài Cưu Ma La Thập là bản dịch sớm nhất
Hán dịch Kinh Kim Cang và Giảng Luận
• Số hiệu kinh: 0235 Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Diêu Tần, ngài Cưu Ma La Thập,(Kumãrajiva) dịch (402 TL)
• Số hiệu kinh: 0236b Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Nguyên Ngụy, ngài Bồ Đề Lưu Chi(Bodhiruci) dịch (508 TL)
• Số hiệu kinh: 0237 Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Trần, ngài Chân Đế, Ba-la-mật-đà(Paramàrtha) dịch (giữa thế kỷ VI)
• Số hiệu kinh: 0238 Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Tùy, ngài Đạt-ma-cấp-đa(Dharmagupta) dịch ( đầu Thế kỷ VII TL)
Trang 3• Số hiệu kinh: 0239 Phật Thuyết Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, đời Đường,ngài Nghĩa Tịnh dịch (đầu thế kỷ VIII TL)
• Kinh số 6 Thật Tướng Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Đường , ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch
• Số 7 Đại Bát-nhã, đời Đường, ngài Huyền Trang dịch, Đại Bát-nhã, 600 quyển, gồm 16 hội, "KimCang" là hội thứ 9, quyển 577 trong bộ Đại Bát Nhã (giữa thế kỷ thứ VII TL)
Việt dịch Kinh Kim Cang và Giảng Luận
• Đoàn Trung Còn, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, NXB Tôn Giáo, 2006
• HT Trí Quang dịch giải, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật ( Kinh Kim Cương)
• HT Thích Thanh Từ, Kim Cang Giảng Luận, Thành hội Phật giáo TP HCM, 1993
• HT.Thích Thiện Hoa, Kim Cang và Tâm Kinh dịch nghĩa và lược giải, Hương Đạo xuất bản, 1965
• HT Tuyên Hóa, Kinh Kim Cang, NXB Tôn Giáo
• Thích Nhất Hạnh, Kim Cương: Gươm báu cắt đứt phiền não, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2009.
• HT Thích Trí Tịnh, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật
HT Thích Duy Lực, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật
(Theo Quan điểm tông Thiên Thai về Ngũ thời Bát giáo :
Ngũ thời : Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa & Niết Bàn
Bát Giáo : 1 Đốn giáo, 2 Tiệm giáo, 3 Bí mật giáo; 4 Bất định giáo:
5 Tạm tạng giáo, 6 Thông giáo, 7 Biệt giáo, 8 Viên giáo:
Phật nói toàn bộ Bát Nhã trong 22 năm Bát-nhã ba-la-mật-đa là nói đến bộ tòng thơ vĩ đại gồm 600quyển bản Hán
- Theo Ngài Thế Thân (Vasubandhu) cho rằng, Bát Nhã này đã được Đức Phật giảng dạy đầu tiên tạithành Vương Xá, bắt đầu từ năm thứ năm, kể từ khi Đức Thế Tôn thành đạo và Kinh Kim Cang Bát Nhã
đã được Đức Phật giảng dạy sau cùng trong văn hệ Bát Nhã Cho nên Kinh Kim Cang là thâu tóm toàn bộgiáo nghĩa của hệ Bát Nhã
Năm 167 TL, thế kỷ thứ II sau CN, Lokaraksa (Chi lâu ca sấm) đã đến Trung Hoa và đã dịch là ĐạoHành Bát Nhã và kinh này( thời này ngài Khương Tăng Hội cũng bắt đầu nghiên cứu về kinh Đạo HànhBát Nhã này) Sau này Ngài La Thập (343 – 413), dịch gọi là Tiểu Phẩm Bát Nhã Như vậy, bản của ngài
La Thập không phải là sớm nhất nhưng do bản Đạo Hành Bát Nhã không chẩn với kinh Kim Cang, nó chỉthuộc về sự tu tập, văn bản chữ viết thuộc văn hệ Bát nhã thôi, cho nên không được liệt kê vào 7 bộ KimCang đã dịch, phải được hình thành trước 167 TL, khoảng 200 năm, tức là phải xuất hiện trước Lokaraksa(Chi lâu ca sấm) (Kinh Kim Cang bằng Sanskrit chứa đựng ở trong Buddhist Sanskrit Texts No 17, P 75.Müller , Friedrich Max (1894), The Sacred Books of the East, Volume XLIX: Buddhist Mahāyāna Texts, Part II Oxford: Clarendon Press pp xii–xix).
Trang 4- Ở đây có sự chênh lệch về thời gian Đức Phật thuyết kinh Kim Cang Theo Ấn Độ quan niệm khác vàTrung Quốc quan niệm khác Theo sự thuyết giáo của ngài Trí Hải đại sư thì KKC bắt đầu được thuyết từnăm 20 sau khi thành đạo, còn Ấn Độ họ cho rằng Đức Phật thuyết KKC vào năm thứ 5 sau khi thành đạo
và KKC được thuyết sau cùng vì Kinh thuộc hệ tóm tắt của Bát Nhã
* Ý nghĩa tựa đề Kinh Kim Cang (trong file mp3 thầy giảng sơ về đề Kinh vì vậy con tóm tắt bài
Ý nghĩa tựa đề Kinh Kim Cang từ Thư viện Hoa Sen để quý học viên mình tham khảo ạ).
(- Ở đây, chúng ta sẽ trình bày ý nghĩa của đề kinh Kim Cang từ nguyên gốc tiếng Phạn và từ được dịchsang tiếng Hán Đề kinh Kim cang gồm hai phần Tên tiếng Phạn là Vajrachedikā Prajñāpāramitā, trong
đó phần đầu là tính từ phẩm định cho từ theo sau Prajñāpāramitā phiên âm tiếng Hán là Bát-nhã mật-đa, nó có khả năng cắt chém như kim cang, hay chính xác: như sấm sét (búa thiên lôi) Tiếng Phạnvajra, phổ thông dịch là kim cang, đó chỉ mới nhấn mạnh đến tính chất cứng rắn nhưng chưa nói hết uylực của nó như sấm sét Vajra cũng được dịch là kim cang xử: chày kim cang Trong huyền thoại Ấn Độ,kim cang xử là vũ khí của Indra tức là Thiên Đế Thích Trong đề kinh của ngài La-thập, từ chedika: (sự)cắt chém, bị lược bỏ Theo đây có thể hiểu, cắt chém là công dụng của kim cang, không cần đến phẩmđịnh từ, như dao để cắt, chỉ cần nói dao là đủ
Ba-la Ý nghĩa của từ prañāpāramitā tức BátBa-la nhã baBa-la laBa-la mậtBa-la đa Từ BátBa-la nhã baBa-la laBa-la mậtBa-la đa được hiểu theo haiphương diện, phương diện tư tưởng và phương diện văn học
-Về phương diện văn học, đó là hệ thống kinh điển được phát triển sau khi Phật nhập Niết-bàn Có thể
bắt đầu từ những phiến đoạn kệ tụng, như Bảo đức tạng Bát-nhã (Ratnaguṇa), vốn là thể thơ tiện lợi choviệc truyền khẩu từ thầy sang trò, phát triển dần theo thời gian và địa lý cho đến khi thành một bộ phậnvăn học rất đồ sộ Bộ lớn nhất, dài nhất, trước hết phải kể là Bách thiên tụng (Śatasāhasrikā), kế đến là bộ25,000 bài tụng: Nhị vạn ngũ thiên tụng (Pañcaviṃśatikā), rồi bộ Bát thiên tụng (Aṣṭasāhasrikā) Đó là ba
bộ chính đồ sộ, tập hợp thành một đại tòng thơ, trong đó ngài Huyền Trang dịch Hán gồm 600 quyển,hình thành bộ Bát-nhã đồ sộ nhất trong văn học Phật giáo
-Trong nền văn học Đại thừa, khi nói đến Bát-nhã ba-la-mật-đa là nói đến bộ tòng thơ vĩ đại này Với kíchthước dài tương đương 600 quyển bản Hán, vì quá dài, nên nhu cầu khi truyền tụng cần phải ngắn gọn lạicho phù hợp dung lượng của ký ức, và cũng cần có hệ thống cô đọng cho vừa tầm bắt nắm của tư tưởng.Nên có, chẳng hạn như Văn-thù Bát-nhã gồm 700 tụng (Saptaśatikā: Mañjuśrīparivartā), đến Kim cangchỉ còn 300 tụng (Triṃśatikā), rồi đến Tâm Kinh (Hṛdayasūtra) thì ngắn gọn vô cùng
- Nội dung giáo nghĩa được phô diễn rõ ràng trong kinh Kim cang Ở đây, chúng ta tóm tắt đại ý của Tâmkinh để có khái niệm cơ bản về ý nghĩa thực tiễn của Bát-nhã Ba-la-mật Tâm kinh, như được giới thiệubởi chính kinh văn, tiếng Phạn gọi là mantra, nghĩa đen là “công cụ tư duy”, Hán dịch thông dụng là
Trang 5“thần chú” Bát-nhã Ba-la-mật cũng được gọi là mahāvidyā: nền minh triết phổ quát, bao trùm tất cả,được cô đọng và hàm chứa trong đây; mà Hán dịch là “đại minh chú.” Theo ý nghĩa này, kinh văn chỉ nêu
ra hàng loạt phủ định, và kết thúc bằng câu gate gate paragate parasaṅgate bodhi svāha Ngữ điệu của câuthần chú này chính là công cụ hướng dẫn tư duy vượt qua những bế tắc tư tưởng, mà đó cũng chính lànhững bế tắc trong đời sống thường nhật, và nhờ đó mà vượt qua những tai họa hiểm nghèo
-Nay nói qua về tư tưởng Bát-nhã Bát-nhã hay prajñā, là trí tuệ, là nhận thức phán đoán các giá trị,
theo các cấp từ thường nghiệm cho đến siêu nghiệm Bình tĩnh và sáng suốt, đó là định và tuệ trong nhậnthức thường nghiệm Trong Phật học, đó là phần thứ ba của quá trình tu tập hay phát triển; chúng ta cóGiới-Định-Tuệ Nhận thức đạt được do quá trình phát triển giới và định là năng lực rọi sáng bản chất củatồn tại Trong các loại định, để hỗ trợ cho trí tuệ soi thấu bản chất chân thực của tồn tại, xóa tan bức màn
vô minh, đập vỡ lớp vỏ tự ngã, định này được gọi là Kim cang dụ định (vajropama-samādhi), vì kiên cốnhư kim cang, hay khả năng cắt chém như uy lực của sấm sét.Ba-la-mật-đa, tiếng Phạn pāramitā, Hándịch là đáo bỉ ngạn: đến bờ bên kia; hoặc cũng dịch là chí cực, nghĩa là, hoàn hảo hay toàn thiện tuyệt đối.Tại sao là hoàn hảo? Có hai nghĩa Thứ nhất là sự đạt đến mức toàn thiện Theo nghĩa này, Hán dịch làđáo bỉ ngạn, qua đến bờ bên kia, là bờ giải thoát sanh tử, bằng trí tuệ bát-nhã Nghĩa thứ hai là sự hoànhảo của trí tuệ bát-nhã, tức là đạt đến nhận thức chân thật tuyệt đối Đó là sự hợp nhất hoàn hảo của bi vàtrí
- Như vậy Kinh Kim cang thuộc về văn học Bát-nhã, trong kinh điển Đại thừa, giáo nghĩa của kinh đượcgiảng cho các hàng Bồ-tát Không giống các kinh điển Đại thừa khác, vị chủ giảng phần nhiều là các Bồ-tát thuộc hàng Pháp thân Đại sĩ; trong các kinh điển thuộc văn học Bát-nhã sơ kỳ, giáo nghĩa trong đâyđược diễn giải bởi các Thanh văn, các Đại đệ tử, cho các hàng Bồ-tát, bao gồm loài người và loài trời.Điều này rất có ý nghĩa, theo đó kinh điển Bát-nhã chứa đựng các giáo nghĩa mở rộng cho hàng đệ tử tạigia
- Pāramitā, theo nghĩa chí cực, là sự thực hành đạt đến mức tối thượng, tuyệt đối Người tu tập cần phảithành tựu viên mãn sáu đức tính tuyệt đối, bắt đầu với bố thí như là sự thể hiện thực tiễn của từ bi; trên cơ
sở đó tu tập và phát triển lần lượt cho đến sau cùng là trí tuệ Bi và trí song hành với nhau để tiến đến giảithoát Vì thế văn học đồ sộ của Bát-nhã được đúc kết lại, vừa nghĩa vừa văn, thích hợp cho một hạng căn
cơ nhất định để hiểu và hành; đó là kinh Kim cang.)1
BÀI 2 – ĐOẠN 1ÂM:PHÁP HỘI NHÂN DO
1
Trang 6“Như thị ngã văn:
Nhất thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên dữ đại Tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu Nhĩ thời Thế Tôn thực thời, trước y trì bát, nhập Xá-vệ đại thành khất thực Ư kỳ thành trung thứ đệ khất dĩ, hoàn chí bản xứ Phạn thực ngật, thu y bát, tẩy túc dĩ, phu tòa nhi tọa.”
DỊCH:NGUYÊN DO CỦA PHÁP HỘI
“Tôi nghe như vầy:
Một hôm đức Phật ở nước Xá-vệ (Sràvasti) tại rừng Kỳ-đà (Jeta) trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại Tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị Khi ấy gần đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-vệ khất thực Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng ở Thọ trai rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi.”
