PHÁP CÓ THỂ ĐƯỢC

Một phần của tài liệu Kinh kim cang (Trang 50 - 57)

“Ngài Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hay là không được ư? Phật bảo: Đúng như thế, như thế! Này Tu bồ đề, ta đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nhẫn đến không có một chút pháp có thể được, ấy gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.

Phân tích đoạn kinh 22:

Nếu có một pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì pháp đó có ngả, trong khi đạo Phật chủ trương vô ngả. Nếu có pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì pháp đó hữu ngả, như vậy đức Thế Tôn chứng pháp đó không phải là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thấy không có một pháp chứng được mới gọi là chứng đạo, vẫn thành Phật, kiến tánh, hưởng Niết bàn khi Ngài chứng đạo.

Trong tuần lễ đầu tiên khi chứng đạo, ngài ngồi bất động để tận hưởng an lạc tuyệt đỉnh của niết bàn, của pháp đã chứng. Nhưng để chứng được pháp phải trải qua quá trình mà bước đầu tiên là quán được Vô ngả, không thấy có Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nào để chứng thì mới có pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác để chứng.

Trước khi kiến tánh phải thấy cả thế gian là “Không”, không có một pháp nào để chứng đắc lúc đó mới thấy được sự kiến tánh, trước khi đạt được giải thoát tri kiến ta phải đạt được giải thoát, không còn pháp nào để dính mắc thì mới thấy được thể nhập được pháp không có đó, pháp rỗng không đó.

ĐOẠN 27-32

Nhắc lại chương 26: Ngài Tu Bồ Đề trả lời Phật rằng thông qua 32 tướng mà có thể nhận chân được Như Lai. Đức Phật hỏi vậy Chuyển luân thánh vương cũng có 32 tướng, ông nhận được Như Lai ở đâu?

Tuy vậy cũng phải thấy Phật tánh, Pháp thân, Như Lai qua 32 tướng, không thể nào có Phật tánh, Pháp thân, Như Lai ngoài thế giới hữu hình, hữu vi, sinh diệt này, không thể rời thế giới hiện tượng mà thấy được Như Lai. Qua tướng mới thấy được tánh, không có tánh nằm ngoài cái tướng, không có chân tâm nào nằm ngoài tâm sanh diệt này mà có cả.

Ngài Tu Bồ Đề trả lời “ Bạch Thế Tôn, con đã hiểu diệu nghĩa Phật nói, không nên lấy 32 tướng để quán Như Lai”. Xuyên qua 32 tướng để thấy được tánh rỗng không của 32 tướng đó, không dừng lại hay trụ lại ở 32 tướng. Nếu ta xem 32 tướng và cho đó là Như Lai thì chưa đến, nhưng cũng không rời 32 tướng mà thấy được Như Lai. Chẳng có chơn tâm nào nằm ngoài cái tâm sinh diệt mà ta gọi là vọng tâm này.

Nếu lấy sắc thấy Ta

BHT K6 KINH KIM CANG

Lấy âm thanh cầu Ta Người ấy hành tà đạo Không thể thấy Như Lai.

Bản chữ Hán:

Nhược chỉ sắc kiến ngã Dĩ âm thanh cầu ngã Thị nhơn hành tà đạo Bất năng kiến Như Lai

Như Lai đã phê bình thái độ chỉ nhìn Như Lai qua sắc tướng, âm thanh. Ví dụ tụng kinh là ta cầu Như Lai qua âm thanh, lạy tượng Phật cầu Như Lai qua sắc tướng. Nhưng ta cũng không thể rời kinh kệ, tượng Phật mà ta có thể cầu đạo được. Giả sử ta tu mà không tụng kinh, không học giáo lý, không tắm mình trong giáo pháp Như Lai thì cũng không thể nào ngộ đạo được. Phải qua hình tướng, qua âm thanh nhưng không trụ ở hình tướng âm thanh, nếu ta trụ lại ở đó mà quên mất đó chỉ là phương tiện thì sẽ đi sai đường.

