1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢN CHẤT và mục TIÊU NIẾT bàn

16 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản Chất Và Mục Tiêu Niết Bàn
Tác giả Nguyễn Thị Thu Nga
Người hướng dẫn TT.TS. Thích Nhật Từ
Trường học Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học Phật Giáo
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 154,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Niết bàn trong Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa...4 Chương 2:BẢN CHẤT VÀ MỤC TIÊU NIẾT BÀN 2.1... Đích của giải thoát trong Phật giáo không phải là lên Thiên đường, tr

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



MÔN DẪN NHẬP TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

Đề tài:

BẢN CHẤT VÀ MỤC TIÊU NIẾT BÀN

Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Nhật Từ Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Nga

Pháp danh: TN.Chánh Y

Mã sinh viên: TX 6258 Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

TP Hồ Chí Minh, năm 2021

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trang 2

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



MÔN DẪN NHẬP TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

Đề tài:

BẢN CHẤT VÀ MỤC TIÊU NIẾT BÀN

Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Nhật Từ Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Nga Pháp danh: TN.Chánh Y

Mã sinh viên: TX 6258

Lớp: ĐTTX Khóa VI

Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

TP Hồ Chí Minh, năm 2021

MỤC LỤC

Trang 3

A.MỞ ĐẦU 1

B.NỘI DUNG 2

Chương 1:KHÁI QUÁT VỀ NIẾT BÀN 1.1 Niết bàn là gì? 2

1.2 Khái niệm Niết bàn trong Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa 4

Chương 2:BẢN CHẤT VÀ MỤC TIÊU NIẾT BÀN 2.1 Bản chất Niết bàn 6

2.2.Mục tiêu Niết bàn 7

C.KẾT LUẬN 12

D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 4

A.MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài:

Có những con người đi qua cuộc đời như một cuộc phiêu lưu đày ải, nhưng cũng có người xem đó là một chuyến rong chơi huyễn hoặc Tất cả cũng chỉ có một nhưng có muôn vàn tướng trạng và cảm thọ khác nhau Sống và chết, khổ đau hay hạnh phúc vẫn luôn là niềm thao thức muôn thuở của kiếp người Chính những niềm thao thức đó

mà con người suốt một đời rong ruổi đi tìm cái ý nghĩa không cùng tận của kiếp nhân sinh Ta đã từng thấy đâu đó trong kinh điển bóng dáng Kiều Trần Như tôn giả một thưở xa xưa nào lang thang trong cuộc lữ, tìm lại bóng dáng ngày xưa mà tự hỏi “bản lai diện mục, đâu? ở đâu? Cho đến khi được gặp lại Sa môn Gotama, người đã đạt được giác ngộ tối thượng sau một quá trình tìm đạo gian khổ khai thị Ngài mới bừng ngộ như được trở về nhà sau nữa đời luân lạc.Đức Phật Gotama ngài đã dạy những điều rất thực tế từ nơi chính con người của mỗi chúng ta và ngay trong đời sống này Thi sĩ Bùi Giáng có viết : “Đức Phật đã đem những não nùng sanh lão bệnh tử ra nói lên cho kiếp phù du thể hội cái nghĩa não nùng, là phát nguyện bi tâm dìu tồn sinh về

bỉ ngạn Cái chết được thể nghiệm sâu xa sẽ trở thành cái khả năng vô thượng của con người…”Có thể nói rằng trong suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp, Đức Phật tựu trung cũng chỉ nói đến một vấn đề duy nhất đó là sự thật của khổ và con đường chấm dứt khổ đau Ngài đã chỉ ra một trạng thái an tịnh, trạng thái này là cảnh giới giác ngộ siêu việt sinh tử, là mục đích thực tiễn rốt ráo của Phật giáo, đó là Niết Bàn Hành giả nếu tu tập theo những phương pháp mà Đức Phật đã dạy sẽ chứng đạt Niết Bàn tối thượng Niết Bàn là danh từ trừu tượng, khó cho người thông hiểu được dễ dàng, mà cũng khó cho vị Pháp sư hay vị Trí thức nào có thể giảng giải được rõ rệt Mặc dầu vị Ðại trí tuệ thuở xưa nổi danh là vị thông hiểu Tam-tạng nhứt là Ðại-đức Na-tiên Tỳ-kheo, cũng vẫn công nhận là khó diễn tả được Vì Niết Bàn là nơi Tuyệt đối mà vạn vật trên thế gian này đều là vật tương đối nên không thể đem lại để so sánh thí dụ cho