GIẢNG:
Đoạn này diễn tả pháp hội Phật nói kinh Kim Cang
Phần đầu chỉ cho lục chủng chứng tín Sáu điều này mở đầu kinh nào cũng như thế cả Đây giống nhưmột lối biên bản của ngài A-nan (Ananda) để cho thấy lời Ngài nói có giá tri thật
“Như thị ngã văn” là “tôi nghe như vầy”, chỉ cho người nghe và pháp được nghe “Tôi” chỉ người nghetức ngài A-nan “Như vầy” là pháp được nghe tức là đề tài trong buổi thuyết pháp
“Nhất thời” chỉ thời gian Vì thuở xưa thời gian mỗi nước mỗi khác cho nên chỉ nói một hôm, chớ khôngxác định hôm đó là mấy giờ ngày mấy tháng mấy
Phật là vị chủ tọa trong buổi nói pháp
Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên là nơi Phật thuyết pháp
Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên: Trưởng giả Cấp Cô Độc tên thật là Tu-đạt-đa (Sudatta), do ông hay bố thí, cứugiúp những người nghèo khổ cô độc nên được gọi là Cấp Cô Độc Ông muốn mua vườn của Thái tử Kỳ-
đà để cất tinh xá thỉnh Phật đến thuyết pháp Thái tử bảo ông đem vàng lót đầy vườn thì Thái tử sẽ bánvườn cho ông Khi ông trải vàng gần xong, Thái tử vui vẻ bảo thôi đừng chở vàng thêm nữa và Thái tửcũng xin cúng tất cả cây cối trong vườn cho đức Phật, do đó nên thành tên rừng Kỳ-đà vườn Cấp Cô Độc.Chúng đại Tỳ-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị là cử tọa Thời gian, nơi chốn và số cử tọa chothấy bài kinh này không phải tự ý ngài A-nan nói, mà do Ngài nghe trong hội thuyết pháp gồm cả thảymột ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo
Sáu điều trên đây gọi là lục chủng chứng tín, nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để cho chúng ta tin kinhnày không phải tự ý ngài A-nan nói ra, mà chính là Ngài thuật lại buổi thuyết pháp của đức Phật
Đến phần thứ hai tả cảnh Phật sắp nói pháp
Khi ấy là buổi sáng gần đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực
Khất thực theo thứ lớp: Nếu hàng Phật tử thỉnh thọ trai thì không cần theo thứ lớp, cứ đi thẳng đến nhàthỉnh mình Còn khất thực theo thứ lớp, là trong xóm có nhà nghèo, nhà giàu, cứ tuần tự đến nhà thứ nhất,nếu không được cúng dường thì đến nhà thứ hai, thứ ba v.v… không phân biệt giàu nghèo đến khi đượccúng dường thì về
Thọ trai xong, xếp y, dẹp bát, rửa chân rồi, trải tòa ngồi kiết-già Đoạn này tả lại cuộc sống bình dị củađức Phật, sáng đi khất thực, về ăn xong rửa bát, xếp y, rửa chân, trải tòa ngồi kiết-già, sắp nói chuyện vớichúng Đó là ý thâm sâu muốn chỉ rằng chân lý không ngoài việc bình thường để đánh tan lòng hiếu kỳ,tưởng chân lý là những gì mầu nhiệm ngoài việc bình thường Thấy được chân lý trong việc bình thường
là thấy đạo, nếu trái lại là lạc hướng
Trang 7Khi ngài Triệu Châu Tùng Thẩm hỏi ngài Nam Tuyền “thế nào là đạo” thì Nam Tuyền trả lời “bìnhthường tâm thị đạo”, nghĩa là tâm bình thường là đạo.
Ông Lý Tường đến hỏi ngài Dược Sơn Duy Nghiễm “thế nào là đạo” Ngài bảo “vân tại thanh thiên, thủytại bình”, nghĩa là mây trên trời xanh, nước trong bình Việc bình thường này hợp với tinh thần Đại thừa
ĐOẠN 2: THIỆN HIỆN KHẢI THỈNH
ÂM:THIỆN HIỆN KHẢI THỈNH
“Thời trưởng lão Tu-bồ-đề tại đại chúng trung, tức tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng cung kính nhi bạch Phật ngôn:
- Hi hữu Thế Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ-tát, thiện phó chúc chư Bồ-tát Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm? Phật ngôn:
- Thiện tai, thiện tai! Tu-bồ-đề, như nhữ sở thuyết, Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ-tát, thiện phó chúc chư Bồ-tát, nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm.
- Duy nhiên, Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn”.
DỊCH:THIỆN HIỆN THƯA HỎI
“Khi ấy trưởng lão Tu-bồ-đề (Subhuti) ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên mặt, gối mặt quì xuống đất, chấp tay cung kính bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Rất ít có, đức Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc các vị Bồ-tát Bạch Thế Tôn! Người thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên làm sao trụ, làm sao hàng phục tâm kia?
Đức Phật bảo:
Lành thay, lành thay! Này Tu-bồ-đề, như lời ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc các vị Bồ-tát, nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói Người thiện nam, thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên như thế mà trụ, như thế mà hàng phục tâm kia.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn! Con nguyện thích được nghe”.
GIẢNG:Đây là phần thưa hỏi của ngài Tu-bồ-đề Tu-bồ-đề là một vị A-la-hán thâm hiểu lý Bát-nhã Cóchỗ dịch là Thiện Hiện, có chỗ dịch Không Sanh, có chỗ dịch Kiết Tường Nói Tu-bồ-đề là dịch âm tiếngPhạn Trong Đại Bát-nhã dịch là Thiện Hiện, đây nói Tu-bồ-đề cũng chỉ là một vị Thiện Hiện là khéohiện Ngài Tu-bồ-đề thuộc hàng trưởng lão
Trước hết là phần nghi thức Theo lễ nghi Ấn Độ, khi đệ tử muốn thưa hỏi Phật điều gì thì phải bày vai áobên mặt, quì gối mặt xuống rồi chấp tay cung kính thưa hỏi
Hộ niệm: hộ là bảo hộ, niệm là nhớ nghĩ
Phó chúc là trao dặn lại
Trang 8Trước hết ngài Tu-bồ-đề tán thán Phật: Đức Thế Tôn là bậc ít có trong thế gian, Ngài thường bảo hộ vànhớ nghĩ các vị Bồ-tát, khéo trao dặn lại các vị Bồ-tát.
Tán thán Phật xong rồi, ngài Tu-bồ-đề bắt đầu thưa hỏi
Phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là phát tâm cầu thành Phật
Ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: Giả sử có người thiện nam, thiện nữ muốn phát tâm cầu thành Phật thì phải làm
sao để an trụ tâm đó và làm sao hàng phục được tâm đó? "Làm sao an trụ, làm sao hàng phục tâm kia” là
hai câu hỏi then chốt của toàn bộ kinh, hai câu hỏi quan trọng cho sự tu hành Tất cả chúng ta, ai đã pháttâm tu theo đạo Phật, đều nguyện tiến tới Phật quả, nhưng muốn tiến tới Phật quả phải làm sao? - Tức làphải an trụ tâm và hàng phục tâm, vì nếu còn tâm điên đảo làm sao thành Phật được? Thế nên đó là chỗchánh yếu của người tu Phát tâm vô thượng là đặt mục tiêu mình tiến, nhưng an trụ trong đó và hàngphục vọng tưởng không phải là chuyện dễ Phát tâm cầu thành Phật là buổi đầu, nhưng còn nhiều chướngngại phải vượt qua
Phật thừa nhận lời tán thán của ngài Tu-bồ-đề là đúng nên đức Phật bảo rằng: “Lành thay, lành thay!Đúng như lời ông nói, Như Lai thường hộ niệm các vị Bồ-tát và khéo phó chúc các vị Bồ-tát.” Bởi vì đứcPhật luôn luôn nhớ nghĩ làm sao cho các vị Bồ-tát được tiến lên Phật quả và dặn dò các vị Bồ-tát làm lợiích cho chúng sanh để cùng tiến lên Phật quả Đó là chủ đích mà đức Phật hằng mong mỏi và hằng giáohóa
Tiếp đến Phật dạy: Bây giờ ông phải lắng tâm nghe cho kỹ, tôi sẽ vì ông mà nói Những người thiện nam,thiện nữ nào phát tâm cầu thành Phật thì nên như lời tôi dạy ở sau mà an trụ tâm, nên như lời tôi dạy ởsau mà hàng phục tâm Đó là lời của Phật hứa sẽ dạy, ngài Tu-bồ-đề thưa: Xin vâng, đức Thế Tôn connguyện thích được nghe những lời này Đây là bắt đầu thời thuyết pháp chánh
Qua đoạn này chúng ta thấy rõ tinh thần người xưa đến học đạo Trong hội chúng đông đảo, khi đức Phậtthọ trai xong, trải tọa cụ ngồi kiết-già rồi, ngài Tu-bồ-đề theo đúng nghi lễ quì gối chấp tay tán thán Phậttrước, kế đến mới thưa hỏi những điểm quan trọng Như vậy đức Phật thuyết pháp là do đệ tử có nhữngthắc mắc nghi ngờ đem ra thưa hỏi, nhân đó đức Phật mới thuyết pháp Hiện nay chúng ta đi chùa học đạocũng vậy, khi nào có gì thắc mắc cũng đem ra hỏi, như thế chính mình có lợi và cũng lợi cho những ngườichung quanh
Ai muốn hàng phục được tâm mình, an trụ được tâm mình, phải theo dõi lời Phật dạy ở sau
ĐOẠN 3: ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG
ÂM:ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG
Phật cáo Tu-bồ-đề:
- Chư Bồ-tát ma-ha-tát ưng như thị hàng phục kỳ tâm Sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại, nhược noãnsanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng,nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng, ngã giai linh nhập Vô dư Niết-bàn nhi diệt độ chi.Như thị diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh, thực vô chúng sanh đắc diệt độ giả Hà dĩ cố? Tu-bồ-
đề, nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi Bồ-tát
DỊCH:CHÁNH TÔNG CỦA ĐẠI THỪA
Trang 9Phật bảo Tu-bồ-đề:
- Các vị Bồ-tát lớn nên như thế mà hàng phục tâm kia Có tất cả các loài chúng sanh hoặc loài sanh bằng trứng, hoặc loài sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng có tưởng chẳng không tưởng, ta đều khiến vào
Vô dư Niết-bàn mà được diệt độ đó Diệt độ như thế vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh mà thật không
có chúng sanh được diệt độ Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ-tát.