I. ĐOẠN 27: VÔ ĐOẠN VÔ DIỆT

Nhắc qua chương 26 để thấy đến đây Đức Thế Tôn phải thuyết chương 27, để chúng ta tránh rơi vào chấp đoạn diệt, chấp cái không.

“ Này Tu Bồ Đề, nếu ông khởi nghĩ ý niệm như thế này: Như Lai chẳng do các tướng cụ túc được vô thượng chánh đẳng chánh giác”.

Đừng nghĩ rằng không cần 32 tướng đầy đủ mà được vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Bất kỳ Như Lai nào thành Phật cũng có 32 tướng cả nhưng trụ nơi 32 tướng thì không phải Như Lai. Không thể do 32 tướng mà thấy Như Lai nhưng cũng không nên chấp rằng Như Lai không đủ 32 tướng.

“Này Tu Bồ Đề, nếu ông khởi nghĩ thế này: người phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nói các pháp đoạn diệt. Chớ khởi lên ý niệm như vậy. Vì sao vậy? Bởi vì người phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác đối với các pháp thì không nói tướng đoạn diệt”.

Nếu cầu pháp tu để giác ngộ kiến tánh thành Phật thì không nên chấp rằng nếu muốn kiến tánh phải diệt hết vọng niệm, diệt hết trần cảnh bên ngoài tức sáu căn không còn thấy sáu trần hoặc nghĩ rằng phải đoạn hết vọng tưởng mới thấy được chân tâm. Theo truyền thống của Thượng Tọa Bộ Khi năm căn tiếp xúc năm trần ta sẽ phản ứng, tâm sẽ dao động, sanh lên. Sau khi trần cảnh hết lôi kéo tâm trở lại trạng thái bình thường, không vọng tưởng gọi là trạng thái hữu phần, là vô niệm. Vậy hữu phần, vô niệm vẫn là tâm sinh diệt, đó là ở trạng thái diệt. Khi có tiếp xúc trần cảnh trạng thái tâm sanh lên gọi ngũ môn hướng tâm (tâm hướng ra 5 trần cảnh) là

BHT K6 KINH KIM CANG

trạng thái sanh và quá trình sanh diệt này diễn ra liên tục. Vậy khi trạng thái tâm không sanh thì là diệt và diệt không phải là Như lai. Trạng trái này trong duy thức còn gọi bờ mé của thức ấm.

Chúng ta chớ nên chấp rằng đoạn diệt là Như Lai hay Như Lai không phải là đoạn diệt. Người phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác không nên chấp, không nên nghĩ là các pháp đoạn diệt. Nếu cứ chấp cho rằng cái không phiền não là Như Lai thì sẽ bị rơi vào vòng chúng sanh thành Phật rồi Phật thành chúng sanh, lúc không khởi niệm chúng ta là Phật, lúc khởi niệm Phật lại trở thành chúng sanh là không đúng. Tuy nhiên cũng không rời hai trạng thái này của tâm mà ta thấy được chân tâm. Chơn tâm không nằm ngoài dòng tâm thức này. Xuyên qua trạng thái không sanh diệt mà ta dễ dàng thấy được thể tánh vô ngã của tâm. Trong thiền tông, khi lặng yên, không khởi niệm, đóng cửa năm giác quan lại, chỉ sống với ý thức rồi dẹp luôn ý thức tức là tri vọng đến lúc không còn vọng để tri nữa thì ta tri cái trạng thái không vọng đó, trạng thái hữu phần. Phật giáo nguyên thủy, Tứ niệm xứ cũng đi con đường này không khác. Đối với thiền Vipassana, điều đầu tiền là dẹp từ ngũ môn hướng tâm đến tốc hành tâm bằng cách tu thiền chỉ, quán niệm hơi thở khi đó đoạn trừ 5 triền cái, ly dục ly các ác bất thiện pháp đến cận định và đến định đó là trạng thái gần với hữu phần, vô niệm hay gọi nhất tâm. Vậy trạng thái nhất tâm tương đương với tâm không sanh hay tâm đoạn diệt. Ngay đó không dừng lại, xuyên qua đó để thấy được bản chất của đoạn diệt đó là vô ngã. Thấy được vô ngã tánh là kiến tánh chứ không phải thấy trạng thái đoạn diệt hay tâm không niệm là kiến tánh. Đừng trụ nơi đoạn diệt mà cho đó là Như Lai.

