1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các trường đại học công lập Việt Nam trước những đòi hỏi ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội thời cơ và thách thức

11 433 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 7,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiệp, kinh tế trường dân lập, hoặc do cá nhân hay mot nhóm cá nhân trường tư thục xin phép Nhà nước thành lập ; — Các trường đại học công lập được Nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất, c

Trang 1

CAC TRUGNG DAI HOC CONG LAP VIET NAM

TRƯỚC NHỮNG ĐÒI HỎI NGÀY CANG TANG

CUA SU PHAT TRIEN KINH TE — XA HỘI :

THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC

GS ĐÀO TRỌNG THỊ,

PGS NGÔ DOÃN ĐÃI

Đại học Quốc gia Hà Nội

Dẫn đề

Các trường đại học công lập đã và đang đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống các trường đại học Việt Nam Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra thời cơ phát triển cho các trường Tuy nhiên, trước những đòi hỏi ngày càng tăng của sự phát triển

kinh tế - xã hội, các trường đại học công lập cũng đang phải đối mặt với nhiều

thách thức Để vượt qua được những thách thức ấy, các trường đại học công lập

phải khắc phục được những yếu kém, bất cập của mình Nhà nước cũng cần

nghiên cứu và vận dụng kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong phát triển giáo dục đại học, tăng cường đầu tư và đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập, tạo điều kiện cho các trường đại học

công lập đáp ứng tốt các đòi hỏi của sự phát triển kinh tế — xã hội

1 Các trường đại học công lập trong hệ thống các trường đại học Việt Nam

1.1 Phân biệt các trường đại học công lập và ngoài công lập

Hệ thống các trường đại học Việt Nam hiện tại bao gồm các trường đại học công lập và các trường đại học ngoài công lập (bán công, dân lập, tư thục)

- Các trường đại học công lập va bán công do Nhà nước thành lập ; các

trường đại học ngoài công lập còn lại do các tổ chức xã hội, xã hội - nghề

Trang 2

nghiệp, kinh tế (trường dân lập), hoặc do cá nhân hay mot nhóm cá nhân (trường tư thục) xin phép Nhà nước thành lập ;

— Các trường đại học công lập được Nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất, cấp kinh phí cho các nhiệm vu chị thường xuyên ; các trường đại học dân lập và tư thục tự đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước và có nguồn thu chủ yếu từ học phí của sinh viên ;

— Các trường đại học ngoài công lập có quyền tự chủ cao hơn Hội đồng quan trị của trường đại học ngoài công lập được chủ động quyết định các vấn

đề về tổ chức nhân sự, tài chính, huy động vốn, xây dựng cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ, tiêu chuẩn thu chỉ Trường đại học công lập không có Hội đồng quản trị và việc giải quyết các vấn đề nói trên bị phụ thuộc nhiều vào cơ quan chủ

quản Chẳng hạn, về học phí, Chính phủ hiện quy định mức trần thu học phí dối với các trường đại học công lập là 1,8 triệu đồng/năm học/sinh viên, chi bang

khoảng 20% - 25% định mức chi phí đào tạo thường xuyên cho một sinh viên (định mức chi phí này ở hai ĐHQG là 9.360.000 đồng/sinh viên ; còn ở các trường đại học công lập khác vào khoảng 7 - 8,5 triệu đồng/sinh viên) Trong khi đó không có hạn chế cụ thể về mức thu học phí đối với các trường đại học dân lập mà chỉ quy định chung là các trường đại học thuộc các loại hình này được phép thu “đảm bảo toàn bộ chi phí của đơn vị và bảo toàn phát triển nguồn tài chính” (Thông tư Liên tịch của Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh — Xa héi sé 44/2000/TTLT-BTC-BGD& DT - BLDTBXH ngày 23/5/2000) Tuy nhiên, trên thực tế nhiều trường đại học dân lập thu học phí ở mức thấp hơn rất nhiều so với định mức chi phí Nhà nước xác định đối với các trường đại học công lập, tức là còn rất xa với yêu cầu kinh phí cần thiết để đảm bảo chất lượng đào tạo Chẳng hạn, mức học phí ở Trường đại học dân lập Quản lý & Kinh doanh Hà Nội thuộc loại cao nhất cũng chỉ khoảng

