1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2

166 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Du Lịch
Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Kinh tế du lịch được biên soạn nhằm trang bị cho người học có những kiến thức cần thiết của một nhà quản trị kinh doanh du lịch trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Giáo trình kết cấu gồm 8 chương và chia thành 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: đầu tư du lịch; lao động và vốn kinh doanh du lịch; chi phí và lợi nhuận kinh doanh du lịch; hiệu quả kinh tế - xã hội của du lịch;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Chương 5 ĐẦU TƯ DU LỊCH

Mục tiêu của chương:

Sau khi học xong chương này, người học có khả năng:

 Nắm được khái niệm đầu tư, các nhu cầu đầu tư nói chung và nhu cầu đầu tư du lịch nói riêng; các yếu tố cơ bản của đầu tư

 Hiểu rõ đầu tư du lịch thường không liên hệ trực tiếp tới các khoản thu hồi dự kiến mang tính chất thương mại; đầu tư theo “định hướng tài sản”, khả năng tồn tại của nó hoàn toàn không ràng buộc với

sự tăng trưởng về cầu du lịch

 Nắm được các đặc điểm của đầu tư du lịch; đầu tư vào các "sự kiện" du lịch; các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến đầu tư du lịch

 Hiểu biết về các nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong đầu tư du lịch

5.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA ĐẦU TƯ 5.1.1 Khái niệm đầu tư

Đầu tư, theo nghĩa chung nhất, là sự bỏ ra hoặc sự “hy sinh” những cái gì đó ở hiện tại (tiền bạc, sức lao động, của cải vật chất, thời gian, trí tuệ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai Trên phương diện kinh tế, đầu tư là sự hy sinh giá trị các nguồn tài nguyên hiện tại để thu được của cải nhiều hơn trong tương lai Theo Luật Đầu tư của Việt Nam, đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi nhuận hoặc các lợi ích xã hội

Theo các nhà kinh tế học, bản chất của đầu tư là sự phân bổ các nguồn tài nguyên thành vốn cố định, nhờ đó làm cho hoạt động sản xuất

Trang 2

tăng thêm có thể xảy ra Trên giác độ vĩ mô, đầu tư là một phần thu nhập của nền kinh tế không bị tiêu dùng và được sử dụng để tạo nguồn tài chính cho sản xuất Trên giác độ vi mô, đầu tư liên quan đến sự phân phối bất cứ nguồn tài nguyên cần thiết nào của một doanh nghiệp thành các tài sản sản xuất Nhu cầu đầu tư thường tồn tại trong ba lĩnh vực sau đây:

- Các tài sản cố định mới như nhà cửa, nhà máy, thiết bị và các tài sản cố định khác

- Nâng cấp hoặc thay thế các tài sản cố định hiện tại đã hết thời hạn sử dụng

- Bổ sung vốn lưu động để thanh toán các chi phí sản xuất định kỳ Trong du lịch, ba nhu cầu đầu tư nói trên thường gắn với cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành Ngoài ra, du lịch còn có nhu cầu đầu tư vào cơ

sở hạ tầng, đầu tư phát triển nguồn nhân lực và đầu tư cho quảng bá du lịch Đầu tư cơ sở hạ tầng thường gắn chặt chẽ với nhu cầu chung của nền kinh tế quốc dân (nhu cầu của nhiều ngành trong đó có du lịch và nhu cầu dân sinh) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực và đầu tư cho quảng

bá du lịch thuộc loại đầu tư phi vật chất (đầu tư vô hình) Phạm vi của chương này giới hạn nghiên cứu đầu tư nhằm hình thành các tài sản sản xuất (đầu tư hữu hình) bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

du lịch

Sự tăng trưởng và phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào đều tuỳ thuộc vào khả năng thu hồi đầu tư, mà nguồn đầu tư này có thể nhận được thông qua thị trường vốn và thu nhập nội bộ tăng thêm của ngành

đó Các khoản thu hồi chủ yếu được xác định thông qua sự bồi hoàn các nhân tố (lãi suất và cổ tức) thu được do đầu tư và cũng như do sự tăng trưởng vốn và các lợi ích khác

5.1.2 Các yếu tố cơ bản của đầu tư

Yếu tố cơ bản quyết định số lượng đầu tư mới cần thiết là khả năng

Trang 3

sản lượng thuần mong đợi từ đầu tư với chi phí vốn sử dụng Trong các doanh nghiệp thương mại, thu nhập thuần đạt được từ doanh số bán dự kiến trừ đi các chi phí dự kiến, vì vậy trong du lịch nó phụ thuộc vào các

kỳ vọng về số khách du lịch, mô hình cầu, chi tiêu của khách và một số

dự báo về sự biến động của chi phí hàng hoá và dịch vụ có nhu cầu Đối với một dự án đầu tư phi thương mại, thu nhập thuần có thể còn phụ thuộc vào sự định giá các lợi ích và chi phí xã hội dự kiến của dự án Chi phí vốn là tỷ lệ lãi suất trung bình cần thiết và vốn có thể nhận được từ một số nguồn sau:

- Tài chính nội bộ: Lợi nhuận hoặc giá trị gia tăng để lại; khoản dự phòng giảm giá; khoản dự phòng thuế;

- Tài chính bên ngoài: Cổ phần (và các khoản trợ cấp đầu tư); vốn vay dài hạn, tài chính ngắn hạn (tín dụng ngân hàng, thuê tài chính, tín dụng thương mại )

Trong khi vốn vay luôn kèm theo một tỷ lệ lãi suất trực tiếp thì vốn

cổ phần lại đòi hỏi cổ tức cùng với khả năng rủi ro xuất hiện tùy theo mô hình đầu tư đề xuất, còn đối với tài chính nội bộ thì thường có chi phí cơ hội của vốn khi nó có thể được sử dụng vào mục đích khác

