1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2TIỂU LUẬN tâm lý học đại CƯƠNG đề tàicơ CHẾ HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN các HIỆN TƯỢNG tâm lý NGƯỜI

24 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 158,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ có các giác quan, chúng ta có được những biểu tượng về các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan.. Trong đầu chúng ta khi đó xuất hiện hình ảnh ngôi nhà.Chúng ta có cảm giác nón

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



BÀI TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Đề tài:

CƠ CHẾ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC HIỆN

TƯỢNG TÂM LÝ NGƯỜI

Giáo viên hướng dẫn: ThS Ngô Minh Duy Sinh viên thực hiện: Dương Thị Ngọc Ánh Pháp danh:TN.Huệ Trạm

Mã sinh viên: TX 6009 Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết học phật giáo

Tp.HCM, năm 2020

Trang 2

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



BÀI TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Đề tài:

CƠ CHẾ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC HIỆN

TƯỢNG TÂM LÝ NGƯỜI

Giáo viên hướng dẫn: ThS Ngô Minh Duy Sinh viên thực hiện: Dương Thị Ngọc Ánh Pháp danh:TN.Huệ Trạm

Mã sinh viên: TX 6009 Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết học phật giáo

Tp.HCM, năm 2020

Trang 3

GVHD: ThS Ngô Minh Duy Tâm Lý Học Đại Cương

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Ngày….tháng…năm 2018 ThS Ngô Minh Duy

MỤC LỤC

Trang 4

A Lời mở đầu 2

B Nội dung 2

1.1 Hiện tượng tâm lýlà gì?

1.2 Các cách phân loại 2

2.1 nhận thức cảm tính 2

2.1.2.Cảm giác 3

2.1.2.3 Các quy luật cảm giác 3

2.1.3.Tri giác 5

2.1.3.3Các quy luật tri giác 6

2.2 Tư duy 7

2.2.2.Các đặc điểm Tư duy 7

2.2.3.Các thao tác tư duy 9

2.2.4.Các loại tư duy 10

2.4 Mối quan hệ giữa nhận thức &lý tính 10

3 Đối tượng tình cảm 11

3.1 Khái niệm 11

3.2 Các mực độ tình cảm 11

3.3.Đặc điểm tình cảm 12

3.4 Vai trò tình cảm 15

C Kết luận 20

D Tham khảo 20

Trang 5

đó rất thiêng liêng, cao quý và rất khó định hình Nó rất khó hình thành, ổn định, bền vững, khó bị phá bỏ Tâm lý chi phối xúc cảm về cường độ, tốc độ và nội dung đồng thời nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhận thức sâu sắc Và sau đây, tôi xin bắt đầu đề cập đến nội dung của bài Xin chân thành cảm ơn

2.Phương pháp nghiên cứu:

Học viên chọn phương pháp phân tích và đánh giá để làm sáng tỏ đề tài

3.Nội dung nghiên cứu:

Vì kiến thức hạn chế,học viên chỉ đi xâu nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của con người trân bình diện cơ bản nhất

4.Bố cục tiểu luận:

Gồm 4 phần :

Mở đầu&Nội dung,Nội dung gồm có 5 mục và 18 tiểu mục

Phần kết luận & Tài liệu tham khảo

1

Trang 6

B Nội dung

1.1 Hiện tượng tâm lí là gì?

Khi ta nhìn, quan sát thấy một sự vật hiện tượng, biểu tượng đó xuất hiện trong đầu của chúng ta Đó chính là biểu tượng tâm lí

Khi chúng ta vui hoặc buồn, trạng thái vui hay buồn đó cũng là tâm lí

Khi chúng ta suy nghĩ và đưa ra một nhận định, đánh giá nào đó, những nhận định đánh giá của chúng ta cũng là các hiện tượng tâm lí

Lại nữa, có những cái không diễn ra tức thời như quá trình suy nghĩ hay như trạng thái vui, buồn mà nó chỉ là những cái khái quát từ các hiện tượng tâm lí khác Ví dụ, khi ta nói yêu lao động thì chúng ta đã đề cập đến một nét tính cáchcủa con người Đối với một con người như vậy họ rất trân trọng, quý trọng sản phẩm của lao động

Trong ngôn ngữ Việt, bên cạnh thuật ngữ tâm lí còn có thuật ngữ tâm hồn Đôi khi người ta tách chữ tâm riêng, chữ hồn riêng Trong Từ điển tiếng Việt

(1988), tâm hồn được định nghĩa là ý nghĩ và tình cảm, làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của mỗi con người