dễ hiểu được Cũng như người nằm mộng, không thể chỉ giấc mộng của mình cho ai thấy được, hay là người đang nằm gần, ngồi gần mình, đang canh chừng mình cũng không thấy người đang nằm mộng thấy những gì Vì vậy nên Ðức Thế Tôn gọi là tự đắc và tự mình thấy mà thôi Vì vậy nên trong Thiền tông hay gọi trạng thái này là

“ẩm thủy tự tri”.Phật giáo từ thời Đức Phật còn tại thế cho đến ngày nay cùng với sự thăng trầm của lịch sử và các quốc độ mà nó du nhập đã có sự thay đổi ít nhiều nhằm thích nghi, tồn tại và phát triển Về mặt hình thức tuy có khác nhưng bản chất thì giống nhau, Niết Bàn trong Theravada và Mahayana cũng như vậy.Đó là lý do Học viên chọn đề tài:Bản chất và mục tiêu Niết bàn làm đề tài nghiên cứu

2.Phương pháp nghiên cứu:

Học viên dùng phương pháp: nghiên cứu của Tôn giáo học, triết học như: phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử, khái quát hóa, trừu tượng hóa

3.Nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Vì kiến thức hạn chế,học viên chỉ đi xâu nghiên cứu :phân tích niết bàn theo quan điểm của Phật giáo Theravàda

4.Bố cục tiểu luận:

Gồm 4 phần :

Mở đầu&Nội dung.Nội dung gồm 02 chương có 04 mục

Phần kết luận & Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

A NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NIẾT BÀN

1.1 Niết bàn là gì?

Niết bàn, theo tiếng Sanscrit là Nirvana, tiếng Pali là Nibhana Học giả Đoàn Trung Còn giải thích: Niết bàn là “cảnh trí của nhà tu hành dứt sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái”, và theo lối triết tự thì: “Niết (Nir): ra khỏi, Bàn hay Bànna (Vana): rừng, tức là ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não”(1) Pháp sư Huyền Trang triết tự Niết bàn - Nirvana như sau: 1, Nir: ra khỏi, ly khai; vana: con đường vòng vèo, quanh quẩn, đổi thay Nirvana là ly khai con đường quanh quẩn, chuyển dịch (bứt vòng sinh tử luân hồi); 2, Nir: không; vana: hôi tanh, dơ bẩn, Nirvana là không hôi tanh, dơ bẩn (thanh tịnh, trong sạch); 3, Nir: xa lìa, đào thải; vana: rừng rậm, Nirvana là xa lìa rừng rậm (đào thải những phiền tạp của đời sống) Mặc dù các cách hiểu này không đồng nhất song đều có chung một nghĩa căn bản: Niết bàn là sự đoạn trừ dục vọng, dứt nghiệp báo luân hồi, thanh tịnh tuyệt đối Đó là

sự ngưng đọng vĩnh cửu của không - thời gian trong cõi tâm linh sâu thẳm của con người Như vậy, Niết bàn trong Phật giáo không phải là một cõi cực lạc có vị trí không

- thời gian như thiên đường của Thiên Chúa giáo, mà là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động, diệt ái dục, xoá bỏ vô minh, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não