GIẢNG:“Chín loài chúng sanh” chỉ trùm tất cả chúng sanh
Niết-bàn nghĩa là vô sanh Niết-bàn có Hữu dư y Niết-bàn và Vô dư y Niết-bàn Những vị chứng quả la-hán, được vô sanh nhưng còn thân hình tướng thì gọi là Hữu dư Niết-bàn; được Niết-bàn sau khi xảthân nghĩa là được vô sanh sau khi không còn thân tướng thì gọi là Vô dư Niết-bàn
A-Bốn tướng:
Tướng ngã: thấy có mình thật
Tướng nhân: thấy có người thật
Tướng chúng sanh: thấy tất cả loài có thật
Tướng thọ giả: thấy có mạng sống tiếp nối trong một thời gian
Đây là đến phần Phật trả lời hai câu hỏi trước của ngài Tu-bồ-đề Câu hỏi đầu là an trụ tâm, câu hỏi thứhai là hàng phục tâm, nhưng khi trả lời đức Phật đổi lại trả lời câu hỏi hàng phục tâm trước và câu hỏi antrụ tâm sau Trong đoạn này Phật dạy cách hàng phục tâm tức chỉ phương pháp tu hành Đức Phật dạy:Đối với tất cả loài chúng sanh ta đều đưa họ vào chỗ Niết-bàn không còn hình tướng để họ được diệt độ.Diệt độ như thế không biết bao nhiêu chúng sanh mà thật không có một chúng sanh nào được diệt độ Đó
là hàng phục được tâm, quí vị làm được điều đó không? Phật lại bảo tiếp: Tại sao thế? - Vì nếu Bồ-tát cònmột tướng ngã hay tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì không phải là Bồ-tát
Phật trả lời khó hiểu quá, thấy như lạc đề Đây là chỗ chánh yếu nhưng vừa mở đầu chúng ta thấy ngỡngàng, chúng ta mong Phật trả lời làm sao hàng phục tâm mà đức Phật trả lời như thế này thì làm saohàng phục tâm được! Tôi không nói loài sanh bằng trứng, những loài sanh chỗ ẩm ướt, những loài sanh
do biến hóa, những loài có sắc, không sắc v.v… mà chỉ nói những loài thai sanh và trong loài sanh bằngthai, tôi hạn chế trong loài người thôi Chừng nào chúng ta độ tất cả loài người vào Vô dư Niết-bàn màkhông thấy họ được diệt độ, chừng đó chúng ta mới hàng phục được tâm Vậy chừng nào chúng ta làmđược việc đó? Nếu như không làm được việc đó thì hàng phục tâm không được Tại sao hỏi hàng phụctâm mà Phật dạy độ chúng sanh ở ngoài? Đó là điều khó, từ xưa đến giờ chính khi chúng tôi học, đến chỗnày chúng tôi cũng lắc đầu, điều Phật dạy rất khó áp dụng trong việc tu hành Nếu chúng ta hiểu theo lờitheo chữ thì sẽ có hai điểm không thể thực hiện được Điểm thứ nhất là chúng ta thấy Phật chưa thànhPhật Tại sao? Vì khi đức Phật thành Phật, thử hỏi tất cả người - chỉ nói là người thôi - ở Ấn Độ, Phật đã
độ được vào Vô dư Niết-bàn hết chưa? Chúng ta thấy rõ rằng lúc đó còn ngoại đạo rất nhiều, Ngài chỉ độmột số mấy ngàn vị thôi chớ đâu phải tất cả, vậy tại sao Ngài được thành Phật? Nếu hàng phục tâm chưađược thì làm sao thành Phật? Điểm thứ hai là Phật dạy chúng ta làm một việc mà không bao giờ chúng ta
Trang 10làm nổi Thử hỏi tất cả quí vị cũng như chúng tôi, ai đã được Vô dư Niết-bàn? Thế mà chúng ta phải đưatất cả chúng sanh vào Vô dư Niết-bàn, chừng đó mình mới hàng phục được tâm Vậy đến bao giờ chúng
ta mới làm được việc đó? Chỗ mình chưa đạt tới mà Phật bảo mình độ người đạt được chỗ đó, làm saochúng ta làm được? Cũng như chúng ta còn dốt mà bảo dạy tất cả người đậu tiến sĩ hết, chừng đó mớiđược làm quan thì thật là vô lý Thế nên nếu học kinh Phật, nhất là kinh Đại thừa, mà hiểu theo chữ, theolời thì không làm sao giải thích được
Điểm thứ nhất ta thấy mâu thuẫn với Phật, điểm thứ hai mâu thuẫn với chúng ta, như thế làm sao có thể
áp dụng trong việc tu hành? Nhưng đến sau này khi tu thiền và đọc sách thiền rồi, chúng tôi mới giậtmình, không ngờ mình không hiểu lời Phật nói Kinh nói trong chúng ta có đủ cả Thập pháp giới, đó là
Tứ thánh và Lục phàm Quí vị thấy có khi chúng ta phát lòng từ bi giống như Phật, như Bồ-tát, có khichúng ta xấu xa như con heo, con bò, có khi chúng ta hung dữ như con cọp, con sói Trong chúng ta có đủtrăm thứ nghĩ, tốt xấu lẫn lộn Thế nên mỗi một dấy niệm về người thì đó là một chúng sanh thai sanh,một dấy niệm về chim chóc thì đó là chúng sanh noãn sanh, một dấy niệm về con bướm, con ong thì đó làhóa sanh, một dấy niệm về con đom đóm đó là thấp sanh, nghĩ đến hư không đó là chúng sanh vô sắc, dấyniệm về con người có tưởng, đó là chúng sanh có tưởng, dấy niệm buông hết vọng tưởng, buông hết cảnhững tâm tưởng đó là chúng sanh vô tưởng… dấy niệm là sanh Tại sao? Bởi vì khi lặng thì không cóniệm, mà niệm dấy lên là do duyên với cảnh hoặc người, hoặc vật Vọng thức bên trong duyên theo bóngdáng của vọng trần, cả hai phối hợp nhau mà sanh nên gọi là chúng sanh Mỗi một niệm dấy lên như vậy
là một chúng sanh Những chúng sanh do niệm vừa dấy lên đó chúng ta liền độ vào Vô dư Niết-bàn Làmsao độ? Chúng sanh đó dấy lên, ta biết chúng sanh này giả tức nhiên nó lặng xuống chỗ không sanh vàkhi nó lặng xuống không còn thấy tăm dạng nên gọi là Vô dư Niết-bàn Như thế chúng ta thấy đức Phật
độ hết chúng sanh, Ngài hàng phục được tâm, Ngài thành Phật Như thế mới có lý, mới đúng sự thật.Cũng thế nếu những vọng tưởng của chúng ta đang điên cuồng chạy ngược, chạy xuôi theo có sắc, khôngsắc, có tưởng, không tưởng… theo tất cả hình tướng bên ngoài, bây giờ chúng ta đưa nó vào Vô dư Niết-bàn, vào chỗ lặng lẽ không sanh diệt, tâm chúng ta không còn loạn nữa, đó là chúng ta hàng phục đượctâm Hiểu như vậy chúng ta mới tu được Như thế chúng ta mới thấy rõ đức Phật thành Phật trong khi tất
cả chúng sanh vẫn còn Ngài hàng phục được tâm của Ngài nên mới được đến chỗ Vô thượng Chánh đẳngChánh giác Như bây giờ chúng ta vừa phát tâm tu thì chúng ta cũng hàng phục như vậy, lần lần tâm anđịnh chúng ta mới tiến bộ được Nếu cứ lo độ chúng sanh ở ngoài trong khi chính mình chưa độ đượcmình thì độ được ai?
Hiểu như vậy rồi chúng ta thấy kinh Phật rất cao siêu, lời lẽ diễn tả những hình ảnh mà chúng ta khônghiểu là những hình ảnh đó qui về mình rồi chúng ta cứ tưởng là việc bên ngoài Khi chúng ta tưởng nhưthế chúng ta sẽ thối chí không biết làm sao thực hành Thế nên ngày xưa chính tôi đã từng nói rằng: KinhĐại thừa chắc chỉ để trên gác thờ, không thể áp dụng trong việc tu hành, nhưng nay chúng ta hiểu rõ rồi,mới thấy chính đoạn này trả lời rất sát câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề Ngài Tu-bồ-đề hỏi làm sao hàng phụcđược tâm, Phật dạy: Một niệm dấy lên là một chúng sanh, đưa những niệm đó vào chỗ vô sanh là hàngphục tâm Đây là Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ Rõ ràng là Phật trả lời việc hàng phục tâm Nếu nói
độ tất cả chúng sanh thì ta thấy như là người hỏi việc bên trong mà Phật trả lời việc bên ngoài, khôngdính dáng gì với nhau Nhưng ở đây, chúng ta đã thấy rõ ý nghĩa độ tất cả chúng sanh, đó là đưa tất cảniệm vào chỗ không còn sanh diệt Khi nào thực hành quí vị mới thấy rõ Một niệm dấy lên nghĩ về
Trang 11người, chúng ta liền nói niệm đó giả dối không thật, không theo Khi biết nó giả, ta không theo thì nó lặngxuống, lặng xuống chỗ không còn thấy tướng mạo, đó là Vô dư Niết-bàn Không sanh là Niết-bàn, khôngcòn tướng mạo là vô dư Bao nhiêu niệm đều đưa vào đó nên nói độ tất cả chúng sanh mà không thấy cóchúng sanh nào được diệt độ, nghĩa là đưa tất cả vào đó hết mà không còn thấy có một người nào hay mộtniệm nào thật Quí vị thấy thật là khó, khó ngay ở buổi đầu.
Thế nên Phật nói tiếp: Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng
sanh, tướng thọ giả, thì không phải là Bồ-tát Tại sao vậy? - Bởi vì một niệm dấy lên tức là có chấp ngã
trong đó Quí vị nhớ từ cái chấp ngã của Đại thừa đi lần đến chấp ngã sâu kín vi tế của Thiền tông Haicái tương ưng nhau Chấp ngã của Đại thừa là chấp thân làm ngã và chấp tâm làm ngã Từ cái chấp thân,tâm làm ngã đến niệm dấy lên chấp niệm đó là mình, đó cũng là chấp ngã Niệm dấy lên cho là mìnhnghĩ, đó là chấp ngã Tại sao? Dấy niệm là suy nghĩ về người, suy nghĩ về cảnh, thử hỏi ai nghĩ, ai nghĩ
về người, ai nghĩ về cảnh? Thô thì chấp thân này, tế thì chấp một niệm, vì vậy còn thấy một niệm thật làcòn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả; nếu đưa hết những niệm vào Vô dư Niết-bàn rồi thì đâu còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả Người làm được như vậy,đức Phật nói: Đó là Bồ-tát độ chúng sanh
Quí vị thấy mỗi ngày chúng ta ngồi ở tảng đá chơi, hoặc ngồi ở trước hành lang nhà, hoặc ngồi trongvườn, nếu chúng ta cứ lo độ chúng sanh như vậy, nghĩa là mỗi chúng sanh dấy lên chúng ta đưa vào Vô
dư Niết-bàn, đó cũng là Bồ-tát độ chúng sanh rồi Tại sao gọi là Bồ-tát? Vì Bồ-tát là một chúng Hữu tìnhgiác ngộ và đem sở giác của mình giáo hóa kẻ khác, tức là tự giác và giác tha Niệm dấy lên chúng ta biết
nó là hư giả, đó là giác; giác rồi đưa nó vào chỗ vô sanh, đó là độ chúng sanh Như vậy quí vị thấy giờnào mà không độ chúng sanh? Chúng ta độ chúng sanh đó thì sẽ đi đến chỗ an trụ Niết-bàn Tóm lại đứcPhật chủ yếu dạy chúng ta đối với tất cả niệm khởi về người về vật v.v… muôn ngàn hình tướng đều cholặng xuống hết, lặng vào chỗ không còn sanh diệt, khi đó là hàng phục tâm Tâm chúng ta không còn loạnđộng nữa, mà hết loạn động tức là chúng ta hàng phục được tâm thuần thục Như thế câu trả lời rất là xácđáng Và như vậy mới hết tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả Hiện giờ có nhiềungười không hiểu, cho thân này là ngã nên bảo: “thôi tôi xả thân, tôi không nghĩ gì đến tôi hết, tôi bố thítất cả thức ăn, thức mặc, cái gì tôi cũng không kể”, nhưng niệm của họ vẫn còn khởi thì cái xả đó vẫnchưa sạch Tỉ dụ cứ nghĩ ta là người bố thí, ta là người nhẫn nhục tức là còn ngã chớ gì? Cho nên còn mộtniệm là còn ngã, cái ngã tế nhị như vậy Thành ra có nhiều người làm việc coi như xả ngã mà chính lànuôi cái ngã thêm to, đó là cái ngã vọng tưởng ở tâm Thế nên khi hiểu rồi quí vị mới thấy ở đây đức Phậtbảo: Độ tất cả chúng sanh mà không thấy có một chúng sanh nào được diệt độ Tại sao? - Vì nếu Bồ-tátcòn bốn tướng đó không phải là Bồ-tát Còn bốn tướng là còn dấy niệm thấy có mình tức có ngã, mà cóngã tức là có nhân, có chúng sanh, có thọ giả… Có dấy niệm mới chấp, mới nghĩ ta phải người quấy, mớithấy ta hay người dở v.v… nếu không dấy niệm thì chấp cái gì? Đó là chỗ cứu kính trong việc tu hành.Hiểu được rồi chúng ta thấy rõ ràng vừa bước vào đoạn thứ nhất là đã biết được phương pháp tu hành.2
2 http://phatgiaochauduc.com/?p=2293.
Trang 12ÂM: ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG Phật cáo Tu-bồ-đề: Chư Bồ-tát ma-ha-tát ưng như thị hàng phục
kỳ tâm Sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại, nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng, ngã giai linh nhập vô dư Niết-bàn nhi diệt độ chi Như thị diệt độ vô lượng, vô số,
vô biên chúng sanh, thực vô chúng sanh đắc diệt độ giả Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề, nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi Bồ-tát
DỊCH: CHÁNH TÔNG CỦA ĐẠI THỪA Phật bảo Tu-bồ-đề: Các vị Bồ-tát lớn nên như thế mà hàng phục tâm kia Có tất cả các loài chúng sanh hoặc loài sanh bằng trứng, hoặc loài sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng có tưởng chẳng không tưởng, ta đều khiến vào vô dư Niết-bàn mà được diệt
độ đó Diệt độ như thế vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh mà thật không có chúng sanh được diệt
độ Vì cớ sao? Này Tu bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ-Tát
Kinh Kim cang cung cấp cho ta cây gậy hay còn gọi là phương pháp để dẫn đường đi Làm sao khôngdừng lại mà bước tới đây, làm sao vẫn khởi niệm mà lìa niệm đây Tức là từ chỗ sở trụ và vô trụ, ưng vô
sở trụ nhi sanh kỳ tâm làm sao đây Trước hết là phá cái tưởng, tưởng là chúng sanh bằng cái gì Tất cảcác loài chúng sanh Ông thấy Ông nghe hay khái niệm được, thì phải đưa vào vô dư y niết bàn mà muốnnhư vậy chúng sanh ngay đó Ông phải thấy được nó là vô dư y Niết bàn
Độ chúng sanh là mình độ khái niệm chúng sanh chứ không phải độ chúng sanh Cho nên trong kinh liệt
kê hết tất cả những khái niệm về chúng sanh (thấp sanh, noãn sanh, thai sanh, hóa sanh,có tưởng, khôngtưởng ….) cho nên trên đời này có bao nhiêu khái niệm về chúng sanh thì chúng ta phải chuyển nhữngkhái niệm đó như thị tánh hết Lúc đó thì chúng ta mới có Trí tuệ Bát nhã, Bát nhã này gọi là siêu Bát nhãhay Bát nhã ba la mật, có khái niệm về chúng sanh tưởng về chúng sanh là độ hết, nghĩa là phá tưởnguẩn Khi mà chúng ta không còn khái niệm về chúng sanh thì bất cứ một chúng sanh nào hiện trước mặtmình kể cả ma hay yêu tinh hiện trước mặt mình, mình cũng đều nói nhà ngươi chính là Phật, nhà ngươichính là vô dư y Niết- bàn, tánh nhà ngươi là Phật tánh, tất cả đều không, độ là độ như thế, bao nhiêutưởng xuất hiện ra đều độ vào vô dư y Niết- bàn Trong tương lai có rất nhiều chúng sanh đặc biệt mà nếumình liệt kê từng chi tiết ra loài cá, loài chim, loài bò …vv và (tương lai nếu có người máy, không trongkinh không nói) tất cả sẽ liệt kê vào khái niệm hữu sắc vô tưởng
Đây là qui nạp tất cả khái niệm về chúng sanh để cho chúng ta chuyển hóa bằng thay đổi nhận thức củachúng ta mà khi chúng ta thay đổi nhận thức của chúng ta rồi thì lúc đó chúng ta có Trí tuệ Bát nhã, khichúng ta dùng thanh kiếm kim cang năng đoạn Trí tuệ Bát nhã là phá tưởng thì tự nhiên chúng ta vượtthoát bộc lưu , chúng ta làm chủ bộc lưu là tâm của mình lúc đó chúng ta khởi niệm gọi là đối trị tất đàn,
vị nhân tất đàn, chúng ta dùng đệ nhất nghĩa tất đàn để chúng ta đối xử với mọi người gọi là vị nhân tấtđàn.“Tất đàn” nghĩa là thành tựu như vậy chúng ta có thể khởi niệm nhưng chúng ta không bị niệm đókéo mình đi gọi là không trôi dạt không bước tới Chúng ta khởi niệm mà không có chấp vô cái niệm đónghĩa là không tạo nghiệp tùy duyên khởi tâm niệm mà sống, để độ chúng sanh đó là nguyên tắc vàphương tiện Tóm lại phương tiện hàng phục vọng tâm, thật ra không có vọng tâm chỉ nói Tâm kia Tâm
là một tổ hợp của cảnh và tác ý tạo thành một dòng tâm thức, cái dòng tâm thức này chúng ta sẽ an trụ nó
và hàng phục nó và làm chủ được nó Chúng ta an tâm mình, an tâm không phải là dừng tâm, tâm khởi
mà chúng ta không bị mệt mỏi và không phiền não gọi là an, cái dòng tâm thức này có phương tiện được
Trang 13an đó là Trí tuệ Bát nhã ba la mật Trí tuệ Bát nhã ba la mật này bằng cách là phá tưởng về chúng sanh,phá tưởng về chúng sanh như thế nào? có bao nhiêu hình thức chúng sanh trên vũ trụ này chúng ta đềuthấy rõ nó bản chất nó là Vô dư y Niết -bàn thì như vậy là đưa nó vào vô dư y Niết- bàn, Nó chính làtưởng, chúng sanh là tưởng, Niết bàn cũng là tưởng Như vậy đưa chúng sanh vào Niết bàn thì hai kháiniệm chúng sanh và Niết bàn đó đều là khái niệm của chúng ta hết gọi là tưởng uẩn chúng sanh đưa vào
vô dư niết bàn mà không thấy có một chúng sanh nào nhập niết bàn, đây là phá luôn khái niệm Niết bàn.khái niệm thứ nhất về chúng sanh chúng ta phá rồi, khái niệm thứ hai đưa vào vô dư niết bàn, Niết bàn làchân lý là chỗ an trụ thứ nhất là thứ gì đó trên đời không phật không tâm như vậy là còn chấp, đưa tất cảchúng sanh vào vô dư y Niết bàn , thứ nhất không thấy có chúng sanh nào được diệt độ,thứ hai khôngthấy có Vô dư y niết bàn nào để an trụ thì như vậy mới thật sự mới gọi là an trụ gọi là Bát nhã
Nguyên Văn: Diệt độ như thế vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh mà thật không có chúng sanh được diệt độ Vì cớ sao? Này Tu bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ-tát.