4 triệu đồng/năm học Nhân đây cũng xin nói rằng mức chênh lệch về học phí của các trường đại học công lập và tư thục ở các nước khác là rất lớn Chẳng hạn, ở Mỹ học phí ở Trường đại học California, Berkeley, một trong những trường đại học công lập nổi tiếng, vào năm 1999 chỉ là 4.355 đô la Mỹ, trong khi đó học phí ở các trường đại học tư thục rất cao : Trường đại học Harvard trong cùng năm 1999 là 22.802 đô la Mỹ, Trường đại học Yale là 23.700 đô la

Mỹ, Trường đại học Stanford là 21.389 đô la Mỹ (Peterson’s College &

University Almanac, 1999)

1.2 Hệ thống các trường đại học công lập

Hệ thống các trường đại học công lập ở Việt Nam gồm các loại trường sau :

Trang 3

— Đại học Quốc gia (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành

phố Hồ Chí Minh) chịu sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, có

nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực cho cả nước

— Đại học vùng (Thái Nguyên, Huế, Đà Năng) trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, có nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh

vực cho một vùng kinh tế - xã hội trọng điểm

~ Học viện, trường đại học trực thuộc bộ, ngành, tổng công ty 91 có nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao thuộc một ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội

— Trường đại học đa ngành trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực đa ngành, đa hệ cho địa phương

Các Đại học quốc gia được trao quyền tự chủ cao về đào tạo, khoa học -

công nghệ, kế hoạch - tài chính, tổ chức cán bộ, quan hệ quốc tế như quy định trong Quy chế về tổ chức và hoạt động của Đại học Quốc gia do Thủ tướng ban hành Mức độ tự chủ của các trường đại học công lập khác nói chung còn hạn chế và phụ thuộc cụ thể vào sự phân cấp trách nhiệm của Bộ Giáo dục

và Đào tạo và các cơ quan chủ quản

2 Các trường đại học công lập Việt Nam trước những cơ hội lớn của sự

phát triển

2.1 Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi, đồng thời

cũng tạo ra thời cơ cho các trường đại học Việt Nam nói chung và các trường đại học công lập nói riêng phát triển mạnh mẽ về quy mô, chất lượng và hiệu quả Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục liên tục tăng (6 12,8% năm 1997 lên 16,2% năm 2003, 17,1% năm 2004 và dự kiến đạt ít nhất 20% vào năm 2010) Trong những năm qua, Nhà nước đã ưu tiên đầu tư tăng cường cơ sở vật chất cho các trường đại học công lập : Dự án xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội ở Hoà Lạc trên diện tích

1.000 ha với tổng mức đầu tư khoảng 7.300 tỷ đồng ; Dự án xây dựng Đại học

Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ở Thủ Đức trên diện tích khoảng 600 ha với

tổng mức đầu tư khoảng 6.800 tỷ đồng Các trường đại học trọng điểm và nhiều

trường đại học công lập khác cũng được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để nâng cấp

Trang 4

cơ sở vật chất - kỹ thuật Dự án giáo dục dai hoc nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập bằng nguồn vốn vay (khoảng 100

triệu USD) của Ngân hàng Thế giới đã bước vào giai đoạn cuối ; một loạt thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng sản xuất thử hiện đại được xây dựng ở các

trường đại học công lập nhằm phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học

và chuyển giao công nghệ

Về chế độ, chính sách, lương và phụ cấp của giáo viên đã được điều chỉnh

lên mức cao nhất trong khu vực hành chính, sự nghiệp, cải thiện đáng kể thu nhập, giúp họ phấn khởi, yên tâm phục vụ sự nghiệp giáo dục Nhà nước cũng

ban hành chế độ học bổng xã hội, học bổng khuyến khích mới đối với sinh viên

các trường đại học công lập, đồng thời thực hiện tín dụng sinh viên và đặc biệt

là chính sách miễn học phí đối với sinh viên các trường sư phạm

Về cơ chế quản lý, Luật Giáo dục và Điều lệ trường đại học đã tăng cường đáng kể quyền chủ động theo hướng phân cấp quản lý mạnh mẽ hơn cho các trường đại học Đặc biệt, mới đây các trường đại học công lập đã thực hiện

tự chủ tài chính theo Nghị định của Chính phủ về quản lý tài chính ở các đơn vị

sự nghiệp có thu

Cùng với đầu tư từ ngân sách nhà nước, giáo dục đại học đang thực hiện mạnh mẽ xã hội hoá nhằm huy động sự đóng góp của đông đảo nhân dân và

các tổ chức kinh tế - xã hội Đặc biệt, phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư

trọng đạo của dân tộc, các bậc phụ huynh đã dành một phần đáng kể thu nhập khiêm tốn của gia đình để đóng góp học phí và trang trải các khoản chi phí học tập khác của con em