Khi nói tới vấn đề con người, phần lớn các tôn giáo đều thừa nhận con người có hai phần: phần xác và phần hồn; phần xác thì tồn tại tạm thời còn phần hồn thì vĩnh cửu nên sau khi thân xác bị huỷ hoại, linh hồn phải ở nơi nào đó để đầu thai vào một thân xác mới, tiếp tục cuộc sống mới Duy nhất có một tôn giáo - triết học Phật giáo không thừa nhận có linh hồn bất tử, bởi thế cũng không cần có một không gian địa lý cho linh hồn cư ngụ Đích của giải thoát trong Phật giáo không phải là lên Thiên đường, trở về với Chúa mà là sự tận diệt cái cá thể đầy những ham muốn dục vọng với sự u tối của kiếp người để đạt tới Niết bàn.Thực ra, khái niệm Niết bàn không phải là sản phẩm riêng của Phật giáo Kinh Upanishad trong Ấn Độ cổ đại đã sử dụng khái niệm này để chỉ trạng thái hoà nhập của linh hồn cá nhân (Atman) vào với linh hồn vũ trụ (Brahman), của tiểu ngã vào với đại ngã Ở đây, Niết bàn được đồng nhất với linh hồn

vũ trụ Brahman Tới Phật giáo, khái niệm Niết bàn mang một nội dung mới mẻ và độc đáo hơn so với khái niệm Niết bàn trong Upanishad Kinh Phật nói như thế nào về Niết bàn? Đã nhiều lần học trò của Phật hỏi ông về khái niệm này Ông thường tránh không trả lời hoặc đáp rằng: “Cái gì ta chưa bộc lộ sẽ không bao giờ được bộc lộ” Có

gì bí mật trong khái niệm trừu tượng, siêu nghiệm này? Không thể nói về Niết bàn bằng ngôn từ được Ngôn từ sẽ trơn trượt, bất khả thuyết về cái bản thể tuyệt đối ấy Trong Ngũ bộ kinh, có tới 32 từ có nghĩa tương đương với Niết bàn như: “đáo bỉ ngạn” (bờ bên kia), “đích cao cả”, “hoàn thành”, “chân lý”, “đăng minh”, “an lạc”,

“giải thoát” Đặc biệt, trong Kinh Niết bàn, khái niệm này đã được đề cập bằng ngôn ngữ phủ định: “vô sinh”, “khổ diệt”, “vô minh diệt”, “ái diệt”, “vô uý”, “vô tác”, “vô ám”, “vô ngại”, “vô xuất” Trong lôgíc học và ngôn ngữ học, cách định nghĩa thông thường là quy một khái niệm nhỏ vào một khái niệm lớn hơn rồi chỉ ra những đặc

Trang 6

điểm riêng biệt của nó (Định nghĩa qua giống gần gũi và khác biệt về loài) Chẳng hạn, muốn định nghĩa về “tam giác đều”, trước hết phải quy về khái niệm “tam giác”, rồi sau đó chỉ ra đặc điểm riêng của tam giác đều để phân biệt với các loại tam giác khác (có ba cạnh hoặc ba góc bằng nhau) Tuy nhiên, với những khái niệm rộng, không còn khái niệm nào rộng hơn nữa (phạm trù) thì có một cách định nghĩa độc đáo

là đặt khái niệm đó trong quan hệ với khái niệm đối lập Trong triết học, có những phạm trù đã được định nghĩa theo cách này (phạm trù vật chất, ) Trong giáo lý nguyên thuỷ, Phật đã sử dụng cách định nghĩa độc đáo này, đó là đem đối lập Niết bàn với thế giới thực tại Nếu thế giới thực tại là khổ thì Niết bàn là “khổ diệt”, nếu thế giới thực tại là “bờ bên này (bỉ ngạn) thì Niết bàn là “bờ bên kia” (đáo bỉ ngạn), thế giới thực tại là mê lầm, không sáng suốt (“vô minh”) thì Niết bàn là sáng suốt (“vô minh diệt”) Có thể tìm thấy rất nhiều đoạn trong kinh Phật mô tả về Niết bàn: “Sự tiêu tan của dục vọng là Niết bàn(2), “Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi xấu xa, sự diệt dục vọng, sự giải thoát, chấm dứt, Niết bàn”(3), “Diệt hẳn, mát

mẻ, dứt bặt, gọi là đã lìa tất cả các thủ, ái tận, vô dục, tịch tĩnh, Niết bàn”(3), “Đấy là

sự chấm dứt rốt ráo của chính dục vọng, vứt bỏ nó, thoát khỏi nó, dứt khỏi nó”(4) Phật ví sự tiếp nối giữa các đời trong vòng luân hồi như sự cháy tiếp nối của các cây nến Cây nến này tàn, cây nến khác lại được thắp lên Sức nóng hay năng lượng của cây nến cũ đã truyền sang cây nến mới Giống như vậy, năng lượng của nghiệp truyền qua các đời Con người chỉ được giải thoát khi nào tắt dòng năng lượng, chấm dứt nghiệp báo luân hồi Có người hỏi Phật: Sau khi chết, người giác ngộ sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần Phật hỏi: “Lửa đi về đâu?”, “Không!