Tướng cũng tương đương với tưởng, có một số bản dịch của Hòa Thượng dịch là tướng là tưởng dịch nhưvậy vẫn đúng vì tướng thành lập trên tưởng Khi nói đến tướng ngã là chỉ đến đối tượng , còn tưởng ngã
là chủ thể nhận thức hai cái này tương tác với nhau, không có cái tưởng nào mà không dựa vào cái tướngbên ngoài, gọi là đối tượng để sinh ra tưởng được hết
Trong bản dịch của Ngài Huyền Trang, ngã có 8 cái (ngã, nhân, chúng sanh, sĩ, phu, thọ giả thọ mạng…vv
Bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập chỉ có 4 cái ngã, bản này có trước, bản dịch của Ngài Huyền trangđến 400 năm Đạo Hindu và các trường phái triết học Ấn Độ họ đưa ra rất nhiều khái niệm nào là sĩ phu,thọ giả, thọ mạng, Bổ đặt già la
Khi bản Ngài Huyền Trang ra đời là những khái niệm đó tiếp tục được đưa vào đoạn bốn tướng
Thời của Ngài Cưu Ma La Thập dịch Kim Cang chưa có khái niệm sĩ phu, thọ mạng, thọ giả….Tuy có rấtnhiều khái niệm, chúng ta chỉ cần 1 khái niệm phá tướng ngã là đủ Tướng nhân, tướng chúng sanh, tướngthọ giả dựa trên cái ngã chấp mà có, Bổ đặc già la cũng dựa trên đó, thọ mạng cũng dựa trên đó vv
Tưởng ngã (s) Atman, tướng nhân (s) tức là Bổ đặc già la
Sau này Độc Tử bộ đưa ra khái niệm, tướng chúng sanh, tướng nhân, tướng thọ mạng, tướng thọ giả làlinh hồn
Những khái niệm này chủ yếu dựa trên ngã (Atman), Atman là linh hồn tinh túy nhất trong con người củamình gọi là tự ngã của chúng ta, tự ngã cuả chúng ta là không phiền não, không vọng động tựa như Phậttánh Atman này đạo Bà La Môn hay ngoại đạo tu kiểu gì cũng được, thọ hưởng dục lạc cũng được, miễnsao dẹp hết những ám độn, si mê đi, như gương phủ đầy bụi chùi sạch đi, giống bản dơ chùi sạch bẩn bảnsạch hiện ra, bản sạch hay gương gọi là Atman, chứ không nói ngã theo nghĩa hay thân thể bình thường,không phải chủ thể mà ngã nói theo nghĩa thăm sâu, người ta chấp rằng có một phần tinh túy nhất trongcon người của mình gọi là bản ngã Phần đó nằm ở đâu, Áo nghĩa thư nói nó nằm trong trái tim, kích cỡbằng ngón tay cái, hình dạng thì sáng rực như 1 đốm sáng, có cái đó trong con người nhưng bản chất của
nó là vô ngã chứ không phải tường tồn, bất biến, do duyên hợp mà có nó chính là thức thứ 8 (Alaida thức)
Trang 14của chúng ta, trong Thượng tọa bộ gọi là hữu phần, cái đó người ta cho chính là chân lý và sống vĩnh viễnvới cái này, chính vì cho nó có cái tánh trong con người của chúng ta nên thân thể vật lý trôi dạt nên nó có
hư hay biến thành gì đó kệ nó, nó có chết cũng không sao nhưng tinh túy của nó vẫn còn Những người tutheo vipatsana sẽ thấy nó nhưng không chấp nó là ngã mà cho nó một phần tâm lặng lẽ trôi chảy củachúng ta gọi là hữu phần , từ trái tim đó tỏa sáng lên bộ não của chúng ta , ánh sáng điều khiển cái não,người ta thấy ánh sáng trước nó phát xuất từ tim , người quán nó nhìn thấy nó, thực sự thấy Nó là dòngtâm thức chứ không phải là bất biến thường còn , nó liên tục thay đổi, có những tác động kích thích từ 5cánh cửa (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) thì cái ngã đó cái Tâm sáng chói đó, Nó lại biến thành ngủ môn hướngtâm và một lọt tâm thức trải qua 12 - 17sát na rồi nó dừng lại , ánh sáng đó nó cứ tồn tại mãi khi chúng tachết, ánh sang đó ra đi nhưng đạo Phật cho nó là Vô ngã, ngoại đạo cho là Ngã Ngã đó là vô ngã nó làduyên hợp, Nó được liên tục đưa vào bởi
nghiệp thiện và ác của chúng ta và thay đổi liên tục chứ không cố định mãi mãi, khi đến Alahan cái ngã
đó mất, cái ngã đó được phá bỏ hoàn toàn Alahan vị xã
Kinh Hóa địa bộ gọi nó là cùng sanh tử uẩn, “cùng” là tận cùng của sanh tử mà đến khi sanh tử chấm dứt
là cùng sanh tử đó là tướng ngã nếu chấp cho chúng sanh ai cũng có tướng ngã thì như vậy nó là vô minh
nó là tưởng, rõ ràng cái Atman này hay cái ngã này không có tánh là Vô tự tánh không có tính chất gì nórỗng không cái ngã này không khác gì thân thể vật lý của chúng ta cả , nó không khác gì tâm sở mặc dù
nó là tâm vương nó thật sự duyên hợp mà có đó là quan niệm của đạo Phật , chính vì quan niệm nó nhưdao kim cương chặt đứt cái cổ hữu nhất mà đức Phật khi ra đời, bước đi bảy bước, Ngài tuyên bố rằngđưa tay phải lên trời ,tay trái xuống đất “ thiên thượng thiên hạ, di ngã độc tôn” , không nói Phật tánhchân tâm gì cả, casi ngã này trên trời dưới đất nó là độc tôn , nó là tối thượng là khó bỏ nhất nhưng vôlượng sanh tử y lim tận thủy đến lúc này là hết
Cái gì mà chặt đứt cái di ngã độc tôn là Trí tuệ Bát nhã, gươm báu đó là thanh gươm bằng kim cương chặtđứt cái chấp ngã này, phá tướng ngã này rồi thì toàn bộ các tướng ngã khác phá hết tất cả Bởi vì cái chấpngã là nặng nhất trong con người của mình mà mình phá được thì mình nhìn ở đâu cũng thấy vô ngã đượchết, mắt nhìn đâu thì thấy vô ngã ở đó mà thấy Vô ngã rồi thì làm gì có tướng nhân
Trong Đại thừa Bách Pháp Minh Môn Luận, Ngài Thế Thân Ngài nói rằng : “ Nhất thiết pháp vai vi vôngã” tất cả các pháp đều vô ngã cuối cùng chính giữa Ngài đưa ra 100 pháp song rồi Ngài nói như thế nào
là vô ngã?
Thứ nhất Bổ đặc già la là vô ngã
Thứ 2 Bramma Pháp là vô ngã, Nhân vô ngã Khái niệm Nhân hình thành trên khái niệm Ngã này, chúng
ta biết Nhân là con người có mình và có người khác gọi là Nhân, Nhân chấp ngã ở nơi nhân , nhân này làTâm vương,Tâm sở, Sắc pháp, Bất tương ưng hành, 4 món gọi là nhân tổ hợp lại thành người của mình,Tâm vương được kết hợp bởi cái ngã này làm chủ gọi là Alaida thức, từ cái ngã này nó chuyển thức thànhmạc na thức, thức 7 và 6 thức trước được gọi là liễu biệt cảnh thức, thức thứ 7 gọi là Tâm năng biến thứhai, Tâm năng biến thứ 3 là 6 thức trước thức, thứ 7 có nhiệm vụ quay về chấp cái ngã này là ta, chínhcái chấp ngã là ta nên hình thành cái nhân là cái Bulusa hay Bổ đặt già la này, hình dung rõ hơn ngoại đạocho rằng Kinh Kim Cang ra đời là cái ngã này rồi nó được bao phủ xung quanh bởi nghiệp bởi đức, bởi
ám, bởi dụng vv thì toàn bộ cái này gọi là nhân, chúng sanh ai cũng có kết hợp này gọi là tướng chúngsanh hay là tưởng chúng sanh cũng được, khi hình thành như vậy thì gọi là vasa Cái hồn ô nhiễm tinh túy
Trang 15là Atman ở trong và những tâm hồn bao xung quanh gọi là phiền não, cả cái khối này hình thành nên conngười cộng thêm cái ruba là sắc để hình thành nên con người gọi là tướng nhân, không phải có một cấutúc như vậy mà tất cả các loài chúng sanh: thai sanh , thấp sanh, hóa sanh…vv đều cấu tạo chung bởiAtman và bao phủ Atman bởi các ám độn đó và thanh tịnh nằm bên trong đó nó hình thành nên 1 conngười hay 1 sanh vật đó và cấu tạo đó bởi con gà cũng có, trứng sanh cũng có , ông trời cũng có v.v gọi
là chúng sanh tướng mà để di trì chúng sanh tướng đó phải có một bản chất thứ 4 thọ giả tướng là sanhmạng của chúng sanh đó nếu không có sanh mạng thì không có chúng sanh mà đã gọi là chúng sanh thì
có một thời gian tồn tại gọi là mạng sống, mạng sống này gọi là số mạng cũng được mà khi chúng ta rađời đã có ngày chết rồi Mạng cũng có thiệt khi chúng ta ra đời tử vi chấm năm đó sẽ chết ,thọ giả này cóthật khoa học cũng chứng minh đều đó nhưng cái thọ giả này cũng vô ngã cho nên thật mà là giả nhưnggiả không phải là không có, cho nên giả mà là thật, không rơi vào chấp không, là không có thọ giả mà cóthọ giả, nó có mà không có thật nên mệnh đề Kim Cang không thấy có tướng ngã mới gọi là có tướng ngãquay trở về chấp có chấp không nhưng theo đạo Phật thì thọ mạng này cũng duyên hợp khi chúng ta tu
có thần túc thông vẫn có thể kéo dài được, như vậy thọ mạng này có thật nhưng giả Theo ngôn ngữ kinhKim Cang trên đời nó có thật đó là theo tục đế nhưng ở mặc chân đế, mặt không phải tưởng, mặt Bát nhãthì nó lại là không có do nó là duyên hợp không có thật, thấy nó giả nhưng vẫn tồn tại có thật thì ngônngữ Kim Cang và Trí tuệ Bát nhã là như vậy
Đoạn 4 Chánh Văn Âm: Phục thứ Tu-bồ-đề, Bồ-tát ư pháp ưng vô sở trụ hành ư bố thí, sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thanh hương vị xúc pháp bố thí Tu-bồ-đề, Bồ-tát ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng Hà dĩ cố? Nhược Bồ-tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lương Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Đông phương hư không khả tư lương phủ? Phất dã Thế Tôn! Tu-bồ-đề, Nam Tây Bắc phương tứ duy thượng hạ hư không, khả tư lương phủ? Phất dã Thế Tôn! Tu-bồ-đề, Bồ-tát vô trụ tướng bố thí, phước đức diệc phục như thị bất khả tư lương Tu-bồ-đề, Bồ-tát đản ưng như sở giáo trụ.