Các thiền sư nguyên thủy dạy Tứ niệm xứ cũng vậy, khi đạt đến trạng thái nhất tâm, từ đó quay soi lại trạng thái hữu phần của mình, thấy được ánh sáng hữu phần, tâm sáng chói. Trạng thái hữu phần tự biểu hiện cho mình thấy, lúc đó ta sống bằng định trung ý thức là ý thức không chạy theo ngũ câu ý thức. Dùng ý thức trong định đó mới thấy được hữu phần hay thức thứ 8, trong khi ngũ câu ý thức là ý thức chạy ra ngoài. Một sát na tâm chỉ duyên với một cảnh nhưng sát na trong định không duyên với năm trần cảnh, cũng không duyên với pháp trần mà duyên với thức a lại gia, kéo mình thấy nó. Trong phật giáo Nguyên thủy gọi là quán danh sắc chân đế, là vô ngã tánh của thân và tâm. Lúc này toàn bộ tâm thức được phơi bày ra gọi là thấy được tâm hành hay hành uẩn, từ đó không khó cho hành giả quán sát được sát na trước đó ta là gì, tâm ta là gì cho đến khi trong bụng mẹ và kiếp trước vẫn có thể thấy, có thể truy xuất về quá khứ chứng được túc mạng minh với điều kiện phải có định. Có minh là có trí tuệ Bát nhã, thấy được thực tánh và thực tướng. Vậy muốn thấy thực tánh, đừng dừng lại ở trạng thái đoạn diệt. Người cầu thành Phật, kiến tánh thì chớ khởi nghĩ các pháp đoạn diệt. Không có pháp gọi là sanh và diệt nên cái gọi là pháp đoạn diệt là không vọng tưởng cũng không có, vọng tưởng cũng không, không cần đoạn trừ. Chân tâm cũng chẳng có, chỉ là cái tên không cần cầu cho được nhưng chính chỗ ngộ được chân tâm, sống bằng chân tâm chứ không phải thấy chơn tâm, cái đó mới thấy cả cái chơn tâm cũng không có.

II. ĐOẠN 28: BẤT THỌ BẤT THAM

Bất thọ bất tham tức không thọ không tham trước. Một Bồ tát thành tựu được đức nhẫn nhục chỉ khi Bồ tát đó thành tựu được pháp vô ngã tức kiến tánh, lúc đó mới đạt trạng thái vô

BHT K6 KINH KIM CANG

“Này Tu Bồ Đề, nếu có Bồ tát lấy bảy loại châu báu đầy trong hằng hà sa những thế giới đem bố thí. Lại nữa, nếu có người biết hết thảy pháp là vô ngã, thành tựu hạnh nhẫn, thì công đức của Bồ tát này vượt hơn Bồ tát trước. Vì sao vậy? Này Tu Bồ Đề, vì các Bồ tát không có thọ nhận phước đức”

Đến đây ta đừng rơi vào chấp cái gì gọi là không với có, được hay mất. Đoạn này nói về Bồ tát tu phước đức, bố thí là chính. Vị Bồ tát muốn thành tựu bố thí ba la mật thì vị Bồ tát bắt buộc không thọ thành quả do mình bố thí mà có được nhưng cũng không thể bỏ thành quả đó.