Nó chỉ tắt” Phật nói rằng, đó chính là điều xảy ra cho người giác ngộ Dục vọng là nhiên liệu cho ngọn lửa cháy, truyền năng lượng qua các kiếp luân hồi triền miên Nếu không nuôi dưỡng ngọn lửa đó nữa, nghĩa là không còn dục vọng, nó sẽ lụi tàn Khi

đó, Niết bàn được hiểu như sự thanh lương, mát mẻ Đôi khi, Phật nói tới Niết bàn như là cái không sinh, không tăng trưởng và không giới hạn Trong Kinh Trung bộ, Niết bàn được đồng nhất với chân lý tuyệt đối, vượt khỏi những ý niệm nhị nguyên, tương đối

Về thực chất, Niết bàn trong Phật giáo là một khái niệm phi thời gian, phi không gian, vô định về mọi mặt, không có điểm khởi đầu và cũng không có hồi kết thúc Vậy, có thể tìm thấy Niết bàn ở đâu khi Niết bàn không ở trong một không - thời gian

cụ thể? Phật trả lời rằng, có thể tìm thấy Niết bàn không phải ở nơi tận cùng của thế giới mà ở ngay trong tấm thân một thước mấy của con người Theo Phật, chính tư duy sai lầm đã ngăn cách không cho con người thấy được Niết bàn trong thực tại Bởi thế,

để đạt được Niết bàn, trước hết, con người phải khắc phục những sai lầm trong nhận thức của mình, thoát khỏi vô minh, giác ngộ được lẽ “vô thường” và “vô ngã” Niết bàn là “vô ngã”: “Niết bàn là cái gì tuyệt đối không dung ngã Niết bàn không có hạn lượng, không có nơi chốn, vì Niết bàn là vô tướng - vô tướng nên khó vào Muốn vào Niết bàn ta cũng phải vô tướng như Niết bàn Cửa Niết bàn rất hẹp, chỉ bằng tơ tóc, nên ta không thể mang theo hành lý mà hy vọng vào được Niết bàn Cái thân đã không mang theo được, mà cả ý niệm về tôi, về ta cũng không thể mang theo được Cái ta càng to thì càng xa Niết bàn Nên biết rằng: hễ hữu ngã là luân hồi mà vô ngã là Niết bàn”(5)

Trang 7

Thoát khỏi cái bản ngã là đạt tới Niết bàn, nếu con người còn chấp ngã thì sẽ không thoát khỏi những khổ đau nhân thế Niết bàn là bản thể tuyệt đối với đặc tính thường -lạc - ngã - tịnh, trái ngược với vô thường - khổ - vô ngã - bất tịnh của thế giới thực tại Walpola Rahula đã phân tích khá sâu sắc trạng thái này: “Người đã chứng ngộ chân lý, Niết bàn là người hạnh phúc nhất trần gian Người ấy đã thoát khỏi mọi mặc cảm và

ám ảnh, mọi phiền não và lo âu làm cho những người khác bị điêu đứng Sức khoẻ và tinh thần của người ấy thật hoàn toàn Họ không hối tiếc quá khứ cũng không mơ mộng về tương lai Họ sống hoàn toàn trong hiện tại Bởi thế họ thưởng thức và vui hưởng sự vật một cách thuần tuý, không dự phóng Họ vui vẻ, hoan hỷ thưởng thức sự sống thuần khiết, sáu giác quan khinh an, không lo lắng, bình thản và thanh thoát Vì

họ giải thoát khỏi dục vọng ích kỷ, thù hận, vô minh, kiêu căng ngã mạn và trên cả những thứ bất tịnh xấu xa ấy Họ trong sạch, từ hoà, đầy lòng thương bao quát, từ bi,

tử tế, thiện cảm và khoan dung Họ phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì không còn nghĩ gì về mình Họ không kiếm chác, tích chứa gì ngay cả những gì thuộc địa hạt tâm linh, bởi họ thoát ra khỏi cái tôi và lòng khao khát trở thành ”(6)