DỊCH: DIỆU HẠNH KHÔNG CHỖ TRỤ Lại nữa Tu-bồ-đề, Bồ-tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường - Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Hư không ở phương Đông
có thể nghĩ lường.
Bạch Thế Tôn, không vậy - Này Tu-bồ-đề, hư không phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phía trên dưới có thể nghĩ lường được chăng? - Bạch Thế Tôn, không vậy - Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát không trụ tướng mà bố thí, phước đức cũng lại như thế, không thể nghĩ lường Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát chỉ nên như lời dạy mà trụ
Atman hay Linh hồn chúng ta không có thật, con người của chúng ta không có thật gọi là nhân, chúngsanh ở bên ngoài gọi là tướng chúng sanh Mạng sống của sinh vật đó, không mà có, có mà không thấyđược cái đó là Bồ Tát Nếu chưa thấy đó thì không phải là Bồ Tát, Bồ Tát là tu 6 Ba la mật Bố thí mà cònthấy tướng ngã thấy có ta, có linh hồn, có tướng nhân là có con người mình, trong đó có cái nhân có cáingã , thấy có người xung quanh gọi là tướng chúng sanh, thấy có thọ giả tướng thật thì chắc chắn rằng thìchúng ta không bao giờ đi trên con đường Bồ Tát đó được, bản thân chúng ta chưa phải là Bồ tát, cònthấy là chúng ta không bao giờ làm Phật sự được, còn thấy tướng chúng sanh, tướng ngã, tướng thọ giảthì chưa phải là Bồ Tát
Trang 16“ Hàng phục” là làm chủ tư tưởng đang trôi chảy, tuy làm chủ tư tưởng nhưng vẫn chưa an, làm chủ vẫn
còn động, nó động mà nó an là nó chảy im điềm , muốn làm sao cho nó chảy im điềm gọi là an trụ tâm,chứ không phải là dừng tâm
“an trụ” là tâm nó vẫn trôi chảy vì chúng ta hàng phục được không có tướng ngã không có tưởng về
chúng sanh thì chúng ta sẽ an trụ bằng cách nào?
Ba đoạn trên là quay về bên trong tức là theo Lâm Tế Ngữ Lục có 4 giai đoạn tu gọi là Tứ Liệu Giảng Giai đoạn thứ 1: Đoạt nhân bất đoạt cảnh
Giai đoạn thứ 2: Đoạt cảnh bất đoạt nhân
Giai đoạn thứ 3: Nhân cảnh lưỡng câu đoạt
Giai đoạn thứ 4: Nhân cảnh lưỡng câu bất đoạt
Giai đoạn thứ 1: Đoạt nhân bất đoạt cảnh, “đoạt” là lơ đi đừng quan tâm đến nó, nghĩa là những cái gì
mà thuộc về mình rồi thì mình không quan tâm đến nó nữa mà chinh phục cái khác Lơ là lơ nhân, chứkhông lơ cảnh, nghĩa là nhìn vào cảnh mà tu
Tứ Liệu Giảng: “Tứ liệu”gọi là 4 phương pháp “giảng” gọi là giảng lược.
Cách thứ nhất: nhìn vào Cảnh không quan Tâm đến Tâm mình vì Tâm mình khó hàng phục, làm saochinh phục được cảnh gọi là bất đoạt, lơ Tâm chú ý đến Cảnh gọi là bất đoạt
Giai đoạn 2: Đoạt cảnh bất đoạt nhân nghĩa là chú ý đến cảnh xong rồi an trụ được cảnh lúc đó ta mới
quay về cái tâm của mình gọi là bất đoạt nhân, “bất đoạt” là quan tâm hay chú ý đến nó, Kinh Kim Cangtrước hết chúng ta là đoạt cảnh bất đoạt nhân, chú ý đến Tâm trước
Giải thích theo nghĩa đen, có bao nhiêu chúng sanh đều độ vào Vô dư y niết bàn, hướng ra ngoài độchúng sanh gọi là đoạt nhân bất đoạt cảnh, nếu chúng ta qui về cái tưởng của chúng ta nghĩ là đoạt cảnhbất đoạt nhân
Nghĩa là chúng ta không thấy tướng, ngã, nhân chúng sanh, thọ giả, nghĩa là chúng ta hướng ra ngoài đểquan sát là đoạt nhân bất đoạt cảnh Chú ý đến cảnh Bồ Tát không có trụ tưởng về ngã, tưởng về nhântưởng về chúng sinh , tưởng về thọ giả nghĩa là chủ thể nhận thức, tưởng chúng ta là chủ thể nhận thức,tưởng là tri giác là nhận thức Đó là đoạt cảng bất đoạt nhân, Cái nào cũng được nhưng chúng ta phảichọn một cái tu trước
Đoạn 4 quay ra bên ngoài, đoạn thứ nhất chúng ta nên dịch là tưởng, có nghĩa là đừng nghĩ có chúng sanhbên ngoài, chúng ta phá tưởng bằng Trí tuệ Bát nhã
Theo chiều xuôi chúng ta lấy đoạn 2, Tứ Liệu Giảng thư nhì đưa lên cái thứ nhất của kinh Lim Cang,nghĩa là đoạt cảnh bất đoạt nhân hay nói cách khác chú ý đến người không chú ý đến cảnh, chú ý đếnngười là nhận thức của chúng ta là không thấy chúng sanh là có thật, là chúng ta thấy bằng trí tuệ bát nhãchứ không phải thấy bằng tưởng hay thức nữa, cái đó là đoạt cảnh bất đoạt nhân
Trang 17Cách 2: đoạt nhân bất đoạt cảnh, khi chúng ta bố thí không trụ tướng nghĩa là không hướng ra ngoài,
phá cảnh bên ngoài bây giời cái tâm của chúng ta đã hàng phục được rồi, chúng ta không còn tưởngchúng sanh, tưởng thọ giả, tửng nhân, tưởng ngã là chúng ta hàng phục được tâm
Khi đi vào đời làm sao chúng ta hàng phục được tâm mình đây mà khi ngoại cảnh bên ngoài nó rất độngnhư sóng đập vào chiếc thuyền, thuyền lớn sống lớn, thuyền nhỏ sóng nhỏ, thì cách để chúng ta tự tại đểchúng ta an tâm, đủ ức biến được vạn biến là đoạn 4 này đây, tức là chúng ta quay về số 1đoạt nhân bấtđoạt cảnh, chúng ta lơ tâm đi hàng phục cái cảnh bên ngoài Muốn hàng phục bên ngoài chúng ta phảilàm sao? Đó là chìa khóa thứ 2
Chìa khóa thứ nhất là lấy Trí tuệ Bát nhã chặt đứt cái tưởng, nhận thức các cảnh.
“Bồ-tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng.”
Chìa khóa thứ hai là không trụ tướng, tướng lúc này không dịch là tưởng mà dịch là tướng, bên ngoài là
tướng, tướng này có 6 (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) muốn an trụ được dùng chìa khóa thứ 2 là khôngtrụ tướng, Pháp trần cũng có tướng nhưng tướng đó mình không trụ tướng, thi mới làm việc bố thí
Làm lục độ Ba la mật là không trụ tướng, mà làm sao không trụ tướng?
“Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Có thể do thân tướng mà thấy Như Lai chăng? - Bạch Thế Tôn, không phải vậy Không thể do thân tướng thấy được Như Lai Vì cớ sao? Như Lai đã nói thân tướng tức không phải thân tướng Phật bảo Tu-bồ-đề: Phàm những gì có tướng đều là hư vọng Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai”Đoạn này liên quan bố thí bất trụ tướng ở trên
Có hai ý để giải thích cho đoạn 4
“Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát không trụ tướng mà bố thí, phước đức cũng lại như thế, không thể nghĩ lường” Mình làm việc mà không trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường Phước gọi là không trụ,
nó rất lớn cho dù mình muốn hay không nó vẫn đến Do đó Đức Phật đưa ra hư không phương đông,phương tây … không không có giói hạn, không nghĩ bàn Ví dụ: như mình nói một địa điểm nào đó thì
nó đã có gới hạn, hay chân trời nào đó chân trời cũng có giới hạn ngoài trời thì còn có trời nữa cái khôngtrụ là như vậy
Trụ là phức hữu lậu, không Trụ là phước vô lậu, như cùng một hành động mà mình bố thí mà không trụtướng ( sắc ,thanh , hương, vị ,xúc , pháp ) thì nó vô ngã là phước vô lậu, không còn rò rỉ là phước tuyệtđối
Như khi mình sợ bị nghèo mình bố thí để mong được giàu, sợ bị bệnh nên đi phóng sanh cho hết bệnh làphước hữu lậu, bố thí hay phóng sanh mà mong cầu được một cái gì đó thì thuộc về tướng
Đoạn 5:Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Có thể do thân tướng mà thấy Như Lai chăng? - Bạch Thế Tôn, không phải vậy Không thể do thân tướng thấy được Như Lai Vì cớ sao? Như Lai đã nói thân tướng tức không phải thân tướng Phật bảo Tu-bồ-đề: Phàm những gì có tướng đều là hư vọng Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.
Trang 18Đoạn 5 là nói cách tu vô tướng, có thể dựa vào thân tướng mà thấy như lai chăng, Như lai nói : Phàm những gì có tướng đều là hư vọng Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.Đức Phật nói:
Không Như Lai đã từng dạy rằng thân tướng tức không phải thân tướng, phàm những gì có tướng đều hưvọng nếu thấy các tướng tức chẳng phải tướng tức thấy Như Lai Đây là biện pháp hay phương pháp cáchthức để ta trụ vô tướng.Như Lai đã nói thân tướng tức chẳng phải thân tướng đây là phủ định tức là Yes ,Yes có nghĩa là thức , là tưởng No là trí , thấy được tánh, thấy tướng là thấy tướng, thấy tướng khôngphải tướng là phá tướng Bởi vì tướng sinh ra tưởng, phá tướng là phá tưởng Vậy thì thấy tướng khôngphải thân tướng , vì tất cả các tướng đều là hư vọng, mà thấy tướng không phải thân tướng thì mới thật làthấy tướng, nó quay trở lại Yes Như Lai là tướng, chứ Như Lai không phải là chân tâm Phật tánh Muốnthấy được tướng Phật, thì phải thấy tướng Phật không phải là tướng Phật,thì mới gọi là thấy tướng Phật
Đoạn 6:Chánh văn: “Ngài Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, vả lại có chúng sanh được nghe những lời nói và chương cú như thế, sanh lòng tin chân thật chăng? Phật bảo Tu-bồ-đề: Chớ nói như thế Sau khi Như Lai diệt độ, sau khoảng năm trăm năm, có người giữ giới, tu phước, đối với những chương cú này hay sanh lòng tin cho đây là thật, nên biết người ấy không phải ở nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật gieo trồng căn lành mà đã ở chỗ vô lượng ngàn muôn đức Phật gieo trồng căn lành Người nghe chương cú này cho đến một niệm sanh lòng tin thanh tịnh, này Tu- bồ-đề, Như Lai ắt biết, ắt thấy các chúng sanh ấy được vô lượng phước đức như thế Vì cớ sao? Vì các chúng sanh ấy không còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không có tướng pháp cũng không tướng phi pháp Vì cớ sao? Vì nếu các chúng sanh ấy, tâm còn chấp tướng là còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả Nếu còn chấp tướng pháp tức còn chấp ngã nhân chúng sanh thọ giả Vì cớ sao? Nếu còn chấp tướng phi pháp tức còn chấp ngã nhân chúng sanh thọ giả Thế nên không nên chấp pháp, không nên chấp phi pháp Bởi do nghĩa ấy, Như Lai thường nói: Tỳ- kheo các ông nên biết, ta nói pháp ví dụ như chiếc bè, pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp”
Đoạn 4,5, 6 là phá cảnh bên ngoài bằng cách thấy cảnh không phải là cảnh thì mới gọi là thấy cảnh thậtbằng Trí Bát nhã Phá cảnh bên ngoài để an trụ Tâm, ứng dụng của nó là chúng ta an trụ được Tâm, thìbao nhiêu cảnh bên ngoài đến với các căn của chúng ta, Chúng ta đều thấy cảnh(trần cảnh) không phải làtrần cảnh, mà muốn thấy cảnh không phải là trần cảnh là Trí thấy chứ không phải là thức thấy Như thếthấy cảnh không phải là cảnh Tất cả sự vật bên ngoài (sắc, thanh, hương, vị, xúc, và bóng dáng trong đầumình)gọi là pháp trần, gọi là pháp không nên chấp pháp ở chỗ đó
Phi Pháp không phải sắc, thanh, hương, vị, là bất tương ưng hành, không phải Tâm, không phải sắc, cũngchẳng phải tâm vương Nó là sự tưởng tượng không thật của chúng ta gọi là phi pháp Pháp này khôngphải pháp mà là sự vật.Như thơi gian không gian đâu có thật mà chúng ta cho có hướng đông, tây, nam,bắc vv không có gì thời gian hay không gian
ĐOẠN 6, 7, 8, 9
I Đoạn 6 - Chánh Tín Hy Hữu (tt)
Ngài Tu Bồ Đề hỏi Đức Phật về những điều dạy cho vị Bồ tát làm sao để làm chủ dòng tâm thức Cáchgiải quyết là phá nhận thức của mình về tâm thức, về con người bằng cách thấy tâm thức, thấy con người,thấy thế giới tức là thấy ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả đều là không có thật Tánh nó rỗng không, vô ngãthì lúc đó tâm chạy cứ để nó chạy, tâm dừng cứ để nó dừng Thí dụ như muốn an trụ trong vô vi thì lúc đó
Trang 19tâm đứng yên (tâm không vọng tưởng) thì mình sống trong trạng thái tâm rỗng lặng Khi đối duyên xúccảnh, thấy nghe hay biết theo tục đế thì ta khởi niệm nhưng không bị niệm chi phối Nghĩa là, ta sống vớitâm vương chứ không phải bằng tâm sở Tâm vương (tâm chủ) là tám thức, tâm sở (tâm lý, vọng tưởng)gồm 51 món Tâm vương lúc này không có ngã, biến thành Thành sở tác trí đối với các giác quan, Diệuquan sát trí đối với bộ não, Bình đẳng tánh trí đối với thái độ nhận thức và Đại viên cảnh trí đối với bảnthể của mình, thì sống trong trạng thái hữu vi (hoạt động) nhưng tâm vô lậu.
