Khái niệm Công chứng được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2006 như sau: “Công chứng là việc công chức viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực,
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Khái niệm công chứng 1
II Khái niệm Văn bản công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng 2 1 Khái niệm Văn bản công chứng 2
2 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng 2
III Một số đánh giá về văn bản công chứng hiện nay 6
KẾT LUẬN 7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong các giao dịch đơn thuần giữa các bên về dân sự, hay trong các hoạt động kinh doanh, thương mại … nếu thiếu sự am hiểu luật pháp, thiếu thông tin về tình trạng pháp lý của các đối tượng giao dịch của một hoặc cả hai bên sẽ khiến cho các giao dịch chứa đựng nhiều rủi ro, dẫn đến những hậu quả bất lợi, những tranh chấp liên quan đến quyền lợi ích của các bên tham gia giao dịch và cũng đẩy gánh nặng về phía cơ quan chức năng trong việc giải quyết những hậu quả này Chính vì vậy công chứng là hoạt động dịch vụ công ích quan trọng, không thể thiếu được của nhà nước pháp quyền để đảm bảo giá trị pháp lý, sự an toàn của các giao dịch nói trên Đó cũng là lý do khiến cho các băn bản công chứng có giá trị xác thực, giá trị pháp lý và độ tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có sự xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng
Để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này, thì trong bài tập lớn học kỳ môn Luât sư, Công
chứng, Chứng thực, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích giá trị pháp lý của văn bản công chứng”
NỘI DUNG
I Khái niệm công chứng.
Khái niệm Công chứng được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm
2006 như sau: “Công chứng là việc công chức viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi chung là bản dịch)
mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”
Theo đó có thể thấy công chứng gồm một số những đặc điểm cơ bản sau:
Đặc điểm thứ nhất, Hoạt động công chứng là hoạt động do công chứng viên trong
các tổ chức công chứng thực hiện và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch
Đặc điểm thứ hai, hoạt động công chứng vừa mang tính công quyền, vừa mang tính
chất dịch vụ công Tính công quyền hể hiện ở chỗ thủ tục thực hiện hoạt động công chứng chính là thủ tục hành chính; các công chứng viên của phòng công chứng hay của các văn phòng công chứng đều do Bộ Tư pháp bổ nhiệm để thực hiện hoạt động công chứng Tính
Trang 3chất dịch vụ công tức là thực hiện một loại dịch vụ của Nhà nước nhưng được Nhà nước giao cho một tổ chức hành nghề công chứng đảm nhiệm1
Đặc điểm thứ ba, Nội dung của hoạt động công chứng là xác định tính xác thực, tính
hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Tính xác thực của các tình tiết, sực kiện có trong văn bản
đó đã được công chứng viên xác nhận Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận các tình tiết, sự kiện có thể xảy ra trong thực tế, trong đó có cả tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau, dó đó nếu không có công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà tòa án không thể xác minh được Đồng thời, công chứng viên cũng kiểm tra và xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch
Đặc điểm thứ tư, Những văn bản, hoạt động giao dịch khi được công chứng có giá trị
chứng cứ, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện
II Khái niệm Văn bản công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng
1 Khái niệm Văn bản công chứng
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng thì: “Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của luật này”.
Cũng theo quy định của pháp luật hiện nay thì có hai loại hợp đồng giao dịch thực hiện hoạt động công chứng, đó là các loại hợp đồng giao dịch theo yêu cầu của pháp luật bắt buộc phải công chứng và các loại hợp đồng giao dịch do cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
2 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Theo quy định tại Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 về giá trị pháp lý của văn bản công chứng, thì:
“1 Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.
2 Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch cóthỏa thuận khác.
1 Theo: http://www.congchung4hanoi.com.vn/Default.aspx?module=service&item=24
Trang 43 Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa
án tuyên bố là vô hiệu.
4 Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch”
Như vậy, với quy định này có thể thấy rằng văn bản công chứng có hai giá trị pháp lý
cơ bản đó là: giá trị thi hành và giá trị chứng cứ.
Giá trị thi hành của văn bản công chứng
Văn bản công chứng là văn bản được tạo lập theo một trình tự, thủ tục do luật định, dưới hình thức bắt buộc (bắt buộc với một số loại văn bản nhất định) hoặc tự nguyện bởi cá nhân có thẩm quyền nên văn bản công chứng có giá trị pháp lý Nếu như các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch bị tranh chấp mà không thể chứng minh được hành vi vi phạm pháp luật hay sự thiếu trung thực của công chứng viên khi tạo lập và chứng nhận văn bản công chứng thì không thể bác bỏ được giá trị pháp lý của nó
Khoản 1 và Khoản 2 Điều 6 Luật công chứng quy định: “1 Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.
2, Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.”
Như vậy có thể thấy rằng, văn bản công chứng ngay sau khi được công chứng viên
ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng, thì sẽ có hiệu lực thi hành không chỉ đối với hai bên tham gia ký kết hợp đồng mà còn có giá trị thi hành với cả các bên khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch đó Điều này là hoàn toàn phù hợp với thực tế, bởi lẽ hợp đồng, giao dịch được tiến hành trên cơ sở sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên; chính
do đó, các bên sẽ phải có nghĩa vụ tuân thủ các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng Bên cạnh đó, bên thứ ba liên quan đến hợp đồng giao dịch này cũng sẽ phải tôn trọng ý chí của các bên đã thể hiện thông qua hợp đồng giao dịch đó, nên hiệu lực thi hành của hợp đồng này với bên thứ ba là điều hoàn toàn đương nhiên Việc công chứng hợp đồng, giao dịch trong trường hợp này (dù là bắt buộc hay tự nguyện) cũng chỉ là sự ghi nhận lại chính xác “tính hợp pháp, làm cho tính “bắt buộc” trở lên cao hơn, đồng thời cũng nhằm mục đích
Trang 5tăng giá trị pháp lý của hợp đồng giao dịch đó, làm cho hiệu lực thi hành của nó đối với các bên có liên quan được rõ ràng, cụ thể và mang tính “pháp luật” cao hơn
Trước đây, giá trị thi hành của văn bản công chứng được quy định trong Nghị định 75/2000/NĐ-CP, nên việc quy định giá trị thi hành của văn bản công chứng trong Luật Công chứng 2014 chỉ là một quy định được kế thừa lại và phát triển cho phù hợp với thực tế xã hội hiện nay Chính quy định này đã đảm bảo cho các cơ quan nhà nước mang tính công quyền thuộc cũng sẽ phải tuân thủ, thực thi mọi điều khoản, điều kiện của một hợp đồng giao dịch đã được công chứng (hợp pháp) bởi công chứng viên không phải viên chức nhà nước, hành nghề trong các tổ chức công chứng
Mặt khác, Cũng theo quy định trong Luật Công chứng, chúng ta có thể thấy rằng hiện nay có hai cách thức được pháp luật quy định để đảm bảo giá trị thi hành của văn bản công chứng Cách thứ nhất là khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp có thểm quyền và cách thứ hai là các bên đương sự trực tiếp giao kết hợp đồng, giao dịch có thể thỏa thuận cách thức đảm bảo giá trị thi hành của văn bản công chứng Nếu như cách thứ nhất mang tính nguyên tắc thì cách thức thứ hai được coi là một cách thức thể hiện tính mềm dẻo trong việc xác định cơ chế bảo đảm giá trị thi hành cho văn bản công chứng Như vậy, các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch có quyền thỏa thuận trước cách thức giải quyết khi xảy ra tranh chấp đối với hợp đồng, giao dịch đã được công chứng Cách thức giải quyết ở đây có thể bao gồm chỉ định sẵn cơ quan, cá nhân đóng vai trò trọng tài đứng ra giải quyết tranh chấp khi phát sinh Việc quy định như vậy đã tạo ra hành lang pháp lý để các bên giảm thiểu thời gian cũng như chi phí dành cho giải quyết tranh chấp, đặc biệt làm giảm áp lực công việc lên hệ thống cơ quan Tòa án vốn vẫn luôn bị quá tải.1
Như vậy, có thể thấy, việc pháp luật quy định về hiệu lực thi hành của văn bản công chứng như trên là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế kinh tế xã hội của nước ta hiện nay; đồng thời cũng thể hiện sự tiến bộ, dần tiếp cận với các quy định về hiệu lực thi hành của văn bản công chứng của các nước phát triển trên thế giới
Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch
Việc công chứng bản dịch được quy định cụ thể tại điều 61 Luật công chứng: “ Việc giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang Tiếng
11 Theo TS Tuấn Đào Thanh, Công chứng viên, trưởng phòng công chứng số 3 TP Hà Nội: Văn bản công chứng: giá trị pháp lý và vai trò quản lý thị trường bất động sản
Trang 6Việt để công chứng phải do người phiên dịch là công tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện Cộng tác viên phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác mà thông thạo thứ tiếng nước ngoài đó Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với
tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp với nội dung bản dịch do mình thực hiện”
Như vậy bản dịch khi được công chứng sẽ trải qua một trình tự thủ tục phức tạp, do người có trình độ chuyên môn thực hiện, nên bản dịch sẽ được dịch sát nghĩa với bản gốc và mang tính pháp lý cao Do đó, bản dịch cũng sẽ được sử dụng trên thực tế như giấy tờ, văn bản được dịch (văn bản gốc ban đầu)
Giá trị chứng cứ của văn bản công chứng
Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011, chứng cứ được
định nghĩa như sau:“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và
cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.”