Một số phương pháp chủ yếu có thể sử dụng để đánh giá các dự án đầu tư với các yếu tố cơ bản thể hiện trong bảng 5.122 Những người đánh giá đầu tư thận trọng nhất đều sử dụng một số cách tính chiết khấu các thu nhập và chi phí tương lai đưa về giá trị hiện tại và kết hợp (nếu

có thể) với phân tích rủi ro Tuy nhiên, một số nghiên cứu thực tế cho thấy doanh nghiệp thường thay đổi các phương pháp đánh giá và thậm chí thay đổi cả các quy tắc để quyết định đầu tư Trong bất kỳ tình huống nào thì một quyết định đầu tư của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào

kỳ vọng ở các thị trường và nền kinh tế quốc dân

22 Theo: Bull, A (1998), The Economics of Travel and Tourism, 2nd edition, Longman,

Melbourne

Trang 4

Bảng 5.1 Các phương pháp đánh giá dự án đầu tư

Chỉ tiêu

đánh giá

Sử dụng tính chiết khấu

Quy tắc của phương pháp Hoàn trả

Hoàn trả chiết khấu

Thu hồi kế toán bình quân

Tỷ lệ thu hồi nội bộ*

Giá trị hiện tại thuần

Chỉ số khả năng sinh lợi

Không

Có Không

Tỷ lệ % thu hồi bình quân trên đầu tư

Tỷ lệ thu hồi tạo ra thu nhập chiết khấu bằng với chi phí đầu tư

Giá trị phần thặng dư của thu nhập chiết khấu trên chi phí đầu tư

Tỷ số thu nhập chiết khấu trên chi phí đầu tư

(* tương đương với hiệu quả cận biên của vốn)

Hầu hết các phương pháp đánh giá trên đều giả thiết rằng quyết định đầu tư được doanh nghiệp xác định rõ ràng, đó là sẽ tiến hành hoặc không tiến hành đầu tư Tuy nhiên, lý thuyết đầu tư hiện đại chỉ ra rằng

có thể thực hiện các quyết định đầu tư trong một khung thời gian linh hoạt kết hợp chặt chẽ với thời kỳ tính toán về sự không chắc chắn của đầu tư Trong thời kỳ đầu, đầu tư có thể mang lại khả năng sinh lợi, nhưng cũng có thể xuất hiện nhiều rủi ro Theo thời gian, giá trị chưa xác định được của rủi ro (ví dụ như chi phí hoặc mức giá cả) trở thành giá trị được xác định thì mức độ sinh lợi trở nên chắc chắn hơn Nếu doanh nghiệp quyết định tiến hành đầu tư sớm thì cần căn cứ vào mức độ dự báo khả năng sinh lợi cao hơn để bù đắp cho những tình huống rủi ro có khả năng xảy ra Nếu doanh nghiệp quyết định đầu tư muộn hơn thì điều

đó tương tự như mua quyền lựa chọn một tài sản hơn là mua chính tài sản đó Vì vậy, lý thuyết này được gọi là lý thuyết lựa chọn đầu tư thực

tế Việc làm dự án đầu tư chậm lại cho đến khi các rủi ro không mong đợi được giảm thiểu sẽ có giá trị đối với doanh nghiệp Điều đó giải thích tại sao nhiều doanh nghiệp dường như chậm chạp trong việc đón nhận

Trang 5

Đầu tư thay thế có xu hướng theo chu kỳ và phụ thuộc vào phần vốn khấu hao trích lập theo quy định cũng như các tiến bộ về công nghệ,

kỹ thuật và mức độ cạnh tranh đòi hỏi phải luôn thay đổi các tài sản Ví

dụ, các công ty cho thuê xe thay đổi ô tô thường xuyên vì lý do khuếch trương cũng như do sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật Do đó, đầu tư thay thế có xu hướng tăng lên sau một thời gian sử dụng tài sản mà tài sản này được hình thành trong thời kỳ đầu tư trước đó

Khi GDP tăng lên và kỳ vọng của doanh nghiệp ngày một cao thì mức độ đầu tư sẽ tăng, với các điều kiện khác không thay đổi Đến lượt mình, các dự án đầu tư sẽ tạo ra thu nhập và chi phí tăng thêm (thông qua hiệu quả bội số của Keynes), thu nhập tăng tiếp tục tạo ra khả năng cung ứng mới về vốn cho các dự án đầu tư tiếp theo Đó là nguyên tắc gia tốc trong đầu tư

5.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA ĐẦU TƯ DU LỊCH 5.2.1 Các lý do đầu tư du lịch

Ở hầu hết các quốc gia và trong các lĩnh vực kinh doanh của ngành

du lịch, đầu tư phụ thuộc vào các nguyên tắc thương mại tương tự như các ngành kinh tế khác Nhà cung ứng dự kiến trước khoản lợi nhuận nhận được từ việc bán sản phẩm cho du khách cũng như cho một số ngành kinh doanh hỗ trợ, từ đó định ra nguyên tắc ra quyết định và phương pháp đánh giá dự án đầu tư của chính mình Tuy nhiên, du lịch

có một số lý do khác để thực hiện đầu tư mà những lý do này có liên quan đến mục tiêu chung của các doanh nghiệp trong ngành

Thứ nhất, chính phủ các nước thường tiến hành đầu tư vào các dự

án du lịch vì các lợi ích cuối cùng mang tính xã hội và phi thương mại Đầu tư vào cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, các trung tâm thông tin du lịch, các tiện ích của công viên quốc gia hoặc các trung tâm biểu diễn, các cơ sở đào tạo và các dự án tương tự được đánh giá là hợp lý trên cơ sở phân tích chi phí - lợi ích mà không chỉ căn cứ vào khả năng sinh lợi đơn thuần của các dự án đầu tư đó Các phương pháp đánh giá

Trang 6

dự án và sử dụng kỳ vọng về lợi ích trên nhiều khía cạnh khác cũng tương tự như đánh giá đầu tư thương mại

