ĐOẠN 20: LÌA SẮC, LÌA TƯỚNG

Một phần của tài liệu Kinh kim cang (Trang 44 - 48)

ĐOẠN 13 NHƯ PHÁP THỌ TRÌ

I- ĐOẠN 20: LÌA SẮC, LÌA TƯỚNG

- Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao? Phật có thể đầy đủ sắc thân mà thấy chăng?

- Bạch Thế Tôn, không vậy! Như lai không nên do đầy đủ sắc thân mà thấy. Vì cớ sao? Như Lai nói đầy đủ sắc thân tức chẳng phải đầy đủ sắc thân ấy gọi là đầy đủ sắc thân.

- Này Tu bồ đề, ý ông nghĩ sao? Phật có thể đầy đủ các tướng mà thấy chăng?

- Bạch Thế Tôn, không vậy! Như lai không nên do đầy đủ các tướng mà thấy. Vì cớ sao? Như Lai nói các tướng đầy đủ tức chẳng phải đầy đủ, ấy gọi là các tướng đầy đủ.

Phân tích đoạn kinh 22:

Đoạn kinh này Đức Phật dạy ngay trên tướng mà thấy được vô tướng, đoạn này có 2 ý là sắc thân và các tướng.

* Sắc thân: các đoạn trước và đoạn 26 có nói không phải tướng mà thấy được Như Lai, không phải do 32 tướng tốt mà thấy Như Lai…Đoạn này không nói về 32 tướng tốt mà chỉ nói về sắc thân của Như Lai là Hóa thân (Ứng thân), Báo thân, Pháp thân.

+ Hóa thân là những gì mà Thế Tôn có thể biến hóa ra được; Ví dụ như xâu chuổi, bài pháp …. Là những gì liên quan đến đức Thế Tôn, hướng chúng sinh đến đạo đến sự giác ngộ.

Ví dụ như Bồ Tát Quán Thế âm trong kinh Pháp Hoa có 32 hóa thân; “Nếu chúng sinh cần thân Phật để được độ thoát thì ta sẽ hiện thân Phật vì người đó mà thuyết pháp, nếu chúng sinh cần thân Bích Chi Phật để được độ thoát ta sẽ hiện thân thành Bích Chi Phật vì người đó nói pháp cho đến đồng nam, đồng nữ vợ của các Trưởng lảo, Bà la môn cho đến Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam, Cận sự nữ”

hay “Nếu cần thân Chấp Kim cang thần ta sẽ hiện thành Chấp Kim cang thần vì người đó mà thuyết pháp”.

BHT K6 KINH KIM CANG

Chẳng hạn hình ảnh ông Tiêu trong chùa (tướng dữ) hay ngài Giám trai sứ giả trong bếp, Quan âm Bồ tát như mẹ hiền (tướng hiền). Hóa thân có thể ngược với tướng hiền lành nhưng vẫn có thể độ được chúng sanh do tâm vẫn là tâm từ bi. Trong đời thường một người thầy, người cha có sự giáo dục nghiêm khắc cũng là sự thể hiện của tình thương, từ bi. Ứng thân là đáp ứng sự mong mỏi của chúng sanh mà hiện ra thân tương ứng gọi là ứng hóa thân.

+ Báo thân (Thọ dụng thân) là nhận thọ và sử dụng, là kết quả tu hành nên có thân tướng hòan hảo như hình tướng Đức Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương cực lạc. Báo thân Như Lai có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp trong kinh điển Phật giáo có vay mượn quan niệm Báo Thân của Bà La môn (Kinh Vệ đà), tướng tốt không hẳn là vẻ đẹp chỉ là tướng của bậc đại nhân. Thân tướng tốt đẹp tùy thuộc vào quan niệm của mỗi nền văn hóa.

Ví dụ: bàn tay có màng, cánh tay dài, tướng nhục kế, tướng lưỡi dài rộng, tướng tai to mặt lớn, tướng ngũ đoãn….

Trong kinh Phật giáo nguyên thủy và Kinh Vệ Đà của Bà La môn không nói 80 vẻ đẹp của Đức Phật.

Chỉ sau khi Phật giáo phân phái, Nhứt Thiết Hữu bộ hình tượng hóa đức Thế Tôn có thêm 80 vẻ đẹp.

Các kinh có nói về 32 tướng tốt của Đức Phật là kinh Trung bộ - kinh Brahmadu khẳng định 32 tướng tốt có nói đến trong kinh Vệ Đà, kinh Đại Bổn trong Trường Bộ kinh I, kinh Tướng trong Trường Bộ kinh II đề cập đến 32 tướng tốt, kinh A ma trú trong Trường Bộ kinh I có nói đến câu chuyện Bà La môn Pokkharasadi là một trong những phú hộ thành Xá vệ là người giỏi về tướng số, sau khi đếm đủ 32 tướng tốt của đức Thế Tôn mới cung kính nghe pháp và quy y thành cư sĩ.

Qua câu chuyện của Pokkharasadi thể hiện quan niệm về một bậc giác ngộ phải có 32 tướng tốt. Đó là thắc mắc của Đức Phật khi hỏi Tu Bồ Đề “ Có thể nào qua 32 tướng tốt mới thấy được Như Lai chăng?”.