Các hiện tượng tâm lí, tâm hồn của con người đều có nguồn gốc từ bên ngoài, là

sự phản ánh thế giới khách quan Thế giới vật chất được chuyển vào não, dưới các dạng biểu tượng, hình ảnh đó không dừng lại ở mức độ xơ cứng, bất biến Nhờ có các giác quan, chúng ta có được những biểu tượng về các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Từ vô số các hình ảnh, biểu tượng về những ngôi nhà có thực, trong óc con người dần khái quát hoá, thu gọn tất cả những biểu tượng đó vào một khái niệm: nhà Chính ngôn ngữ đã giúp cho khả năng nhận biết của con người về thế giới bên ngoài tăng lên một cách đột phá

Cũng nhờ có ngôn ngữ, tư duy của con người đã chuyển sang một bước ngoặt vĩđại: từ tư duy bằng tay con người chuyển sang tư duy bằng khái niệm Nhờ có

tư duy bằng khái niệm, con người đã có khả năng “nhìn” sâu vào những cái mà bằng mắt thường không thể nhìn thấy Bằng mắt, con người không thể nào nhìn thấy đường đi của hạt ánh sáng song bằng tư duy thì có thể

Như vậy có thế nhận thấy các hiện tượng tâm lí-thế giới nội tâm của con người, mặc dù là sự phản ánh thế giớ bên ngoài song nó là các hiện tượng tinh thần Thế giới tinh thần này cũng có những cơ chế, quy luật hoạt động cho riêng mình Bản thân nó có cấu trúc phức tạp Để có thể nghiên cứu sâu hơn các hiện tượng tâm lí, người ta phân chia chúng thành các lớp hiện tượng khác nhau.1.2 Các cách phân loại

- Phân chia thành ý thức và vô thức

- Căn cứ vào thờ gián tồn tại:

2

Trang 7

Ví dụ: khi ta nhắm mắt, người bạn đặt vào lòng bàn tay ta một vật gì đó Nếu không sờ mó, nắm ,bóp, ta chỉ có thể cảm nhận được vật đó nặng hay nhẹ, nóng hay lạnh.

Chúng ta đang quan sát ngôi nhà Trong đầu chúng ta khi đó xuất hiện hình ảnh ngôi nhà.Chúng ta có cảm giác nóng, lạnh, trong đầu có hình ảnh ngôi nhà…đó chính là biểu tượng nhận thức cảm tính Khi chúng ta đang cảm thấy nóng hoặc khi chúng ta đang nhìn ngôi nhà thì đó là quá trình nhận thức cảm tính

Đặc điểm chung nhất của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh được những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khi sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan chúng ta

Nhận thức cảm tính bao gồm 2 quá trình chính là cảm giác và tri giác

2.1.2 Cảm giác

2.1.2.1 Khái niệm

Cảm giác là quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta

Cảm giác là hình thức phản ánh tâm lí, sơ đẳng, đơn giản nhất Biểu tượng của

nó chỉ là những thuộc tính riêng rẽ của sự vật Tuy nhiên nó lại đóng vai trò khởi đầu cho các quá trình tâm lí khác như tưởng tượng, tư duy, trí nhớ…Cảm giác cũng là khâu đầu tiên trong sự nhận thức hiện thực khách quan của con người

2.1.2.2 Các loại cảm giác

Cảm giác bên ngoài

- Cảm giác nhìn (thị giác) cho chúng ta biết thuộc tính ánh sáng, mầu sắc, kích thước của đối tượng

- Cảm giác nghe (thính giác) cho chúng ta biết những thuộc tính của âm thanh

Trang 8

- Cảm giác ngửi (khứu giác) giúp con người nhận biết được mùi

- Cảm giác nếm (vị giác) giúp chúng ta nhận biết các loại vị: mặn, nhạt, đắng, cay…

- Cảm giác da: (mạc giác) cho ta biết về nhiệt độ, va chạm

Cảm giác bên trong:

- Cảm giác vận động

- Cảm giác thăng bằng

- Cảm giác nội tạng

2.1.2.3 Các quy luật cơ bản của cảm giác

Quy luật ngưỡng cảm giác (Quy luật về tính nhạy cảm)

Muốn có cảm giác thì phải có kích thích Tuy nhiên cường độ kích thích phải đạt đến độ nhất định mới có thể gây ra được cảm giác Mức độ đó được gọi là ngưỡng cảm giác

Ngưỡng cảm giác là cường độ tối thiểu của kích thích để có thể gây ra được cảm giác