2.2 Xã hội loài người đang bước vào thời kỳ toàn cầu hoá với việc xây dựng và phát triển xã hội thông tin và kinh tế tri thức Giáo dục đại học quốc tế cũng đang thay đổi sâu sắc Quá trình hội nhập được đẩy mạnh, giao lưu quốc

tế được mở rộng, hệ thống phương tiện thông tin đại chúng, Internet phát triển

là cơ hội tốt để các trường đại học Việt Nam tiếp cận với những xu thế mới, ý

tưởng và cách tư duy mới, tiếp thu kinh nghiệm tốt của giáo dục đại học quốc

tế và vận dụng vào thực tiễn nước ta

2.3 Các trường đại học công lập đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống giáo dục đại học nước ta Vai trò này trước hết thể hiện ở quy mô đào tạo Tổng số sinh viên đang học tại các trường đại học công lập năm 2003 là 908.081 người

Trang 5

khi đó các trường đại học ngoài công lập hiện dang dao tao 96.992 sinh viên,

chiếm 9,65%),

Tỷ lệ sinh viên theo học cao và mức thu học phí thấp so với chi phí đào tạo

ở các trường đại học công lập cho thấy tỷ trọng đầu tư của Nhà nước trong đầu

tư chung của xã hội cho giáo dục đại học cao ngang bằng mức ở nhiều nước phát triển Chẳng hạn, ở Mỹ số sinh viên đại học theo học ở các trường đại học công lập cũng nhiều hơn số sinh viên học tại các trường đại học tư thục với tỷ

lệ so sánh khoảng 78% và 2212),

Vai trò chủ đạo của các trường đại học công lập còn thể hiện ở trình độ đào

tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo Về trình độ đào tạo, cho đến nay chưa trường đại học ngoài công lập nào đào tạo trình độ sau đại học ; 100% học viên cao học và nghiên cứu sinh (15.597 người, số liệu năm 2000) được đào tạo ở các trường đại học công lập Về cơ cấu ngành nghề đào tạo, các trường đại học

ngoài công lập chủ yếu đào tạo một số ngành nghề đòi hỏi đầu tư ít mà lại thu

hút nhiều người học như tin học, ngoại ngữ, quản trị kinh doanh, du lịch, tài chính - tín dụng, luật, kinh tế, kỹ thuật điện - điện tử v.v Trong khi đó, hệ thống các trường đại học công lập được Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo nguồn

nhân lực đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng về ngành nghề của kinh tế - xã hội

đất nước : khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, sư phạm, kỹ thuật, công nghệ, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản, giao thông vận tải, kiến trúc, xây dựng, mỏ - địa chất, kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, ngoại thương, ngoại giao, hành chính, luật, mỹ thuật, thư viện, âm nhạc, điện

ảnh, sân khấu, bưu chính - viễn thông v.v Nhiều ngành nghề hiện tại tuy

không hấp dẫn thanh niên như các ngành khoa học cơ bản, địa chất, thổ nhưỡng, nông nghiệp, lâm nghiệp, văn thư - lưu trữ v.v nhưng vẫn đang được đào tạo trong các trường đại học công lập vì đây là nhu cầu của đất nước

Đặc biệt, vai trò chủ đạo của các trường đại học công lập được thể hiện ở chất lượng đào tạo : các trường đại học công lập có chất lượng cao hơn ở các trường đại học ngoài công lập Đây là điểm khác thường so với hệ thống giáo dục đại học ở nhiều nước khác, đặc biệt là các nước phát triển, nơi không có sự phân biệt đáng kể về chất lượng đào tạo giữa trường đại học công lập và trường

(1) Số liệu tập hợp từ cuốn “Giáo dục đại học Việt Nam”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004

(2) Douglas K Stevenson : Cuộc sống và các thể chế ở Mỹ NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2000, tr.95

Trang 6

đại học tư thục ; thậm chí có nhiều trường đại học tư thục danh tiếng hàng đầu như các đại học Harvard, Stanford, Yale ở Mỹ ; Keio, Waseda ở Nhật Bản Chất lượng đào tạo của các trường đại học công lập cao hơn ở các trường đại học ngoài công lập vì các lý do chủ yếu sau đây :

- Thứ nhất, đầu vào (tuyển sinh) của các trường đại học công lập có chất lượng tốt hơn các trường đại học ngoài công lập Trong điều kiện nhu cầu học đại học của thanh niên lớn hơn nhiều so với khả năng tiếp nhận của các trường

