1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Lịch sử văn hóa Việt Nam - Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai

102 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Lịch sử văn hóa Việt Nam gồm có 7 chương với những nội dung chính sau: Chương 1: đối tượng vài nhiệm vụ của môn học; chương 2: các nền văn hoá tiền sử trên đất nước ta; chương 3: văn hoá Việt Nam thời kỳ Vua Hùng dựng nước (thế kỷ II – TCN); chương 4: văn hoá Việt Nam thời kỳ lệ thuộc phương Bắc từ (thế kỷ II TCN đến 938 SCN); chương 5: văn hoá kỷ nguyên Đại Việt (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX); chương 6: văn hoá Việt Nam thời kỳ lệ thuộc phương Tây (từ 1884 đến 1975); chương 7: văn hoá Việt Nam XHCN từ 1975 đến nay. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI

TẬP BÀI GIẢNG LỊCH SỬ VĂN HÓA

VIỆT NAM

Trình độ: Cao đẳng & Trung Cấp

LÀO CAI 2022

Trang 3

1

LỜI NÓI ĐẦU

Đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển, văn hóa ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội cũng như trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định văn hóa

là nền tảng của tinh thần xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người và người, với xã hội và với thiên nhiên Nó là động lực phát triển kinh tế - xã hội Do đó, việc giữ gìn

và phát huy văn hóa dân tộc đang là nhiệm vụ cấp bách và cần thiết không chỉ của một cấp, một ngành mà của toàn dân tộc

Trong hoạt động kinh doanh lữ hành và khách sạn, vai trò của những nhân viên du lịch rất quan trọng Họ không những phải có nghiệp vụ tốt mà cần phải có những kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực mà mình theo đuổi Đối với hoạt động kinh doanh du lịch tại Việt Nam, mỗi một nhân viên ngoài nắm vững chuyên môn nghiệp vụ còn phải có kiến thức sâu rộng về lịch sử văn hóa dân tộc Việc tìm hiểu về lịch sử văn hóa dân tộc còn là điều kiện để thúc đẩy quá trình quảng bá văn hóa Việt Nam đến bạn bè thế giới Đồng thời, bản thân mỗi người có hiểu văn hóa của nước mình thì du khách đến mới tôn trọng và yêu thích những bản sắc rất riêng của dân tộc

“Lịch sử văn hóa Việt Nam” là môn học dùng cho ngành du lịch tại các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học trong cả nước Ngoài vai trò trong giảng dạy, nó còn có ý nghĩa rất lớn trong xã hội Tuy nhiên, văn hóa là một khái niệm trừu tượng và lịch sử văn hóa là một môn học còn tương đối mới mẻ, nó chỉ dừng lại cho một số ngành xã hội Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về lịch sử và đặc điểm văn hóa Việt Nam cũng như môn học lịch sử văn hóa Việt Nam Chính vì vậy, chúng tôi thấy rằng cần trình bày lịch sử Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa để cho sinh viên hiểu được lịch đại Việt Nam, dưới cái nhìn văn hóa học qua đó có cái nhìn khái quát về lịch sử văn hóa Việt Nam

Trên quan điểm đó, bộ môn Du lịch trường Cao Đẳng Cộng Đồng biên soạn tập bài giảng môn Lịch sử văn hóa Việt Nam với hi vọng văn hóa Việt Nam sẽ khẳng định được vị thế như nó vốn có Chúng tôi cũng mong tập bài giảng sẽ đóng góp tích cực vào việc giảng dạy và học tập cho ngành Du lịch trong các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học trong tỉnh và cả nước

Do kiến thức và kinh nghiệm giảng dạy còn nhiều hạn chế nên chắc chắn cuốn sách

sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng của đồng nghiệp và bạn đọc

MỤC LỤC

Trang 4

2

Nội dung Trang

CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA MÔN HỌC

1.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học

1.2 Nhiệm vụ của môn học

CHƯƠNG 2 CÁC NỀN VĂN HOÁ TIỀN SỬ TRÊN ĐẤT NƯỚC TA

2.1 Đặt vấn đề

2.2 Một số nền văn hoá trên thế giới

2.3 Mối quan hệ giữa văn hoá Việt nam với văn hoá khu vực Đông Nam Á

2.3.Lược đồ khảo cổ các nền văn hoá tiền sử trên đất nước ta

2.5 Nhận định chung

2.6 Phân kỳ lịch sử phát triển của văn hoá Việt Nam

CHƯƠNG 3 VĂN HOÁ VIỆT NAM THỜI KỲ VUA HÙNG DỰNG

NƯỚC (THẾ KỶ II – TCN)

3.1 Khái quát chung

3.2.Những thành tựu văn hoá

5.1 Khái quát chung

5.2 Giai đoạn thế kỷ X( Nhà Ngô – Nhà Đinh – Nhà tiền Lê)

5.3 Giai đoạn thế kỷ XI – XVI( Nhà Lý – Nhà Trần – Nhà Hồ)

5.4 Giai đoạn thế kỷ XV – XIX ( Nhà Lê Sơ – Nhà Mạc - Nhà Tây Sơn –

Nhà Nguyễn)

CHƯƠNG 6 VĂN HOÁ VIỆT NAM THỜI KỲ LỆ THUỘC PHƯƠNG

TÂY (TỪ 1884 ĐẾN 1975)

6.1 Tình hình xã hội Việt Nam giữa thế kỷ XI đầu thế kỷ XX

6.2 Sự phát triển văn hoá

6.3 Nhận định chung

CHƯƠNG 7 VĂN HOÁ VIỆT NAM XHCN TỪ 1975 ĐẾN NAY

7.1 Văn hoá Việt Nam XHCN

7.2 Nhận định tổng quát từ lịch trình phát triển văn hoá Việt Nam

Trang 5

3

Phần mở đầu GIỚI THIỆU VỀ MÔN HỌC LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM

1 Vị trí môn học

Môn học lịch sử văn hóa Việt Nam là môn học cơ sở ngành, được dùng giảng dậy cho chuyên ngành du lịch, nghiệp vụ lễ tân Cùng với các môn cơ sở khác môn học cung cấp những kiến thức cơ bản cho những người làm việc trong lĩnh vực lữ hành, lễ tân khách sạn

2 Mục tiêu của môn học

Môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về văn hóa và lịch sử văn hóa Việt Nam Trên cơ sở những kiến thức đó giúp học sinh vận dụng vào thực tế công việc sau này

3 Mục tiêu cụ thể

Sau khi học xong môn học này, học sinh cần đạt được một số mục tiêu cụ thể sau:

- Về kiến thức:

CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA MÔN HỌC

1.1 Đối tượng của lịch sử văn hoá Việt Nam

1.1.1 Văn hoá là gì?

Từ “văn hoá” đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm Ở phương Đông, Lưu Hướng -

sống thời Tây Hán (Trung Quốc) là người đầu liên sử dụng từ “văn hoá” với nghĩa như

một phương thức giáo hoá con người "Văn” là vẻ đẹp của nhân tính, vẻ đẹp của tri thức,

trí tuệ của con người có thể đạt được băng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức giáo

hoá Chữ “hoá " trong văn hoá là việc đem cái "văn " (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm

hoá, giáo dục với hiện thực hoá trong thực tiễn đời sống

Trong tiếng Việt, văn hoá dược dùng để chỉ trình độ, học thức, lối sống, 1 nếp sống hay chì trình độ phát triển của một giai đoạn văn hoá (văn hoá Sa Huỳnh), một khu vực văn hóa (văn hoá Tây Nguyên)

Từ “văn hoá” trong tiếng Anh và tiếng Pháp được viết là culture, đều có nguồn gốc La tinh là "cultura " Cultura có nghĩa là trồng trọt, cư trú, sự vun trồng Vào đầu thế kỷ XIX,

những học giả phương Tây cho rằng văn hoá thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất Họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh Người đầu tiên đưa

ra định nghĩa mới về văn hoá theo cách hiểu này là nhà dân tộc học người Anh E.B

Taylor Theo ông: “Văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ

thuật, đạo đức luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà còn người có được với tư cách là một thành viên của xã hội "

Tuy nhiên, sang thế kỷ XX quan điểm này về văn hoá đã được nhìn nhận khác: văn hoá không xét ở mức độ thấp cao mà ở mức độ khác biệt Khái niệm văn hoá có thể quy về hai cách hiểu chính: đó là theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp

Theo nghĩa hẹp: văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian

- Giới hạn theo không gian: Văn hoá dùng để chỉ toàn bộ diễn trình lịch sử của dân tộc hay nhân loại, để chỉ những giá trị đặc thù của mỗi vùng, miền, mỗi khu vực, mỗi nước

- Giới hạn theo thời gian: Văn hoá dùng để chỉ những giá trị, thành tựu trong từng giai

Trang 6

4

đoạn, thời kỳ cụ thể (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn, )

- Giới hạn theo chiều sâu: Văn hoá được hiểu là những giá trị tinh hoa của từng lĩnh vực (nếp sống văn hoá, văn hoá, nghệ thuật, )

- Giới hạn theo chiều rộng: Văn hoá để chỉ trong từng lĩnh vực cụ thể (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh, )

Theo nghĩa rộng: Văn hoá là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người

đã tạo ra một cách có ý thức vì sự tiến bộ của nhân loại

Cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá Trong đó, đáng chú ý là

định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi

phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Trích Nhật ký trong

tù)

Bên cạnh đó, trong Hội nghị quốc tế với tuyên bố về những chính sách văn hoá do UNESCO tổ chức đã đưa ra khái niệm về văn hoá:

“Văn hoá hôm nay có lúc coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ

và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những đặc thù nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách hợp lý Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn toàn đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”

Như vậy, văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt mà là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hoá là cội nguồn trực tiếp của sự phát triển

Để hiểu rõ hơn về văn hoá Cần phân biệt văn hoá với văn minh, văn vật và văn hiến

Khái niệm văn minh: Trong Hán - Việt ( văn là vẻ đẹp, minh là sáng) Văn minh trong tiếng La tinh là "civitas" có nghĩa gốc: đô thị, thành phố Khái niệm “văn minh” thường

bao hàm bốn yếu tố cơ bản: đô thị, nhà nước, chữ viết, các biện pháp kỹ thuật cải thiện cho

cuộc sống của con người Do đó, có thể hiểu văn minh là trình độ phát triển nhất định của

văn hoá về phương diện vật chất đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hay cả nhân loại Ví dụ: Văn minh sông Hồng, văn minh phương Tây,

Tuy nhiên, thuật ngữ văn minh thường bị sử dụng đồng nghĩa với văn hoá, cần phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm này:

+ Văn hoá có bề dày lịch sử, trong khi văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại (cho biết trình

độ phát triển của văn hoá ở từng giai đoạn)

+ Văn hoá bao gồm cả văn hoá vật chất và tinh thần thì văn minh thường thiên về giá trị vật chất, giá trị sử dụng

+ Văn hoá mang tính dân tộc rõ ra trong khi văn minh thường mang tính siêu dân tộc - quốc tế

Ví dụ: Văn minh tin học, văn minh hậu công nghiệp, văn hoá Việt Nam, văn hoá Mỹ, văn hoá Pháp

Khái niệm văn hiến (văn là văn hoá, hiến là hiền tài) nói đến truyền thống văn hoá lâu đời

và tốt đẹp Văn hiến thiên về những giá trị tinh thần do những một người có tài đức chuyển tài, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt

Trang 7

5

Từ đời Lý (1010) nhân dân ta đã tự hào nước Việt là một "văn hiến chi bang " Đến thời

Lê (thế kỷ XV) Nguyễn Trãi viết: "Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang" - (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến)

Khái niệm văn vật (văn là văn hoá, vật là vật chất) là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử Khái niệm văn vật thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử

Như vậy, văn hiến và văn vật chỉ là những khái niệm bộ phận của Văn hoá: Văn hiến thiên

về truyền thống lâu đời - chính là các giá trị tinh thần còn Văn vật thiên về các giá trị vật chất (di tích, hiện vật)

Văn hoá Văn minh Văn hiến Văn vật

Chứa cả giá trị vật

chất và tinh

thần

Thiên về giá trị vật chất - kỹ thuật Thiên về giá trị tinh thần Thiên về giá trị vật chất

có bề dày lịch sử Chỉ trình độ phát

triển Có bề dày lịch sử

Có tính dân tộc Có tính quốc tế Có tính dân tộc

Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật

Dựa trên những quan điểm đó,

“Văn hoá là toàn bộ sự hiểu biết của con người được đúc kết lại thành các giá trị, thành chuẩn mực, thành truyền thống và thị hiếu được gọi chung là hệ giá trị xã hội Hệ giá trị xã hội ấy biểu hiện thông qua toàn bộ hoạt động, sản phẩm mà con người đã tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử và đó là cơ sở để tạo nên bản sắc riêng về văn hoá của một cộng đồng xã hội nhất định”

- Hệ thống giá trị xã hội do thể chế xã hội đặt ra nó vừa mang tính quy ước vừa mang tính cưỡng chế Hệ thống giá trị chuẩn mực có thể thay đổi được hoặc không thể thay đổi được

- Hệ giá trị xã hội là sự đúc kết của truyền thống và thị hiếu

+ Giai đoạn lịch sử khác nhau thì hệ thống giá trị khác nhau và các cộng đồng xã hội khác nhau thì quan điểm giá trị cũng khác nhau

+ Nền văn hoá của cộng đồng này khác với nền văn hoá của cộng đồng khác là ở giá trị và quan điểm hướng tới giá trị tạo nên diện mạo văn hoá

Ví dụ: Người phương tây hướng tới giá trị: Chân, thiện, mỹ >< Giả, ác, Không hoàn thiện Người Nhật hướng tới giá trị: Ích, thiện, mỹ

Người Trung Quốc hướng tới giá trị: Phú: Giàu về cả vật chất và tinh thần

Quý: Quyền lực

Thọ: Bền vững

Khang: Cường tráng, khoẻ mạnh

Ninh: Sự an toàn

- Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì cũng có quan điểm hướng tới giá trị khác nhau

Ví dụ: Thời kỳ văn minh nông nghiệp: Hướng tới quyền lực

Thời kỳ văn minh công nghiệp: Hướng tới khoa học

Thời kỳ văn minh công nghệ thông tin: Hướng tới khoa học, dịch vụ

Trang 8

6

1.1.2 Cơ cấu của văn hoá

Văn hoá là một hệ thống được tạo thành bởi nhiều thành tố khác nhau như: thông tin tín hiệu, ngôn ngữ, lối sống, kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, văn chương Mỗi thành tố đều có những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng

1.1.2.1 Ngôn ngữ và văn hoá giao tiếp

Việc hình thành cách đọc Hán Việt cho các từ mượn Hán trong tiếng Việt là kết quả của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán diễn ra trước và trong thời Bắc thuộc Các từ Hán với

số lượng lớn khi nhập vào tiếng Việt đã được đồng hóa cả về ngữ âm, ngữ nghĩa, kết cấu ngữ pháp đề phù hợp với thực tế đời sống và tư duy của người Việt Chính điều này đã tạo nên một diện mạo mới, phong phú, da dạng cho hệ thống từ tiếng Việt

Sự tiếp xúc lớn thứ hai của ngôn ngữ Việt là với ngôn ngữ Pháp Trong thời gian đặt ách cai trị của mình trên đất nước Việt Nam, người Pháp đã đưa tiếng Pháp vào xã hội Việt Nam thông qua chương trình giáo dục thuộc địa Cùng với việc vay mượn số lượng từ vựng và sao phỏng kết cấu ngữ pháp của tiếng Pháp, tiếng Việt giai đoạn này vừa giữ bản sắc của mình vừa biến đổi nhanh chóng, chuẩn bị cho sự phát triển ở giai đoạn sau