Tâm có hai trạng thái:
Tịnh (tĩnh, vô vi)
Động (hữu vi): có hai trạng thái: hữu lậu (phiền não, lậu hoặc) và vô lậu (không ô nhiễm)
Vô vi là một trạng thái các dòng tâm thức ngưng lại kể cả cảm thọ Có Chân như vô vi, trạch diệt vô vi,phi trạch diệt vô vi, thọ tưởng diệt vô vi, diệt tận vô vi, hư không vô vi Những trạng thái không còn trigiác, không còn thọ, tưởng là đời sống thực vật Còn diệt thọ tưởng là đời sống của thế giới vật lý Trạngthái đó vẫn được gọi là vô vi Có 100 pháp vô vi trong đó 94 pháp (8 tâm vương, 51 tâm sở, 24 bất tươngưng hành pháp, 11 sắc pháp) hữu vi và 6 pháp vô vi Dù là pháp nào thì Ngài Thế Thân kết luận lại “nhấtthiết pháp vô ngã” (tất cả pháp đều vô ngã) Vô ngã ở con người tức là tướng ngã, tướng nhân, tướngchúng sanh vô ngã và tất cả các thọ giả tướng cũng vô ngã
Ứng dụng nguyên tắc này để tu tập Tu niệm Phật đến nhất tâm bất loạn cũng vậy, đến vô niệm cũngcũng không phải là chân tâm, Phật tánh, tánh Di Đà Đó chỉ là hữu vi và vô vi Cái nhìn xuyên qua hữu vi,
vô vi đó để thấy tánh vô ngã, tánh Không của trạng thái động lẫn tịnh gọi là thấy Niết bàn trong hiện tại
Thật ra không có tánh để kiến nhưng có tánh vô ngã để kiến gọi là vô ngã tánh
Tu Bồ Đề: “Bạch Thế Tôn, vả lại có chúng sanh được nghe những lời nói và chuyên cú như thế có sanh lòng tin chân thật chăng?”
Phật bảo Tu Bồ Đề: “Chớ nói như thế, sau khi Như Lai diệt độ, khoảng năm trăm năm sau có người giữ giới, tu phước đối với lời này hay sanh lòng tin cho rằng đây là thật Nên biết người ấy không phải ở nơi một Đức Phật; hai Đức Phật; ba, bốn, năm Đức Phật gieo căn lành mà ở chỗ vô lượng ngàn muôn Đức Phật gieo trồng căn lành.”
Đoạn này là tiệm tu, không có chuyện Đốn ngộ mà không tiệm tu được Nước lạnh muốn sôi cũng phải
từ từ, nhanh cũng mất vài phút, một phút có 60 giây, một giây có 60 sát-na vật chất, một sát-na vật chấtbằng 17 sát-na tư tưởng Để hiểu được làm sao độ hết tất cả chúng sanh vào Vô dư y Niết bàn mà khôngthấy có chúng sanh nào vào Niết bàn, chỉ có cách thấy không có chúng sanh, tất cả chúng sanh tánh đềurỗng lặng, thì không độ mà vốn tự độ mà độ cũng không thấy có chúng sanh nào được độ, tất cả vốn đều
là Vô dư y Niết bàn rồi Để thấy được điều đó phải trải qua 1 A-tăng-kỳ kiếp từ khi phát tâm Vô ThượngChánh Đẳng, Chánh Giác trở thành Bồ tát trải qua Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thậpđịa và cuối cùng là Đẳng giác, Diệu giác
Để trải qua địa vị Thập tín từ phàm phu chưa kiến tánh, chưa thấy được tánh Không, chưa thấy đượcNiết bàn, chưa thấy được vô ngã thì phải mất hết 1 A-tăng-kỳ kiếp ở nơi các Đức Phật để tu phước làchính, và tu huệ là phụ, lấy niềm tin mình có Phật tánh mà không biết Phật tánh là gì, thậm chí còn chấp
có Phật tánh Giống như nghe các Thiền sư giảng chúng ta có chân tâm thanh tịnh, có tánh biết bất sanhbất diệt nên tin và tu Cái đó chỉ là Hóa thành dụ như trong kinh Lăng Nghiêm nói là dù có âm thanh cũngnghe, không có âm thanh cũng nghe Nghe thuộc về Nhĩ thức, muốn có thức phải có căn và trần, rồi từthức đó biến thành trí Thức là căn kết hợp với trần có tác ý, là cái biết gọi là thính giác là có ngã, còn khi
Trang 20vô ngã nó chỉ là trí (thành sở tác tri) Nếu cho rằng có tánh nghe mà không có căn và trần tiếp xúc làngoại đạo, là chấp có, là ngã, là atman Áo Nghĩa Thư cho rằng chúng ta có ngã, tự ngã, atman có thể thấynghe hay biết thanh tịnh tuyệt đối đồng với bản thể vũ trụ là đại ngã Nguyên tắc muốn có thức thì phải cócăn, trần và sự tác ý, không có chuyện không có âm thanh mà vẫn còn tánh nghe Kinh Thủ Lăng Nghiêmkhông phải do Đức Phật nói mà do chư Tổ kiết tập, không có bản tiếng Phạn, ra đời rất muộn Đại thừakhởi tín luận ra đời vào thế kỉ thứ VI, bản đầu tiên của Ngài Chân Đế (Paramattha) Ngài dịch ra rồi gáncho Mã Minh là vị tổ thứ 12 của Thiền tông Những bản kinh này mang màu sắc Bà-la-môn rất nhiều.
Người nghe chương cú này cho đến một niệm sanh lòng tin thanh tịnh Này Tu Bồ Đề, Như Lai ắt biết,
ắt thấy các chúng sanh ấy được vô lượng phước đức như thế.
Một niệm sanh lòng tin chưa phải là trí tuệ, mà thuộc về tình cảm Tin hay tín là tâm sở thiện, thuộc về
tâm lý Một người không cần trí tuệ, chỉ cần có lòng tin là vốn không có ta, vốn không có Phật tánh,không có chân tâm mà chỉ có tánh rỗng không, vô ngã Tin được như vậy là được vô lượng phước đức Vìtin được mình vô ngã thì khi đối duyên xúc cảnh mới không bị cảnh lôi kéo, cảnh và mình đều vô ngã,cũng không khởi lòng tham, sân Chỗ đó mới có phước đức vô lượng, còn khi có tướng ngã, nhân, chúngsanh, thọ giả thì phước đức hữu lậu
Vì cớ sao? Vì các chúng sanh ấy không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không có tướng pháp, cũng không có tướng phi pháp.
Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thuộc về chủ quan; pháp, phi pháp thuộc về trần cảnh bên ngoài Pháp
là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp Phi pháp là không phải sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nhưng mình
tưởng tượng có pháp như lông rùa, sừng thỏ Tất cả các cái đó mình xem là vô ngã, không có thực tánh thì
có phước đức vô lượng
Vì cớ sao? Vì nếu các chúng sanh ấy còn chấp tướng là còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả Chấp tướng là trần cảnh bên ngoài có tướng, có dụng, thì mình dùng tưởng để chấp tướng Đoạn này
nói về con người, chúng hữu tình
Nếu còn chấp tướng pháp là thế giới vật lý, thế giới vô tình Kinh Kim Cang dùng trí Bát nhã phá toàn
bộ quan niệm, tưởng của con người về nhân sinh quan, con người, chúng sanh Thế giới vô tình là pháp
và phi pháp, nếu còn chấp tướng phi pháp cũng còn chấp tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả Người tumuốn có trí tuệ Bát nhã chỉ cần không nên chấp pháp, phi pháp
“Bởi do nghĩa ấy, Như Lai thường nói Tỳ kheo các ông nên biết ta nói pháp ví như chiếc bè Pháp còn nên bỏ huống chi là phi pháp”
II Đoạn 7 – Vô Đắc Vô Thuyết
Qua đoạn 7 tăng lên cấp độ nhận thức, cấp độ Bát nhã gọi là Bát nhã thâm sâu Tất cả bản dịch tiếng
Anh dựa vào tiếng Phạn để dịch là khi Bồ tát Quán Tự Tại thực hành trí tuệ Bát nhã thâm sâu Vì chúng
ta dịch từ chữ Hán nên chữ hành thâm hiểu sai, chỉ có hành bình thường chứ không có cạn hay sâu.
Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩa sao? Như Lai được Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác chăng? Như Lai
có nói pháp chăng?
Trong kinh Kalama, Đức Phật nói đừng tin những truyền thông, truyền khẩu, truyền thống, những gìghi trong sách vở, đừng tin vào hạng người có uy quyền, Bậc đạo sư Đức Phật chứng Vô Thượng Chánh
Trang 21Đẳng, Chánh Giác nhưng phải thấy là không có thì mới gọi là có Còn nếu gọi là có mà chưa thấy không
là độc đầu ý thức Có 4 dạng ý thức: ngũ câu ý thức, độc đầu ý thức, mộng trung ý thức, định trung ýthức
Thập trụ là kiến tánh bên Thiền tông Trong Thành duy thức luận do các vị Đại luận sư viết để giảithích Duy thức tam thập tụng, cuối cùng do Ngài Hộ Pháp kiết tập lại rồi truyền cho thầy Giới Hiền vàthầy Giới Hiền truyền lại cho thầy Huyền Trang và đem về Trung Quốc dịch lại truyền cho đệ tử củamình là thầy Khuy Cơ
Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác Giai đoạn ba quả vịThập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng gọi là Tam Hiền, còn Thập địa gọi là Thập Thánh Những vị Thiền
sư kiến tánh trong Thiền tông là giai đoạn Thập trụ, đã trải qua rất nhiều với các vị Phật tu phước, niềmtin để đến một ngày ngộ ra tánh vô ngã, rỗng không gọi là Phật tánh Trụ là trụ vô cái tánh đã kiến, tánh
đã kiến đó gọi là có nhưng đặc biệt là có ở trạng thái không có gì của vạn vật, tức là tánh Không, nói cócũng được mà nói không cũng được, nói có cũng sai mà nói không cũng sai Chân tâm là không phải tâm,không phải vật, không phải Phật Nói không có cũng không được, nó có tánh không, tánh vô ngã của vạnpháp, trùm khắp vũ trụ Hễ có vật là có thể, có tướng, có dụng, cái gì có mặt là vô ngã, vũ trụ tới đâu thì
vô ngã lan tới đó Vô ngã là tánh của vũ trụ, khác với Bà-la-môn cho rằng có Đại ngã (Brahman) giốngnhư ví dụ trong Đại thừa khởi tín luận là biển có thật và từ biển nổi lên thành sóng là atman gọi là linhhồn, nó không phải là thức, tâm lý, thân thể Linh hồn bị chìm trong thân thể nên không thấy, chúng taphải tu khổ hạnh, thiền định để gạt hết tham, sân, si, còn phần thân thì ép xác để không lệ thuộc vào mà
nó đã che lấp atman thanh tịnh, thường hằng bất biến giống như Brahman Ở mặt cá thể, thì chấp là cótinh túy phần hồn trong con người của mình trong trái tim, ở mặt phổ quát thì chấp thể tinh túy đó đồngvới thể vũ trụ Cho nên nếu thấy có chân tâm trong người là thành Bà-la-môn chứ không phải Phật giáo.Quả vị Hoan Hỉ địa, Ly Cấu địa là Tu Đà Hoàn, quả vị Phát Quang địa, Diệm Huệ địa là Tư Đà Hàm,quả vị Nan Thắng địa, Hiện Tiền địa là A Na Hàm, quả vị Viễn Hành địa, Bất Động địa gọi là A La Hán,quả vị Thiện Huệ địa, Pháp Vân địa gọi là hậu A La Hán Ở quả vị thứ 7, 8 tức là Viễn Hành địa, BấtĐộng địa có danh xưng là Ma ha tát Từ chỗ kiến tánh cho đến quả vị thứ 5, 6 gọi là Bồ tát gồm có hiềnnhân Bồ tát và thánh nhân hữu học Bồ tát Đến quả vị thứ 7 đến thứ 10 gọi là Ma ha tát Đến địa vị Đẳnggiác Bồ tát gọi là Maha Muni Địa vị Diệu giác Bồ tát gọi là Tathagata hay Budha Bồ tát Quán Thế Âm,
Bồ tát Đại Thế Chí là bậc Đẳng giác Bồ tát (Maha Muni) Những điều này có trong Thành duy thức luận
Thập tín trải qua 1 A-tăng-kỳ, Bồ tát hữu học, Tam Hiền cho đến đệ lục địa là 1 A-tăng-kỳ Ma ha tátthêm 1 A-tăng-kỳ, Đẳng giác Bồ tát trải qua 1 A-tăng-kỳ Từ Đẳng giác lên Diệu giác trải qua 100 ngànđại kiếp nữa mới thành Phật Lúc chúng ta kiến tánh là được Đức Phật thọ ký, khi vô Tam Hiền là vôđược Thập trụ thì cứ tu, có khi lùi, khi tiến nhưng không bị lui trở lại Thập tín vì tánh đã kiến không thayđổi được nữa, thấy được chân lý thì không quay lại nữa
Trang 22Này Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao? Như Lai được Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác chăng? Như Lai có nói pháp chăng?