đại học, kỳ thi tuyển sinh đại học hàng năm có tính chất quốc gia, được tổ chức

chung trên quy mô toàn quốc và có tính tuyển chọn rất cao (tỷ lệ chọn trung bình khoảng I0 :1) Những học sinh khá giỏi thường đăng ký dự thi vào các

trường đại học công lập ; điểm chuẩn vào các trường đại học công lập thường

cao hơn hẳn điểm chuẩn vào các trường đại học ngoài công lập Ví dụ, trong kỳ

thi tuyển sinh đại học năm 2003, trong khi các trường đại học công lập có điểm

chuẩn ở mức từ 15 trở lên thì phần lớn các trường đại học ngoài công lập phải

tuyển những thí sinh đạt điểm dưới 15 Để đảm bảo đủ quy mô đào tạo thậm chí có những trường đại học ngoài công lập phải chấp nhận điểm chuẩn tuyển

sinh rất thấp

— Thứ hai, cơ sở vật chất - kỹ thuật của các trường đại học công lập tốt hơn các trường đại học ngoài công lập Các trường đại học công lập được Nhà nước quy hoạch địa điểm khá thuận lợi, rộng rãi và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất với hội trường, lớp học, phòng thí nghiệm, ký túc xá, sân vận động, nhà luyện tập thể thao, nhìn chung tương đối khang trang Trong khi đó, các trường đại học ngoài công lập thường phải thuê các địa điểm nhỏ hẹp, phân tán, không phù hợp với môi trường giáo dục, với các phòng học, phòng thí nghiệm, thiết bị học tập thiếu thốn làm cơ sở đào tạo Rất ít trường đại học ngoài công lập quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, một phần do ít vốn, phần do chưa được Nhà nước, xã hội quan tâm hỗ trợ

— Thứ ba, các trường đại học công lập có đội ngũ cán bộ giảng dạy mạnh hơn các trường đại học ngoài công lập cả về trình độ, chất lượng lẫn số lượng

Vì không đủ giảng viên cơ hữu đảm bảo thực hiện chương trình đào tạo nên các trường đại học ngoài công lập thường phải mời giảng viên thỉnh giảng từ các trường đại học công lập và các cơ quan khác, nhiều khi phải mời cả những người ở xa trường hoặc không đảm bảo tiêu chuẩn giảng dạy, dẫn đến thiếu ổn định và bất hợp lý trong bố trí kế hoạch giảng dạy, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Số cán bộ giảng dạy có chức danh giáo sư, phó giáo sư và học vị tiến

sỹ, tiến sỹ khoa học tập trung chủ yếu ở các trường đại học công lập lớn như

Trang 7

hai Đại hoc Quốc gia và các trường đại học trọng điểm Ví dụ, ở Đại học Quốc

gia Hà Nội, Trường đại học Khoa học Tự nhiên có 155/430 giảng viên có chức

danh giáo sư, phó giáo sư (36%), 102/430 giảng viên có học vị thạc sỹ (23,72%), 252/430 giảng viên có học vị tiến sỹ, tiến sỹ khoa học (58,60%) ; Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có 34/368 giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư (9,23%), 99/368 giảng viên có học vị thạc sỹ

(26,90%), 117/368 giảng viên có học vị tiến sỹ, tiến sỹ khoa học (31,79%)

Trong khi đó, ở trường đại học ngoài công lập thành lập sớm nhất (vào năm 1988) là Trường đại học Thăng Long chỉ có 3/103 giảng viên là giáo sư, phó giáo sư (2,9%), 16/103 giảng viên có học vị thạc sỹ (15,53%) và 5/103 giảng

viên có học vị tiến sỹ (4,85%),

— Thứ tư, hoạt động nghiên cứu khoa học-công nghệ, trước hết là thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, bộ, ngành, cũng là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập Hoạt động nghiên cứu khoa học-công nghệ hầu như còn chưa được triển

khai ở các trường đại học ngoài công lập

2.4 Phần lớn các trường đại học công lập có bề dày truyền thống, có nhiều

cựu sinh viên đang giữ những trọng trách trong bộ máy nhà nước cũng như những cương vị chủ chốt trong các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội Đây là một