Quy luật này còn gọi là quy luật về tính nhạy cảm bởi lẽ khi nói đến tính nhạy cảm cao thì điều đó có nghĩa là chỉ cần cường độ kích thích nhỏ nhưng đã có thể

có cảm giác Ví dụ, người ta nói một người nào đó có đôi tai rất thính có nghĩa

là với âm thanh khá nhỏ, trong khi người khác chưa nghe thấy thì người đó đã nghe thấy Như vậy độ nhạy cảm càng cao thì có nghĩa là ngưỡng cảm giác càng thấp

Điểm đáng lưu ý ở đây là khi chúng ta nói đến ngưỡng cảm giác là chúng ta đề cập đến đại lượng vật lí, ví dụ như cường độ âm thanh, trọng lượng…còn khi ta nói độ nhạy cảm thì đó lại là “đại lượng” tâm lí Do không đo được trực tiếp độ nhạy cảm của giác quan nên người ta phải đo nó một cách gián tiếp, thông qua việc đo các kích thích vật lí bên ngoài

● Quy luật thích ứng cảm giác

Để phản ánh được tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh, cảm giác của con người có khả năng thích ứng với kích thích

Thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích : khi cường độ kích thích tăng thì độ nhạy cảm giảm và ngược lại, độ nhạy cảm tăng khi cường độ kích thích giảm Ví dụ, khi đang ở chỗ sáng (cường độ kích thích mạnh), di vào chỗ tối (cường độ kích thích yếu) thì lúc đầu ta không nhìn thấy gì, sau đó dần dần mới nhìn rõ mọi vật.Điều này là do độ nhạy cảm tăng dần

Tất cả các giác quan đều tuân theo quy luật thích ứng Tuy nhiên mức độ khác nhau Cảm giác thị giác có khả năng thích ứng cao Trong bóng tối tuyệt đối, độnhạy cảm với ánh sáng tăng gần 200.000 lần sau 40 phút Bên cạnh đó, cảm giác đau hầu như không thích ứng

Khả năng thích ứng của cảm giác cũng có thể được phát triển do rèn luyện Ví

dụ, công nhân luyện kim có thể chịu đựng được nhiệt độ cao tới 500 – 600C trong hàng giờ đồng hồ

Trang 9

● Quy luật tác động lẫn nhau của cảm giác

Các cảm giác không tồn tại độc lập mà luôn tác động qua lại lẫn nhau Do sự tácđộng qua lại như vậy, tính nhạy cảm của cảm giác bị thay đổi Kích thích yếu lên cơ quan phân tích này lại làm tăng độ nhạy cảm của giác quan kia Ngược lại, tác động mạnh lên giác quan này làm giảm độ nhạy cảm của cơ quan phân tích khác

Ví dụ, khi nghe nhạc, có ánh sáng mầu kèm theo thì các bản nhạc cũng được cảm nhận rõ nét hơn

2.1.3 Tri giác

2.1.3.1 Khái niệm

Tri giác là một quá trình tâm lí nhận thức cảm tính, phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan ta

Cũng giống với cảm giác, tri giác là một quá trình nhận thức cảm tính

- Là một quá trình vì có khởi đầu, diễn biến và kết thúc

- Là quá trình nhận thức vì biểu tượng tri giác giúp cho con người nhận biết được hiện thực khách quan bên ngoài

- Là cảm tính vì chỉ gọi là biểu tượng tri giác khi sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan

Tuy nhiên biểu tượng tri giác là là một hình ảnh trọn vẹn về sự vật, hiện tượng Biểu tượng này được cấu thành từ các cảm giác Ví dụ hình ảnh ngôi nhà mà chúng ta đang nhìn thấy bao gồm những cảm giác khác nhau về mầu sắc, kích thước Lẽ đương nhiên đó không phải là một tổng số học mà là một tổng thể cáccảm giác

2.1.3.2 Các loại tri giác

- Tri giác không gian: tri giác không gian giúp chúng ta nhận biết được kích thước, hình dạng, khoảng cách, phương hướng của đối tượng

- Tri giác thời gian: tri giác thời gian là sự phản ánh độ lâu, vân tốc và tính kế tục của các hiện tượng

- Tri giác vận động: phản ánh những thay đổi về vị trí của các sự vật trong không gian

Ngoài cách phân loại theo đối tượng tri giác như trên còn có cách phân loại theogiác quan Theo cách phân loại này, chúng ta có các loại tri giác: thị giác, thính giác, khức giác…

2.1.3.3 Các quy luật cơ bản của tri giác

Quy luật về tính đối tượng của tri giác

Hình ảnh mà tri giác đem lại bao giờ cũng là biểu tượng của một sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới bên ngoài Tính đối tượng của tri giác nói lên cái

mà tri giác đem lại Trong quy luật này đã hàm chứa tính chân thực của tri giác.1.3.3.2 Quy luật về tính lựa chọn của tri giác:

Tri giác không thể phản ánh được toàn bộ những kích thích đang tác động lên giác quan của con người ở tại một thời điểm Do vậy để tri giác, con người phải

Trang 10

tách đối tượng ra khỏi bối cảnh.