Từ năm 1945 đến nay, tiếng Việt được sử dụng thống nhất trong mọi mặt của đời sống cùng với các ngôn ngữ của các dân tộc ít người ở Việt Nam

Trong sự phát triển của văn hoá, ngôn ngữ bao giờ cũng là một công cụ, một phương tiện

có tác động nhạy cảm nhất Ngôn ngữ là thành tố đầu tiên và quan trọng nhất trong nghiên cứu văn hoá

b Văn hoá giao tiếp

Công cụ để giao tiếp chính là ngôn ngữ tìm hiểu về văn hoá giao tiếp giúp chúng ta thấy rõ tính cách cũng như văn hoá ứng xử của người Việt Nam Trong giao tiếp, người Việt Nam

có một số đặc điểm sau:

Coi trọng việc giao tiếp, thể hiện rõ ở sự hiếu khách Khi có khách đến nhà, dù là quen hay

lạ, người Việt Nam luôn tiếp đón một cách chu đáo, nhiệt tình, dành cho khách những điều kiện tốt nhất, đồ ăn ngon nhất: “khách đến nhà chẳng gà thì gỏi” Tính hiếu khách càng thể hiện rõ khi ta về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng núi xa xôi Xuất phát từ tính cộng đồng, người Việt Nam luôn quan tâm đến người khác, khi muốn quan tâm thì phải biết rõ hoàn cảnh của đối tượng giao tiếp, do vậy tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa

vị xã hội, hoàn cảnh gia đình là những vấn đề người Việt Nam thường tìm hiểu, quan sát, đánh giá Điều này hoàn toàn khác với người phương Tây Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ Khác với người phương Tây, người Việt Nam có thói quen giao tiếp "vòng vo tam quốc", trước khi vào câu chuyện thường hỏi thăm tình hình nhà cửa, con cái Đồng thời để tạo không khí, người Việt Nam trước đây có truyền thống

“miếng trầu là đầu câu chuyện ", ngày nay với thời gian "miếng trầu được thay thế bằng chén trà, điếu thuốc,

Trang 9

7

Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam cũng bộc lộ điểm yếu là: rụt rè và thiếu tính quyết đoán; trong giao tiếp thường hay giữ gìn, ngại phê bình, ngại đề nghị, ngại nói thẳng quan điểm của mình Người Việt Nam rất hay cười, nụ cười niềm nở trên môi là cử chỉ giao tiếp đầu tiên, thể hiện sự hiếu khách, sự ý tứ, tế nhị, như muốn níu chân khách trong câu hát "Người ơi, người ở đừng về "

1.1.2.2 Tôn giáo

- Tôn giáo là do con người sáng tạo ra, tồn tại như một thực thể khách quan trong lịch sử

- Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội gồm một hệ thống những quan niệm dựa trên cơ

sở tin tưởng và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, thần thánh, cho rằng những lực lượng này quyết định số phận con người, con người phải phục tùng, tôn thờ

- Tôn giáo xuất hiện sớm, từ trong lòng chế độ công xã nguyên thuỷ với tư cách là sự phản ánh nhận thức của con người trước các lực lượng bí ẩn của tự nhiên Ở Việt Nam cùng tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó chủ yếu gồm: Nho giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, Đạo giáo và các tôn giáo địa phương là Cao Đài, Hoà Hảo

a Nho giáo

* Nguồn gốc của học thuyết Nho giáo

Đạo Nho thực chất không phải là một tôn giáo mà là một hệ thống các quan điểm triết học chính trị - đạo đức đã được "tôn giáo hoá" Nho giáo ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các tầng lớp xã hội Việt Nam trong thời kỳ phong kiến, đặc biệt là tầng lớp trí thức

Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, "nho" là một khái niệm để chỉ người có học thức và hiểu biết lễ nghi đạo lý Nho giáo là hệ thống giáo lý của các nhà nho, nhằm tu dưỡng bản thân, xây dựng và quản lý xã hội

Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, với sự đóng góp của Chu Công Đán Tới Khổng Tử, ông đã phát triển tư tưởng của Chu Công một cách hệ thống và tích cực truyền

bá, vì vậy ông được xem là người sáng lập Nho giáo

* Nội dung của học thuyết Nho giáo

Khổng Tử (551 - 479trCN) tên thực là Khâu, hiệu là Trọng Ni, người nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc ông bắt đầu sự nghiệp truyền bá tư tưởng Nho giáo từ năm ba mươi tư tuổi Những tư tưởng triết lý, luân lý, đạo đức, thể chế cai trị được Khổng Tử và các học trò của ông như Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư, Trình Hạo tổng hợp, hệ thống hoá, xây dựng thành những luân lý ổn định trong hai bộ sách kinh điển của Nho giáo: Ngũ kinh và Tứ thư

Ngũ kinh bao gồm 5 cuốn:

- Kinh thi sưu tập thơ ca dân gian, trong đó chủ đề về tình cảm nam - nữ khá nhiều với mục đích giáo dục một tình cảm lành mạnh;

- Kinh thư ghi lại những truyền thuyết và biến cố về các đời vua anh minh ở Trung Quốc

để nêu gương cho đời sau;

- Kinh lễ ghi chép những lễ nghi với mục đích dùng nó làm phương tiện duy trì ổn định và trật tự xã hội;

- Kinh dịch ghi chép về âm dương, bát quái được Khổng Tử giảng giải sâu rộng thêm và trình bày thứ tự rõ ràng cho dễ hiểu, dễ dùng hơn

- Kinh Xuân Thu ghi chép dưới dạng ký về lịch sử của nước Lỗ, được ông chọn lọc sự kiện kèm theo lời bình, lời thoại

Trước đây bộ sách còn có cuốn thứ sáu là Kinh nhạc, nhưng về sau do bị thất lạc, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên chép chung vào cuốn Kinh lễ

Trang 10

8

Sau khi Khổng Tử mất, các học trò của ông soạn ra cuốn "Luận ngữ": ghi chép những lời dạy và việc làm của Khổng Tử Các cuốn "Đại học", "Trung Dung", "Mạnh Tử" do các học trò của Khổng Tử biên soạn, cùng với cuốn “luận ngữ” hợp lại gọi là Tứ thư

Khổng Tử luôn đề cao chữ “nhân", người quân tử, tư tưởng chính danh và nền giáo dục trọng đạo lý Đây là một hệ thống học thuyết về con người, mối quan hệ giữa người và người

Nho giáo chủ trương xây dựng một xã hội có lễ giáo, kỷ cương, tôn ti trật tự qua những quan hệ chuẩn mực về tam cương (vua - tôi, cha - con, chồng - vợ); ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín)

Quan hệ vua - tôi: tôi phải trung với vua

Quan hệ cha - con: con phải có hiếu với cha mẹ

Quan hệ anh - em: anh em phải yêu thương nhau

Quan hệ chồng - vợ: vợ phải thuận theo chồng

* Sự du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo vào Việt Nam

Nho giáo truyền vào Việt Nam qua các quan lại người Trung Quốc từ rất sớm, từ khoảng đầu Công nguyên

Thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo được du nhập một cách cưỡng bức: quan lại Trung Quốc đưa các chính sách cai trị Nho giáo vào Việt Nam, bắt người Việt học chữ Hán nhằm đồng hoá người Việt Thời kỳ này Nho giáo chưa có chỗ đứng vững chắc trong xã hội người Việt nên mức độ tác động của nó tới đời sống xã hội người Việt không nhiều

Đến thời nhà Lý, Nho giáo phát triển mạnh với sự kiện nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu vào năm 1070 Các thế kỷ XVI, XVII, XVIII Nho giáo vẫn tiếp tục giữ vai trò là hệ tư tưởng chính thống, nhưng dần dần rơi vào tình trạng suy thoái do sự bất ổn định của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội Thời Nguyễn, Nho giáo lại có địa vị ưu thế trong đời sống xã hội

và đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 Nho giáo chấm dứt hoàn toàn vai trò là chỗ dựa của hệ tư tưởng phong kiến

Nho giáo có một ảnh hưởng rất lớn đến nền giáo dục và thi cử ở Việt Nam, đặc biệt là trong việc đào tạo nhân tài cho đất nước Hệ thống thi cử để tuyển chọn người tài bổ trợ vào bộ máy cai trị đã được các triều đình phong kiến Việt Nam vận dụng từ thời Lý Từ kỳ thi đầu tiên (năm l075) đến kỳ thi cuối cùng của khoa cử phong kiến (năm 1919) đã tổ chức

185 khoa thi, với 2875 người đỗ

Tuy nhiên, Nho giáo ở Trung Quốc khi du nhập vào Việt Nam có độ khúc xạ nên Nho giáo

ở Việt Nam có sự khác biệt với Nho giáo Trung Quốc Nho giáo Việt Nam có sự hoà đồng, dung hợp với các tín ngưỡng dân gian cũng như các tôn giáo khác ở Việt Nam như Phật giáo, Đạo giáo

Nếu như Nho giáo không coi trọng người phụ nữ, coi phụ nữ là "nữ nhân nan hoá”, "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" thì ở Việt Nam người phụ nữ, người mẹ lại được tôn trọng và đề cao Ví dụ: Để nói về mối quan hệ gia đình, người Việt Nam thường nói: vợ - chồng chứ không phải là chồng vợ, “nhất vợ nhì trời " Phụ nữ chính là người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái : "Phúc đức tại mẫu ", "Con dại cái mang "

b Đạo Phật

* Nguồn gốc của đạo Phật

Phật giáo là tôn giáo lớn trên thế giới, có nguồn gốc ở ấn Độ, hình thành vào thế kỷ VI trước Công nguyên

Người sáng lập đạo Phật là hoàng tử Siddartha Gautama ông sinh năm 563 trước Công

Trang 11

9

nguyên tại Kapilavastu (ngày nay là vùng đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần các bang UngPrađesơ và Biha của Ấn Độ Sau sáu năm đi tìm con đường giải thoát, ông đã đắc đạo và được tôn xưng là Sa kia Muối (Thích Ca Mâu Ni)

* Nội dung của đạo Phật

Học thuyết Phật giáo lý giải về nỗi đau khổ trầm luân và sự giải thoát con người khỏi bể khổ Chân lý ấy được thể hiện trong Tứ diệu đế:

+ Khổ đế nêu lên chân lý về bản chất của nỗi khổ

+ Tập đế là chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ

+ Diệt đế là chân lý về cảnh giới diệt khổ Nỗi khổ sẽ bị diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ, sự tiêu diệt khổ đau gọi là Niết bàn Khi ấy con người sẽ được giải thoát khỏi bể khổ để tới được cõi cực lạc

+ Đạo đế chỉ ra con đường diệt khổ, con đường đưa tới hạnh phúc viên mãn

Đạo Phật chủ trương duy trì sự bình đẳng giữa các tầng lớp trong xã hội, không phân biệt giàu nghèo

Nội dung cơ bản của Phật giáo là thuyết Thập nhị nhân duyên (Mười hai nhân duyên) Nhân là nguyên nhân gây ra sự vật

Duyên là những mối quan hệ, những điều kiện, những ảnh hưởng xung quanh khiến cho nhân phát khối vận hành Đó là một chuỗi liên lục các nguyên nhân giam hãm, lôi cuốn con người trong vòng sinh tử luân hồi

* Ảnh hưởng của Phật giáo ở Việt Nam

Đạo Phật sớm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam ban đầu thông qua các thương nhân Ấn

Độ, sau đó là Trung Quốc

Thành Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay) là trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam

Do được du nhập bằng con đường hoà bình, từ bi bác ái nên ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phát triển rộng khắp

Các triều đại thời kỳ Đinh - Lê tuy không tuyên bố Phật giáo là quốc đạo nhưng đã công nhận Phật giáo là tôn giáo chính thức của cả nước, có chính sách phát triển Phật giáo Đến thời Lý - Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh với rất nhiều chùa tháp có quy mô lớn, kiến trúc độc đáo như chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chùa Đại Lãm, chùa Diên Hựu, hệ thống chùa Yên Tử, tháp Bình Sơn

Ở thời kỳ Lý - Trần có 4 công trình văn hoá Phật giáo nổi tiếng, còn gọi là An Nam tứ đại khí: tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh Thời kỳ Lê Sơ với chủ trương Nho giáo làm chỗ dựa tư tưởng chính trị và đạo đức, do vậy Phật giáo không được đề cao Đến thời kỳ nhà Nguyễn, nhiều chùa được tu bổ, xây mới: chùa Thiên Mụ (Huê), chùa Thiền Tây (Vĩnh Phúc), chùa Độc Tôn (Thái Nguyên),

Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc và hoà nhập với các tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc, tạo nên những nét riêng biệt Đó là việc thờ "tứ pháp": Pháp Vân, Pháp

Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện; đưa các thần thánh, các thành hoàng, thổ địa, các anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa

Ở Việt Nam số người theo đạo Phật hay có tình cảm với đạo Phật rất nhiều, theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ thì số tín đồ phật tử xuất gia khoảng 31 triệu người, số người thường xuyên đến chùa tham gia các Phật sự vào khoảng 110 triệu người, số người chịu

Trang 12

10

ảnh hưởng của Phật giáo khoảng vài chục triệu người

c Đạo gia và Đạo giáo

Đạo gia: (Đạo giáo triết học)

Trang Tử (khoảng 369 - 286 tr CN) là người phát triển học thuyết của Lão Tử Tư tưởng của ông đã được ghi lại trong cuốn Nam Hoa kinh với chủ trương xoá nhoà mọi ranh giới giữa con người và thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô Chủ nghĩa duy tâm chủ quan mang tính tương đối luận

Đạo giáo: (Đạo giáo tôn giáo)

* Nguồn gốc:

Đạo giáo được hình thành trên cơ sở Đạo gia Tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hoá Đạo gia thành Đạo giáo Đạo giáo được hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng Nam Trung Hoa vào thế kỷ II sau Công nguyên Đây

là sự tổng hợp các loại hình tín ngưỡng mê tín dân gian và cung đình của Trung Hoa cổ đại: tử vi, xem sao, toán mệnh, bùa chú

Đạo giáo tôn Lão Tử là người sáng lập, gọi là "Thái Thượng Lão Quân"

* Nội dung:

Mục đích của Đạo giáo là sống lâu, trường sinh bất lão Kinh điển của Đạo giáo là Đạo tạng Ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, Đạo tạng còn bao gồm cả sách thuốc dưỡng sinh, dự đoán cát hung, tướng số, thơ văn,

Đạo giáo có hai hình thức:

- Đạo giáo thần tiên: Hướng tới việc luyện đan, luyện khí công để đạt tới trường sinh bất tử

và tu thành tiên Đây là hình thức dành cho quý tộc, vua chúa và tầng lớp trí thức, quan lại,

sĩ phu

- Đạo giáo phù thuỷ: Dùng các biện pháp ma thuật và phương thuật để chữa bệnh, cầu một cuộc sống mạnh khoẻ, sống lâu Hình thức này chủ yếu dành cho tằng lớp bình dân

* Ảnh hưởng của Đạo giáo ở Việt Nam:

Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ II, do các đạo sĩ phương Bắc đưa vào