Thứ hai, sự hình thành vốn cố định ở các khu vực điểm đến du lịch đều có định hướng tài sản Doanh nhân là những nhà đầu tư phát triển tài sản, đã xây dựng các công trình mới như khách sạn, khu nghỉ dưỡng, trung tâm hội nghị và thương mại thay vì lựa chọn xây dựng các văn phòng, nhà máy hoặc kho bãi Động cơ đầu tư của họ là tỷ lệ lợi nhuận thu hồi được từ việc cho thuê tài sản, nhưng quan trọng hơn là sự tăng thêm đáng kể về giá trị của tài sản khi so sánh với đầu tư vào các tài sản khác có xu hướng giảm giá trị Sau đó, người kinh doanh du lịch chỉ đơn thuần là người thuê tài sản và các khoản thu từ kinh doanh du lịch phải cạnh tranh với khoản thu có thể nhận được từ những người thuê tài sản nhằm mục đích khác Do đó, nhà đầu tư phát triển có thể là các tổ chức không thực sự liên quan đến du lịch như ngân hàng, công ty tài chính, bảo hiểm, các tập đoàn xây dựng và sản xuất Đầu tư tài sản được tách biệt với đầu tư kinh doanh dịch vụ du lịch là một xu hướng cần quan tâm

và ngày càng phổ biến trong thực tế hiện nay, nhất là ở các nước phát triển như Mỹ

Thứ ba, ở các nước phát triển, một số đầu tư được thực hiện vì lý

do “phong cách sống” Ví dụ, một số người ở Anh hoặc châu Âu đầu tư phát triển trang trại, mua sắm du thuyền, sửa chữa nâng cấp các ngôi nhà

cổ hoặc các toà lâu đài và thiết kế xây dựng các điểm hấp dẫn giải trí khác Các đầu tư này trước hết nhằm cải thiện và tạo ra môi trường, phong cách sống cao hơn, thoái mái hơn cho những người đầu tư, nhưng đồng thời chúng có thể trở thành điểm hấp dẫn tham quan và bổ sung cho hoạt động du lịch Do đó, ngành du lịch có thể xem xét việc hỗ trợ các đầu tư này như đề nghị chính phủ miễn giảm thuế, tư vấn kỹ thuật hoặc

hỗ trợ kinh phí trong những điều kiện nhất định

5.2.2 Đặc điểm của đầu tư du lịch

Đầu tư du lịch có một số đặc điểm khác biệt so với đầu tư vào các ngành khác Nói chung, các đặc điểm này làm tăng thêm khả năng sinh

Trang 7

lợi và xem xét tính khả thi của một dự án đầu tư du lịch Sáu đặc điểm chính sau đây có ảnh hưởng quan trọng đến sự cân nhắc một dự án đầu tư (1) Nhiều dự án đầu tư được thiết kế để cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng kết hợp giữa khách du lịch và những người tiêu dùng khác Ví dụ, ở các thành phố nơi đến du lịch, phương tiện ô tô buýt thành phố có thể được dành phục vụ các tour tham quan và du lịch nói chung, nhưng cũng có thể phục vụ sự đi lại hàng ngày và nhu cầu vận chuyển khác của dân cư địa phương Như vậy, những dự án đầu tư loại này sẽ tạo dòng lưu chuyển tiền tệ và thu hồi kết hợp từ cả hai nhóm người tiêu dùng Thu nhập "kép" này có thể là một lợi thế của dự án đầu

tư vào các tài sản vì chúng không phục vụ một thị trường riêng biệt, nhưng cũng có thể tạo ra sự trái ngược về chủng loại tài sản cần đầu tư

để phù hợp với nhu cầu sử dụng tài sản đó Ví dụ ở Anh, đối với du khách quốc tế ô tô buýt ở thủ đô London phải là xe hai tầng và màu đỏ, tuy nhiên loại ô tô này có thể không phù hợp với nhu cầu đi lại thường xuyên của dân cư thành phố

Tương tự như vậy, các trung tâm hội nghị, hội thảo đa chức năng xây dựng ở các thành phố như Las Vegas (Mỹ), Djakarta (Indonesia) và Bournemouth (Anh), những trung tâm này tồn tại được vì chúng đáp ứng yêu cầu sử dụng kết hợp là các trung tâm thể thao hoặc giải trí cho dân

cư địa phương Nếu tách biệt chức năng của các trung tâm này thì có thể làm giảm sự đồng bộ, hoàn thiện và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của chúng ở cả hai thị trường

(2) Du lịch tạo cơ hội cho các dự án đầu tư ngắn hạn có thời gian hoàn vốn nhanh Bởi vì du khách đi đến tận “nhà máy” sản xuất để tiêu dùng hầu hết các dịch vụ và luôn luôn mong muốn được hưởng thụ các điểm hấp dẫn mới mà không gắn với yêu cầu đặc biệt về vị trí Từ đó có thể phát triển các dự án du lịch có khả năng thu hồi vốn rất nhanh Vấn

đề này sẽ được xem xét chi tiết hơn trong phần sau - đầu tư vào các “sự kiện” du lịch

Trang 8

(3) Khi đầu tư vào tài sản du lịch thì nhà đầu tư có thể cân nhắc khả năng sử dụng thay thế của tài sản trong tương lai và giá trị của tài sản tăng thêm trong giai đoạn cuối Một toà tháp khách sạn xây dựng mới ở trung tâm thành phố trong giai đoạn đầu là để tạo ra thu nhập khi sử dụng phục vụ mục đích du lịch trong một số năm, giai đoạn sau nó có thể sử dụng vào mục đích khác và hữu ích hơn khi được chuyển thành các văn phòng hoặc căn hộ cho thuê Nếu so sánh với đầu tư vào tài sản chỉ giới hạn cho một hoạt động sử dụng như thiết bị, máy móc trong sản xuất thì giá trị cuối cùng hoặc giá trị đã qua sử dụng của tài sản phụ thuộc vào tình trạng phát triển của ngành sản xuất đó