Nói về 80 vẻ đẹp chỉ là sản phẩm của Nhứt Thiết Hữu bộ trong Đại Tỳ Bà Xa luận, sau đó có Phật Bản hạnh tập kinh, Đại Thừa Nghĩa chương, Luận Đại Trí độ đều xuất phát từ quan điểm theo Đại Tỳ Bà Xa luận. Tuy nhiên quan niệm 80 vẻ đẹp không được đề cập trong kinh Nikaya.

Như vậy sắc thân của Như lai hay Báo thân của đức Phật phải có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp là quan niệm hiện nay được chấp nhận.

Ví dụ: Quan niệm “ Chiếc áo không làm nên thầy tu” nhưng “ Thầy tu không thể thiếu chiếc áo”. Đồng nghĩa với việc hiểu rằng Như lai phải có 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp, nhưng 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp không làm nên Như Lai vì bậc Chuyển luân thánh vương cũng có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Như vậy không nên chấp do thấy 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp mà cho đó là Như Lai.

+ Pháp thân chính là Như Lai, qua Báo thân sẽ thấy được Pháp thân, nhưng làm thế nào qua Báo thân mà thấy Pháp thân. “ Bạch Thế Tôn! Phật không thể do đầy đủ sắc thân mà thấy Phật” đầy đủ tức là có cả Báo thân và Hóa thân. Báo thân và Hóa thân đều thể hiện ra hình tướng. Nhưng Báo thân có đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp cùng với phước đức về trí tuệ. Báo thân gồm 2 phần gồm 2 phần Tự thọ dụng

BHT K6 KINH KIM CANG

 Tự thọ dụng là tướng tốt vẻ đẹp vị Phật nào cũng có.

 Tha thọ dụng là quốc độ của vị Phật đó, kết cấu vật chất mỗi quốc độ khác nhau vô cùng rộng lớn.

Như quốc độ thế giới Tây phương cực lạc toàn bảy báu là vật chất vô cơ, khác với thế giới Ta Bà gồm vật chất hữu cơ và vô cơ.

“Như lai không nên do đầy đủ sắc thân mà thấy. Vì cớ sao? Như Lai nói đầy đủ sắc thân tức chẳng phải đầy đủ sắc thân ấy gọi là đầy đủ sắc thân.”.

Thấy báo thân, hóa thân là duyên hợp là huyễn là không, nghĩa là thấy tướng không phải là tướng, thấy sắc thân không phải là sắc thân như thế là bước đầu của ngộ là Tiểu ngộ.

Câu chuyện ngộ đạo của Thiền sư Duy Tín đời Tống sau khi thấy được tánh không là “Thấy sắc thân không phải là sắc thân”. “Thế giới không phải là thế giới, tất cả là rỗng không” Sau khi giác ngộ thấy được thế giới trở lại nghĩa là thấy được cái “Có” của thế giới.

Theo Đại thừa Khởi tín luận giải thích “ Chân như” bằng 2 khái niệm;

+ Bất không chân như nghĩa là “Như thật không” thấy được “Chân như” ở tướng không, sắc thân tức chẳng phải sắc thân, thấy được chân như ở tướng không “ Thị như tướng bất sanh bất diệt, bất câu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm… …vô thọ tưởng” quán không cả 12 nhân duyên, Tứ diệu đế.

+ Như thật bất không nghĩa là “Như thật có” nghĩa là không phải không có chân như vẫn có cái chân tâm phật tánh, khẳng định có Như Lai, có pháp thân.

Đây cũng là chủ trương của Hòa thượng Thanh Từ, người tu quán các pháp như huyễn biết có chân tâm mà tu.

Thiền sư Duy Tín “ 30 năm trước ta thấy núi không phải là núi, sông không phải là sông” là Như thật không,” 30 năm sau ta thấy núi là núi, sông là sông” là Như thật có.

Theo giáo lý Phật giáo bản chất thân thể con người đang khi còn sống là vô ngả là có tánh không, nhưng hình tướng của thân thể vật lý có cảm giác, thực chứng mỗi người khác nhau vẫn là có ngả nhưng là chân ngả (cảm giác bị đói hay no, sân hận). Người giác ngộ vẫn sống bằng thân thể với trí tuệ bừng sáng.

Điển hình là Hòa Thượng Thích Quảng Đức thời pháp nạn đã tự thiêu với phong thái tự tại, vì ngài thấy được thể của pháp thân, theo pháp tu Vipassana cái ngả của ngài không bị lệ thuộc vào sự nóng, sự lạnh. Thành tựu giác ngộ đòi hỏi trải qua quá trình gian khó đó là:

1-Để giác ngộ (Tiểu ngộ) thành tựu bước đầu, đầu tiên phải thấy sắc thân không phải là sắc thân là quá trình rất khó.

2- Đến Đại ngộ thấy sắc thân là sắc thân, thấy cả thế giới là không mới có thể chứng ngộ pháp thân của Như Lai.