Sau thời Phật giáo nguyên thuỷ (tính từ khi Phật tại thế tới 100 năm sau khi ông mất), Phật giáo dần dần chia thành hai nhánh: Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa Hai nhánh này có quan niệm không giống nhau về Niết bàn Xuất phát từ lập trường thực tại luận, Tiểu thừa cho rằng, thế giới này tồn tại thực sự, con người cũng tồn tại thực sự nên những khổ đau của con người cũng là có thật chứ không phải chỉ là những

gì thuộc về cảm giác Từ đó, họ đi tới kết luận, chỉ có thể giải thoát khỏi khổ đau bằng con đường lánh đời, thoát tục, xuất gia tu hành, lấy “diệt tận là cứu cánh” với phương châm diệt (diệt mọi phiền não), tận (chấm dứt mọi nghiệp sinh tử), ly (giải thoát khỏi nỗi khổ trong ba cõi), diệu (đạt tới Vô dư Niết bàn) Niết bàn mà Tiểu thừa hướng tới

là Niết bàn xuất thế, lánh đời, đạt được bằng lối tu kham nhẫn Với Tiểu thừa, vì vô ngã là Niết bàn nên muốn đến được Niết bàn, con người phải từ bỏ những thú vui trần thế, những yêu thương và khao khát “trở thành” Không còn những sôi động, buồn vui nơi nhân thế, Niết bàn chỉ là sự tịch diệt, cô đơn, vắng lặng, cô đơn, buồn tẻ và vô cảm Lý tưởng Niết bàn Vô dư tịch tĩnh đã khiến Phật giáo mất dần sức hấp dẫn, khó thực hiện với mọi người, chỉ dành cho thiểu số người có cơ duyên đặc biệt

Sự ra đời của Phật giáo Đại thừa thực chất là một phong trào chấn hưng Phật giáo, xuất phát từ nhu cầu khắc phục những hạn chế trong Tiểu thừa, mong tìm lại chỗ đứng trong xã hội Độc đáo nhất trong Đại thừa là quan niệm về Niết bàn Khái niệm Niết bàn trong Đại thừa được đẩy lên một nấc thang mới Nếu Tiểu thừa đề cao Vô dư Niết bàn thì Đại thừa nghiêng về phía Hữu dư Niết bàn với một cái nhìn mới mẻ, độc đáo hơn Đối với Đại thừa, Niết bàn và luân hồi không có gì sai khác Theo họ, vì bị bóng tối của đám mây vô minh bao phủ nên con người mới nhầm lẫn hiện tượng ảo giả với bản chất đích thực của thế giới Do đó, giải thoát không cần sự chối bỏ cuộc sống mà chỉ cần “xuất tự thế gian tướng” để đạt tới trạng thái không còn phân biệt bờ bên này -sinh tử và bờ bên kia - giải thoát, không còn phân biệt chúng -sinh và Phật, mê và ngộ Sinh tử tức Niết bàn, phiền não tức Bồ đề Niết bàn và luân hồi chỉ là một nhưng nhìn trong vô minh thì là luân hồi, nhìn khi giác ngộ là Niết bàn, giống như nhìn sợi dây thừng trong bóng tối là con rắn nhưng nhìn trong ánh đèn thì chỉ là sợi dây thừng, không còn đáng sợ nữa Vì vậy, phải chấp nhận sống trong luân hồi thì mới chi phối được nghiệp báo luân hồi Trong Đại thừa, phái Duy thức bổ sung thêm hai loại Niết