(4) Tương tự như vậy, việc mua sắm các phương tiện giao thông được coi như là đầu tư vào tài sản du lịch vì có thể sử dụng trong các lĩnh vực khác Ở các nước có ngành du lịch phát triển, các công ty cho thuê

xe thường bán rẻ ô tô sau khoảng 9 đến 24 tháng sử dụng Người mua xe

đã qua sử dụng là các cá nhân hoặc hãng taxi, họ có thể trả mức giá cao, hợp lý trên cơ sở tình trạng thực tế sử dụng, giữ gìn và bảo dưỡng xe của công ty cho thuê Các hãng kinh doanh xe buýt chủ yếu mua xe mới để phục vụ tham quan du lịch, sau một thời gian sử dụng thì chuyển cho hoạt động xe buýt theo tuyến hàng ngày và cuối cùng uỷ thác cho việc đưa đón học sinh ở trường học hoặc các mục đích sử dụng tương tự Trong ngành du lịch, các phương tiện vận chuyển khác cũng có thể dễ dàng chuyển đổi, như một hãng hàng không mua máy bay phục vụ một tuyến bay, ở giai đoạn sau có thể chuyển máy bay đó để sử dụng trên một tuyến khác Đặc điểm này cho đến nay vẫn chưa được xem xét như là một cơ hội đầu tư Do đó, các quyết định đầu tư mua máy bay thường được coi là đầu tư vào tài sản riêng biệt hơn là dự án đầu tư vào các tuyến bay để tạo ra thu nhập

(5) Nhiều dự án đầu tư ở điểm đến du lịch là dự án kinh doanh sử dụng hỗn hợp gồm một số dự án nhằm mục đích du lịch và một số dự án

vì các lý do không phải du lịch Khác với các dự án sử dụng kết hợp (xem điểm a ở trên), các dự án này gồm các yếu tố đầu tư riêng biệt có

Trang 9

khả năng bổ sung cho nhau nhưng lại riêng biệt trong sử dụng Ví dụ tiêu biểu cho loại đầu tư này là các dự án đầu tư bến cảng ở khu vực Địa Trung Hải, California (xem hình 5.123)

Hình 5.1 Các yếu tố đầu tư trong dự án bến cảng

khu vực Địa Trung Hải

Dự án đầu tư trị giá 500 triệu bảng Anh (750 triệu USD) này đòi hỏi mỗi yếu tố của dự án kinh doanh sử dụng hỗn hợp phải bổ sung và thúc đẩy thu nhập kỳ vọng của các yếu tố (khu vực) khác Về cơ bản, phần dự án đầu tư cho dân cư có thể tạo ra các khoản thu cao hơn nên hỗ trợ cho các yếu tố phục vụ du lịch trong quan hệ tài chính, nhưng sự hấp dẫn khách du lịch của toàn bộ dự án sẽ cải thiện khả năng thị trường của các yếu tố phục vụ dân cư

(6) Mặc dù có một số dự án (như đầu tư vào “sự kiện” du lịch) có khả năng hoàn trả vốn nhanh, nhưng nhiều dự án đầu tư du lịch tồn tại trên cơ sở phụ thuộc vào dòng thu hồi vốn trong thời kỳ dài của mình Nhiều hoạt động du lịch có tính thời vụ nên giá trị thu nhập trong từng thời kỳ của dự án đầu tư có tính chất không ổn định Đặc điểm này của

23 Theo: Bull, A (1998), The Economics of Travel and Tourism, 2nd edition, Longman,

Melbourne

Trang 10

đầu tư du lịch có khuynh hướng làm giảm khả năng sinh lợi kỳ vọng của

dự án Đồng thời, tính thời vụ này còn đặt ra yêu cầu quản lý dòng tiền (lưu chuyển tiền tệ), đó là dùng tín dụng ngắn hạn hoặc rút các khoản tiết kiệm từ lưu chuyển tiền tệ chính vụ dưới hình thức tiền gửi hoặc chứng khoán ngắn hạn để bù đắp các chi phí trái vụ (xem hình 5.2)

Hình 5.2 Quản lý lưu chuyển tiền tệ theo thời vụ

Thực hiện các yêu cầu trên đều phải trang trải chi phí, đó là lãi suất phải trả và chi phí cơ hội sử dụng các quỹ Hầu hết các dự án đầu tư du lịch để cung cấp sản phẩm cho thị trường kỳ nghỉ đều mang tính chất thời vụ ở một mức độ nhất định Do tính thời vụ không thể tránh được, nên một số nhà kinh doanh giỏi cố gắng làm giảm sự khó khăn trong lưu chuyển tiền tệ bằng cách sử dụng tài sản đầu tư để tạo ra sản phẩm có chu kỳ ngược lại với sản phẩm chính thức Như một số khu nghỉ dưỡng trượt tuyết mùa đông ở Colorado (Mỹ) đã rất thành công khi biến thành các trung tâm trượt cỏ, leo núi, tập thể hình vào mùa hè; các hãng tàu thuỷ du lịch thay đổi hành trình của tàu từ vòng quanh bán đảo Scandinavi vào mùa hè tới vùng biển Caribê vào mùa đông

Trang 11

5.2.3 Đầu tư vào các "sự kiện" du lịch

Các sự kiện du lịch là một bộ phận sản phẩm du lịch phát triển mạnh mẽ trong những năm 80, 90 của thế kỷ XX và thời gian gần đây Đây là các điểm hấp dẫn du lịch trong một khoảng thời gian cố định, bao gồm từ các lễ hội nhỏ mang tính địa phương đến các hoạt động có tính quốc tế hoặc các sự kiện lớn Đầu tư vào các sự kiện trong thời gian cố định có nhiều điểm khác với đầu tư lâu dài vào một cơ sở du lịch Một số

sự kiện hầu như chỉ cần vốn lưu động và sử dụng các tiện nghi cố định có sẵn như các sự kiện thể thao và các lễ hội lớn Một số sự kiện khác vẫn

có nhu cầu vốn cố định đáng kể nhưng có thời kỳ hoàn vốn ngắn như các cuộc triển lãm quốc tế tổ chức hai năm một lần Do đó, các dự án đầu tư

du lịch này rất hấp dẫn đối với doanh nhân là những người cân nhắc đầu

tư trên cơ sở thời kỳ hoàn trả nhanh khi so sánh với đầu tư dài hạn như trong khai thác tài nguyên tự nhiên hoặc sản xuất, đặc biệt ở nơi được đánh giá là có nhiều rủi ro trong dài hạn