Sự lựa chọn của tri giác cũng không mang tính cố định Nó phụ thuộc vào nhiềuyếu tố bên ngoài cũng như bên trong của chủ thể

Quy luật về tính lựa chọn của tri giác được ứng dụng nhiều trong thực tiễn: kiếntrúc, quảng cáo, quân sự (nguỵ trang), trong giáo dục và dạy học

Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác:

Tri giác của con người gắn chặt với tư duy, với bản chất của sự vật, hiện tượng Chính vì lẽ đó, biểu tượng tri giác cho phép chúng ta gọi tên được sự vật hiện tượng, có thể xắp xếp chúng vào một nhóm, lớp nhất định

● Quy luật về tính ổn định của tri giác:

Tính ổn định của tri giác thể hiện ở chỗ trong các điều kiện khác nhau nhưng nội dung của biểu tượng tri giác vẫn không thay đổi Ngôi nhà, dù có cách xa chúng ta hàng ngàn mét và hình ảnh của nó trên võng mạc nhỏ hơn hình ảnh củamột người

đang đứng trước mặt chúng ta thì ngôi nhà vẫn được tiếp nhận to hơn so với conngười Sự ổn định tri giác còn thể hiện ở cả về mầu sắc, kích thước

● Quy luật tổng giác:

Quy luật này thể hiện ở chỗ nội dung các biểu tượng tri giác còn phụ thuộc vào nội dung đời sống tâm lí của chủ thể: thái độ, nhu cầu, cảm xúc, động cơ

(Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ – Nguyễn Du)

●Tri giác nhầm

Trong một số trường hợp, hình ảnh của tri giác không phù hợp với thực tại Cần phân biệt tri giác nhầm với ảo giác Tri giác nhầm là quá trình chúng ta vẫn đang tri giác (sự vật, hiện tượng vẫn đang tác động vào giác quan) song biểu tượng tri giác không tương xứng với thực tiễn Ví dụ, khi ta nhìn cái thìa đang

để trong nửa cốc nước, ta thấy như cái thìa bị gãy ở chỗ mặt nước Hoặc các ví

dụ trong hình…ảo giác là hiện tượng con người vẫn “nhìn” thấy, ví dụ, nhìn thấy rắn rết bò đầy trên giường nhưng thực tế không có, nghe thấy tiếng nói nhưng xung quanh không có ai Tri giác nhầm là hiện tượng bình thường còn ảogiác là hiện tượng bệnh lí

Cảm giác và tri giác đều là quá trình nhận thức cảm tính Trong thực tế, khi chúng ta quan sát sự vật hiện tượng thì sự xuất hiện của cảm giác và tri giác là đan xen nhau, có thể cái này xuất hiện trước cái kia Ví dụ, “bắt mắt” là mầu đỏ,sau đó chúng ta mới quan sát tổng thể ngôi nhà Cũng có thể hình ảnh ngôi nhà xuất hiện trước, sau đó với xuất hiện các cảm giác

Trang 11

2.2 Tư duy

2.2.1 Tư duy là gì?

Cảm giác, tri giác đã giúp cho con người nhận biết được các của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên đó mới chỉ là các đặc điểm bên ngoài Để nhận biết được cái bên trong, cái cốt lõi của các sự vật hiện tượng đó, con người cần đến tư duy

Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng khách quan mà trước đó

ta chưa biết

2.2.2 Các đặc điểm tư duy

-Tư duy xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề

Hoàn cảnh có vấn đề có thể là một bài toán, một nhiệm vụ cần phải giải quyết…Cùng một hoàn cảnh song đối với người này là hoàn cảnh có vấn đề nhưng đối với người khác lại không Như vậy hoàn cảnh có vấn đề là hoàn cảnh kích thích con người suy nghĩ

-Tính gián tiếp của tư duy

Tư duy nhận biết được bản chất của sự vật hiện tượng nhờ sử dụng công cụ (cácdụng cụ đo đạc, máy móc…); các kết quả cả nhận thức (quy tắc, công thức, quy luật…) Tính gián tiếp của tư duy còn thể hiện ở chỗ nó được thể hiện thông quangôn ngữ

- Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:

Tư duy phản ánh cái bản chất, cái chung nhất cho một loại, một lớp hiện tượng

sự và khái quát chung bởi khái niệm Nhờ có tư duy, con người có thể đi sâu vào đối tượng, cho phép họ nhận thức được những vấn đề mà cảm giác, tri giác không tiếp cận được

- Tư duy liên quan chặt chẽ tới ngôn ngữ

Tư duy trừu tượng không thể tồn tại nếu không có ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ,

tư duy có được tính khái quát và gián tiếp Cũng nhờ có ngôn ngữ, những sản phẩm của tư duy mới được truyền đạt cho người khác Trong lâm sàng tâm thần, ngôn ngữ dược coi là hình thức của tư duy và việc phân loại các rối loạn hình thức tư duy được trên ngôn ngữ

- Tư duy liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính

Nhận thức cảm tính thu thập tư liệu Các biểu tượng của nhận thức cảm tính là nguyên liệu cho tư duy Tư duy phát triển cũng giúp định hướng nhận thức cảm tính

2.2.3 Các thao tác tư duy

- So sánh

Dùng trí óc đối chiếu các đối tượng hoặc những thuộc tính, bộ phận để xem xét sự giống nhau hay khác nhau, đồng nhất hay không đồng nhất

7

Trang 12

So sánh là cơ sở của mọi hiểu biết và của tư duy Chúng ta nhận biết thế giới không ngoài cách thông qua so sánh và phân biệt với một vật gì khác thì chúng

ta không thể có ý niệm nào và không thể nói lên một điểm nào về sự vật đó cả

- Phân tích và tổng hợp

Phân tích: dùng óc phân chia đối tượng thành bộ phận, thuộc tính, quan hệ.Tổng hợp: kết hợp những đối tượng, thuộc tính quan hệ v.v thành tổng thể

- Trừu tượng hoá và khái quát hoá

Trừu tượng hoá: gạt bỏ những bộ phận, thuộc tính, quan hệ thứ yếu, chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết của đối tượng để tư duy

Khái quát hoá là dùng trí óc bao quat nhiều đối tượng khác nhau trên cơ sở một

số thuộc tính, quan hệ, bộ phận giống nhau sau khi đã gạt bỏ những điểm khác nhau

Khái quát hoá là loại tổng hợp mới sau khi đã trừu tượng hoá

tư duy, các thao tác được thực hiện theo một hệ thống nhất định

2.2.4.Các loại tư duy

2.2.4.1 Theo lịch sử hình thành

- Tư duy trực quan-hành động:

Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện nhờ sự cải tổ cáctình huống bằng các hành động vận động có thể quan sát được Loại tư duy này

có ở cả động vật cao cấp

- Tư duy trực quan-hình ảnh:

Đây là loại tư duy mà việc giải quyết các nhiệm vụ được thực hiện bằng sự cải

tổ tình huống chỉ trên bình diện hình ảnh mà thôi Loại này đã phát triển mạnh ởtre nhỏ

- Tư duy trừu tượng:

Loại tư duy được thực hiện trên cơ sở sử dụng các khái niệm, kết caúu logic, được tồn tại trên cơ sở tiếng nói.Ba loại tư duy trên tạo thành các giai đoạn của phát triển tư duy trong quá trình phát sinh chủng loại và cá thể

2.2.4.2 Theo hình thức biểu hiện của vấn đề (nhiệm vụ) và phương thức giải quyết vấn đề

- Tư duy thực hành:

Tư duy thực hành là loại tư duy mà nhiệm vụ của nó được đề ra một cách trực quan, dưới hình thức cụ thể, phương thức giải quyết là những hành động thực hành Ví dụ, tư duy của người thợ sửa xe hơi khi xe hỏng

- Tư duy hình ảnh cụ thể:

Đây là loại tư duy mà nhiệm vụ của nó được đề ra dưới hình thức một hình ảnh

cụ thể và sự giải quyết nhiệm vụ cũng được dựa trên những hình ảnh đã có Ví

dụ, suy nghĩ xem từ trường về nhà đi đường nào là tối ưu cho xe máy

- Tư duy lí luận:Đó là loại tư duy mà nhiệm vụ được đề ra dưới hình thức lí luận và việc giải quyết nhiệm vụ đó đòi hỏi phải sử dụng hệ thống khái niệm

8

Ngày đăng: 26/07/2022, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w