Tu Bồ Đề thưa: Như con hiểu qua nghĩa Phật nói không có pháp nhất định tên Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác cũng không có pháp nhất định Như Lai có thể nói.
Đây là lời phủ định của Tu Bồ Đề vì ông nói như con hiểu qua lời Phật nóichứ không dám nói là ôngnghĩ Pháp vốn không có pháp (Pháp pháp bổn vô pháp), và cũng không có phi pháp Khi thấy không cópháp mới gọi là chứng Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác còn thấy có một pháp để chứng là ngoạiđạo Cũng vậy không có chân tâm để thấy mà thấy tánh rỗng không của vạn vật mới gọi là thấy có chântâm, còn thấy có chân tâm để thấy là ngoại đạo, tà ma
Chính vì vậy mà Như Lai vẫn thuyết pháp, nói pháp nhưng pháp để nói đó bản chất là vô ngã, bản chất
là Không
Vì cớ sao Như Lai nói đều không thể chấp, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp? Vì
cớ sao? Vì tất cả bậc Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt.
Pháp mà Như Lai nói thì tánh Không có nên không thể chấp là có pháp đó Ví dụ như Như Lai nói vôngã, mình chấp rằng có pháp vô ngã thì thành Thanh văn thừa, thành tăng thượng mạn Trên đời không có
tánh gì gọi là vô ngã tánh nhưng phải dùng tên vô ngã để chỉ cho cái không có tự tánh của các pháp, chỉ là
tên gọi suông Đó là điều chúng ta thấy không thể chấp vô pháp nào kể cả pháp vô ngã, không có mộtpháp nhất định nào kể cả Niết bàn, vô vi Không thể nói được, nhưng phải dùng ngôn từ để nói Vô vi là
tịch tĩnh, các bậc Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt là vì ở chỗ do pháp vô vi mà có Vô vi ở
các bậc Hiền Thánh là vô lậu, ở các chúng sanh, phàm phu vẫn có vô vi khi họ nhập định phi tưởng phiphi tưởng xứ Các bậc Hiền Thánh đều kiến tánh nên rất khó phân định giai tầng bằng các pháp hữu vi,chỉ có pháp vô vi mới phân định được Các bậc Thánh nhân ở dạng Tu Đà Hoàn đến A La Hán thì mangtính vô lậu nhiều, còn hàng Thập tín vô vi ít, hữu lậu nhiều Khi chứng A La Hán mới hết hữu lậu Ngườikiến tánh vẫn còn tham, sân, si như thường
Lý tỏa niệm còn khởi)
Phải tu 2 A-tăng-kỳ kiếp mới đến thánh quả A La Hán để hết phiền não
Các bậc Hiền Thánh như Tam Hiền, Thập Thánh hễ càng lên cao như A La Hán thì dường như lúc nào
họ cũng vô vi (làm việc nhưng không có lậu hoặc) Khi đối duyên xúc cảnh họ vẫn hoạt động như thường,thân tâm vẫn hoạt động tức hữu vi, nhưng hữu vi đó chứa vô lậu
III Đoạn 8 - Y Pháp Xuất Sanh
Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy được phước đức thật nhiều chăng?
Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn, rất nhiều Vì cớ sao? Vì phước đức ấy tức chẳng phải là tánh phước đức thế nên Như Lai nói phước đức nhiều.
Trang 23Ở đây, để phân định vô vi, hữu vi, vô lậu, hữu lậu thì có khái niệm phước đức vô lậu và hữu lậu Phướchữu lậu là còn ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả Phước vô lậu là vô ngã Cũng cùng một hành động nhưngmình dụng tâm vô ngã gọi là Tam luân không tịch thì là vô lậu Cũng một hành động đó mà mình mongcầu, trụ vô tướng để mong cầu gọi là hữu lậu Chứ không có phước nào riêng gọi là vô lậu hay hữu lậu.Cùng một hành động bố thí thôi nhưng tâm dụng khác nhau là vô lậu hay hữu lậu Mục đích vì tiền bạc,sắc đẹp, sức khỏe, trí thông minh, tuổi thọ thì rơi vào hữu lậu, còn mục đích muốn cho người khác có vậtdụng để vượt qua khó khăn thì là vô lậu
Phước đức nhiều là phước đức vô lậu, phước đức ít là phước đức hữu lậu Phước đức hữu lậu dù nhiềunhư tam thiên đại thiên thế giới thì vẫn là hữu lậu, vẫn sanh diệt, vẫn vô thường Phước đức vô lậu tức làtâm vô lượng, vì đó là tứ vô lượng tâm Tâm đó sẽ đem đến phước đức vô lậu, để được điều đó phải thựchành trí tuệ Bát nhã, là trí tuệ thấy được vô ngã tánh trong các pháp
Nếu lại có người ở trong kinh này thọ trì cho đến bốn câu kệ, vì người khác mà giảng nói thì phước đức này còn hơn phước đức của người có phước đức vô lượng Vì cớ sao? Này Tu Bồ Đề, tất cả chư Phật
và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ nơi kinh này ra Này Tu Bồ Đề, nói là Phật pháp đó tức chẳng phải Phật pháp.
Đoạn trước nói về phước hữu lậu, vô lậu Quả báu vô lậu tuy không thấy hình dáng, quả báu nhưng lạirất nhiều phước bởi vì từ vô lậu đó hình thành hữu lậu bao nhiêu cũng được Nhưng dù là phước vô lậu
đó cũng không bằng trí tuệ Bát-nhã-ba-la-mật Trong kinh Kim Cang không nói đến bốn câu kệ, nhưngthường trong bản dịch của những vị như Ám Sơn, Khuy Cơ thì có nói đến:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệt như điện
Ưng tác như thị quán
(Tất cả các pháp hữu vi
Như bóng, bọt nước có gì khác đâu Như sương, như điện lóe mau Hãy xem như giấc chiêm bao mơ màng)
Trang 24BHT K6 KINH KIM CANG
Bài kệ này thường ở cuối Kinh Kim Cang Thật ra, trong Kinh Kim Cang không chỉ định bốn câu kệnào hết, Kinh Kim Cang vốn nó đã là dạng kệ, nằm trong Bát thiên tụng Bát nhã, do người Trung Quốcdịch nó thành văn xuôi Kệ tụng được cấu trúc theo dạng thể thơ gọi là thập lục cú, tức là có hai dòng,gồm 32 âm tiết Ví dụ: Prajna Paramita là 6 âm tiết, tức có 6 âm khi phát thành tiếng
Về ý nghĩa bốn câu kệ này tượng trưng cho bốn cặp phạm trù của ý thức nhận thức gọi là tưởng củamình tưởng ra: có; không; vừa có cũng vừa không; không có cũng không không Bốn cặp phạm trù này
thường xuất hiện trong Kinh điển Phật giáo nhằm phá hết mọi tư tưởng của con người Trì bốn câu kệ
có nghĩa là thực hành và sống theo nó, chứ không phải học thuộc lòng và đọc tụng hằng ngày Thấyviệc gì cần làm thì làm mà không nghĩ cho riêng mình là trì bốn câu kệ
Này Tu Bồ Đề, nói là Phật pháp đó tức chẳng phải Phật pháp Phật pháp không chỉ là lên lạy Phật,
tụng kinh, trong những lý thuyết mà mình cho là cao siêu xa vời Khi áp dụng vào cuộc sống bình nhậtthì hãy vì đại chúng mà làm, cái đó không phải Phật pháp mà là Phật pháp, sống cho người khác chính
là Phật pháp Vậy tất cả các pháp thế gian nếu biết vận dụng đều là Phật pháp, còn cái cho là Phật phápnếu làm không đúng cũng là pháp thế gian, là Ma sự
Và này Tu Bồ Đề! Tất cả chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều
từ Kinh này ra Tu Bồ Đề, gọi là Phật pháp, tức phi Phật pháp.
Bây giờ muốn làm Phật, tu gì để giác ngộ, làm gì để giải thoát? Chẳng có gì khác ngoài trì Kinh này
là trì trí tuệ Bát-nhã-ba-la-mật, phá tất cả những khái niệm của chúng ta về ngã, nhân, chúng sanh, thọgiả, pháp, phi pháp Khi chúng ta có trí tuệ đó, cũng có nghĩa chúng ta ngộ được tánh Không, là đượcchư Phật thọ ký thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trong tương lai, nhưng tính từ lúc kiến tánhphải mất 3 A-tăng-kỳ kiếp và 100 ngàn Đại kiếp nữa Nếu ngộ được tánh Không không có thời gian,không gian cho nên nói là nói vậy chứ không có A-tăng-kỳ kiếp nào hết, chỉ là ảo
IV Đoạn 9 - Nhất Tướng Vô Tướng
Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Tu Đà Hoàn hay khởi nghĩ thế này “Ta được quả Tu Đà Hoàn” chăng?
Lúc trước nói về các bậc Hiền Thánh phân biệt bởi pháp vô vi, rồi tới chuyện này, nhưng trước đónói về phước đức không thể nghĩ bàn, trì bốn câu kệ để phân biệt hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi và trítuệ Bát nhã để quét tất cả khái niệm gọi là nhân-quả, hữu vi-vô vi, hữu lậu-vô lậu đều là những danh từgán cho sự vật, hiện tượng bởi tưởng của chúng ta mà ra Ví dụ: đoạn được ba hạ phần kiết sử thì chứngquả Tu Đà Hoàn, muội lược thêm hai hạ phần kiết sử nữa thì chứng quả Tư Đà Hàm, đoạn hết năm hạphần kiết sử chứng quả A Na Hàm và hết luôn năm thượng phần kiết sử chứng quả A La Hán Văn họcBát nhã thì nói chứng nhưng nói là không chứng
Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn, không Vì cớ sao? Vì Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu mà không có chỗ nhập; chẳng phải nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là Tu Đà Hoàn.
Có thánh quả chứng cũng như học thì có tốt nghiệp Bình thường ta nghĩ quả vị Tu Đà Hoàn rất lýtưởng nhưng khi chứng được thì lại thấy rất bình thường, chỉ có tâm thiện như Thánh nhân Ngườiđược quả Tu Đà Hoàn cho đến A La Hán thì họ cũng không nghĩ chứng quả Lúc Ngài Đại Thiên cóđưa ra năm việc: Dư sở dụ, vô tri, do dự, tha linh nhập, Đạo nhân thanh cố khởi Tức là mình chứng
Trang 25BHT K6 KINH KIM CANG
A La Hán còn không biết là chứng hay không là vô tri Khi được nói là đã chứng quả mà mình còn
do dự, được người khác nói cho biết đã chứng là tha linh nhập Tư tưởng này của Đại Thiên bị
nhiều luận sư của Hữu Bộ bài bác, nhưng sau này nghiên cứu lại thì thật ra có việc này Đứng vềgóc độ tâm lý, khi đã nhập vào dòng Thánh thì thấy rất bình thường, cũng như người biết lái xe sẽkhông nghĩ mình là tài xế, còn khi chưa biết lái thì rất ham thích Ở góc độ triết học, khi mìnhchứng Thánh quả mà cho là chứng thì thật ra là chưa chứng Vì khi chứng Thánh quả những kiết sửnhư thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham cõi dục, sân cõi dục, tham cõi sắc, tham cõi vô sắc, trạo cử,mạn, vô minh vi tế Một khi chứng quả Tu Đà Hoàn thì không còn nghi, giới cấm thủ, thân kiến vì
họ biết nhân xấu đã đến dù đi đâu cũng không tránh khỏi Phá thân kiến là thấy thân do duyên hợp,
vô ngã cho nên không thường, không đoạn Thân kiến gồm cả thân và tâm Pháp vốn vô ngã nên
nói là không có chỗ nhập
Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Tư Đà Hàm có thể nghĩ thế này “Ta được quả Tư Đà Hàm” chăng?
Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn, không vậy Vì sao? Tư Đà Hàm gọi là Nhất Vãng Lai mà thật không
có vãng lai, ấy gọi là Tư Đà Hàm.
Tư Đà Hàm là làm muội lược thêm hai hạ phần kiết sử Làm muội lược là dù đối duyên xúc cảnhnhưng vẫn không bị chi phối, họ nổi sân chỉ vì tập khí, thói quen nhưng sau đó họ khởi sanh tàm, quý
và buông bỏ Khi làm muội lược tham và sân cõi dục thì vị này vẫn còn tái sanh về cõi dục, các cõi Trời
dục giới một lần vì còn dục nên gọi là Nhất Vãng Lai
A Na Hàm thì đoạn luôn hai hạ phần tham, sân cõi dục Những bậc đó chứng được ít nhất là sơ thiềntrong cuộc đời Đương nhiên, phàm phu vẫn chứng được sơ thiền, nhưng khi vào địa vị A Na Hàm phảichứng ít nhất một lần từ sơ thiền tới tứ thiền Vị này sau khi mất không tái sanh vào cõi dục, các cõigiới thấp như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la và 6 tầng Trời cõi dục vì vị ấy đã ly dục, ly các ác, bấtthiện pháp Họ sanh lên cõi Trời sắc giới, vẫn còn tham, sân về định của các cõi vô sắc, mạn, trạo cử,
vô minh Tham sự an lạc của thiền, mạn cho rằng mình chứng được các tầng thiền định Trạo cử vi tế làmình khởi tâm muốn làm Phật sự, truyền trao kinh nghiệm Vô minh vi tế là ngã vi tế, mạn, trạo cử xuấtphát từ ngã mà ra mặc dù thấy rất thiện Khi phá được ngã thì đắc A La Hán
Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? A La Hán hay khởi nghĩ thế này “Ta được quả A La Hán” chăng?
Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn, không vậy Vì cớ sao? Thật không có pháp tên là A La Hán Bạch Thế Tôn! Nếu A La Hán khởi nghĩ thế này “Ta được đạo A La Hán”, tức là dính mắc bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả Bạch Thế Tôn! Phật nói con được Vô Tránh Tam Muội, là bậc đệ nhất trong số người đó, là A La Hán ly dục đệ nhất Bạch Thế Tôn! Con không khởi nghĩ con là ly dục A La Hán Bạch Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng con được đạo A La Hán, thì Thế Tôn ắt chẳng nói Tu Bồ Đề là con người ưa hạnh A Lan Nhã Do Tu Bồ Đề thật không có sở hành, nên gọi Tu Bồ Đề là ưa hạnh A Lan Nhã.
Vô Tránh nghĩa là vô lậu Đọc câu này đừng rơi vào chấp không có quả vị A La Hán vì câu sau nói Phật nói con được Vô Tránh Tam Muội, nhưng không cho chứng đắc đó là thật, là một pháp cụ thể, nên
mới nói Con không khởi nghĩ con là ly dục A La Hán.
A Lan Nhã là hạnh ly dục, hạnh ở nơi rừng sâu, núi thẳm hoặc ở ngay giữa đời mà không nhiễm đời,
mô tả đời sống cô tịch
Trang 26BHT K6 KINH KIM CANG
Ở đây khẳng định là có các bậc tùy theo công hạnh của mình Ví dụ: Bồ tát Đại Thế Chí là Bồ tátmuốn xây dựng một cõi cực lạc vô cùng rộng lớn Chí là cùng tận, Thế là thế giới Nhất tướng vô tướngnghĩa là mỗi tướng trạng đều không có tướng nào nhất định, phá triệt để quan niệm của chúng ta vềtướng trạng của các pháp, để đưa nhận thức của mình về bản thể của các pháp và thấy thấu suốt thểkhông rời tướng, tướng không tách rời khỏi thể, đó là trí tuệ Bát nhã
ĐOẠN 10:TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ
Bài kinh Kim Cang có nhiều ví dụ tư duy trừu tượng, nếu biến chuyển thành tư duy cụ thể và áp dụng vào cuộc sống tu tập của chúng ta sẽ có ý nghĩa hơn rất nhiều
“Trang nghiêm”, là trang hoàng nghiêm sức cho lý tưởng của chúng ta Người đời lập sự nghiệp gọi là khởi nghiệp (start up) Khởi nghiệp không có nghĩa lập lại những cái người ta đã làm rồi, mà là
có thêm những ý tưởng mới
Ví dụ: mở tiệm cơm chay gọi là lập nghiệp, nhưng nếu sáng tạo hơn như cân ký để bán cơm thì gọi là khởi nghiệp Ở Đài Loan có mô hình này, giá tính theo gram cân nặng, mua một củ cải kho mấy trăm gram cũng bằng giá với khúc chả lụa cùng cân nặng Như vậy, nếu mở thêm cửa hàng giống vậy ở Đài Loan thì vẫn gọi là lập nghiệp, ở Việt Nam chưa có nên mở cửa hàng này gọi là khởi nghiệp
“Trang nghiêm” có 2 phần: khởi nghiệp và lập nghiệp
Người đời thành công khi có một sự nghiệp nhất định nào đó, ví dụ: sự nghiệp về danh vọng, về địa vị, về quyền lực, về tiền bạc,… Đánh giá sự nghiệp đó bằng mức độ đo lường được ở dạng vật chất (tiền của) hoặc ở mức độ ảnh hưởng đến quần chúng (như ca sĩ nổi tiếng) Người tu thành tựu sự
nghiệp như thế nào? Đức Phật đưa ra câu hỏi:
- “ Này Tu Bồ Đề! Thuở xưa ở nơi đức Phật Nhiên Đăng, đối với pháp ta có sở đắc hay không? (tức là có đắc pháp không?)
Bạch Thế Tôn, không Như Lai ở nơi đức Phật Nhiên Đăng đối với pháp thật không có sở đắc” (đoạn 10)
- “Tu Bồ Đề! Ta ở nơi pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thật chẳng đắc một chút
gì cả, thị danh Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác” (đoạn 22)
“Đắc pháp” là đắc cái không có pháp Muôn pháp đều do tưởng mà ra, vốn không có tự tánh
nhưng không phải là không có tự tánh mà là có tự tánh nhưng tự tánh nó là không Phải hiểu rằng Thể
là không mà Tướng là có, Thể không tách rời Tướng và không có Tướng nào rời Thể và cũng không có Thể nào là của riêng Tướng nào hết Cho nên ta phải hiểu là: cái có có bản chất là không (cái không sáng suốt đại đồng, không ngã, không tự tánh, rỗng không, không có khái niệm “không”, không có hư không, không có gì hết), cái không này đó là Thể của tất cả những cái có
Cái có thì muôn hình vạn trạng, cái tưởng của chúng ta nghĩ nó theo từng pháp, nào là Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp, Bất tương ưng hành pháp, Vô vi pháp,… đó là do chúng ta tự khái niệm hóa nó ra thành pháp Như vậy, nói mình đắc pháp là đắc cái gì? Nếu có một pháp để đắc như Phật
Trang 27BHT K6 KINH KIM CANG
tánh, hay Chân tâm chẳng hạn, thì nó cũng thuộc trong 100 pháp (Bách pháp của Duy Thức Học) chứ không thể nào nằm ngoài 100 pháp này, không hữu vi thì cũng là vô vi thôi Dù hữu vi hay vô vi cũng đều là ảo tưởng, do tưởng tạo ra hết, do mình đặt tên cho nó nào là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tâm, a lại da, mạt na, ý, thức, phiền não tâm sở căn bản (tham,sân, si, mạn, nghi, ác kiến, biên kiến, kiếnthủ, giới cấm thủ), tiểu tùy, trung tùy, đại tùy, 11 tâm sở thiện, 5 tâm sở biến hành, 5 tâm sở biệt cảnh, 4 tâm sở bất định, 21 món bất tương ưng, 6 pháp vô vi,… tất cả cái này đều là tưởng ra hết Tức là những trạng thái đó là có chứ không phải không, nhưng nó vốn không tên, không có chức năng, thể của nó rỗng không mà mình đặt tên cho nó, vậy gọi là chấp pháp
Người ngộ đạo là ngộ tất cả các pháp đó, 100 pháp đó kể cả hữu tình lẫn vô tình đó đều không, ngộ được cái không đó mà cũng vì không có cái không thực thể nào tồn tại trên đời này cả, tức là không
có chân tâm Phật tánh nào tồn tại mà nó chỉ là Thể của cái có Ngộ được như vậy là đắc pháp Như vậy,người đắc pháp là chẳng có cái pháp nào để đắc
- “Tu Bồ Đề! Nếu Như Lai có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì Phật Nhiên
Đăng chẳng thọ ký cho ta rằng: “Về đời sau ngươi sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.” Bởi thật chẳng có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta rằng: “Về đời sau ngươi sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.” (đoạn 17)
Một người được đức Phật thọ ký thì người ấy phải chứng được Kiến đạo vị (thấy được đạo) Từ chỗ Kiến tánh cũng chưa được thọ ký, chỉ mới là giai đoạn 1, là Tư lương vị thôi mà phải tu Tứ gia hạnh (gồm: noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất) thêm nhiều a-tăng-kỳ kiếp nữa để tăng cường tư lương của mình mà trụ vô cái tánh này (Tứ gia hạnh giống như trưởng dưỡng thánh thai vậy, là giai đoạn 2) cho đến lúc chúng ta làm chủ hoàn toàn nhận thức và một phần hành động của mình thì đoạn được kiến hoặc về chấp ngã, tức là đạt được kiến đạo vị Khi vào được Kiến đạo vị (giai đoạn 3, Bồ tát từ Sơ địa cho đến Lục địa) là đã vào Sơ quả Tu-đà-hoàn, từ địa vị này trở lên mới được thọ ký Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho các hàng Thánh hữu học và vô học, còn người chưa vô hàng Thánh thì chưa được thọ ký Những hàng Bồ tát hữu học như ngài A-nan (chưa chứng thánh quả A-la-hán vào thời điểm đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa) cũng được đức Phật thọ ký “sau này sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai”, khi đó ngài La-hầu-la (đã chứng thánh quả rồi) cũng được đức Phật thọ ký Như vậy, khi đã vào địa vị Sơ quả Tu đà hoàn thì sẽ được đức Phật thọ ký Từ khi được đức Phật thọ ký rồi, phải trải qua 4 a-tăng-kỳ cộng với 100.000 đại kiếp nữa thì mới chứng được Phật quả Vô Thập thánh thì mới gọi đó là Thánh nhân, Thánh Bồ tát
Như vậy, Kiến tánh được xem như khởi tu mà thôi, vì vẫn còn phiền não, còn tham dục, còn tạo nghiệp, còn phàm phu nhiều, nói là Tam hiền nhưng thật ra là Tam hiền của phàm phu Tam hiền là sau khi trải qua Thập trụ – Thập hạnh - Thập hồi hướng, quá trình này là giữ gìn bản tâm của mình, tu cho riêng mình thôi chứ chưa có lợi ích gì cho chúng sanh, là tu hướng vào bên trong thôi Do vậy giai đoạnnày đức Phật không thọ ký, đến khi từ chân tâm mình lưu xuất ra ngoài thì đức Phật mới thọ ký
Từ Kiến đạo vị trải qua 1 a-tăng-kỳ kiếp mới đến giai đoạn 4 là Tu tập vị (Bồ tát từ Thất địa chotới Thập địa) là giai đoạn tu tập để xây dựng trang nghiêm cõi Phật, giai đoạn này tương đương quả vị
Trang 28BHT K6 KINH KIM CANG
A-la-hán nhưng còn phải tu phụng sự cúng dường vô lượng vô số chư Phật nữa mới thành Phật quả (từ Thất địa đến Thập địa ít nhất khoảng 4 a-tăng-kỳ-kiếp)
Giai đoạn 5 là Cứu cánh vị là Bồ tát hàng Đẳng Giác đến Phật quả (hay Diệu Giác) Từ Đẳng Giác lên đến Diệu Giác cần 100.000 đại kiếp
“Trang nghiêm cõi Phật”bắt đầu từ giai đoạn Kiến đạo vị (giai đoạn 3) Trang nghiêm cõi Phậttức là xây dựng cơ đồ (khởi nghiệp) Mỗi vị Bồ tát khi còn phàm phu đều có mỗi nghiệp riêng, tùy theotâm tánh mà có sự phát nguyện khác nhau như tâm sân thì phát nguyện làm Hộ pháp phẫn nộ thì sau này thành Phật hiệu là Đấu Chiến Thắng Phật, hay phát tâm làm việc công đức (như dịch kinh điển chẳng hạn) thì sau này thành Phật hiệu là Chiên Đàn Công Đức Phật,… Như vậy, tùy theo cá tính của mỗi người phàm phu mà phát nguyện tu hành thành Thánh nhân, từ Thánh nhân thành Bồ tát Do đó mỗi công hạnh của Bồ tát tương ứng với cá tính của họ, cá tính này giúp cho việc định hướng sự nghiệp
cơ đồ, tức là xây dựng cõi Phật theo ước muốn của mình, thực hành hạnh vô ngã vị tha lục độ mật, gọi là trang nghiêm cõi Phật
Ba-la “Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ sao, Bồ tát có trang nghiêm cõi Phật chăng?
Bạch đức Thế Tôn! Không Tại vì sao? Vì trang nghiêm cõi Phật đó, chính chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm” (đoạn 10)
- “Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói như thế này: Ta phải trang nghiêm cõi Phật thì vị ấy chẳng thể
gọi là bậc Bồ Tát Bởi vì sao? Vì đức Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật đó chính chẳng phải trang nghiêm, ấy tạm gọi là trang nghiêm” (đoạn 17)
Nếu là có trang nghiêm cõi Phật tức là có một thành quả (giống như lập nghiệp ở ngoài đời) thì
đó là hữu vi rồi, là phàm phu rồi Mình thành tựu Phật quả sẽ có Phật quả đó, nhưng mình không thấy Phật quả đó có tự tánh, nghĩa là Phật quả đó bản chất của nó là rỗng không chứ không phải là không có,
cho nên mới có câu nói tiếp theo “ấy tạm gọi là trang nghiêm cõi Phật”.
Chúng ta làm công quả mà nghĩ rằng làm có phước thì đó chưa phải là trang nghiêm cõi Phật mà
là trang nghiêm cõi ma, vì nhìn nhận cái thành quả của mình là có thật, vì đã hiện rõ “tướng nhân, tướng ngã, tướng chúng sanh, tướng thọ giả” Đó là ý nghĩa của bài kinh Kim Cang Chúng ta đã
làm được gì, nó trôi qua rồi thì thôi đừng bao giờ nghĩ nó có thật Chính chỗ nghĩ nó không thật thì
phước đức mới nhiều: “như có thiện nam tín nữ, đem thất bửu chứa đầy các đại thiên thế giới bằng số cát kể trên dùng để bố thí thì phước đức cũng không nhiều bằng người thọ trì kinh này, cho đến chỉ thực hành theo tứ cú kệ rồi giảng cho người khác nghe”(đoạn 8, đoạn 11, đoạn 24)
Như vậy, việc chúng ta tự giác xếp hàng ngay thẳng, ăn cơm không nói chuyện, thời khóa công phu đều đặn, những chuyện nhỏ đó chính là trang nghiêm cõi Phật, phước đức không thể nghĩ bàn Chứchờ đến bao giờ mới làm đại Bồ tát, ngay những chuyện nhỏ mà ta làm được nghĩa là ta đã đăng địa Bồtát rồi, chỉ cần dụng tâm khéo chút, chuyển cái chấp pháp thành pháp không tự tánh, chuyển công đức của mình thành không có cái công đức nào cho mình cả, có chánh kiến, đó chính là suy nghĩ hành Thậpđịa rồi