Nhiều sự kiện quốc tế hoặc sự kiện lớn cần cả đầu tư của chính phủ

và đầu tư của tư nhân Trong khi sự thu hồi vốn đối với nhiều nhà kinh doanh thương mại có thể nhận được từ thu nhập trong thời gian diễn ra

sự kiện thì các đầu tư vào cơ sở vật chất của chính phủ và của tư nhân chỉ đảm bảo nếu những cơ sở này có thể tiếp tục sử dụng trong thời gian sau

sự kiện Ví dụ, toàn bộ đầu tư cần thiết của chính phủ và tư nhân cho sự kiện Olympic hiện nay có thể hơn 5 tỷ USD, trong đó chỉ một phần nhỏ

sẽ được bù đắp trong thời gian 3 tuần diễn ra các cuộc thi đấu Các cửa hàng kinh doanh ăn uống, hàng lưu niệm thu hồi được vốn đầu tư vào dự trữ thực phẩm, hàng hoá và dụng cụ trong 3 tuần, nhưng đầu tư vào công trình thi đấu thể thao, khách sạn, hệ thống giao thông và hạ tầng thông tin thì phải dựa vào các khoản thu nhập dài hạn sau Olympic Việc dự tính không chính xác các khoản thu nhập này đã làm cho các nhà kinh doanh khách sạn và kinh doanh các công trình khác phải nhận khoản thua

lỗ dài hạn như ở Seoul năm 1988 và Barcelona năm 1992 Do đó, việc

Trang 12

xác định quy mô kinh tế và quy mô xã hội của những sự kiện này cần phải được tích hợp trong các chính sách và hoạch định nói chung của chính phủ

5.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ DU LỊCH

Sự phát triển của du lịch phụ thuộc chủ yếu vào lợi nhuận kỳ vọng tương lai (và các lợi ích xã hội) mà các doanh nghiệp và chính phủ dự báo từ các đầu tư du lịch của mình Tính chất không ổn định của du lịch nói chung từ thế kỷ trước đến nay làm cho sự tăng trưởng toàn cầu của ngành nói chung là thấp, khoảng 6% mỗi năm Sự biến động của du lịch chủ yếu bắt nguồn từ tính thời vụ và các sự kiện bất thường như hoạt động khủng bố hoặc các thảm hoạ tự nhiên, dịch bệnh Tuy nhiên, có một

số nhân tố đặc biệt ảnh hưởng đến các dự án đầu tư du lịch một cách riêng biệt và theo khu vực

5.3.1 Các nhân tố ngắn hạn

Ngoài sự thay đổi của tỷ lệ lãi suất thị trường và dự kiến sự biến động của lạm phát, thì có hai nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của dự án đầu tư du lịch trong kỳ ngắn hạn Thứ nhất là sự thay đổi của dòng du khách do hoàn cảnh biến đổi ở các quốc gia nguồn khách, quốc gia nơi đến hoặc mối liên hệ giữa hai quốc gia này gây ra Điều đó chủ yếu làm thay đổi mô hình cầu du lịch địa phương Du lịch quốc tế có sự nhạy cảm cao với những thay đổi về tỷ giá ngoại tệ dẫn đến

sự biến động của giá cả ở cả nơi xuất phát và nơi đến du lịch Các chính sách tài chính và cơ chế kiểm soát của chính phủ, chi phí vận chuyển hoặc thời tiết không thuận lợi theo mùa trong năm đều làm thay đổi đáng

kể dòng du khách Vì vậy, các nơi đến có vị trí đặc biệt có thể nhận hoặc không nhận được khả năng sinh lợi của đầu tư du lịch

Nhân tố ngắn hạn thứ hai là mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhà cung ứng sản phẩm du lịch Khả năng tồn tại của các dự án motel

Trang 13

ven đường cao tốc có khách du lịch đi nhiều tuỳ thuộc đáng kể vào các khu nghỉ dưỡng, bãi cắm trại, khách sạn và các điểm hấp dẫn ở nơi đến

Dự án đầu tư vào một khách sạn nghỉ dưỡng ở Hawaii hoặc Majorca tuỳ thuộc vào các dịch vụ vận chuyển hàng không, vận chuyển mặt đất và các hoạt động bán lẻ và điều hành tour ở các thị trường nguồn khách Với các sản phẩm bổ sung, bất kỳ sản phẩm nào cũng có thể là nhân tố hạn chế đầu tư như sức chứa của sân bay, các tiện nghi hoặc phà biển phục

vụ đi lại giữa các đảo Do đó, các tác động chéo này đến khả năng tồn tại của dự án đầu tư du lịch là rất quan trọng

5.3.2 Các nhân tố bất thường

Các kỹ thuật kinh tế lượng và kỹ thuật khác để dự đoán tác động của các nhân tố ảnh hưởng ngắn hạn nêu trên ngày càng trở nên phức tạp, tuy nhiên các kỹ thuật này không thể áp dụng trong đánh giá tác động của các sự kiện bất thường hoặc theo chu kỳ đối với du lịch Các nhà nghiên cứu có thể ước tính được mức độ tác động mà những sự kiện đó

sẽ gây ra, nhưng không thể dự đoán được khi nào chúng xảy ra và tính khốc liệt của những sự kiện đó Trong du lịch, các sự kiện này thường xảy ra ở các quốc gia nơi đến, do đó ảnh hưởng đến các sản phẩm cung ứng và các liên kết lữ hành

Các cuộc bãi công của nhân viên điều khiển tín hiệu hàng không (ở châu Âu), của phi công (ở Úc) và nạn không tặc là những ví dụ về các sự kiện bất thường ảnh hưởng đến du lịch trong những năm 80 của thế kỷ