Ở Việt Nam, ảnh hưởng của Đạo gia chủ yếu diễn ra trong tầng lớp nho sĩ nhưng ảnh hưởng không đậm nét Đạo giáo ngay khi du nhập vào Việt Nam đã phát triển rất mạnh do gặp gỡ và dung hợp các tín ngưỡng dân gian việt Nam vốn có từ xa xưa như tín ngưỡng

ma thuật, thần linh, thần tiên,

Bên cạnh việc thờ các vị thần của Đạo giáo như Ngọc Hoàng thượng đế, Thái Thượng Lão Quân thần Trấn Vũ, Quan Thánh đế thần điện của Đạo giáo Việt Nam còn thờ các vị thần thánh khác như Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Bà Chúa Liễu, Chủ Đồng Tử, Tản Viên,

Trang 13

11

Trong thời kỳ phong kiến, các đạo sĩ được triều đình coi trọng, bên cạnh tăng quan (tăng sư) còn có các đạo quan (đạo sĩ) được sử dụng làm cố vấn trong triều Ông tổ của Đạo giáo Việt Nam là Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ) Tương truyền ông sống ở thời kỳ vua Hùng, đã từng lên núi tu luyện, được ban gậy thần và sách ước, sau thành tiên bay lên trời Tuy ảnh hưởng không sâu sắc bằng Phật giáo và Nho giáo, nhưng Đạo giáo đã có một vai trò đáng kể trong đời sống tâm linh văn hoá ở Việt Nam Đạo giáo hoà quyện vào những tín ngưỡng dân gian cổ truyền, phát triển tương đối đa dạng

Ở Việt Nam hiện nay, Đạo giáo không còn phát triển, những hiện tượng như bùa chú, ma thuật tuy vẫn còn lưu truyền nhưng chỉ có giá trị như những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống

Giáo lý của đạo quan niệm con người do Chúa Trời sáng tạo nên, do vậy họ có nghĩa vụ thờ phụng Chúa

* Đặc điểm:

Trong quá trình phát triển, Kitô giáo đã tách thành:

+ Công giáo - giáo hội phía Tây

Trụ sở: Toà thánh Vatican ở Rô Ma, hình thành thế kỷ I sau công nguyên

+ Chính thống giáo: Đến thế kỷ XI, hình thành hai trung tâm: Rôma và Conxtantinốp (hiện nay là Xtambun của Thổ Nhĩ Kỳ) Kitô giáo ở phương Đông tách ra khỏi Công giáo, hình thành một tông phái mới, gọi là Chính thống giáo

+ Đạo Tin lành: Với cuộc cải cách tôn giáo ở châu Âu, thế kỷ thứ XVI Công giáo lại chia làm đôi dẫn đến việc ra đời một tôn giáo mới là đạo Tin lành

+ Anh giáo: Từ phong trào cải cách tôn giáo của riêng nước Anh, hình thành tôn giáo của nước Anh, tách ra khỏi Công giáo La Mã

Như vậy, trong dòng Kitô giáo gồm các nhánh Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành và Anh giáo

Nhà thờ La Mã (toà thánh Vatican) là trung tâm của Kitô giáo, quản lý các tín đồ bằng một

tổ chức chặt chẽ: giáo xứ, giáo phận, giáo hội quốc gia, quyền lực tối cao thuộc về giáo hoàng

* Ảnh hưởng của Kitô giáo đến Việt Nam

Công giáo được truyền vào Việt Nam từ tế kỷ XVI, qua các giáo sĩ ở phương Tây Khi vào Việt Nam, Kitô giáo được các nhà nho gọi là đạo Gia Tô hay Thiên Chúa giáo Người tích cực truyền đạo vào Việt Nam là Alexandre de Rhodes, đồng thời cũng là người có công lớn trong việc sáng tạo ra chữ quốc ngữ Ảnh hưởng lớn nhất của Kitô giáo đến văn hoá Việt Nam đó là hệ thống chữ quốc ngữ, là loại chữ được các giáo sĩ phương Tây dựa vào bộ chữ cái LaTinh để ghi âm tiếng Việt

Nhiều hình thức văn hoá nghệ thuật phương Tây cũng được truyền bá vào Việt

Trang 14

Ngày 23 tháng Chạp (ngày ông Táo lên trời) người dân nô nức đi chợ tết, làm lễ cúng ông Công, ông Táo

Chợ tết chính là một sinh hoạt văn hoá mang tính cộng đồng, là thước đo sự no ấm của người dân trong năm Mọi người trong gia đình cùng nhau luộc bánh chưng, bày mâm ngũ quả, trang hoàng nhà cửa Ai ai trong lòng cũng phấn khởi đón chờ một năm mới nhiều may mắn và hạnh phúc

* Một số phong tục trong tết Nguyên đán

- Lễ trừ tịch:

Giao thừa là thời khắc giao thoa giữa năm cũ và năm mới Lễ trừ tịch diễn ra vào giây phút cuối cùng của năm cũ và cũng là giây phút đầu tiên của năm mới Lễ trừ tịch còn gọi là lễ giao thừa Lễ trừ tịch hàm chứa ý nghĩa: vứt bỏ mọi điều xấu, vận đen năm cũ, chờ đón điều tốt lành, vận may năm mới

Lễ trừ tịch - đêm giao thừa trong mỗi gia đình người Việt bên cạnh ban thờ tổ tiên còn có một mâm đồ cúng trước nhà để tạ thần Thổ công, Táo quân, cầu xin các vị thần phù hộ cho gia đình Lễ trừ tịch gắn liền với đời sống tâm linh của người Việt Nam

- Tục chúc tết đầu xuân:

Ngày tết là dịp mọi người biểu lộ lòng biết ơn, trân trọng những người có công sinh thành, dưỡng dục mình Chính vì vậy có câu: “mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy” Người Việt Nam thường có phong tục trong ngày tết, cả gia đình đến chúc tết ông

bà, cha mẹ và thầy cô, bạn hữu Họ cầu chúc cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất, bỏ qua cho nhau mọi sự xích mích, mếch lòng nhau trong năm cũ

Cùng với lời chúc đầu năm mới, người Việt Nam có tục mừng tuổi thể hiện tính cộng đồng cao Tiền mừng tuổi được mọi người cất riêng để giữ may mắn, phát tài, phát lộc suốt năm

- Tục dựng cây nêu:

Phong tục này đã có từ rất lâu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam: người Kinh, Mường, Thái, Êđê, Gairai Ngày nay phong tục này tuy không còn phổ biến nhưng vẫn tồn tại ở một số làng quê

Ngày 30 tết, các gia đình đều tiến hành việc trồng cây nêu trước sân nhà, bằng một cây tre đực cao hơn nóc nhà, trên ngọn nêu treo túm lá dứa, cành đa, lá thiên tuế, một tán tròn bằng tre dán giấy xanh đỏ có tua ngũ sắc treo những chiếc khánh và con cá bằng đất nung Mỗi vật treo trên cây nêu đều có ý nghĩa biểu tượng riêng: cái khánh đem phúc đến cho gia đình, cành đa, lá thiên tuế tượng trưng cho điềm lành, tuổi thọ, lá dứa biểu tượng vũ lực ngăn kẻ ác, tán tròn dán giấy đỏ tượng trưng áo cà sa của đức Phật,

Tục dựng cây nêu xuất phát từ một huyền thoại trong dân gian, là biểu tượng văn hoá

Trang 15

b Hôn nhân

Hôn nhân của người Việt truyền thống không phải là việc giữa hai người mà là việc quan viên hai họ “dựng vợ, gả chồng” cho con cái Chính vì vậy mà hôn nhân ở các tầng lớp trẻ thường được cha mẹ hay các bậc bề trên lớn tuổi của dòng họ dàn xếp thông qua người làm mối

Hôn nhân được coi là cách thức linh thiêng để duy trì nòi giống, đáp ứng nhu cầu nhân lực của gia đình trong sản xuất nông nghiệp Dân gian có những tiêu chuẩn để chọn con dâu:

“Những người thắt đáy lưng

Đã khéo chiều chồng lại giỏi nuôi con

Những cô béo trục béo tròn

Ăn vụng đã lắm đánh con cả ngày”

Về việc kén rể cũng cần kén người giỏi giang, có địa vị trong xã hội, đem lại vẻ vang trong gia đình:

“Chồng sang vợ được đi hài”

hay:

“Trai khôn kén vợ chợ đông

Gái khôn kén chồng giữa chốn ba quân”

Hôn nhân ngoài đáp ứng quyền lợi của hai người còn phải đáp ứng quyền lợi dòng họ, gia đình, làng xã, quyền lợi của quốc gia

* Một số phong tục liên quan đến hôn nhân:

+ Tục giã cối đón dâu: thể hiện ước mong đông con nhiều cháu

+ Tục trải chiếu: chọn người trải chiếu cho đôi vợ chồng trẻ để mong cuộc sống hạnh phúc, sớm thêm con thêm cháu Người được chọn để trải chiếu cho đôi vợ chồng trẻ phải là người có cuộc sống gia đình hạnh phúc và còn đủ cả vợ cả chồng

Người được chọn để trải chiếu phải trải chiếu cho thật ngay ngắn và thật đẹp trước khi cô dâu về nhà chồng

+ Ăn chung đĩa cơm nếp: gắn bó với nhau cả đời

+ Uống chung ly rượu: say nhau cả đời

+Tục mẹ chồng đem ông bình vôi tạm lánh sang nhà hàng xóm: với ý nhường truyền nội tướng cho con dâu

Tóm lại, phong tục tập quán của người Việt Nam rất phong phú và đa dạng, nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống: tập quán ăn uống, tập quán canh tác, hôn nhân, tang ma, lễ tết

c Nghệ thuật diễn xướng:

- Chèo: Chèo là hình thức sân khấu dân gian Việt Nam kể chuyện bằng trò diễn hề nảy

Trang 16

14

sinh và phát triển từ các hình thức nghệ thuật dân gian của người Việt: các câu ca dao tục ngữ, các điệu dân ca, các trò nhại diễn xướng dân gian, các nghi lễ tôn giáo, Ngôn ngữ nghệ thuật của chèo là một chỉnh thể phức hợp gồm các yếu tố ca hát, vũ đạo, vũ thuật tạo thành một hình thức biểu diễn độc đáo của người diễn trò kèm theo sự hỗ trợ của một số nhạc cụ dân tộc như trống, mõ, thanh la, kèn, sáo, nhị,

Nghệ thuật chèo mang những sắc thái riêng chỉ có ở Việt Nam, một phong cách nghệ thuật không thể trộn lẫn Đó là trong dàn nhạc phụ trợ, có trống đế, đó là một loại trống nhỏ dùng riêng cho chèo Nó dẫn dắt tiết tấu của trò diễn, tiếng trống đế vang lên khi rộn rã thúc giục, khi nhát một trầm tư kết hợp cùng 1 diễn xuất Tiếng trống đế đã đi vào câu ca dao quen thuộc:

“Ăn no rồi lại nằm khèo

Nghe tiếng trống chèo bê bụng đi xem”

Nói đến chèo, người ta nghĩ ngay đến nhân vật hề chèo với tiếng cười lúc hồn nhiên, lúc châm biếm chua cay hay độc đáo hơn là tiếng đế: lối bình phẩm tại chỗ, một hình thức liên

hệ, giao lưu giữa người xem trò và người diễn trò Hát chèo chủ yếu diễn ra ở chốn dân dã,

về sau phát triển thành rạp hát và phát triển ra đô thị Các tích chèo thường được xây dựng theo các truyện dân gian, các chuyện Nôm khuyết danh mà các nhân vật chính phần lớn là nông dân, các thôn nữ, các chàng thư sinh, Nội dung các tích chèo thường đề cao và ca ngợi những những quan niệm, đạo đức phong kiến như hiếu, nghĩa, lễ, tín,

Thế kỷ XVIII Và đầu thế kỷ XIX là thời kỳ phát triển nhất của chèo cổ, những trò diễn truyền lại cho đến ngày nay chủ yếu ra đời trong thời kỳ này Các vở chèo nổi tiếng: Suý Vân giả dại, Thị Màu lên chùa, TuầnTy - đào Huế,

- Tuồng (hát bộ hay hát bội)

Tuồng là một loại hình sân khấu kịch hát ra đời trên cơ sở giao lưu với văn hoá Trung Quốc (kinh kịch) Cũng giống như chèo, tuồng là sự phát triển của nghệ thuật ca vũ và trò diễn dân gian dân tộc Nghệ thuật biểu diễn tuồng mang tính cách điệu cao với cách nói, cách hát, các động tác được cường điệu hoặc vũ đạo hoá Các nhân vật tuỳ theo từng đặc trưng cơ bản của tính cách mà hoá trang theo những mô hình mặt nạ riêng biệt cho từng loại người: thư sinh quan văn, quan võ, Không gian sân khấu thường không có bối cảnh

cụ thể mà biến đổi tuỳ theo sự xuất hiện của từng nhân vật

Có hai phong cách tuồng: tuồng truyền thống và tuồng cải cách Nghệ thuật tuồng phát triển ở cả nông thôn và thành thị, trong đó tuồng truyền thống chủ yếu ở nông thôn còn tuồng cải cách xuất phát từ việc giao lưu với các đoàn kinh kịch ở Trung Quốc nên chủ yếu diễn ra ở thành thị

Từ sau Cách mạng tháng Tám, nghệ thuật tuồng tiếp tục được bảo tồn và phát huy, bên cạnh những tích tuồng cổ được phục hồi và lưu truyền còn xuất hiện nhiều vở tuồng đi vào

đề tài hiện đại, gần gũi với cuộc sống đương thời

- Cải lương:

Là loại hình kịch hát, được hình thành trên cơ sở loại hình đờn ca tài tử ở Nam Bộ Cải lương được hình thành từ vùng đồng bằng sông Cửu Long Tác giả đầu tiên của loại hình nghệ thuật này là tác giả Trương Duy Toản với vở Lục Vân Tiên được biểu diễn trên sân khấu Thầy Thận tại Sa Đéc năm 1917

Sân khấu cải lương ra đời đúng vào lúc đất nước liên liếp xảy ra những sự kiện chính trị trọng đại do vậy rất nhiều vở cải lương mang nội dung yêu nước, đề cao cách mạng: vở Lê Lợi khởi nghĩa; Tiếng sấm Phú Kinh; Đường về quê ngoại Ngoài ra còn có những vở cải lương về đề tài hiện đại như Đời cô Lựu

Nghệ thuật cải lương nhanh chóng phát triền từ Nam ra Bắc, được các nghệ sĩ ở miền

Trang 17

15

Bắc tiếp thu và phát triển

Nghệ thuật cải lương ngay từ khi ra đời đã thích ứng rất nhanh chóng với nhu cầu của công chúng bằng cách khai thác các đề tài khác nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống Nếu tuồng thường bị hạn chế trong khuôn khổ đề tài cung đình, chèo đề cập đến các đề tài dân gian, nông thôn thì cải lương có thể dung nạp các loại đề tài khác nhau: từ đề tài lịch sử đến đề tài hiện đại, từ nông thôn đến thành thị, từ các đề tài chính trị đến các đề tài xã hội, tình yêu đôi lứa,

Trước kia nghệ thuật tuồng, chèo, cải lương thường được tổ chức tử theo hình thức phường, gánh, biểu diễn lưu động theo từng mùa diễn, thường vào mùa xuân là thời gian tổ chức các lễ hội