Việc quy định về giá trị chứng cứ của văn bản công chứng cũng là một quy định được thừa kế từ nhiều quy định pháp luật trước đây như trong nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước, hay trong Nghị định số 31/1996/NĐ-CP, hay như trong Nghị định số 75/2000/NĐ-CP Hiện nay, Gía trị chứng của của văn bản công chứng được quy định cụ thể tại Khoản 3 điều 5 Luật
công chứng: “3 Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết,
sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp
bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.”
Như vậy, có thể hiểu là bất cứ hợp đồng, giao dịch nào được công chứng đúng với quy địn của pháp luật thì sẽ có giá trị chứng cứ trong việc chứng minh vụ án dân sự Những thông tin, cơ sở được quy định trong hợp đồng giao dịch khi đã được công chứng hợp pháp thì khi xảy ra tranh chấp sẽ không phải thực hiện thủ tục chứng minh trước tòa, mà đương nhiên sẽ được thừa nhận là chứng cứ để chứng minh Pháp luật quy định như vậy là bởi lẽ, văn bản công chứng là kết quả của một hoạt động công quyền, được thực hiện theo thủ tục
Trang 7chặt chẽ, phức tạp khi tạo lập, chứng nhận văn bản công chứng, ghi nhận ý chí, sự thỏa thuận của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng
Tuy nhiên, giá trị chứng cứ nói chung của văn bản công chứng cũng như những tình tiếp, sự kiện không phải chứng minh trong văn bản công chứng sẽ không còn nếu như văn bản công chứng bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu Theo quy định tại khoản 1 điều 137 Bộ luật
dân sự năm 2005 thì: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bến kể từ thời điểm xác lập” Theo đó, nếu bị Tòa án tuyên
bố vô hiệu, văn bản công chứng sẽ không có giá trị thực hiện, không làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền và ngĩa vụ dân sự của các bên, nhưng văn bản đó vấn có giá trị chứng cứ Những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng chính là chứng cứ xác đáng làm căn cứ
để khôi phục lại tình trạng ban đầu giữa các bên giao kết.1
III Một số đánh giá về văn bản công chứng hiện nay.
Một số quan điểm cho rằng, nếu như phạm vi công chứng được cấu thành bởi hai yếu
tố thì giá trị chứng cứ của văn bản công chứng thường gắn liền với yếu tố “tự nguyện công chứng” trong khi giá trị thi hành của nó lại đi đôi với yếu tố “bắt buộc phải công chứng” Tuy nhiên, cho dù dược công chứng theo quy định của pháp luật hay theo sự tự nguyện của người yêu cầu công chứng, văn bản công chứng cũng sẽ có hai giá trị pháp lý nêu trên
Một thực tế hiện nay có thể thấy đó là các bên khi tham gia giao kết hợp đồng giao dịch tiến hành hoạt động công chứng sẽ thường quan tâm tới giá trị thi hành chứ ít khi để ý đến giá trị chứng cứ của văn bản công chứng Bởi lẽ, khi giao kết hợp đồng, giao dịch người
ta thường sẽ quan tâm đến mục đích, kết quả cuối cùng của giao dịch, hợp đồng đó, đạt được sự đồng thuận cả hai bên cùng có lợi, không ai mong muốn sẽ có tranh chấp xảy ra
Do đó, người ta sẽ thiết lập các điều khoản liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi của các bên để hướng tới mục đích cuối cùng, đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện trên thực tế - đó là giá trị thi hành của văn bản công chứng
Mặt khác, hiện nay dù đã có nhiều văn phòng công chứng được xây dựng lên, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của nhân dân; các nhân viên công chứng cũng đã được đào tạo trình độ chuyên môn cao hơn, nhưng hiện tượng vi phạm đạo đức nghề nghiệp cũng như sự yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề của một số công chứng viên hiện nay đã dấn đến nhiều văn bản pháp luật chưa đủ điều kiện để công chứng nhưng vẫn được