BHT K6 KINH KIM CANG

Lưu ý: Pháp thân không nằm ngoài Hóa thân và Báo thân mà có. Tất cả pháp thân đều là bản thể của Hóa thân và Báo thân, đó là bản thể vô ngả, là không.Nhưng về mặt tâm lý tình cảm của chúng hữu tình có thể cảm nhận được mình thể nhập vào thể không đại đồng đó. Cảm giác đó là chứng ngộ, cảm nhận được và thấy biết được pháp thân.

Bài kinh Niệm hương có nội dung ngũ phần hương “ … giới hương, định hương, huệ hương…” thành tựu Giới – Định –Huệ cho đến có trí tuệ Bát nhã để thấy được sắc thân không phải là sắc thân thì mới đạt được giải thoát.

3- Đạt được giải thoát là thấy sắc thân không phải là sắc thân và phải thấy được không phải có tánh không để thấy. Giống như hiểu được bản chất thân thể này là vô ngả, nhưng vẩn ý thức có cảm giác về ngả của bản thân.

4- Giải thoát tri kiến có nghĩa là cái thấy, cái biết tánh không.Nghĩa là vẫn sống được với thể nhập mình là tánh không và tánh không đó chính là mình đang sống mà không có tánh không nào để thấy. Giải thoát tri kiến không có nghĩa là thấy một pháp giải thoát. Nếu thấy pháp giải thoát, tánh không bên ngoài mình thì chính nó là một vật, nhưng thực sự mình chính là tánh không đó, mình chính là thể đại đồng của vũ trụ này. Hạnh phúc này là chân thường, chân lạc, chân ngã đó là cảm giác của chân tịnh, tóm tắt lại là “ Thường, Lạc, Ngả, Tịnh”. Hòa thượng Nhất Hạnh khuyên nên bỏ Ngả mà theo

“Thường, Lạc, Tịnh” đó là cảm nhận cảm thọ khi mình được chứng ngộ, giải thoát. Người cảm nhận được chân thường, chân lạc, chân tịnh là chân ngả.

Mặc dù vẫn còn là phàm phu, bản thể là vô ngả nhưng cảm nhận được có ngả. Người ngộ đạo vẫn cảm giác được chân ngả để ngộ được chân pháp.

Như vậy giải thoát tri kiến là “Không tức thị sắc” “Không tứ là sắc” là đưa trở về sắc giúp ta tự tại với sắc, đến giai đoạn này ta có thể tự tại hoặc “ Vị pháp thân”.

Tóm lại các mệnh đề trong kinh Kim Cang:

“Thấy sắc thân không phải là sắc thân” là trình độ giác ngộ của Chư tổ.

“Thấy không phải sắc thân đó lại là sắc thân” là trình độ giác ngộ của Chư Phật

Cả 3 đời chư Phật đều nương vào Bát Nhã Ba La mật mới đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác .

Chư Bồ tát đều nương vào Bát Nhã Ba La mật để “Tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi”.

Câu chuyện Tổ thứ 4 Upakuddha của Thiền tông tu phép tu về sắc tướng: Năm 17 tuổi đã ngộ đạo xin sư phụ truyền giới có nội dung đối đáp; Sư phụ hỏi: “Tánh của ngươi 17 tuổi hay thân của ngươi 17 tuổi” Tổ Upakuddha đáp lại sư phụ “ Đầu sư phụ bạc hay tâm của sư phụ bạc”; Ngụ ý rằng bên trong và hình thức bên ngoài đều có sự thống nhất, thông qua hình thức bên ngoài để thấy nội dung tương đối bên trong. Ma vương khiếp sợ trước thần thông của Tổ , Ma Vương đã hóa thành hình tướng Đức Phật

BHT K6 KINH KIM CANG

mất. Hành động đó thể hiện trình độ ngộ đạo tu chứng của Tổ đã“Thấy sắc thân là sắc thân” của giải thoát tri kiến, thông qua sắc thân để nhìn thấy pháp thân Như Lai.

Tóm lại trên con đường tu tập, đừng nên cho rằng không tu tập mà được ngộ đạo. Khi ta còn khởi niệm, còn bị lôi kéo bởi “Thanh, hương, vị, xúc, pháp” thì không thể kiến tánh mặc dù chân lý là “ Thực tánh vô minh tức Phật tánh, thân không huyễn hóa tức pháp thân”, nhưng còn khởi niệm thì khó có thể kiến tánh. Chỉ có thể kiến tánh, giải thoát tri kiến khi thực hành tinh tấn “Giới- Định- Tuệ”:

+ Thông qua Thiền định (tọa thiền) để hàng phục tâm, thân yên và tâm không chạy theo cảnh (Độ tất cả chúng sinh vào Vô dư y niết bàn), đoạn phiền nảo và bỏ cả niệm thiện.

+ An trụ tâm vào chỗ không thể trụ (Vô trụ)là tánh “Không”

(Đoạn kinh số 20 này, Thượng tọa có trích dẫn câu chuyện của nàng Mạn La Hoa, thân hình đẹp đẽ của cô ấy được Đức Phật ví như “ Thùng phân di động, thùng nước tiểu di động”)

Một phần của tài liệu Kinh kim cang (Trang 44 - 48)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(57 trang)
w