Phần lớn các phường, gánh đều do các nghệ nhân tập hợp lại thành đoàn hát, dưới sự chỉ huy của ông bầu gánh thường là những người có điều kiện về tài chính đứng ra tổ chức Sân khấu chủ yếu là sân khấu tư nhân, có tính chất thời vụ, nay họp mai tan, chưa thành một tổ chức định hình với những mục đích, nhiệm vụ, phương hướng nghệ thuật lâu dài

Từ sau Cách mạng tháng Tám, sân khấu Việt Nam được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã tổ chức thành một hệ thống thống nhất nằm trong thiết chế văn hoá chung của cả nước bao gồm hệ thống Hội nghề nghiệp, các nhà hát, các đoàn nghệ thuật

1.1.3 Các chức năng xã hội của văn hóa

Sự phân chia các chức năng của văn hoá trong giới khoa học có nhiều sự khác nhau Sở dĩ

có điều này là do cách tiếp cận của từng tác giả khác nhau, hoặc đó là cách nói khác nhau

về cùng một chức năng của văn hoá Về cơ bản các nhà khoa học phân chia các chức năng của văn hoá như sau:

a Chức năng tổ chức xã hội

Dân tộc ta cũng như các dân tộc khác và toàn nhân loại khi sống định cư cũng phải thiết lập cho mình những trật tự xã hội, những nguyên tắc chung của mỗi quốc gia Mỗi một dân tộc đều có những thiết chế xã hội được xác định dưới hình thức: bộ tộc, dòng tộc, làng xã,

đô thị, quốc gia

Mỗi làng, mỗi địa phương mỗi dân tộc lại có những nguyên tắc riêng trên cơ sở nhưng nguyên tắc chung của một quốc gia Chính văn hoá với chức năng tổ chức xã hội góp phần duy trì ổn định xã hội, điều chỉnh hành vi mỗi người trong cộng đồng dân cư, cộng đồng quốc gia, dân tộc, cộng đồng làng xã, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để thích nghi với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

b Chức năng điều chỉnh xã hội

Văn hoá đã điều chỉnh tư tưởng, hành động của mỗi cá nhân, từ đó điều chỉnh tổ chức, hoạt động của toàn xã hội Người Việt Nam trong cuộc sống của mình trên cơ sở phép nước còn dựa vào lệ làng, phong tục, tập quán Dựa vào môi trường tự nhiên và xã hội riêng của mình, người Việt Nam đã tự tạo ra các thiết chế kiểu nông nghiệp cho phù hợp với điều kiện sống của cư dân nông nghiệp, lấy đó làm chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của mình

Người Việt Nam truyền thống sống chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp trồng lúa nước, điều kiện sống và lao động của cư dân nông nghiệp thường phải lệ thuộc vào thiên nhiên Bên cạnh việc sống hoà đồng với thiên nhiên, họ còn biết cải tạo tự nhiên cho phù hợp với môi trường sống: khai hoang, đắp đê cải tạo đồng ruộng,

Trong đời sống xã hội, người Việt Nam tự tạo ra các thiết chế kiểu nông nghiệp, lấy đó làm chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của mình Như vậy, văn hoá trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội

Trang 18

16

c Chức năng giáo dục

Chức năng giáo dục là chức năng bao trùm nhất của văn hoá, bởi vì mục tiêu cao cả nhất của hoạt động văn hoá là vì con người, làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn Văn hoá thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống) mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Những giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ đó mà văn hoá đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người

Văn hoá do con người tạo ra và không ngừng bổ sung, hoàn thiện nó trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc và nhân loại Trong giáo dục, ngoài việc học ở trường, lớp người ta còn được học ngoài thực tế cuộc sống hay nền giáo dục dân gian Nhiều phụ nữ vùng châu thổ sông Hồng, dù không biết chữ mà vẫn thuộc lòng Truyện Kiều, ca dao, dân ca, hò, vè, Trong gia đình, trẻ em được học nề nếp gia phong, nữ công, gia chánh, may vá Trẻ em biết hát đồng dao chơi các trò chơi dân gian: chơi chuyền, đánh quay, thả diều, thổi sáo, Đó chính là những sinh hoạt văn hoá dân gian, ở đây giáo dục mang tính cộng đồng xã hội, xã hội hoá văn hoá

d Chức năng đảm bảo tính kế tục của lịch sử

Từ chức năng giáo dục, văn hoá có chức năng phát sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hoá, được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng qua không gian và thời gian

Ngoài các chức năng trên, văn hoá còn có các chức năng khác như chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí, Nhận thức rõ chức năng của văn hoá chính là nhận thức vai trò, tác dụng và đóng góp của văn hoá đối với đời sống con người, khẳng định rõ mục tiêu cao cả của văn hoá là vì sự phát triển hoàn thiện con người

1.1.4 Những tính chất và quy luật phát triển của văn hoá

a Các tính chất của văn hóa:

- Tính chất nhân loại phổ biến

Đây là một tính chất đặc trưng của văn hoá bởi văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo

ra và chỉ trong xã hội loài người mới có văn hoá

Chúng ta có thể khẳng định được điều này khi chúng ta so sánh giữa hoạt động của con người với động vật

Ví dụ:

Chim hót:Thể hiện khả năng âm nhạc

Ong làm tổ: Thể hiện khả năng kiến trúc

Công múa: thể hiện nghệ thuật tạo hình

Chim mớm mồi: Thể hiện tình cảm

Đối với con người chúng ta tất cả những hành động đó đều có ý nghĩa riêng của nó, nhưng đối với động vật đó chỉ là hoạt động mang tính bản năng, sinh tồn

Chính vì vậy ta có thể khẳng định rằng ở đâu có con người sinh sống, ở đó có văn hoá Vì vậy, tính chất đầu tiên của văn hoá là tính chất nhân loại phổ biến

- Tính chất giai cấp trong xã hội có phân hoá giai cấp

+ Khi xã hội chưa phân chưa có phân chia giai cấp, chưa có sự phân biệt kẻ giàu người nghèo, tất cả mọi người đều chung sống với nhau bình đẳng, khi đó nhu cầu và mong muốn của con người là nhu cầu tồn tại, vì vậy văn hoá thời kỳ này chưa mang tính giai cấp + Khi xã hội bước thời đại phong kiến: sự phân cơ cấu giữa người giàu và người nghèo

Trang 19

17

trong xã hội càng thể hiện rõ nét, quyền lực tập chung toàn bộ trong tay của tầng lớp quan lại

“ Quân xử thần tử thần bất tử bất trung” (Vua bảo thần chết thì thần phải chết)

+ Khi xã hội phát triển lên một cấp cao hơn, của cải của xã hội bắt đầu có dư thừa, và bắt đầu nảy sinh vấn đề mọi người tranh giành, mâu thuẫn với nhau để chiếm phần của cải dư thừa đó Trong quá trình tranh giành, sẽ có người chiến thắng và nắm quyền lực – nhà nước

sơ khai bắt đầu hình thành và xã hội bước đầu có sự phân chia giai cấp Từ đây giữa người giàu và người nghèo sẽ có những điểm khác biệt:

Người giàu: Thường là những người chăm chỉ

Là những người chiếm đoạt, bóc lột của cải của những người nghèo

Tư duy của họ thường mang tính khoa học

Người nghèo: Thường lười lao động

Lao động thiếu khoa học

Là tầng lớp bị chiếm đoạt

Thường chịu hậu quả nặng nề của thiên nhiên như: thiên tai, bão lụt

- Trong xã hội có mâu thuẫn giai cấp đối kháng thì văn hoá sẽ mang tính đối kháng;

- Tính chất dân tộc và tính quốc tế trong văn hoá

Văn hoá phản ánh tính dân tộc, nên dân tộc còn thì văn hoá còn, dân tộc mất thì văn hoá mất

Điều đó đã được chứng minh qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, sau đó là hai cuộc xâm lược của Đế Quốc Pháp và Đế Quốc Mỹ Mặc dù chúng đã dùng nhiều thủ đoạn nhằm đồng hóa dân tộc ta nhưng cuối cùng chúng đã thất bại, nhân dân ta vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình

b Quy luật của văn hoá

Văn hoá tuân theo các quy luật cơ bản sau:

- Kế thừa có phê phán

Đây là một quy luật tất yếu của sự phát triển, điều đó chứng tỏ một điều rằng văn hoá Việt nam đang trên đà phát triển, kế thừa những truyền thống vốn có lâu đời cổ truyền của dân tộc nhưng không ngừng loại bỏ những hủ tục, những phong tục lạc hậu nhằm mục đích: văn hoá Việt Nam ngày càng phát triển, cuộc sống của người dân ngày càng văn minh hơn

- Tiếp thu có chọn lọc

Trải qua các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, nền văn hoá Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của rất nhiều nền Văn hoá như: Văn hoá Trung Hoa, văn hoá Pháp, Văn hóa Ấn Độ, nhưng không vì thế mà văn hoá Việt nam mất hẳn đi nền văn hoá cổ truyền của dân tộc, mà nhân dân Việt Nam đã biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại, đồng thời phát huy nét đặc sắc của văn hoá bản địa tạo nên một nền văn hoá Việt Nam độc đáo, ậm đà bản sắc dân tộc

* Tóm lại: Đối tượng của lịch sử văn hoá Việt Nam là nghiên cứu về văn hoá, các thành tố

cơ bản cấu thành nên văn hoá, các chức năng của văn hóa, các tính chất và quy luật phát triển của văn hoá

1.2 Nhiệm vụ của lịch sử văn hoá Việt Nam

1.2.1 Tìm hiểu giá trị của cộng đồng dựa vào các giai đoạn:

Trang 20

18

- Để tìm hiểu các giá trị của văn hoá Việt nam, hay lịch sử phát triển của văn hoá Việt nam,

ta dựa vào lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước

Từ nguồn gốc Lạc long Quân và Âu cơ, từ truyền thuyết An dương Vương với nỏ thần, và truyền thuyết Mỵ Châu, Trọng Thuỷ, đến cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Phương Bắc và phương Tây Từ đó ta thấy rằng: Để tìm hiểu giá trị văn hoá của cộng đồng dân tộc Việt, hay nói cách khác là tìm hiểu tìm hiểu lịch sử của văn hóa Việt Nam ta phải dựa vào lịch sử hào hùng của dân tộc, và các truyền thuyết lịch sử còn nghi lại

1.2.2 Dựa vào lịch sử để tìm hiểu văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần

- Quay trở lại nguồn gốc Lạc Long Quân và Âu Cơ, An Dương Vương, 1000 năm Bắc thuộc, ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông, đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ngày nay, các thế hệ mai sau vẫn được biết, tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt nam là vì chúng ta đã dựa vào lịch sử khảo cổ để tìm hiểu và chúng ta vẫn còn

sử sách nghi chép lại

Từ những nguồn sử sách còn lưu lại và các di tích khảo cổ chúng ta hiểu hơn về nền văn hoá của các thế hệ đi trước

* Tóm lại: Nhiệm vụ của lịch sử văn hoá Việt Nam là dựa vào lịch sử khảo cổ và sử sách

vì lịch sử Việt Nam chứa nhiều bí ẩn, kỳ diệu, dùng lịch sử để giải thích văn hoá, khẳng định được giá trị truyền thống của dân tộc, chứng minh được lịch sử phát triển của văn hoá Việt Nam

CHƯƠNG 2 CÁC NỀN VĂN HOÁ TIỀN SỬ TRÊN ĐẤT NƯỚC TA

2.1 Đặt vấn đề

Con người vốn được sinh ra từ tự nhiên, còn văn hoá là bộ phận biến cải của tự nhiên, do con người sinh ra Theo ĂngGhen "con người cũng là sản phẩm của tự nhiên hay là sản phẩm của chuỗi tiến hoá của tự nhiên ".Con người đứng trước thiên nhiên là đứng trước sự thách đố buộc con người phải giải đáp mà tồn tại

Do vậy, để tồn lại con người rất cần có tự nhiên, việc con người ứng xử với tự nhiên như thế nào là điều rất quan trọng trong đời sống văn hoá Có nhiều cách ứng xử với tự nhiên khác nhau:

Ở một số nước phương Tây cho rằng cần phải chinh phục, thống trị, làm biến đổi tự

Trang 21

19

nhiên trong khi ở các nước phương Đông lại có thái độ hoà đồng với tự nhiên, dựa vào sức mạnh của thiên nhiên để làm chuyển biến xã hội Môi trường tự nhiên với tất cả những thuận lợi và khó khăn của nó là yếu tố khách quan tác động một cách trực tiếp, thường xuyên và rất lâu dài đối với cuộc sống của con người Do vậy ứng xử với môi trường tự nhiên có hai khả năng diễn ra: những gì tự nhiên ban tặng cho con người như sông ngòi, thổ nhưỡng, khí hậu, động thực vật phong phú, cảnh quan thiên nhiên, các chất liệu tự nhiên làm vải mặc, để dựng nhà, thì con người cần tận dụng tối đa, còn những gì có hại như: lụt lội, hạn hán, khoảng cách, thì con người cần tìm cách khắc phục, phải tìm cách phương thức thích ứng tích cực vì sự tồn tại phát triển và duy trì nòi giống

Ví dụ: Cư dân vùng Bắc Á và Bắc Mỹ sinh sống chủ yếu bằng cách đánh cá, nuôi hươu (Esqiucoo cổ đại)

Cư dân Mông Cổ sinh sống vùng thảo nguyên, họ phải chon cuộc sống du mục nay đây mai đó, chọn phương thức chăn nuôi gia súc: cừu, ngựa, xây dựng lều trại chăn nuôi để tồn tại,

Thiên nhiên đặt ra các điều kiện cho con người, nhưng cũng chính thiên nhiên lại lưu giữ lại những giá trị văn hoá mà con người đã tạo dựng trong lòng đất

Điều đó có thể kết luận rằng cư dân ở đây đã chọn nghề trồng cấy lúa để tồn tại và đó là khu vực lưu trú của người Việt cổ, chúng ta có quyền kết luận toàn bộ bí ẩn của văn hoá Việt nam là do cây lúa nước quyết định bởi toàn bộ công việc trồng cây lúa nước là điều kiện tiên quyết để người Việt cổ tạo nên những giá trị truyền thống văn hoá và diện mạo văn hoá của mình

2.2 Một số nền văn hoá trên thế giới

2.2.1 Nền văn minh Trung hoa

- Có lịch sử ra đời cách ngày nay khoảng 5000 năm ở lưu vực sông Hoàng Hà, Dương Tử

đó là nền văn minh của người Trung Hoa

- Trung hoa lấy tư tưởng của Khổng Tử làm nền tảng (lấy việc dạy tốt hơn việc cai trị )

- Những thành tựu chủ yếu của nền văn hoá Trung Hoa:

+ Văn học

Kinh thi là tập thơ cổ nhất Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân Thu, được Khổng Tử sưu tập và chỉnh lý

Tiểu thuyết: Phát triển mạnh thời Minh – Thanh Ví dụ:

Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung)

Thuỷ Hử (Thi Đại Am)

Tây Du Ký ( Ngô Thừa Ân)

Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần)

+ 4 phát minh mà TQ đóng góp cho nhân loại là: Giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in (4 phát minh này làm thay đổi cả thế giới)

- Các công trình kiến trúc nổi tiếng của Trung Quốc: Vạn lý trường thành (6700 Km), Cố Cung,Tử Cấm Thành

Trang 22

20

chua để cầm máu (hoá học)