Trang 8

bàn nữa, là Tự tính thanh tịnh Niết bàn và Bất trụ Niết bàn Thực chất, đó cũng chỉ là những dạng thức mới của Hữu dư Niết bàn Tự tính thanh tịnh Niết bàn chính là bản tính thanh tịnh vốn có ở cái tâm của mỗi người mà khi đạt tới đó, con người được giải thoát Còn Bất trụ Niết bàn là khái niệm nói về trạng thái của những con người sống ngay trong thế giới hiện thực, tồn tại trong luân hồi nhưng vẫn tự do tự tại, làm chủ bản thân mình; đồng thời, tích cực hoạt động cứu giúp những người khác cùng được giải thoát như mình Họ sống giữa cõi đời với cái tâm “vô sở đắc” (tâm không cầu được) với khát vọng giúp cho mọi người cùng được giải thoát khỏi khổ đau như mình Cuộc đời của Phật Thích Ca là cuộc đời của một con người “Bất trụ Niết bàn” vì ông

đã đạt tới Hữu dư Niết bàn từ năm 35 tuổi nhưng không dừng lại mà quay về với cuộc sống trần tục, tích cực hoạt động truyền giáo trong 45 năm cho lý tưởng cứu độ chúng sinh 45 năm đó là 45 năm Bất trụ Niết bàn của người đã đặt chân tới Niết bàn nhưng không một phút ở yên trong Niết bàn tịch tĩnh

Như vậy, từ tuyên ngôn “lìa sinh tử chứng Niết bàn” (thoát khỏi sinh tử mới đạt tới Niết bàn) của Tiểu thừa tới tuyên ngôn “liễu sinh tử, đắc Niết bàn” (rõ được sinh tử là đạt tới Niết bàn) của Đại thừa, Phật giáo đã trở nên gần gũi hơn, có sức hấp dẫn hơn với mọi người Tới đây, sinh tử hay luân hồi cũng không có gì đáng sợ nữa Khổ đau

đã trở thành cơ duyên giúp con người vươn tới, đạt được lý tưởng cao siêu của giải thoát Căm ghét khổ đau không giúp con người thoát khỏi khổ đau Không thể xa lìa sinh tử của cuộc đời trần thế mà cầu tịch diệt, cách ly thế giới hiện tượng mà cầu giải thoát tâm linh; cũng không thể thanh thản, yên tĩnh một mình với sự giải thoát trước những khổ đau nhân thế Một Niết bàn vô vi, vô cảm, tịch tĩnh và cô đơn trong Tiểu thừa đã được thay thế bằng một Niết bàn nhân bản, nhập thế, hoạt động cùng những buồn vui nhân thế của Đại thừa Theo Đại thừa, để tới được Niết bàn, con người, một mặt, phải giác ngộ được lẽ vô thường; mặt khác, phải đạt được tự do tinh thần, không

bị ngoại cảnh chi phối, khi nào thoát khỏi chấp ngã (mắc vào cái tôi cá nhân), khi đó con người đạt tới Niết bàn Con đường tu đó không bao giờ chấm dứt, nên Đại thừa thường có câu: “Tu đến thành Phật cũng không thôi” Hay cũng có thể nói rằng, đó là con đường vĩnh viễn luân hồi, vĩnh viễn giải thoát Sự khác nhau trong quan niệm về Niết bàn của Tiểu thừa và Đại thừa quy định hai lối tu khác nhau Với Vô dư Niết bàn, Tiểu thừa thực hành lối tu xuất thế, lánh đời Với Hữu dư Niết bàn, Đại thừa thực hành lối tu nhập thế, sống hoà cùng đời tục nhưng vươn lên giữa cuộc đời

Có thể thấy rằng, khái niệm Niết bàn trong Phật giáo là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng Ấn Độ, đem lại một diện mạo mới với sức sống mới cho Phật giáo

Từ con người cá nhân cô đơn trong lộ trình thăm thẳm tìm về cõi tâm linh bí ẩn tìm giải thoát trong Niết bàn của Tiểu thừa tới con người sống cùng những buồn vui nhân thế của Đại thừa, khái niệm Niết bàn đã trở nên hấp dẫn hơn, thể hiện một triết lý sống nhân bản của tôn giáo - triết học Phật giáo