Thọ nghĩa là thấy thật mới thọ nhận phước báu đó. Nếu không thấy nó thật thì không cần thọ nhận phước báu, nó tự đến tự đi nhưng cũng không thể bỏ hạnh làm phước để tu thành Phật.

Nhẫn chia làm 3 loại đối với các hàng Bồ tát: nhu thuận nhẫn, âm hưởng nhẫn, vô sanh pháp nhẫn. Vị Bồ tát muốn thành tựu 3 nhẫn này phải chứng được pháp vô ngã.

Khi thành tựu trí tuệ Bát nhã ba la mật thì tự nhiên từ trong Như Lai tạng (Phật tánh), những đức tính tốn đẹp vốn có sẵn tương ứng với Như Lai tâm phát ra, đó là từ bi và trí tuệ, không cần Đức Phật nhắc nhở, tự nhiên người đó có tình thương với tất cả chúng sanh, tự có tâm nguyện độ tất cả chúng sanh, tùy theo nghiệp lực thế nào sẽ chuyển thành nguyện lực của người đó. Nguyện lực đó sẽ hình thành nên tên gọi sau này khi vị đó thành Bồ tát. Tấm lòng từ bi tự động lưu xuất ra vì nó có sẵn. Bản tánh của đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả (tứ vô lượng tâm) của cõi trời Phạm thiên tương ưng với tánh vô ngã, tánh thiện và tánh không. Vì cái gì cho ta thì không thể vô lượng được. Tứ vô lượng tâm của cõi trời Phạm thiên vốn có sẵn trong Phật tánh của con người. Khi ta vô ngã thì ta sống bằng tâm đó.

Khi ta không còn chấp thường, chấp đoạn thì tự nhiên tâm ta muốn cứu độ chúng sanh và ta đi cứu độ chúng sanh bằng Lục độ ba la mật. Hàng đã thành tựu bố thí ba la mật thì phước đức đến nhiều cỡ như một vị tiểu vương, chuyện đương nhiên phải có theo lý nhân quả. Đến giai đoạn này người ta phải tu một pháp cao hơn là trì giới ba la mật, tiếp theo là nhẫn nhục ba la mật.

- Nhu thuận nhẫn: Thuận theo cả nghịch cảnh và thuận cảnh (phước đức đến và phải chấp nhận nó nhưng với tâm không có tham cầu để làm phương tiện ba la mật. Để không tham cầu phải luôn nhớ y cứ trên pháp vô ngã để tu).

- Âm hưởng nhẫn: Khi thành tựu có 2 loại lời khen và tiếng chê đến mình phải vượt qua.

- Vô sanh pháp nhẫn: Sanh diệt pháp và vô sanh pháp đều phải vượt qua. Sanh pháp có thể vượt qua bằng cách quán chiếu các pháp đều duyên sanh không có tự tánh và đều vô thường. Sanh pháp có thể vượt qua được để chứng được pháp vô sanh nhưng tại đây phải nhẫn luôn cả pháp vô sanh. Khi chứng ngộ được tánh không, thói quen cũ là tâm chấp ngã luôn có cảm nhận rằng có con người mình chứng đạo. Bồ tát thành tựu pháp nhẫn này thì không có pháp gì mà các Ngài thọ nữa, cả kể cả pháp mà mình chứng đắc cũng không thọ, có như vậy phước đức đến và lấy đó làm phương tiện.

III. ĐOẠN 29: OAI NGHI TỊCH TĨNH

BHT K6 KINH KIM CANG

Dựa vô đoạn này mà ngài Long Thọ đưa ra một triết lý trong Trung quán luận là bất lai diệt bất xuất: không đến cũng không đi.