- Trong y học: Họ dùng phương pháp chữa bệnh bằng cây cỏ, bên cạnh đó còn chữa bệnh bằng điều hoà khí huyết cho con người

ra còn phải kể đến những nét đặc sắc truyền thống khác như trà đạo, Budō, kiến trúc, vườn Nhật và cả gươm Nhật Ẩm thực Nhật Bản hiện nay là một trong những nền ẩm thực nổi tiếng nhất trên thế giới

Ngôn ngữ và phong tục của người Nhật gồm những thành tố văn hoá của cả phương Bắc lẫn phương Nam Dưới góc độ sử dụng từ và cú pháp câu, rõ ràng tiếng Nhật thuộc hệ ngôn ngữ Altai của các dân tộc phía Bắc lục địa châu Á, song trong từ vựng lại có nhiều từ gốc

từ phía Nam Trong các tập quán và tín ngưỡng, ta thấy các lễ nghi gắn với văn hóa lúa nước vốn có nguồn gốc ở phía Nam; còn huyền thoại lập nước bởi vị thần - ông tổ của nòi giống - từ thiên đường xuống hạ giới thì có nguồn gốc ở phía Bắc Vì vậy, người ta cho rằng dân cư ở đây có xuất xứ từ cả phương Bắc lẫn phương Nam, đến quần đảo Nhật Bản

từ thời tiền sử và qua một quá trình hoà trộn các chủng tộc dần dần tạo ra dân tộc Nhật Bản

2.2.4 Nền văn hoá Đông Nam Á

- Có niên đại cách ngày nay khoảng 4000 – 5000 năm;

- Văn minh Đông Nam Á là nền văn minh rất khiên tốn bởi nơi đây tôn giáo ít phát triển

- Cách đây khoảng 2000 năm, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của hai nền văn hoá lớn đó là: + Cách thức tổ chức cuộc sống của Trung Hoa

+ Đời sống tâm linh của Ấn Độ

2.2.5 Nền văn hoá Tây âu - Bắc mỹ

- Có niên đại cách ngày nay khoảng 2000 năm;

- Đây là nền văn hoá của những cư dân đi biển;

- Lấy tư tưởng thiên chúa làm nền tảng;

- Cư dân vùngTây Âu và Bắc Mỹ có đầu óc thực tiễn rất cao;

2.2.6 Văn minh Đông âu

Trang 23

21

Đây là khu vực văn minh của những nhóm nước: Nga, Bungari, Hungari, CH Séc

Họ theo đạo thiên chúa chính thống nên có thể nói đặc điểm của cư dân ở các quốc gia này

là rất bảo thủ

Cư dân Đông Âu chất phác, chăm chỉ

Cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật ở Đông Âu, họ đã biết tiếp thu và vận

dụng vào thực tế cuộc sống Chính vì vậy, nền kinh tế của các quốc gia Đông Âu phát triển rất nhanh và đây còn là cái nôi của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

2.2.7 Nền văn hoá Ả Rập - Hồi giáo

- Điều kiện tự nhiên: đây là khu vực rất giàu tài nguyên khoáng sản ( Dầu lửa)

- Cư dân sinh sống theo hình thức du mục, thường xảy ra xung đột

- Thế kỷ VII- TrCN cách ngày nay khoảng 13.000 năm đạo hồi đã ra đời

Đạo hồi có ảnh hưởng rất sâu sắc đến cuộc sống của người dân, cốt lõi của Đạo hồi là Lục tin (6 điều tin):

2.2.8 Nền văn hoá Châu Phi

- Đặc điểm của các quốc gia khu vực này là:

+ Nền kinh tế nghèo, kém phát triển,chủ yếu là do văn minh phương tây áp đặt

+ Dân số đông;

+ Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt;

+ Trình độ dân trí thấp;

+ Trong lĩnh vực thể thao, nghệ thuật khá phát triển

2.3 Mối quan hệ giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Khu vực Đông Nam Á

- Xét theo khái niệm văn hoá, lịch sử khu vực Đông Nam Á xưa là một chỉnh thể thống nhất trong tính đa dạng có lịch sử chung và có văn hoá tương đối tương đồng

- Tại khu vực này phát hiện thấy rất nhiều hiện vật khảo cổ chứng minh lịch sử phát triển văn hoá của Đông Nam Á

Như vậy thời kỳ cổ đại, địa bàn sinh sống của người Việt cổ có những mối quan hệ tương đồng về văn hoá với khu vực Đông Nam Á

2.3.1 Điều kiện chung

- Ở thời tiền sử, vùng Đông Nam Á là vùng đất rộng lớn hơn nhiều so với ngày nay, phía bắc giáp với bờ sông Dương Tử (Trung Quốc), phía nam đến 1 quần đảo Nam Dương (Indonesia), phía tây giáp với Ấn Độ, phía đông là cả một khu vực đảo và bán đảo nằm cạnh châu Đại Dương

- Đông Nam Á ngày nay là một khu vực gồm 11 nước: Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Myanma, Malaixia, Indonesia, Philippin Brunay, Singapore, Đông Timor

Trang 24

22

- Đông Nam Á có vị trí nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ Tây Á, Địa Trung Hải

- Đông Nam Á là một khu vực lịch sử văn hoá được hình thành từ rất sớm, là một khu vực bán đảo và đảo

- Khí hậu: Đông Nam Á có chung khí hậu nhiệt đới nóng ẩm vì nằm gần đường xích đạo

a Tại khu vực Đông Nam Á phát hiện rất nhiều người Vượn cổ hoá thạch, điều đó cho

chúng ta thấy Đông Nam Á là cái nôi sinh sôi của loài người Các hoá thạch có niên đại cách ngày nay khoảng từ 1 triệu – 300.000 năm Bên cạnh các hoá thạch xương người ta còn tìm thấy các công cụ lao động

Điều đó khẳng định: Đông Nam Á là khu vực có nền văn hoá bản địa

b Đông Nam Á là một trong những cái nôi của nghề trồng cấy lúa nước

- Cư dân cổ vùng Đông Nam Á đã biết chuyển từ trồng củ sang trồng lúa từ khoảng thế kỷ

VI đến thế kỷ IV trước Công nguyên Sản xuất nông nghiệp lúa nước là phương thức hoạt động kinh tế chính

- Thuần dưỡng trâu bò phục vụ nông nghiệp

Kim khí chủ yếu là đồng và sắt, dùng để chế tạo công cụ lao động, vũ khí và đồ nghi lễ

- Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các hoá thạch như: hạt gạo cháy, bàn nghiền, hòn nghiền, đó là những chứng cứ chứng minh họ đã làm nông nghiệp từ rất lâu đời

- Trong ăn uống cư dân Đông Nam Á chọn cách ăn thực vật, các chế phẩm từ lúa gạo như: cơm, bánh, và các loại động vật nhuyễn thể như: Tôm, cua, ốc, ếch

- Trong các hoạt động lễ hội họ tôn vinh nguồn nước (gắn liền với sản xuất nông nghiệp) như: Lễ hội chọi trâu, đâm trâu, đua bò

- Về mặt tôn giáo:

+ Theo thuyết vật linh

+ Thờ cúng tổ tiên và thần đất

+ Tín ngưỡng phồn thực

- Nhà sàn là một sáng tạo kiến trúc rất cổ ở Đông Nam á, vừa thoáng mát, tránh được thú

dữ, tận dụng nguyên liệu sẵn có (tranh, tre, nứa, lá), vừa giải quyết được mặt bằng trên mọi địa hình Kỹ thuật đồ đá, đổ đồng, đồ : sắt đồ gốm, điêu khắc chạm gỗ, âm nhạc, nhạc cụ, các điệu múa, là biểu hiện trình độ cao và tính đa dạng của văn hoá

- Cư dân có kỹ năng về nghề đi biển

- Về mặt tổ chức xã hội: Phụ nữ đóng vai trò quan trọng

Trang 25

- Cư dân Đông Nam Á là một tiểu chủng hỗn hợp:

+ Người Âu: Da trắng, tầm vóc cao lớn, mắt xanh, mũi lõ, tóc xoăn (vàng, mềm) môi đỏ, khuôn mặt dài, trán thẳng

+ Người Mông cổ: Da vàng, tầm vóc thấp đậm, mắt đen một mí, mũi tẹt, môi mỏng, tóc đen mềm, thẳng, mặt tròn

+ Người châu Phi: Da đen, tầm vóc cao lớn, mắt to lồi, hai mí, mũi to cao, môi dày, tóc xoăn cứng, trán thẳng, cằm hơi nhô về phía trước

Người châu Á thuộc chủng tộc Môngôlôit đó là sự kết hợp giữa người Mông cổ - da vàng ở phương Bắc và da đen phương Nam tạo nên ngưòi Mông cổ phương Nam

+ Người Việt Nam: Tầm vóc không cao lắm, người nhỏ, chân tay nhỏ, dáng đi nhẹ nhàng, yêu hoà bình, trí tưởng tượng rất phong phú

d Ngôn ngữ:

- Ngôn ngữ của cư dân Đông Nam Á thuộc ba ngữ hệ chính: Tày Thái, Nam Á, Mã Lai + Tày -Thái: Gồm các nhóm địa phương: Tày thái - Tạng Miến – Mèo Dao

+ Nam Á: Gồm các nhóm địa phương: Việt - Mường, Môn – Khơme

+ Mã Lai: Nhóm địa phương là Mã lai đa đảo

Cư dân Đông Nam Á không bảo lưu được chữ viết của mình Cách đây 2000 năm cư dân Đông Nam Á đã tiếp thu ảnh hưởng của 3 nhóm ngôn ngữ: Văn tự Trung Hoa, văn tự Ấn

Độ, văn tự La Tinh

e Đông nam á là cái nôi của luyện kim đồng

- Cách ngày nay 5000 năm – 4000 năm, Đông Nam Á đã phát minh ra quặng đồng và đã luyện kim đồng để chế tác công cụ lao động

- Các nhà khảo cổ đã tìm thấy: Xỉ đồng, công cụ đồng, khuôn đúc đồng ở khắp các khu vực

ở Đông Nam Á: Việt Nam, Lào, Cămpuchia

Đây là điều kiện quan trọng để Đông Nam Á bước vào thời kỳ sản xuất chuyển từ ăn lông,

ở lỗ thô sơ sang thời kỳ sản xuất, sử dụng kim loại và bước vào thời kỳ văn minh cao hơn

để hình thành các quốc gia cổ đại Đông Nam Á

* Kết luận: Từ 5 đặc điểm trên đây cho thấy từ 1 vạn năm cho đến cách ngày nay 2000 năm Đông Nam Á là 1 khu vực thống nhất, văn hoá tương đối tương đồng, là vùng đất Phi Hoa – Phi Ấn (không phải Trung Quốc, không phải Ấn Độ) Bởi vì ngay từ khi chưa có người Hoa, người Ấn cư trú, cư dân ở đây đã sáng tạo ra những giá trị văn hoá tuyệt vời mà tiêu biểu là nền văn hoá Đông Sơn đã phát huy ảnh hưởng ra khắp vùng Đông Nam Á

2.4 Nhận định chung

- Vùng Đông Nam Á thời cổ đại là một khu vực văn hoá phát triển trong đó tiêu biểu là nền văn hoá Hoà Bình - Tỉnh Hoà Bình Việt Nam phát hiện vào những năm 20 của Thế kỷ XX + Nền văn hoá Hoà Bình nằm ở khu vực tồn tại của người Việt cổ, sau đó tìm thấy ở nhiều địa điểm khác thuộc khu vực Đông Nam Á

+ Nền văn hoá Hoà Bình ra đời đánh dấu một thời kỳ phát triển vượt bậc, chính thức giã

Trang 26

Từ những nhận định trên đây chúng ta có thể kết luận rằng:Văn hoá của người Việt cổ là nền văn hoá nội sinh, bản địa, bởi chủ nhân của nền văn hoá này là thuộc nhóm cư dân thuộc nhóm cư dân phương Nam, khác hẳn với nền văn hoá của người Hán vốn có nguồn gốc từ phương Bắc

* So sánh giữa người Hán cổ và Việt cổ

Hán cổ Việt cổ

- Lục địa xanh

- Trồng khô: Ví dụ như trồng Kê, ngô,

mạch

- Đào hầm để ở, đào giếng lấy nước uống

- Ăn: bánh bao,cháo, các món từ mỡ nhiều,

đường, ớt, xì dầu

- Phương tiện đi lại: Kiệu, ngựa, xe ngựa

- Vũ khí: Phong phú: Cung, kiếm, đao

- Âm nhạc: Chuông, khánh, tiêu, sáo, nhị,

đàn,

- Nhiệt đới ẩm, gió mùa

- Trồng nước: Ví dụ như trồng Lúa

- Ở nhà Sàn, uống nước mạch hoặc ao tù vì không biết đào giếng

- Ăn: Cơm, canh, rau và các món kho mặn, cơm lam, mắn

- Đi bộ, thuyền độc mộc

Gậy tre, nỏ Khèn, trống đồng, bầu

- Đông Nam Á với điều kiện tự nhiên thuận lợi có biển Đông nên giao lưu văn hoá tại khu vực này là sự vận động thường xuyên, tất yếu Nếu lấy bất kỳ yếu tố văn hoá nào để phân tích chúng ta sẽ thấy nền văn hoá Đông Nam Á có nhiều giá trị của nhiều nền văn hoá cộng lại

Ví dụ: Tiếng việt: những từ thuần việt có rất ít còn lại là được bồi đắp bởi tiếng Hán và phương Tây

+ Trong quá trình phát triển, văn hoá Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của 2 nền văn hoá lớn trên thế giới là: Văn hoá Trung Hoa và văn hoá Ấn Độ

Đến thế kỷ XIX, Đông Nam Á tiếp xúc với nền văn hoá Phương Tây và bị chủ nghĩa thực dân Phương Tây thống trị hơn 1 thế kỷ

2.5 Lược đồ khảo cổ các nền văn hoá tiền sử trên đất nước ta

2.5.1 Những dấu vết người Vượn và sự xuất hiện người khôn ngoan

Đây là giai đoạn hình thành, phát triển, định vị của văn hoá Việt Nam

- Mở đầu cho giai đoạn này là văn hoá Núi Đọ thuộc Huyện Thiệu Hoá – Thanh Hoá (Cách ngày nay khoảng 20 -30 vạn năm) thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá cũ

Tại đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra hoá thạch xương Động vật: Hổ, báo, lợn rừng, Công cụ lao động bằng đá Ngoài ra các nhà khảo cổ còn thu nhặt được hàng vạn mảnh ghè

có bàn tay gia công của người nguyên thuỷ tuy vẫn còn ở trình độ thô sơ

+ Các nhà khảo cổ còn phát hiện thấy xương răng của người Vượn cổ ở hang Thẩm Khuyên (Lạng sơn), Thẩm Hai (Lạng Sơn) đó là những loại xương răng có niên đại cách

Trang 27

25

ngày nay 20 -30 vạn năm

+ Sau đó các nhà khảo cổ phát hiện thấy Xương răng của người khôn ngoan (Thẩm Om - Nghệ An) Điều đó chứng tỏ rằng: người Vượn cổ đã có sự tiến hoá: từ ăn hang ở lỗ, chủ yếu ăn thức ăn là thực vật, họ đã biết dùng lửa để nấu chín thức từ động vật, họ đã có sự thay đổi trong nhận thức - đó là một quá trình tiến hoá liên tục

- Sau văn hoá Núi Đọ các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ thuộc hậu kỳ đá

cũ ở Việt Nam là Văn hoá Sơn Vi (Huyện Lâm Thao – Phú Thọ)

+ Văn hoá Sơn Vi có niên đại cách ngày nay khoảng từ 20.000 năm -11.000 năm Người Sơn Vi sống chủ yếu trên các gò đồi của vùng trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