XX Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 gây ảnh hưởng bất lợi đến du lịch quốc tế khắp toàn cầu nhưng làm bùng nổ du lịch trong nước ở nhiều quốc gia như một sự thay thế cho các chuyến đi du lịch nước ngoài Sự thay đổi lớn giá nhiên liệu cũng có ảnh hưởng đến du lịch hàng không và

du lịch bằng ô tô Bạo lực chính trị và các thảm họa tự nhiên như bão hoặc động đất có thể vừa làm giảm cầu du lịch, vừa phá huỷ cơ sở kinh doanh du lịch ở các quốc gia nơi đến Tất cả các sự kiện này cho thấy độ tác động trễ đến ngành, với thời gian hồi phục khác nhau từ 2 tháng đến

Trang 14

5 năm Do đó, dự án đầu tư nào phụ thuộc vào thu nhập trong các thời kỳ này thì chỉ có thể có khả năng lợi nhuận sau đó, hoặc nếu liên quan đến các chi phí vốn lớn thì có thể không có khả năng lợi nhuận

5.3.3 Các nhân tố dài hạn

Các doanh nhân đang đầu tư vào các tiện nghi nơi đến, các điểm hấp dẫn quan trọng hoặc các phương tiện vận chuyển cần nhiều vốn thì đều có nhu cầu nhận diện rõ các xu hướng thay đổi tiềm năng và những

cơ hội mới có ý nghĩa trong du lịch Ví dụ, thị hiếu và các yêu cầu về tiện nghi của du khách có thể thay đổi qua một số năm Điều đó khuyến khích nhu cầu đầu tư thay thế theo chu kỳ ngắn để nâng cấp các tiện nghi đạt tiêu chuẩn được chấp nhận hiện tại; các tập đoàn khách sạn như ITT Sheraton thường lập quỹ cải tạo các khách sạn mới sau ít nhất 3 năm khai trương Không chỉ nhu cầu của khách du lịch bị ảnh hưởng bởi kiểu mốt

và tìm kiếm “những trải nghiệm mới” mà những biến đổi về kinh tế và xã hội của các thị trường nguồn khách cũng có ảnh hưởng không kém phần quan trọng Đầu tư dài hạn phải đáp ứng được các yêu cầu về văn hoá của các thị trường tương lai mà hiện tại điều đó có thể chưa quan trọng

Sự thay đổi môi trường bao gồm cả những vấn đề như sự chuyển dịch của khí hậu, có khả năng ảnh hưởng đến các nơi đến thông qua sự thay đổi trực tiếp một số thuộc tính của chính sản phẩm du lịch và thông qua sự lựa chọn các lợi thế về vị trí của các kiểu loại nơi đến du lịch khác nhau Các kỹ thuật dự đoán chỉ mới sơ khai nhưng có thể đúng lúc, cho phép phân tích rủi ro một cách phù hợp và được đưa vào các đánh giá đầu tư du lịch

Một trong các nhân tố có thể quan trọng nhất ảnh hưởng đến đầu tư

du lịch là sự thay đổi công nghệ Công nghệ của ngành sản xuất công nghiệp là điều kiện tiên quyết đối với cầu du lịch trong thế kỷ XIX, vì nó tạo ra các phương pháp sản xuất mới trong ngành chế tạo, rút ngắn thời gian làm việc của người lao động, tạo ra năng lượng hơi nước để vận

Trang 15

chuyển được nhiều người bằng đường sắt và đường biển Trong thế kỷ

XX, công nghệ giao thông hàng không, đường bộ và các phương tiện khác cho phép phát triển du lịch đại chúng tới nhiều điểm đến du lịch hơn mà không bị giới hạn bởi đường sắt hoặc tàu biển Các nhà cung ứng điểm hấp dẫn du lịch cũng nhanh chóng tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực như máy trò chơi, đi ô tô trong công viên chủ đề hoặc khu triển lãm và các trải nghiệm du lịch nhân tạo, ví dụ có thể tái tạo môi trường hoang dã hoặc môi trường dưới nước thay thế các môi trường nguyên bản Công nghệ thông tin, công nghệ số đang làm cho các thị trường du lịch có hiệu quả hơn vì người tiêu dùng nhận được nhanh chóng, đầy đủ các thông tin và các nhà sản xuất phải cạnh tranh nhiều hơn trong quá trình phân phối Chắc chắn rằng các tiến bộ khoa học và công nghệ sẽ tiếp tục có những tác động quan trọng đến sự phát triển của

du lịch

5.4 MÔ HÌNH VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ

5.4.1 Nghiên cứu khả thi và các mô hình đầu tư

Các quyết định đầu tư du lịch mới, đơn lẻ tuỳ thuộc phần lớn vào nghiên cứu khả thi gồm các biến số về kinh tế, marketing, tài chính và kinh doanh để đánh giá liệu một dự án đơn lẻ có thể tồn tại được không Các biến số này được triển khai nghiên cứu trong quá trình phân tích các đầu tư tài sản như đầu tư vào khách sạn, motel hoặc khu nghỉ dưỡng mới Chúng thường liên quan đến sự phát triển một dự án kinh doanh riêng biệt ở một vị trí riêng biệt nên cần phân tích chi tiết hơn so với sự đánh giá chung về tiềm năng đầu tư

Đối với dự án đầu tư một khu nghỉ dưỡng hoặc khách sạn, Hình 5.3

là một ví dụ về các giai đoạn của nghiên cứu khả thi

Trang 16

Hình 5.3 Nghiên cứu khả thi đối với một khách sạn

Nghiên cứu khả thi xác định phương pháp để kết hợp với các kỳ vọng, thông số và phép chiếu trong phân tích đa biến Các phương pháp Bayec thường được sử dụng để đánh giá rủi ro thông qua khả năng sinh lợi từ các kết quả thu được khác nhau và có thể bao gồm cả phân tích độ nhạy để xác định biến số nào có tầm quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi Các mức độ rủi ro là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến quyết định đầu tư Ngành du lịch thường được cho là một ngành có mức