Trang 9

Chương 2 BẢN CHẤT VÀ MỤC TIÊU NIẾT BÀN

2.1 Bản chất Niết bàn

Niết Bàn không phải là một thực thể, nếu nó là một vật thì nó sẽ là tạo tác, hữu vi,

vô thường chi phối mà đó là một trạng thái của tâm Trạng thái vắng mặt hoàn toàn khổ đau và không thỏa mãn Trạng thái an lạc cao cấp nhất Có thể chứng đạt hiện tiền thông qua sự thực hành hòan hảo giới, định, tuệ

Tìm lại được bản chất của chính mình thông qua giới định tuệ, bản chất của Niết Bàn chính là bản chất của thân tâm chúng ta Nhưng vì chúng ta quên đi bản thể, chấp ngã chấp pháp nên chúng ta không thể thấy được bản chất của Niết Bàn

Bên cạnh Niết Bàn của Bậc Thánh, Đức Phật còn giải thích thêm về Niết Bàn tạm thời của phàm phu, Ngài dạy:

“Đói là chứng bệnh lớn lao

Vô thường ngũ uẩn khổ đau nhất đời,

Nếu ai hiểu đúng vậy rồi,

Coi như đạt đến cực vui Niết Bàn”

(Pháp Cú 203)

Đức Phật ví Niết Bàn như một trạng thái khi đói được ăn cơm, đó có thể xem là Niết Bàn tương đối của người đói bụng Đối với người thế gian những cảm thụ hay những ước muốn như ý được được xem là Niết Bàn tương đối Như vậy ngoài ba bản chất của Niết Bàn được trình bày trên thì cảm thụ no bụng sau khi ăn hay cảm thụ hết bệnh cũng được xem là Niết Bàn tương đối của phàm phu

Ngoài khái niệm Niết Bàn của Truyền thống nguyên thủy cũng có những khái niệm Niết Bàn của truyền thống Phật giáo phát triển Những khái niệm này nhằm đánh tan quan niệm cho rằng Niết Bàn là một cõi, một thực thể Trong kinh Lăng già Đức Phật nói:

“Vô hữu Niết Bàn Phật

Vô hữu Phật Niết Bàn”

(không có Đức Phật chứng Niết Bàn, và cũng không có Niết Bàn của Phật chứng) Khẳng định “không có” người chứng Niết Bàn (Niết Bàn Phật) là phá tư tưởng chấp ngã (nhân vô ngã), và “không có” Niết Bàn của Phật (Phật Niết Bàn) là nổ phá chấp pháp (pháp vô ngã) của người học về Niết Bàn, chứ không phải phủ nhận sự hiện hữu của người chứng và pháp chứng

Như vậy, bản chất Niết Bàn theo đại thừa, như kinh Viên Giác nói, chính là “tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác”, tức là hiểu rõ bản chất của con người và thế giới là huyễn (tri huyễn), nên không bị huyễn trói buộc (ly huyễn), ngay nơi đó nhận ra (tức giác ngộ) bản thể không, vô ngã của các hiện tượng huyễn đó, đó chính là Niết Bàn Ví dụ thấy tham là huyễn sẽ ly tham, khi đã ly tham sẽ nhận ra tham phải không có thực thể (tánh không, vô ngã) mới ly được nó, tức là giác ngộ, Niết Bàn

Trang 10

2.2.Mục tiêu Niết bàn

Niết-bàn là một phạm trù luôn được mọi hành giả Phật giáo quan tâm, bởi đấy là đích đến rốt ráo, là sự thoát khỏi luân hồi sanh tử của tất cả chúng sanh Đức Phật đã khẳng định rằng: “Bất cứ khổ đau nào sinh khởi đều bắt nguồn từ ái dục, với ái dục là cội nguồn, vì ái dục là gốc rễ của khổ đau” (W Rahula, Đức Phậtđãdạy những gì, Thích nữ Trí Hải dịch)

Ở bài kinh khác, Đức Phật lại cho rằng: “Này các Tỳ-kheo, trong tất cả pháp, dù là pháp hữu vi hay vô vi, pháp giải thoát ly tham là cao cả nhất Ấy nghĩa là giải thoát khỏi kiêu mạn, diệt trừ tham, nhổ tận gốc sự chấp thủ, cắt đứt sự tiếp tục, dập tắt khát