+ Tại đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra hoá thạch xương động vật và các công cụ lao động như: chặt, nạo cắt, các hòn đá được ghè đẽo ở hai cạnh Họ chủ yếu sống bằng cách săn bắn và hái lượm,

2.5.2 Nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn

- Năm 1926 nhà bác học người Pháp: Malendaconi lần đầu tiên phát hiện thấy dấu hiệu nền văn hoá Hoà Bình (cách ngày nay từ 18.000 – 7.000 năm -thuộc thời đại đá mới)

+ Các nhà khảo cổ đã phát hiện hơn 120 địa điểm có dấu hiệu của nền văn hoá Hoà Bình, chủ yếu thuộc các hang động: Ninh bình, Quảng ninh, Sơn la, Lai châu

+ Trong nhiều hang động thuộc văn hoá Hoà bình, các nhà khảo cổ đã chứng minh người Hoà Bình có cuộc sống khá ổn định tại một địa điểm, đó là điều kiện quan trọng làm nảy sinh nông nghiệp sơ khai, tuy nhiên nguồn thức ăn chủ yếu của họ vẫn là săn bắt và hái lượm Các bộ lạc nguyên thuỷ thời kỳ này đã biết trồng các loại cây ăn quả, các loại rau

củ, và đặc biệt là đã biết trồng lúa

+ Tại đây các nhà khảo cổ học đã tìm thấy xương răng của động vật, công cụ lao động bằng đá và quan trọng nhất là phát hiện thấy các dấu hiệu của nghề nông sơ khai như: Bào

tử phấn hoa, hoá thạch hạt gạo,

2.5.3 Văn minh Sông Hồng từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn

- Thuộc giai đoạn trung kỳ và hậu kỳ đá mới, đặc trưng bởi các nền văn hoá: Văn hoá Đa Bút (Thanh Hoá),văn hoá Quỳnh Văn (Nghệ An) và đỉnh cao là văn hoá Phùng Nguyên (Lâm Thao – Phú Thọ) có niên đại cách ngày nay khoảng 4.000 năm Tập chung chủ yếu tại các vùng: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng tại đây các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các công cụ lao động bằng đá rất tinh xảo (mài nhẵn với 2 rìa lưỡi), ngoài ra họ còn tìm thấy xỉ đồng, điều đó chứng tỏ cư dân Phùng Nguyên đã biết nấu quặng đúc đồng tại đây họ đã tìm thấy kim loại nhưng chưa tìm thấy công cụ kim loại Thời kỳ này đánh dấu bước phát triển của trình độ tư duy khoa học và cuộc sống bước vào thời kỳ văn minh

+ Khi công cụ đá có năng suất lao động thấp của cải làm ra chỉ đủ phục vụ cho nhu cầu của bộ lạc, nhưng khi công cụ bằng sắt ra đời, năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, của cải trong bộ lạc bắt đầu có dư thừa, một số người có tư tưởng chiếm số của cải dư thừa

đó làm của riêng mình – xuất hiện người quản lý - xã hội bắt đầu phân hoá – Thúc đẩy nhà nước ra đời

- Sau văn hoá Phùng Nguyên là nền văn hoá Đồng Đậu (Phú Thọ) với hiện vật tìm thấy chủ yếu là công cụ lao động bằng đồng và nền văn hoá Gò Mun (Phú Thọ) với hịên vật là công cụ lao động bằng đồng xen lẫn công cụ lao động bằng đá

- Tiếp theo là nền văn hoá Đông Sơn, có niên đại cách ngày nay khoảng 2.500năm (khoảng đầu thiên niên kỷ thứ I TrCN), được coi là cốt lõi của người Việt cổ

+ Thời kỳ này công cụ đá vắng bóng hẳn, nhường chỗ vào đó là công cụ đồng chiếm về

Trang 28

26

số lượng, chủng loại, kích thước,

+ Cư dân văn hoá thời kỳ này đã có đời sống tinh thần khá phong phú: Giữa các khu vực

có sự giao lưu văn hoá mạnh mẽ thông qua sự tiếp xúc về văn hoá, kinh tế xã hội, quan hệ hôn nhân Điều đó còn thể hiện trong tư duy sáng tạo nghệ thuật: Những hịên vật bằng đồng có kích thước lớn, trang trí hoa văn phong phú mà cho tới ngày nay đã trở thành biểu tượng của văn hoá dân tộc - Trống đồng Đông Sơn: hoa văn trang trí xung quanh trống, hình mặt trời với những tia sáng thể hiện người Đông Sơn có tư duy sáng tạo nghệ thuật,

tư duy về thời gian, về vũ trụ

Thời kỳ này con người đã biết sáng tác các truyện truyền thuyết, thần thoại thường có nội dung phản ánh quá trình khai phá và chiếm lĩnh các đồng bằng của cư dân Việt cổ, quá trình hội nhập các bộ lạc với nhau

Kết luận: Qua lược đồ khảo cổ văn hoá trên đất nước Việt Nam cho thấy tại đây có một nền văn hoá ra đời và đó là nền văn hoá có chủ nhân - Người Vượn Cổ- đó là quá trình phát triển liên tục con người cải biến thiên nhiên

2.6 Phân kỳ lịch sử phát triển của văn hoá Việt Nam

Là dựa vào những sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu bước chuyển giai đoạn trong lịch sử phát triển của văn hoá Việt nam

2.6.1 Văn hoá Việt nam thời kỳ Vua Hùng dựng nước

- Vua Hùng 18 đời (Thời gian dừng lại của thời kỳ Vua Hùng là 111

Tr CN – Nam Việt bị sát nhập vào bản đồ Phương Bắc - Quận Giao Chỉ)

- Thục Phán: 1đời

- An Dương Vương: 19 đời

-Thời kỳ dựng nước khoảng 4000 năm trước là bước ngoặt lớn của dân tộc, chuyển cư dân nguyên thuỷ thành cộng đồng quốc gia nước Văn Lang

- Văn hoá Văn Lang – Âu Lạc mở đầu thời kỳ dựng nước đã tạo nên một cơ tầng văn hoá bản địa người Việt cổ mang tính Nam Á, bước đầu định hình cho bản sắc văn hoá truyền thống Việt, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển thống nhất, bền vững của dân tộc Việt Nam

- Đây là giai đoạn chúng ta hoàn toàn tự chủ về chính trị và là thời kỳ khai hoa văn hoá

2.6.2 Văn hoá Việt Nam thời kỳ lệ thuộc Phương Bắc (Thế kỷ II trCN – 938 Sau CN)

- Sau khi chiếm được đất Âu Lạc (179 tr CN) Triệu Đà sát nhập Âu Lạc vào Nam Việt và chia Âu Lạc thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân, cử quan lại và binh lính sang cai trị và đóng đồn

- Thời kỳ này chấm dứt vào năm 938 SCN khi chiến thắng Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán

- Đặc điểm chính trị thời kỳ này: tạm mất quyền tự chủ về chính trị

- Văn hoá: Văn hoá bản địa vẫn tồn tại nhưng có sự giao lưu và tiếp biến văn hoá Trung Hoa

2.6.3.Văn hoá Viêt Nam thời kỳ Đại việt

- Thời kỳ tự chủ của quốc gia Đai Việt kéo dài gần một thiên niên kỷ, từ 938 TrCN – 1884 – khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam

- Các triều đại của thời kỳ tự chủ: Ngô - Đinh - Tiền Lê – Lý - Trần – Lê – Nguyễn

- Đặc điểm chính trị: Hoàn toàn tự chủ về chính trị và đây là thời kỳ phát triển cao nhất

Trang 29

27

của văn hoá Việt Nam,đặc biệt là thời kỳ Lý - Trần

- Đặc điểm văn hoá: Phục hưng văn hoá dân tộc

2.6.4 Văn hoá Việt Nam thời kỳ lệ thuộc Phương Tây

(Từ 1884 – 1945)

Đặc điểm chính trị: Mất quyền tự chủ dân tộc

Đặc điểm văn hoá: Tiếp biến văn hoá phương Tây

2.6.5 Văn hoá Việt Nam XHCN từ 1945 đến nay

- Ra sức giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

- Thời kỳ tiền Hùng Vương (Tiền Việt) tương ứng với nó là nền văn hoá Phùng Nguyên (Lâm thao –Phú thọ)

Có niên đại cách ngày nay khoảng 4000 năm là địa bàn sinh sống của người Việt cổ

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy các công cụ lao động bằng đá và dấu hiệu của kim loại

- Thời kỳ Hùng Vương tương ứng với nó là nền văn hoá Đông Sơn (Đông Sơn – Phú Thọ)

Có niên đại cách ngày nay khoảng 2500 năm Các bằng chứng khảo cổ đã khẳng định: + Nhà nước Vua Hùng thuộc nền văn hoá Đông Sơn bởi vì thời gian tồn tại của nhà nước Vua Hùng trùng với niên đại của khảo cổ của các hiện vật trong nền văn hoá Đông Sơn (Thuộc về thiên niên kỷ thứ I TrCN)

+ Cương vực của nhà nước Hùng Vương trùng với địa bàn phát hiện hiện vật

* Kết luận:

Nền văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại Vua Hùng vì thế hiện vật của văn hoá Đông Sơn đều

có thể soi sáng thời đại Vua Hùng

Hiện vật Đông Sơn có hàng trăm loại: công cụ lao động, đồ dùng, vũ khí… Trong tất cả các hiện vật này quan trọng nhất là Trống Đồng Đông Sơn bởi vì nó chính là bằng chứng

về một xã hội phát triển

Những hình ảnh trên trống đồng Đông Sơn là một hình thức văn tự của cư dân hồi đó Địa bàn tìm thấy nhiều trống đồng nhất là:

Phía Tây - Tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc

Phía Đông - Tỉnh Vân Nam – Trung Quốc

Vùng Trung du Bắc Bộ của Việt Nam

- Nhà khoa học người Áo - Hêgơ đã phân loại trống đồng thành 4 loại:

+ Hêgơ 1 – kí hiệu : H1 - Trống Đông sơn

+ Hêgơ 2 – Kí hiệu : H2 - Trống Mường

+ Hê gơ 3 – Kí hiệu : H3 - Trống Shan (Mianma)

Trang 30

28

+ Hêgơ 4 – Kí hiệu : H4 - Trống Đồng Trung Quốc

- Phiên bản trống Đồng Ngọc Lũ (Việt Nam) đã được chủ tịch nước Lê Đức Anh đặt tại trụ

sở Liên hợp quốc (Newyork) - thế giới đã công nhận trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc là Việt Nam

3.2 Những thành tựu văn hoá

3.2.1 Thành tựu văn hoá vật chất

- Những chuyển biến về nền kinh tế - xã hội, xuất phát từ nhu cầu đoàn kết chống giặc ngoại xâm và yêu cầu về thuỷ lợi của nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng lưu vực sông Hồng … đã tác động mạnh đến quá trình hình thành nhà nước đầu tiên ở Việt Nam -Nhà nước Văn Lang

Theo sử cũ, vào khoảng thế kỷ VII TrCN, có vị thủ lĩnh tài ba đã thu phục được các bộ lạc lên ngôi vua, tự xưng là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, chia nước thành 15 bộ, đóng đô ở Bạch Hạc – Việt Trì – Phú Thọ

Nhà nước Văn lang ra đời được chuẩn bị từ những nền văn hoá tiền – Sơ sử và được trực tiếp hình thành trong một quá trình phát triển văn hoá liên tục Hay nói cách khác chính những thành tựu văn hoá tiền sử, sơ sử phát triển liên tục đó là bước chuẩn bị, là tiền đề đưa lịch sử Việt Nam vào thời đại Hùng Vương

- Thời kỳ này nền sản xuất nông nghiệp rất phát triển, cư dân thời kỳ này đã biết dùng trâu

để làm sức kéo

+ Cư dân Văn Lang - Âu Lạc sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, nguồn lương thực chính của cư dân là thóc gạo, thức ăn chủ yếu là các loại rau, củ, quả và các sản phẩm của nghề đánh cá, chăn nuôi, săn bắt…

Nền nông nghiệp thời kỳ này rất phát triển, điều đó được chứng minh bằng: các hình ảnh trên Trống Đồng:

Hình ảnh bông lúa trên quai trống

Hình ảnh người giã gạo

Hình ảnh mặt trời,…

Những hoạ tiết trang trí trên trống Đồng chính là một sử bằng hình ảnh phản ánh tín ngưỡng tôn giáo, lối sống, cuộc sống lao động vui chơi, nghệ thuật và trình độ thẩm mỹ của người Việt nam.Hay dựa vào các sự tích huyền thoại: Sự tích bánh Trưng, bánh Dày

* Kết luận

Qua đây cho ta thấy quá trình làm nông nghiệp của dư dân Văn Lang – Âu Lạc là một quá trình phát triển liên tục, tất cả các hình ảnh được chạm khắc trên trống đồng hay các truyền thuyết, huyền thoại đều là do cư dân tự đúc kết, trở thành kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp được truyền bá từ đời này qua đời khác

- Chăn nuôi: Cư dân Văn Lang – Âu Lạc đã biết thuần dưỡng những loài thú hoang thành vật nuôi trong gia đình như: Trâu, bò, chó, gà, lợn vừa để làm sức kéo vừa để làm thức ăn,

cư dân thời kỳ này đã có ý thức về giá trị dinh dưỡng và sức khoẻ của mình Điều đó chứng

tỏ trình độ tư duy và nhận thức của cư dân thời kỳ này đã bắt đầu phát triển

Trang 31

29

Xã hội thời kỳ này đã có sự phân công lao động người làm ruộng, người làm thợ do đó sản phẩm hết sức phong phú, phục vụ cho đời sống của con người

Đời sống kinh tế phát triển nó là cơ sở thúc đẩy sự phát triển của văn hóa tinh thần

3.2.2 Thành tựu văn hoá tinh thần

* Hệ thống tư tưởng tôn giáo chưa ra đời nhưng đã xuất hiện các tín ngưỡng:

+ Tín ngưỡng phổ biến của người Việt cổ là sùng bái tự nhiên, giống như các nước cổ đại khác trên thế giới, họ thờ thần mặt trời, thờ thần sông, thần núi, thần đất…Những vị thần liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp

Thờ mặt trời: được đặt ở vị trí trung tâm của trống Đồng - Vị trí quan trọng nhất

Thờ vật linh: họ cho rằng các con vật cũng có linh hồn như con người, VD: Chim cổ dài (sống vùng núi cao), cá Sấu ( sống dưới nước)

+ Thờ cúng ông bà tổ tiên

+ Tín ngưỡng phồn thực

+ Thờ cúng các anh hùng thủ lĩnh - người có công với đất nước

- Ý nghĩa văn hoá

Khi con người không biết sợ hãi thì con ngưòi rất khô khan, tàn bạo Nhưng khi con người

đã có niềm tin thì họ sẽ biết sợ, con người sẽ biết kiểm soát hành vi của mình, suy nghĩ của mình, họ sẽ thận trọng hơn khi hành động

* Văn hoá nghệ thuật

- Hình thức truyền miệng: phát triển các loại hình như: truyện dân gian, truyện cổ tích, thần thoại

- Nghệ thuật tạo hình:

Nghệ thuật tạo hình thời kỳ này đạt đến trình độ tinh xảo, tiêu biểu là nghệ thuật tạo hình trên trống đồng Đông Sơn, nghệ thuật chạm khắc trên trống đồng Đông Sơn, hết sức sinh động và độc đáo