11 Theo TS Tuấn Đào Thanh, Công chứng viên, trưởng phòng công chứng số 3 TP Hà Nội: Văn bản công chứng: giá trị pháp lý và vai trò quản lý thị trường bất động sản
Trang 8công chứng để rồi khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, ảnh hưởng không nhỏ đến các bên tham gia hợp đồng giao dịch
Ngoài ra hiện nay, vẫn xảy ra hiện tượng nhiều văn bản dù được công chứng, nhưng nội dung không phản ánh, chuyền tải đúng mục đích thật sự của giao dịch nhất là đối với giao dịch có đối tượng là bất động sản Ví dụ như: ông A kí hợp đồng mua bán căn hộ chung
cư với công ty X Mặc dù căn hộ chung cư nói trên chưa được cấp giấy chứng nhận duyền
sở hữu và chưa hình thành trên thực tế, nhưng ông A vẫn bán lại cho ông B Trường hợp này không thỏa mãn quy định trong luật nhà ở năm 2005 tại điều 91 về điều kiện của nhà ở tham gia giao dịch, nên công chứng viên không chứng nhận hợp đồng mua bán trên Do đó thay
vì yêu cầu công chứng viên chứng nhận hợp đồng mua căn hộ trên, ông A và ông B thỏa thuận sẽ giao kết một hợp đồng ủy quyền với nội dung A ủy quyền cho B thực hiện tiếp toàn
bộ quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng mua bán căn hộ này giữa ông A và công ty X Như vậy, trong trường hợp này, văn bản công chứng ủy quyền sẽ mất đi giá trị pháp lý của nó, bởi nó về bản chất, đây là giao dịch ủy quyền được thực hiện nhằm che đậy cho giao dịch mua bán khác
Bên cạnh đó cũng còn có một số văn bản công chứng mà điều khoản, điều kiện cơ bản của hợp đồng công chứng không thể hiện chính xác nội dung thỏa thuận của các bên trên thực tế, khiến cho giá trị pháp lý của văn bản công chứng không cao Ví dụ, M thuê một ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của N với giá 100.000.000 đồng/ tháng nhưng hai bên lại chỉ
ký kết hợp đồng thuê nhà trong đó giá thuê nhà thấp hơn giá trị thực tế rất nhà là nhiều
KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên có thể thấy, hoạt động công chứng là một hoạt động vô cùng quan trọng trong xã hội hiện nay bởi các giá trị pháp lý của các văn bản công chứng trên thực tế Chính vì vậy, trong thời gian tới, Nhà nước nên có sự đầu tư nhất định, đưa ra nhiều chính sách nhằm khuyến khích các cá nhân, tổ chức xây dựng thêm các văn phòng công chứng, hoặc mở rộng quy mô, cũng như tiến hành hoat động đào tạo chuyên mông nghiệp
vụ cho các công chứng viên, nhằm đảm bảo cho các văn bản công chứng sẽ phát huy được tối đa giá trị pháp lý của mình, đáp ứng nhu cầu của nhân dân
Bài làm của em còn nhiều thiếu xót, rất mong thầy cô thông cảm ạ!
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Luật Dân sự năm 2005
2 Luật công chứng năm 2014
3 Luật nhà ở năm 2005
4 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực
5 Nghị định số 45/1991/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước
6 Nghị định số 31/1996/NĐ-CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà Nước
7 Nghị định số 02/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công chứng;
8 Theo TS Tuấn Đào Thanh, Công chứng viên, trưởng phòng công chứng số 3
TP Hà Nội: Văn bản công chứng: giá trị pháp lý và vai trò quản lý thị trường bất động sản
9 Bộ tư pháp, Viện khoa học pháp lí, Chuyên đề công chứng, In tại xí nghiệp in
15 Bộ công nghiệp nặng, Hà Nội, 1995
10 Gía trị pháp lý của văn bản công chứng
http://123doc.org/document/2598319-gia-tri-phap-ly-cua-van-ban-cong-chung.htm? page=19
11 http://www.congchung4hanoi.com.vn/Default.aspx?module=service&item=24
12 Luật công chứng và vấn đề xã hội hóa hoạt động công chứng
https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dat-dai/luat-cong-chung-va-van-de-xa-hoi-hoa-hoat-dong-cong-chung.aspx