ưu thế của các trường đại học công lập trong việc tìm kiếm sự ủng hộ, giúp đỡ cho sự nghiệp phát triển đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường Tuy nhiên, ưu thế này ở Việt Nam còn ít được quan tâm khai thác, phát huy tác

dụng như vẫn thấy ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển

3 Những thách thức đối với các trường đại học công lập trong thời kỳ

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Mặc dù đang nắm bắt vận hội phát triển và khẳng định vững chắc vai trò

chủ đạo trong sự nghiệp phát triển giáo dục đại học nước nhà, các trường đại học công lập cũng đang đứng trước những thách thức lớn :

- Trước hết là mâu thuẫn gay gắt giữa quy mô đào tạo va chất lượng dao tạo trong hoàn cảnh đầu tư của Nhà nước, của xã hội cho giáo dục đại học và

năng lực đội ngũ cán bộ giảng dạy, quản lý tuy được từng bước tăng cường nhưng còn rất chậm và thấp so với yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo Cơ sở

vật chất của các trường đại học công lập tuy khá hơn các trường đại học ngoài

(1) Theo số liệu trong cuốn “Giáo duc dai học Việt Nam” ÑNXB Giáo dục, Hà Nội, 2004

Trang 8

công lập nhưng nói chung vẫn còn rất yếu kém và lạc hậu Tỷ lệ đầu tu cho giáo dục mới đạt 3% GDP, trong khi tỷ lệ này ở Philíppin là 4,2%, ở Thái Lan

là 5,4% và ở Malaixia là 6,7% ; tỷ lệ này ở Mỹ vào năm 1995 đã là 5,3%, ở Anh là 5,5%, ở Canađa là 7,3%), Nếu tính đến các yếu tố GDP thấp và dân số

cao thì con số tuyệt đối đầu tư cho giáo dục ở nước ta còn rất thấp, chi phí đào

tạo trung bình cho một sinh viên thấp hơn từ 5 đến 100 lần so với các nước trong khu vực và trên thế giới

So với chuẩn mực của các trường đại học trong khu vực và trên thế giới, cũng như so với yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho đất

nước, thì đội ngũ cán bộ giảng dạy của các trường đại học công lập còn có

khoảng cách khá lớn về số lượng, chất lượng và cơ cấu, trình độ chuyên môn Tổng số cán bộ giảng dạy đại học trong cả nước năm 2003 là 32.205 người, trong đó chỉ có 41,6% có trình độ thạc sỹ ; 17,8 % có học vị tiến sỹ ; 5,1 % có

chức danh giáo sư, phó giáo sư Trung bình, tỷ lệ số sinh viên/ cán bộ giảng dạy là 27 Cá biệt, tỷ lệ này ở một số trường đại học công lập có thể lên đến

trên dưới 100 Phần lớn cán bộ giảng dạy có trình độ cao đã từng được đào tạo

ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ không có điều kiện nâng cao trình

độ và cập nhật kiến thức Trong một thời gian dài, các trường đại học công lập

không có điều kiện gửi cán bộ trẻ đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn ở nước

ngoài, dẫn đến nguy cơ tụt hãng đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, đặc biệt là những cán bộ khoa học đầu ngành

Phần lớn cán bộ giảng dạy bị hạn chế về năng lực nghiên cứu khoa học,

khả năng sử dụng công nghệ thông tin và các thiết bị hiện đại, về trình độ ngoại ngữ và cơ hội giao lưu, hội nhập quốc tế Sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc

tế đòi hỏi các trường đại học tổ chức, sắp xếp lại và mở rộng cơ cấu ngành nghề đào tạo, trong khi các trường còn ít chuyên gia được đào tạo về các ngành khoa học mới và các khoa học liên ngành

Trong khi đó, quy mô đào tạo đại học tăng nhanh, đặc biệt trong vài năm

gần đây : Năm 1991 cả nước có khoảng 120.000 sinh viên, vào năm 2003 con

số ấy đã là 1.020.670 Nếu phấn đấu đạt chỉ tiêu số sinh viên đại học trong

(1) Kỷ yếu Hội thảo “Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo”, Hà Nội - 12/2003, tr.85

(2) Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010 ; Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 9

10.000 dân là 200 và tăng quy mô đào tạo sau dai học lên 38.000 học viên cao học, 15.000 nghiên cứu sinh vào năm 2010 thì mâu thuẫn giữa quy mô đào tạo

và chất lượng đào tạo sẽ còn gay gắt hơn rất nhiều

— Sự lạc hậu về phương pháp dạy - học với cách truyền thụ kiến thức theo

kiểu độc thoại và phương pháp đánh giá nặng về kiểm tra trí nhớ và khối lượng

kiến thức tiếp thu được Việc đổi mới phương pháp day — học đang là vấn đề

thời sự cấp bách đối với các trường đại học công lập, hiện còn đang lúng túng trong việc tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu

- Mức độ "xã hội hoá giáo dục" ở nước ta còn thấp, hoạt động của các

trường đại học công lập chủ yếu trông chờ một cách thụ động vào nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách Nhà nước Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các trường đại học công lập rất lúng túng và thiếu kinh nghiệm cũng như năng lực quản lý để thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường, trong đó các trường đại học công lập hay ngoài công lập đều phải chủ động cạnh tranh, tìm kiếm kinh phí thông qua hoạt động và mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng xã hội, doanh nghiệp và chính quyền các cấp

- Cơ chế quản lý hiện hành mang nặng tính chất tập trung và cứng nhắc của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan chủ quản hạn chế rất nhiều quyền

tự chủ và tính chủ động của các trường đại học công lập, nhất là trong các hoạt động sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước

4 Các giải pháp phát huy vai trò của các trường đại học công lập trong nên giáo dục Việt Nam

Để vượt qua được những thách thức đang phải đối mặt, đáp ứng được các đòi hỏi ngày càng tăng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

và thực hiện được vai trò chủ đạo trong hệ thống giáo dục đại học nước nhà,

các trường đại học công lập phải phấn đấu thực hiện :

- Quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy theo hướng chuẩn hoá

về quy mô và cơ cấu, trình độ chuyên môn, đặc biệt là đội ngũ cán bộ khoa học đầu đàn ; tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp xuất sắc để tiếp tục đào tạo thạc sỹ,

tiến sỹ, thực tập sau đại học, sau tiến sỹ ở trong nước hoặc ở nước ngoài ; bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ, sử dụng công nghệ thông tin, ứng dụng phương pháp và công nghệ dạy học hiện đại cho cán bộ giảng dạy

Trang 10

- Đổi mới và hoàn thiện chương trình, giáo trình (mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy - học), cập nhật với sự phát triển của khoa học - công nghệ

và sự đổi mới của kinh tế — xã hội

- Đổi mới phương pháp dạy-học theo hướng tăng cường tính tích cực, giảm giờ học trên lớp, tăng giờ tự học của sinh viên Từng bước mở rộng áp dụng

phương thức tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ để phát huy tính chủ động của

sinh viên, tạo điều kiện linh hoạt cho họ trong việc xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với hoàn cảnh, năng lực và sở thích của mỗi người

- Kết hợp đào tạo, đặc biệt là đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ với nghiên cứu khoa học

— Hai Đại học quốc gia và các trường đại học trọng điểm ưu tiên phát triển các chương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao, các chương trình liên kết đào tạo quốc tế nhằm cung cấp nguồn nhân lực trình độ đại học, sau đại học chất

lượng cao cho đất nước Trên cơ sở đào tạo thí điểm thành công ở Đại học

Quốc gia Hà Nội, bắt đầu từ năm 2001, hai Đại học quốc gia đã được giao chỉ tiêu và kinh phí thường xuyên đào tạo tài năng, chất lượng cao (quy mô đào tạo tài năng, chất lượng cao ở Đại học Quốc gia Hà Nội chiếm 7% tổng quy mô đào tạo chính quy) :

+ Chương trình đào tạo chất lượng cao về cơ bản dựa theo chương trình đào tạo chuẩn, nhưng được cải tiến, nâng cao để áp dụng các phương pháp dạy và học tiên tiến nhằm đạt được hiệu quả tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng cao hơn Chương trình này dành cho những sinh viên khá giỏi hệ chính quy của một số ngành khoa học cơ bản, công nghệ cao, kinh tế, xã hội mũi nhọn để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Loại chương trình này đặt mục tiêu đạt chất lượng với chuẩn các nước trong khu vực

+ Chương trình đào tạo tài năng dành cho những sinh viên hệ chính quy đặc biệt xuất sắc, có năng khiếu về một ngành khoa học cơ bản để tạo nguồn nhân tài cho đất nước với yêu cầu trình độ cao hơn và nội dung rộng hơn, sâu hơn so với chương trình đào tạo chuẩn Loại chương trình này đặt mục tiêu đạt

chất lượng với chuẩn mực quốc tế

— Các trường đại học công lập khác phát triển quy mô đào tạo phù hợp với

năng lực cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ giảng dạy của trường để đảm bảo

chất lượng đào tạo

— Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học, tích cực

Ngày đăng: 11/03/2015, 08:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w