Hình ảnh trạm khắc trên trống đồng Đông Sơn chủ yếu là các hình ảnh động VD: hình ảnh đàn chim cổ dài, hình ảnh người giã gạo…thể hiện trình độ tư duy cao của người Việt cổ, đồng thời khẳng định được giá trị, sản phẩm của ngưòi Việt cổ

- Âm nhạc:

+ Nhạc cụ: tương đối phát triển gồm bộ hơi (khèn) và bộ gõ (trống Đồng)

+ Ca hát: phát triển loại hình hát đồng giao (ngồi hát đối đáp với nhau)

+ Múa: Bắt đầu xuất hiện, nhảy múa theo nhịp điệu của trống Đồng, không có vũ điệu, có

sự kết hợp giữa âm nhạc và múa (gõ trống đồng, nhịp 1,2 chẵn, lẻ)

* Khoa học:

Trình độ tư duy khoa học tương đối phát triển:

- Khoa học đúc đồng: có sự thay đổi tỷ lệ hợp kim: đồng chiếm 80 -90%; chì, thiếc chiếm

10 – 20%

- Họ bắt đầu có ý thức về thời gian và phương hướng

- Có ý thức về sự tồn tại của lưỡng nghi (2 mặt của sự phát triển)

Nam - Nữ Già - Trẻ

Ngày – Đêm Trời – Đất

Trang 32

- Tục uống nước bằng mũi

- Họ thường dùng đồ trang sức: Vòng tay, vòng cổ, hoa tai bằng đá, đồng thau

- Tục chôn người chết cùng hiện vật và ở nơi cư trú (mộ thuyền, mộ chum, thạp…)

* Lễ hội:

Lễ hội là sinh hoạt đỉnh cao của văn hoá cộng đồng Hội làng thường được tổ chức vào mùa thu, khi công việc đồng áng rảnh rỗi nhất với những lễ nghi cầu xin mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, các giống loài sinh sôi nảy nở…

Sau phần lễ là phần hội, các hoạt động vui chơi, văn nghệ thể thao diễn ra rất vui vẻ, hồn nhiên và phong phú

* Trung tâm: Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội

Kinh thành cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội ngày nay đã trở thành khu di tích lịch sử văn hoá

có giá trị Thành có kiến trúc quân sự được phòng vệ chắc chắn, kết hợp chặt chẽ giữa quân

bộ và quân thuỷ

Thành Cổ loa gồm 34 vòng thành khép kín là thành Nội, thành Trung và thành Ngoại Cả 3 vòng thành đều có nội hào nối với nhau và nối liền với sông Hoàng tạo thành một con đường giao thông đường thuỷ rất thuận tiện Khoảng giữa các vòng thành và phía ngoài thành Ngoại còn có nhiều đoạn luỹ và ụ đất được bố trí và sử dụng như những “công sự” phòng vệ khi cần thiết Kiến trúc và kỹ thuật xây dựng thành Cổ loa chứng tỏ sức sáng tạo

và tài năng của nhân dân Văn Lang – Âu Lạc trong buổi đầu dựng nước

3.3 Nhận định chung

- Xã hội thời đại vua Hùng đã có sự chuyển biến sâu sắc: năng suất lao động cao, nền nông nghiệp phát triển rực rỡ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo và con người có các chức phận khác nhau (vì trong thời kỳ này đã phát hiện rất nhiều các ngôi mộ táng, có nhiều ngôi mộ

có tài sản chôn theo, có nhiều ngôi mộ không có tài sản chôn theo

- Xã hội thời đại Hùng Vương thường xuyên xảy ra các cuộc chiến tranh Bởi vì các nhà khảo cổ học đã thu được rất nhiều loại vũ khí bằng đồng nhưng các cuộc chiến tranh đó là chiến tranh tích luỹ nguyên thuỷ, gây chiến tranh để chiến đoạt của cải, ngưòi chiếm được nhiều của cải, tập hợp được số đông, người đó sẽ trở thành thủ lĩnh (đó chính là Vua Hùng) Khi xuất hiện người đứng đầu lãnh đạo mọi người – đó chính là điều kiện để xuất hiện nhà nước nhưng rất sơ khai, nhà nước theo kiểu sản xuất châu Á (nhà nước của những người thủ lĩnh), vừa chiếm đoạt, bóc lột nhưng lại vừa dân chủ

- Bộ máy nhà nước thời đại Hùng Vương:

Trang 33

31

cổ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ

Thời kỳ Vua Hùng dựng nước có ý nghĩa khai hoa văn hóa và nền văn hoá ấy đã vượt ra danh giới quốc gia, toả sáng, ảnh hưởng ra khắp vùng Đông Nam Á, châu Á Đồng thời có những đóng góp độc đáo vào kho tàng văn hoá nhân loại

+ Văn hoá Văn Lang – Âu Lạc mở đầu thời kỳ dựng nước đã tạo nên một cơ tầng văn hoá bản địa của người Việt cổ mang tính Nam Á, bước đầu định hình cho bản sắc văn hoá truyền thống Việt, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển thống nhất, bền vững của dân tộc Việt Nam

- Khi nhà Hán thấy hai chi em: Trưng Trắc và Trưng Nhị Xưng Vương và chuẩn bị khởi nghĩa chống lại nhà Hán, thì bên nhà Hán đã cử Mã Viện chuẩn bị quân lương và tiến đánh Hai Bà Trưng

- Năm 42 do thế lực của địch mạnh hơn lại thêm vào đó quần chúng cũng cho Vua là đàn

bà, sợ không đánh nổi địch, nên nghĩa quân đã tan rã, đất nước lại rơi vào tay nhà Hán

4.1.2 Bắc thuộc hai

Trang 34

32

- Từ 504 – 603 khởi nghĩa Lý Bí nổ ra và giành được quyền tự chủ

Vua họ Lý , tên huý là Bí, người Thái Bình

Sau khi giành lại được chính quyền từ tay của nhà Hán, Lý Bí tự xưng là Lý nam Đế, lập nhà nước Vạn Xuân (ý mong cho đất nước cường thịnh tới muôn đời sau) và tự chủ trong vòng 7 năm: 541 – 547

Sau một thời gian xây dựng đất nước, nhà Hán lại cử Trần bá Tiên cầm quân tiến đánh Lý

Bí Do vua chủ quan không chuẩn bị, quân lính tan tác, Vua phải lui về để tập hợp lại quân lính, khi đó Vua giao hết quyền binh lực cho đại tướng Triệu Quang Phục giữ việc nước (Khi Triệu Quang Phục bị thua trận, ông và quân lính của mình phải lui về đầm Dạ Trạch – Vĩnh Phúc – đây là một cái đầm lớn, cây cối rậm rạp, bùn lầy,nếu không biết đường sẽ bị lạc, chỉ có thể di chuyển trên đầm bằng thuyền độc mộc Triệu Quang Phục là người rất am hiểu về vùng đất này Chính vì vậy ông đã trú ngụ trong đầm rất lâu, nhưng do lâu ngày không thể ra ngoài quân lương lại cạn kiệt, Triệu Quang Phục đã khấn trời đất phù hộ và điều nhiệm màu đã xảy ra: Chử Đồng Tử - thần nhân trong đầm Dạ Trạch cưỡi rồng vàng

từ trên trời bay xuống và rút móng rồng trao cho vua, bảo dùng làm lẫy nỏ đánh giặc) Triệu Quang Phục xưng Vương Tự chủ trong vòng 23 năm (548 – 570)

Triệu Quang Phục vì quá yêu quý con gái nên đã để đất nước rơi vào tay kẻ thù ( Nhã Lang

đã lấy trộm móng rồng) Vì đánh mãi không thắng nổi Triệu Việt Vương nên Lý Phật Tử

đã bày kế là hoà giải giữa 2 nước và tiến hành cầu hôn cho con trai mình là Nhã Lang với con gái của Triệu Quang Phục là Cảo Nương - Đất nước rơi vào lệ thuộc phương Bắc lần 3

4.1.3 Bắc thuộc ba: Từ 603 – 938

Thời kỳ này có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra như:

Khởi nghĩa Phùng Hưng – Phùng Hải

Khởi nghĩa Mai Thúc Loan

Đỉnh cao là chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đánh tan quân xâm lược Nam Hán

* Hơn 1000 năm nhân dân ta bị lệ thuộc Phương Bắc nhưng vẫn liên tiếp có các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra và hầu hết đều bị thất bại.Tuy bị thất bại nhưng các cuộc khởi nghĩa

đã thức tỉnh ý thức về quyền tự chủ của người Việt, nhân cách của người Việt, nuôi dưỡng hun đúc để khi có cơ hội sẽ đứng lên giành quyền độc lập cho dân tộc

- Cùng với dã tâm xâm lược lãnh thổ, nhà Hán và các triều đại tiếp theo của phong kiến phương bắc có ý đồ đồng hoá về mặt dân tộc và văn hóa đối với cư dân Việt:

+ Phong kiến phương Bắc thực hiện chủ trương cai trị,đồng hoá, bóc lột, vơ vét của cải, đưa quan lại xuống phương Nam: đứng đầu là các Châu, quận là thủ lĩnh người Hán (Tích Quang, Sĩ Nhiếp, Nhâm Diệm )

+ Ngoài ra chúng còn sử dụng bộ máy quan lại của người Việt, lấy người Việt để trị người Việt, sử dụng bộ máy quý tộc Việt để cai trị nhân dân Việt

+ Chúng bắt trai tráng, thợ khéo của người Việt đưa lên phương Bắc để phục vụ cho họ, ngược lại đưa tầng lớp tiện dân, tù nhân xuống phương Nam

+ Dùng chính sách phá cổ vật: Thu thập trống Đồng đưa về phương Bắc để đúc tượng đồng, ngựa đồng

+ Đưa phong tục tập quán vào: bắt để tóc dài, ăn mặc kiểu người Hán,dạy dân ta đắp đê làm nhà, dạy chữ Hán, truyền bá tư tưởng để cai trị, bắt lên rừng xuống biển tìm các sản vật quý

Tuy nhà Hán có ý đồ đồng hoá văn hoá Việt Nam với phong kiến phương bắc nhưng

Trang 35

33

điều đó đã không xảy ra, trong thời kỳ này đặc trưng cơ bản của Văn hoá Việt Nam là bên cạnh việc quyết tâm đấu tranh giành lại đất nước, giải phóng dân tộc, chống lại chính sách đồng hoá của người Hán, người Việt quyết tâm bảo vệ bản sắc văn hoá của dân tộc mình bên cạnh việc tiếp thu có chọn lọc những yếu tố văn hóa ngoại sinh

- Có 3 đặc trưng cơ bản trong bối cảnh lịch sử văn hoá ở giai đoạn này là:

+ Tiếp xúc cưỡng bức và giao thoa văn hóa Việt – Hán

+ Giao lưu văn hoá Việt - Ấn

+ Giữ gìn, bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc, bản sắc văn hoá bằng cách bảo tồn những giá trị truyền thống trong giai đoạn văn hóa Đông Sơn và tiếp thu yếu tố văn hoá mới, chống lại xu hướng đồng hóa của vương triều Hán

4.2 Những thành tựu văn hoá

4.2.1 Thành tựu văn hoá vật chất

* Về lĩnh vực văn hoá vật chất giai đoạn này chúng thu được rất nhiều thành tựu:

- Người Hán đưa công cụ lao động bằng sắt vào thay công cụ lao động bằng đồng để sản xuất nông nghiệp, tiêu biểu nhất là cày sắt

- Người Hán dạy ta cách làm ruộng từ 1 vụ chuyển sang 2 vụ nhằm tăng nhanh của cải để chúng vơ vét

- Chúng ta học cách thâm canh, bón ruộng của họ - dùng phân bắc, hay kỹ thuật dùng guồng nước

- Chúng ta học được cách làm thuỷ lợi của họ như: đào kênh, mương, khơi ngòi

- Chuyển lối giã gạo bằng tay sang giã gạo bằng cối

- Từ nhà sàn chuyển sang nhà có tường xây

- Chúng ta tiếp thu được kỹ thuật làm giấy của người Hán như: Giấy gió, giấy trầm hương, làm gốm men

- Nghề chạm khảm, nghề làm đồ trang sức, dệt lụa gấm, làm đồ sứ cũng rất phát triển

* Thời kỳ này cùng với phong tục dùng trống Đồng, nhiều tục lệ cổ truyền khác vẫn được giữ vững như:

+ Cạo tóc hay búi tóc;

+ Xăm mình;

+ Chôn cất ngưòi chết trong quan tài hình thuyền hay thân cây khoét rỗng;

+ Tục nhuộn răng;

+ Tục ăn trầu cau

* Thời kỳ này các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra nhiều ngôi mộ gạch xây dựng khá lớn, hiện vật khá phong phú

4.2.2 Thành tựu văn hoá tinh thần

a Lĩnh vực chính trị - xã hội

Cùng với dã tâm xâm lược, giai cấp thống trị nhà Hán đã tiến hành những chính sách nhằm đồng hoá người Việt trên mọi phương diện: quân sự, chính trị, xã hội, văn hoá, tư tưởng Chúng áp dụng những chính sách vừa ôn hoà vừa cưỡng bức lối sống, văn hoá Hán vào đất Việt Chính sách ôn hoà thông qua giao lưu Về kinh tế, văn hoá và các đợt di dân từ Trung Quốc sang Còn chính sách 'cưỡng bức thông qua giai cấp thống trị với các biện pháp về hành chính - quân sự

Trang 36

34

Lối sống và văn hoá Việt do tiếp xúc lâu dài và trực tiếp với văn hoá Hán, diễn tiến dưới ảnh hưởng của văn hoá Hán sẽ xảy ra một điều hợp quy luật là có sự tiếp xúc cưỡng bức

và giao thoa văn hoá Hán - Việt

Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, giai cấp thống trị Hán có ý định di thực mô hình tổ chức chính trị và sinh hoạt xã hội của nhà Hán sang đất Việt với mục đích thiết lập một cơ cấu

xã hội, một thể chế chính trị, một phương thức canh tác và phong tục tập quán giống như Trung Hoa Họ mở trường dạy chữ Hán cùng với văn hóa Trung Quốc và buộc người Việt phải tuân theo lễ giáo Trung Quốc Những việc như kết hôn, trang phục, thậm chí cả việc

tổ chức khai thác nông nghiệp cũng đều tuân theo truyền thống, tập quán và kỹ thuật của người Hán

Nhà Hán ra sức củng cố và hoàn thiện chính quyền đô hộ ở Giao Chỉ, tìm mọi cách xoá bỏ lối “dùng tục cũ mà cai trị”, áp dụng pháp luật Hán, bắt nhân dân ta phải tuân theo lễ giáo phong kiến Hán

Do không chi phối được người dân đến cấp huyện, nhà Hán chủ trương muốn giữ được đất đai mới chiếm thì phải thực hiện chính sách đồn điền Chúng tiến hành dời tội nhân, dân nghèo người Hán đến ở lẫn với người Việt xâm chiếm và khai phá ruộng đất để lập đồn điền Đồn điền là một loại ruộng quốc khố do chính quyền đô hộ trực tiếp quản lý, một bộ phận nhân dân lao động bị trói buộc vào đồn điền trở thành nông nô của chính quyền đô

hộ Sự gia nhập của người Hán không chỉ làm tăng thêm dân số mà còn đưa văn hoá Hán vào xã hội Việt Thế nhưng do sinh sống giữa một cộng đồng cư dân có sức sinh tồn mạnh

mẽ nên số người Hán di cư sang Việt Nam cũng dần dần Việt hoá, hoà nhập vào cộng đồng

cư dân Việt Sự tiếp xúc cưỡng bức giao thoa văn hoá Hán - Viết để lại dấu ấn trong nhiều lĩnh vực và khía cạnh của đời sống kinh tế, văn hoá, chính trị, tư tưởng ở Việt Nam: cách