ái, giải thoát, chấm dứt, Niết-bàn” (Kinh Tăng chi bộ I, chương IV - Bốn pháp, phẩm Bánh xe) hay “Đoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn” (Kinh Tương ưng bộ III, thiên Uẩn, chương II - Tương ưng Ràdha)

Như vậy, Niết-bàn là một trạng thái không còn khổ đau, phiền não Niết-bàn chính là

sự chấm dứt mọi khát ái nơi tâm của mỗi con người

Bản chất của Niết-bàn là vô sinh và vô ngã “Bởi vì có cái không sinh, không trở thành, không bị giới hạn, không được kết hợp, cho nên có lối thoát cho cái đã sinh ra, trở thành, bị giới hạn, được kết hợp” (W Rahula, Đức Phậtđãdạy những gì, Thích nữ Trí Hải dịch)

Vô sinh là không còn bị sinh tử trói buộc, chi phối, tự tại giữa sinh tử luân hồi Trong tác phẩm Vô ngã là Niết-bàn, cố HT.Thích Thiện Siêu đã viết: “Niết-bàn là cái

gì tuyệt đối không dung ngã Niết-bàn không có hạn lượng, không có nơi chốn, vì Niết-bàn là vô tướng nên khó vào Muốn vào Niết-bàn ta cũng phải vô tướng như Niết-bàn Cửa Niết-bàn rất hẹp, chỉ bằng tơ tóc, nên ta không thể mang theo hành lý

mà hy vọng vào được Niết-bàn Cái thân đã không mang theo được, mà cả ý niệm về tôi, về ta cũng không thể mang theo được Cái ta càng to thì càng xa Niết-bàn Nên biết rằng: hễ hữu ngã là luân hồi mà vô ngã là Niết-bàn”

Theo quan điểm của Phật giáo, vô ngã có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại về một cái tôi (ngã) không thay đổi trong mọi hình thức Bản chất của tất cả các pháp đều tuân thủ theo quy luật Duyên khởi, không hề có bản thể bất biến ở đằng sau chúng, mà ta thường gọi là “cái ngã trường cửu” Vì không có chủ thể, nên chúng luôn chịu sự thay đổi không ngừng theo quy luật vô thường Nếu chấp vào ngã, đồng nghĩa với việc ta mong nó sẽ tồn tại thường còn Nên khi chúng có sự thay đổi, thì sẽ dẫn ta tới phiền não, đau khổ Nếu chấp vào ngã là đang đi ngược lại con đường đưa đến hạnh phúc chân thật mà ta gọi là Niết-bàn

Niết-bàn là hạnh phúc, phát sinh từ sự buông bỏ Buông bỏ càng nhiều thì hạnh phúc,

an lạc trong tâm càng lớn, làm cho hành giả càng gần với Niết-bàn hơn

Quan niệm về Niết-bàn cũng có sự sai khác Phật giáo Nam tông chia Niết-bàn thành hai loại là Vô dư y và Hữu dư y Vô dư y là Niết-bàn diệt luôn cả phiền não lẫn ngũ uẩn Hữu dư y là Niết-bàn diệt được phiền não nhưng vẫn còn lại ngũ uẩn

Phật giáo Bắc tông bổ sung thêm hai loại Niết-bàn nữa, đó là Tự tính Niết-bàn và Vô trụ xứ Niết-bàn Thực chất đây chỉ là sự khai triển thêm của Hữu dư y Niết-bàn Tự tính Niết-bàn chính là sự thanh tịnh vốn sẵn có của tâm trong mỗi con người, mà khi đạt tới thì con người sẽ giải thoát

Thiền sư Đại Trí đã nhìn nhận Tứ diệu đế dưới con mắt của Thiền tông như sau:

“Hướng tâm ra ngoài là Nguyên nhân của khổ (Tập đế), hậu quả của việc hướng tâm

ra ngoài là Khổ (Khổ đế), quay về với bản tâm của mình là Con đường diệt khổ (Đạo

Ngày đăng: 07/08/2022, 10:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w