“ Này Tu Bồ Đề, nếu có người nói rằng: Như Lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm thì người này không hiểu diệu nghĩa ta thuyết pháp này. Vì sao vậy? Như Lai là không từ nơi đâu đến, cũng không có chỗ nào đi, do vậy thị danh là Như Lai”. Như lai có nghĩa đến là như vậy và đi như vậy. Nếu chỉ căn cứ trên sự vận hành của các pháp và nói đó là Như Lai là không đúng. Khi quan sát tâm có sanh và diệt , đến và đi, về mặt thân, sinh ra đời gọi đến, chết gọi là đi. Cầu Như Lai hay thấy Như Lai qua thế giới sinh diệt, sinh tử luân hồi, các pháp đến đi, tướng trạng của Như Lai là không đúng.

Như Lai phải không có những tướng trạng đó, nhưng cũng chẳng có Như Lai nào ngoài những tướng trạng đến, đi, ngồi, nằm. Ngay trong những động tác, tâm sinh diệt chúng ta phải trực nhận ngay thể tánh của nó là không, là vô ngã. Chúng ta thường rơi vào hai cái chấp, hoặc chấp có hoặc chấp không, ở đây đang phá cái chấp có. Cứ cho rằng niệm sanh diệt là Như Lai là không đúng, phải đi sâu vô bản chất niệm sinh diệt mới là Như Lai. Chúng ta là con người có đến, có đi, khi thành Phật cũng vẫn đến, đi nhưng lúc đó ta là cái giác ngộ. Vậy giác ngộ không nằm ngoài đến đi nhưng cũng không phải là đến đi. Không ngoài đến đi mà thấy được tánh Như Lai của đến đi “Như Lai là không từ nơi đâu đến, cũng không có chỗ nào đi, do vậy thị danh là Như Lai”. Không nên chấp rằng không đến, không đi mới là Như Lai, như thế là chấp đoạn diệt. Không có Đức Phật nào sau khi thành Phật thì biến mất khỏi thế gian này. Đức Phật sau khi giác ngộ cũng đi bộ quãng đường dài về độ năm anh em Kiều Trần Như, nhưng trong đến đi đó Ngài là Như Lai, còn chúng ta trong đến đi là phàm phu. Có đến, có đi nhưng xuyên qua đó thấy được cái không đến, không đi của động tác đến đi là Như Lai. Trong tu hành chúng ta đừng mong cầu chỉ ngồi thiền mà giác ngộ, trong tứ oai nghi chúng ta có cả thiền hành, thiền tọa, thiền ngọa…

IV. ĐOẠN 30: NHẤT HỢP TƯỚNG LÝ

“ Này Tu Bồ Đề, nếu có người con trai hay người con gái hiền thiện lấy cõi ba ngàn đại thiên thế giới hệ nghiền thành đám vi trần. Ý ông nghĩ như thế nào? Đám vi trần này có nhiều không? ”. Tam thiên đại thiên thế giới được cấu tạo bởi vi trần. Vậy Tam thiên đại thiên thế giới là một cảnh (nhất tướng) do hợp bởi nhiều thứ là những hạt vi trần hay hạt bụi, vì vậy nên ta có thể dùng trí Kim cang bát nhã chẻ ra cuối cùng là những hạt bụi. Khi đó những hạt bụi số lượng nhiều hơn Tam thiên đại thiên thế giới. Vậy với tình thức bình thường, phân biệt sẽ có hai tướng nhiều và ít, nhất và dị hay đồng và dị. Đó là hai cái mà ta thường chấp. Trong Bát bất trung đạo:

- Bất sanh diệt bất diệt : nói lên sự hiện hữu của vạn pháp có sanh có diệt (hiện hữu pháp) - Bất thường diệt bất đoạn: thời gian pháp

- Bất nhất diệt bất dị: không gian pháp (các tướng tồn tại trong không gian của các pháp: có lớn có nhỏ, ít nhiều, đồng khác)

- Bất lai diệt bất xuất : vận động pháp

Trong vũ trụ các pháp vận hành theo bốn đặc tính này: phải có sanh diệt, tồn tại trong thời gian, có ít

Một phần của tài liệu Kinh kim cang (Trang 50 - 57)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(57 trang)
w