ăn, mặc, ở, đi lại, phương thức sản xuất, quan hệ xã hội, ngôn ngữ Người Việt đã thâu hoá được nhiều thành tố văn hoá ngoại sinh và biến đổi chúng cho phù hợp với tâm thức và văn hoá người Việt

b Du nhập tôn giáo

Trong lĩnh vực tư tưởng, các học thuyết, các tôn giáo của phương Đông: đạo Nho, đạo Lão

ở Trung Quốc, phật giáo được du nhập vào Việt Nam

- Trước khi tiếp xúc và tiếp biến văn hoá chúng ta có tín ngưỡng nguyên thuỷ

- Khi tôn giáo du nhập vào, đó là thành tựu tôn giáo cao hơn tín ngưỡng, bởi vì tôn giáo có

hệ thống giáo lý , hệ thống tư tưởng còn tín ngưỡng thì không có mà chỉ là niền tin của con người vào các thế lực siêu nhiên

- Xã hội có tôn giáo tức là có đạo – có đường đi chỉ lối – xã hội có trật tự kỷ cương Chính

vì vậy ta thấy rằng, tôn giáo góp phần nâng cao trình độ nhận thức, trình độ tư duy của con người

- Ba tôn giáo du nhập vào Việt Nam bằng 3 con đường khác nhau:

+ Nho giáo du nhập vào Việt Nam qua con đường cai trị của phong kiến phương Bắc

+ Phật giáo du nhập vào Việt Nam thông qua các thương gia người Ấn (Thế kỷ I –II đầu công nguyên)

+ Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ II, do các đạo sỹ phương Bắc đưa vào

c Trung tâm văn hoá

- Thành Đại La do Cao Biền thời Đường xây dựng có chu vi 2000 trượng, có 50 sở Vọng Lâu,có 20 vạn gian nhà cho quân sỹ ở

- Thành Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) do Sĩ Nhiếp chủ trương xây dựng, trở thành

Trang 37

35

trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá

Các công trình xây dựng thưòi kỳ này chủ yếu là chùa như hệ thống chùa: Pháp Vân, pháp

Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Đây là 4 ngôi chùa thờ phật nhưng lại hoá thân vào các hiện tượng tự nhiên : Phật Mây, Phật Mưa, phật Sấm, Phật Chớp

d Giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Trước những chính sách đồng hoá của người Hán, các xóm làng cổ người Việt vẫn bảo tồn

và phát huy văn hoá bản địa, nội sinh, được hình thành và phát triển từ hàng nghìn năm trước Văn hoá Việt Nam đã không chối từ việc thâu nhận rồi sau đó biến hoá và làm chủ những ảnh hưởng của văn hoá bên ngoài Nhiều yếu tố văn hoá vật chất và tinh thần đã được người Việt tiếp thu từ Trung Quốc, Ấn Độ

Trên cơ sở văn minh nông nghiệp, người nông dân đã tiếp thu được kỹ thuật nông nghiệp mới như bón phân bắc, dùng guồng nước, chuyển lối giã gạo bằng tay sang giã gạo bằng cối đạp, từ nhà sàn chuyển sang nhà có tường xây, kỹ thuật thủ công: dệt lụa gấm, làm đồ

sứ, làm giấy

Nhân dân ta đã hấp thu ảnh hưởng của ngôn ngữ Hán một cách sáng tạo: sử dụng một số từ gốc Hán, Việt hoá những từ Hán bằng cách dùng, cách đọc, cách viết, tạo thành một lớp từ mới gọi là từ Hán - Việt Ngoài ra tiếng Việt cũng tiếp thu ảnh hưởng của ngôn ngữ Mã Lai, Tạng Miến và Ấn Độ

Bên cạnh đó, những giá trị văn hoá truyền thống của văn hoá Đông Sơn vẫn liếp lục được bảo tồn và phát triển Nếu như lễ giáo Trung Quốc ít nhiều tăng cường áp chế trong gia đình và củng cố chế độ phụ quyền thì vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội Việt vẫn được đề cao Điển hình là việc Hai Bà Trưng, Bà Triệu lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa; hay việc trống đồng đúc xong thì người vinh dự đánh tiếng trống đầu tiên là một phụ

nữ trong làng

Nhiều tục lệ cổ của người Việt được duy trì như cạo tóc, búi tóc, xăm mình, tục nhuộm răng, ăn trầu, chôn cất người chết trong quan tài hình thuyền hay thân cây khoét rỗng Diễn trình văn hoá Việt Nam thời Bắc thuộc có hai khuynh hướng độc lập:

+ Khuynh hướng Hán hoá là mưu đồ của chính quyền đô hộ nhưng lại không tác dụng nhiều đến đời sống nhân dân

+ Khuynh hướng Việt hoá nhằm giữ lại và phát huy những tinh hóa văn hoá cổ truyền đã được định hình, hấp thụ , hội nhập những yếu tố văn hoá bên ngoài theo yêu cầu của cuộc sống

Thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc tuy kéo dài hàng nghìn năm với những chính sách rất bạo ngược và thâm độc nhưng chỉ có tác động trên bề mặt của xã hội Việt Nam Kết quả là nghĩa quân dưới sự lãnh đạo tài tình của Ngô Quyền đã đánh bại sự thống trị hàng nghìn năm của phong kiến phương Bắc, mở ra một thời đại mới cho lịch sử - văn hoá của dân tộc Việt Nam

4.3 Nhận định chung

- Hơn 1000 năm Bắc thuộc, dân tộc ta tạm mất quyền độc lập tự chủ về chính trị nhưng văn hoá vẫn tồn tại và phát triển Mặc dù văn minh của người Hán là rất lớn và là một nền văn minh tối cổ của nhân loại với tư tưởng bành trướng lãnh thổ Đồng thời người Hán thực hịên chính sách đồng hoá rất khốc liệt nhưng không thể tiêu diệt người Việt ở Bắc Bộ Việt Nam

- Lý do văn hóa Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển trong hơn 1000 năm Bắc thuộc là:

+ Trước khi tiếp xúc với người Hán chúng ta có hành trang văn hóa của mình đó là văn hoá thời đại Vua Hùng, hành trang văn hoá đó đủ sức mạnh để chống lại chính sách đồng hoá

Trang 38

36

của người Hán, chúng ta chỉ tiếp thu sau đó cải biến nền văn hoá Trung Hoa mà thôi

+ Vì quan lại phương Bắc bị đẩy xuống phương Nam, họ phải xa quê hương, xa gia đình,

bè bạn, chính vì vậy họ sẽ cảm thấy buồn trán, thiếu tình cảm Người Việt lại là những người giàu tình cảm, chúng ta đã sẻ chia với họ, dần dần cảm hoá họ, họ thay đổi cách suy nghĩ và dần đi theo con đường của nhân dân Việt Nam

+ Chính sách đồng hoá của phong kiến phương Bắc tàn khốc nhưng không thật sự mạnh, bởi vì lúc đó tình hình chính trị phương Bắc đang loạn lạc, nội bộ lục đục Nhưng ngược lại

ở phương Nam yên bình, nội bộ đoàn kết

+ Việt Nam có làng – đó là một thiết chế văn hoá của nhân dân - quyền tự chủ thuộc về nhân dân, làng do nhân dân đặt ra, có tổ chức chính trị văn hoá, tín ngưỡng, luật pháp riêng

+ Văn hoá Việt Nam là một nền văn hóa không chối từ, sẵn sàng tiếp thu, học tập, cải biến những giá trị văn hóa từ bên ngoài tới nhưng ra sức cải biến, bảo vệ văn hoá truyền thống

 Nền văn hoá của chúng ta là một nền văn hoá linh hoạt, bao dung, mền mại

Năm 179 trước Công Nguyên, triệu Đà đánh thắng An Dương Vương, nước Âu Lạc sụp

đổ và dân tộc ta rơi vào thời kỳ Bắc Thuộc và chống Bắc thuộc hơn một ngàn năm Nhưng trong khoảng thời gian đó, nhân dân ta không lúc nào cam phận mà luôn đấu tranh, chống lại áp bức, đô hộ Ý thức tự lực, tự cường giành độc lập dân tộc chưa lúc nào nguôi ngoai thể hiện ở những cuộc nổi dậy và xưng vương, xưng đế (Trưng Vương, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế…) Chính các cuộc nổi dậy đó đã chuẩn bị tiền đề vật chất và tinh thần cho công cuộc giành chính quyền tự chủ hoàn toàn vào đầu thế kỷ thứ X

- Thời kỳ tự chủ của quốc gia Đại Việt kéo dài gần một thiên niên kỷ, từ năm 938 đến

1858 – Khi thực dân pháp nổ súng xâm lược Việt nam

Các triều đại Việt nam thời tự chủ: Ngô – Đinh - Tiền Lê – Lý - Trần – Lê - Nguyễn

- Sau chiến thắng Bạch Đằng, Đại Việt bắt đầu bước vào thời kỳ xây dựng quốc gia độc lập

- Năm 939 - Mở đầu là nhà Ngô – Ngô Quyền tự xưng là Ngô Vương và đóng đô ở Cổ loa - ở ngôi 6 năm, thọ 47 tuổi (898 – 944)

- Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thu giang sơn về một mối, đặt kinh đô ở Hoa lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt

- Năm 981 Lê Hoàn kế thừa quốc gia của nhà Đinh, lập ra nhà Tiền Lê

- Năm 1010 nhà Lý lên ngôi, rời đô về Đại La, đổi tên thành này là thành Thăng Long và lấy tên là Đại Việt (1054)

Trang 39

37

- Năm 1527 nhà Mạc giành ngôi của nhà Lê

- Năm 1570 – 1786 xảy ra cuộc xung đột giữa đàng trong và đàng ngoài

- Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam

- Từ 938 đến 1858 tình hình chính trị Việt Nam diễn ra với các đặc điểm sau:

+ Các vương triều liên tục thay thế nhau xây dựng quốc gia tự chủ Sự thay thế của các vương triều đóng vai trò quan trọng trong chế độ phong kiến đương thời

5.2 Giai đoạn thế kỷ X (Nhà Ngô – Nhà Đinh – Nhà Tiền Lê)

- Đặc điểm thời kỳ này là thế kỷ bản lề chuyển từ lệ thuộc sang độc lập tự chủ

- Sự hình thành các nhà nước phong kiến, độc lập dân tộc trong vòng một thế kỷ mà có tới

3 triều đại - chứng tỏ thời gian tồn tại của các triều đại ngắn

* Nhà Ngô (939-965)

- Tiền Ngô Vương (939-944): Ngô Quyền tự xưng là Ngô Vương, đóng đô ở Cổ Loa Làm vua được 6 năm, thọ 47 tuổi

Ngô Quyền có hai người con là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn

Năm 944, Tiền Ngô Vương mất, ông đã nhờ Dương Tam Kha (em vợ) giúp lập thái tử chăm sóc hai con Sau khi Ngô Quyền mất ông đã truyền lại ngôi cho con trưởng là Ngô Xương Ngập, chẳng bao lâu sau Dương Tam Kha đã cướp ngôi của cháu, tự xưng Dương Bình Vương

Con trưởng Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập chạy về Nam Sách (Hải Dương) Dương Tam Kha lấy Ngô Xương Văn, con thứ của Ngô Quyền, làm con nuôi Dương Tam Kha

ba lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập mà không thực hiện được mệnh lệnh vì hào trưởng Nam Sách là Phạm Lệnh Công che chở cho Xương Ngập

Năm 950, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn đi đánh Thái Bình Ngô Xương Văn thuyết phục được 2 tướng Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi dẫn quân quay lại lật đổ Dương Tam Kha giành lại ngôi vua Xương Văn không giết Dương Tam Kha, giáng làm Chương Dương công

Năm 950, Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập đang trốn ở Nam Sách trở về

Ngô Xương Ngập cũng làm vua, tự xưng là Thiên Sách Vương (951-954) Lúc đó cùng tồn tại hai vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương Lên ngôi vương, Ngô Xương Ngập lấn át quyền hành của Ngô Xương Văn khiến Xương Văn bất bình rút lui việc chính sự

Nhưng chỉ được 3 năm, đến năm 954, Ngô Xương Ngập bị bệnh chết, chỉ còn một vua Nam Tấn vương Ngô Xương Văn làm vua

Sau khi Dương Tam Kha bị mất ngôi, Hậu Ngô Vương không cai trị được đất nước, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau Loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt - nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử

Trang 40

Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại trong cung Sử ghi thủ phạm là nội nhân Đỗ Thích, nhưng các nhà nghiên cứu gần đây đặt ra giả thiết khác, chủ mưu là Lê Hoàn và Dương hậu

Năm 979 Đinh Toàn, con trai còn lại của Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, là Đinh Phế Đế

Đinh Toàn khi đó mới 6 tuổi Quyền lực thực tế năm trong tay Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, là nhiếp chính Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp thấy vậy, lại nghi

Lê Hoàn tư thông cùng Thái hậu Dương Vân Nga nên cử binh đến đánh Lê Hoàn dẹp tan, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đều bị giết chết Phò mã Ngô Nhật Khánh bỏ trốn vào nam sang Chăm Pa, sau đó cùng vua Chăm Pa với hơn nghìn chiến thuyền định đến đánh kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão dìm chết

Năm 980, nhà Tống rục rịch điều quân sang đánh Đại Cồ Việt, Thái hậu Dương Vân Nga cùng triều thần tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức vua Lê Đại Hành Nhà Đinh kết thúc, truyền được đến đời thứ hai, trị vì 12 năm (968-980)

Lê Hoàn sau khi lên ngôi lập ra nhà Tiền Lê đã đánh thắng quân Tống (tháng 4 năm 981) Đinh Toàn trở thành Vệ Vương có mặt trong triều đình Tiền Lê 20 năm Năm 1001, trong lần cùng vua Lê Đại Hành đi dẹp loạn Cử Long thuộc vùng Cầm Thuỷ Thanh Hoá, Đinh Toàn bị trúng tên chết

* Nhà Tiền Lê (980-1009)

Sau khi Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị ám hại, Vệ Vương Toàn lên làm vua, Lê Hoàn làm phụ chính, xưng là Phó Vương Triều thần sợ Lê Hoàn cướp ngôi vua nhỏ, Định Quốc Công Nguyễn Bặc và ngoại giáp Đinh Điền dẫn quân về kinh đô định giết Lê Hoàn, thua trận bị Lê Hoàn giết

Năm 980, quân Tống nhân cơ hội đem quân sang muốn cướp nước, triều thần và thái hậu

họ Dương (về sau giới văn nghệ đặt tên bà này là Dương Vân Nga) đưa Lê Hoàn lên làm vua lập ra nhà Tiền Lê

Vua Đại Hành

Lê Đại Hành tên húy là Hoàn, người Ái châu (Thanh Hóa ngày nay), thời nhà Đinh giữ chức Thập đạo tướng quân Khi vua Đinh bị giết, ông trở thành người nắm quyền trong triều đình và đến năm 980 thì lấy ngôi vua của nhà Đinh, lập ra nhà Tiền Lê

Ngày đăng: 03/11/2022, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w