độ rủi ro cao trong đầu tư, vì vậy đầu tư du lịch phải được bù đắp bởi các mức thu hồi dự kiến cao hơn

Khi cân nhắc đầu tư vào các tiện nghi cố định mà du khách phải di chuyển đến để tiêu dùng các dịch vụ ở đó thì vị trí và lựa chọn địa điểm

là các biến số quan trọng Một khách sạn, motel, điểm hấp dẫn, cửa hàng lưu niệm hoặc văn phòng đại lý du lịch không thể có vị trí bất kỳ như đối với các văn phòng tổng công ty hoặc các cơ sở bảo dưỡng ô tô Lý thuyết

về vị trí và kinh tế vùng không đóng góp nhiều cho phân tích các quyết

khuyến nghị

Dự kiến hoạt động kinh doanh

Phân tích khả thi tài chính

Kế hoạch

sử dụng đất

Chi phí phát triển

Phân tích cung & cầu

sự năng động, các yêu cầu sản phẩm

Doanh thu &

chi phí giá phòng, công suất sử dụng, chi phí

Nguồn ngân quĩ các thu hồi

dự kiến

Trang 17

định đầu tư riêng lẻ, nhưng chiến lược về vị trí bán lẻ lại được sử dụng trong các phân tích đầu tư du lịch

Vì phương pháp đánh giá đầu tư du lịch có thể bao gồm rất nhiều biến số, nên đôi khi các phân tích khả thi có thể chuyển thành các mô hình đầu tư với phạm vi đầy đủ Các mô hình này dựa trên cơ sở các cách tiếp cận chương trình, đặc biệt ở những dự án có sự tham gia của chính phủ nên cần cân nhắc các khoản thu về xã hội cũng như thương mại, và ở một số dự án việc tính toán giá mờ (shadow price) của hoạt động đầu tư

có thể là quan trọng Ví dụ, dự án phát triển một khu nghỉ dưỡng kết hợp

có thể bao gồm đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng (đầu tư này có thể

có chi phí cơ hội), đầu tư của tư nhân vào cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh và sự quan tâm của chính phủ trong việc tối đa hoá các khoản thu về xã hội Các mô hình kiểu lập chương trình phức hợp được áp dụng

để thực hiện yêu cầu của tất cả các lĩnh vực này Tuy nhiên, sự khó khăn

sẽ nảy sinh nếu chính phủ và các doanh nghiệp du lịch có các mục tiêu khác nhau từ đầu tư du lịch

Mô hình hoá kinh tế chung có thể được sử dụng nhiều hơn để đánh giá khả năng tồn tại của dự án phát triển du lịch phạm vi lớn như vùng hoặc quốc gia Đối với nhiều quốc gia, nhất là các nước kém phát triển

có nguồn tài nguyên khan hiếm thì mối quan tâm chính là nên đầu tư du lịch hay đầu tư vào các ngành khác Khi đó, biến số cần xác định không phải là khả năng tồn tại của một dự án đầu tư đơn lẻ và cũng không phải

là tổng đầu tư trong nền kinh tế, mà là tỷ trọng đầu tư du lịch phù hợp trong nền kinh tế Tỷ trọng đó là IT/I, trong đó: IT là đầu tư du lịch và I là tổng đầu tư trong nền kinh tế Căn cứ vào các mục tiêu, nhiệm vụ đầu tư trên cơ sở hiệu quả cận biên của vốn, các nguyên tắc gia tốc hoặc các mô hình lập chương trình để có thể xác định giá trị tối ưu của IT/I Đối với các quốc gia có nền kinh tế nhỏ và kém phát triển thì vấn đề chính là cả nguồn vốn lẫn thị trường tiêu thụ có thể ở bên ngoài nền kinh tế, vì vậy

có thể không xác định các giá trị tài chính cũng như khả năng tồn tại hoặc sự kỳ vọng của đầu tư đối với nền kinh tế đó

Trang 18

5.4.2 Nguồn vốn đầu tư

Cần lưu ý một đặc điểm quan trọng của ngành du lịch trên thế giới

là sự phân tán của ngành Điều đó có nghĩa là có sự dư thừa các doanh nghiệp nhỏ, từ những người bán rong hàng lưu niệm và kinh doanh taxi riêng lẻ đến các cửa hàng, đại lý du lịch và các tổ chức trung gian nhỏ Mặt khác, ngày càng có sự tách biệt giữa sở hữu vốn cố định với hoạt động kinh doanh như ở các khu nghỉ dưỡng, sân bay và các điểm hấp dẫn chủ yếu Do đó, có sự đa dạng về nguồn vốn đối với các đầu tư nhỏ và sự phát triển tạo nguồn tài chính đặc biệt cho doanh nghiệp sở hữu các tài sản cố định Các nguồn tài chính đặc biệt để đầu tư vào tài sản bao gồm nguồn vốn từ các công ty bảo hiểm, từ các loại quỹ Các tập đoàn sản xuất lớn thường sử dụng thu nhập giữ lại để đa dạng hoá nguồn vốn đầu

tư trực tiếp vào các dự án kinh doanh du lịch Nguồn tài chính từ các doanh nghiệp này kết hợp với vốn vay từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính quốc tế làm cho đầu tư du lịch có tính quốc tế hoá ngày càng cao Trong những năm trước đây, các doanh nghiệp du lịch đã có sự thay đổi để làm giảm tỷ lệ vốn vay/vốn sở hữu trong một doanh nghiệp Mức độ vay nợ nhiều, cùng với tỷ lệ lãi suất cao đã làm cho các công ty gặp thêm nhiều khó khăn và có thể bị thất bại Những tác động này làm giảm tính tự chủ kinh doanh và buộc các doanh nghiệp phải phụ thuộc nhiều hơn vào vốn sở hữu (vốn cổ phần) của chính mình, do đó làm giảm mức độ đầu tư nói chung

Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp sở hữu nhà nước (sở hữu công cộng) trong du lịch thường là các khoản tài trợ trực tiếp của chính phủ với tỷ lệ lãi suất ưu đãi mà không phải là tỷ lệ lãi suất kinh doanh trên thị trường vốn Nguồn vốn này quyết định khả năng tồn tại của các

dự án đầu tư Ngoài ra, chính phủ có thể phát hành trái phiếu để tạo lập nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp của mình Chi phí vốn từ những nguồn này có thể thấp hơn tỷ lệ lãi suất của thị trường vốn bởi vì những khoản vốn vay từ chính phủ thường có mức độ rủi ro thấp Ví dụ, ở một

số quốc gia vừa có hãng hàng không thuộc sở hữu nhà nước vừa có hãng

Trang 19

hàng không tư nhân, hãng hàng không nhà nước có thể có chi phí vốn thấp hơn khi đầu tư tài chính vào mua máy bay mới

Như đã đề cập, chính phủ các quốc gia trực tiếp tài trợ, cho vay và trợ cấp khác để đầu tư phát triển các lĩnh vực riêng biệt của du lịch Những sự trợ giúp này về mặt lý thuyết vừa làm giảm chi phí đầu tư, giảm chi phí vốn và vừa giảm rủi ro Trong thực tế, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giảm rủi ro là vấn đề quan trọng nhất trong các biện pháp khuyến khích của chính phủ Các khuyến khích này có thể không thu hút được nguồn vốn quốc tế cho các dự án đầu tư vì không có sự cạnh tranh trong các khoản thu hồi, nhưng lại có thể hấp dẫn doanh nghiệp nội địa đảm nhận dự án đầu tư, nhất là khi các yếu tố đòn bẩy của chính phủ

đủ mạnh

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Trình bày khái niệm đầu tư, các nhu cầu đầu tư nói chung và nhu cầu đầu tư du lịch nói riêng?

2 Trình bày các yếu tố cơ bản của đầu tư Liên hệ với các dự án đầu tư du lịch ?

3 Tại sao đầu tư du lịch thường không liên hệ trực tiếp tới các khoản thu hồi dự kiến mang tính chất thương mại? Lấy các ví dụ để minh hoạ?

4 Đầu tư theo “định hướng tài sản” là gì? Tại sao khả năng tồn tại của nó hoàn toàn không ràng buộc với sự tăng trưởng về cầu du lịch?

5 Phân tích các đặc điểm của đầu tư du lịch Ý nghĩa của việc nhận thức các đặc điểm này trong thực tế đầu tư du lịch ở Việt Nam?

6 Trình bày sự hiểu biết của bạn về đầu tư vào các "sự kiện" du lịch Liên hệ với tình hình thực tế ở Việt Nam?

7 Phân tích các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến đầu tư du lịch Liên hệ với tình hình thực tế ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay?

Trang 20

8 Trình bày các nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong đầu tư du lịch Liên hệ vấn đề này với tình hình thực tế ở Việt Nam?

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 5

Trang 21

Chương 6 LAO ĐỘNG VÀ VỐN KINH DOANH DU LỊCH

Mục tiêu của chương:

Sau khi học xong chương này, người học có khả năng:

• Nắm được các khái niệm về lao động dịch vụ, vốn kinh doanh dịch vụ du lịch;

• Hiểu rõ được đặc điểm của lao động dịch vụ, cung và cầu lao động, năng suất lao động và tiền lương trả cho người lao động trong doanh nghiệp du lịch;

• Hiểu rõ được đặc điểm và tầm quan trọng của vốn kinh doanh du lịch, nhu cầu và cơ cấu nguồn vốn kinh doanh du lịch;

• Nắm được nội dung đánh giá tình hình vốn kinh doanh trong doanh nghiệp du lịch

6.1 LAO ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH

Lao động luôn là mối quan tâm đặc biệt trong các ngành dịch vụ nói chung và ngành du lịch nói riêng, đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay Kinh tế tri thức đang được hình thành ở nhiều nước trên thế giới, những nước có sự tiến bộ vượt bậc về công nghệ Trong kinh tế tri thức, các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP của mỗi quốc gia, lực lượng lao động cũng phát triển theo xu hướng số công nhân cổ trắng (white collar worker - cán bộ nghiên cứu và ứng dụng thông tin) và công nhân cổ vàng (gold collar worker - cán bộ chuyên môn có trình độ đại học) tăng lên không ngừng và đóng vai trò lực lượng lao động chủ yếu; số công nhân cổ xanh (blu collar worker - công nhân sản xuất và vận chuyển sản phẩm) giảm xuống Các nhà kinh

tế Việt Nam đã nhận thấy rõ xu hướng tất yếu này, đã và đang đưa ra

Trang 22

những giải pháp nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng ngày càng phát triển

Lao động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao và ngày càng tăng trong tổng nguồn nhân lực của mỗi quốc gia Để tạo sản phẩm đầu

ra của mình, các ngành dịch vụ phụ thuộc nhiều vào nguồn lao động đầu vào, do vậy, tỷ lệ chi phí lao động của những ngành này thường rất lớn trong sản lượng đầu ra

Ở góc độ kinh tế vĩ mô, các ngành dịch vụ, gồm cả du lịch, khách sạn hay nhà hàng sẽ là tiềm năng lớn để tạo công ăn việc làm cho xã hội Tổng lực lượng lao động là thước đo để chỉ số lượng người sẵn sàng lao động, những người làm việc nếu như có công việc phù hợp với họ Như vậy, quy mô của lực lượng lao động không chỉ chịu ảnh hưởng duy nhất bởi số công ăn việc làm sẵn có mà còn tuỳ thuộc vào số người gia nhập vào danh sách thất nghiệp Một số người thất nghiệp nhưng không gia nhập vào danh sách là nguyên nhân làm giảm quy mô lao động trên danh nghĩa Có thể thấy, trong một số thời kỳ tổng lực lượng lao động giảm, cho dù số lao động tự phát có tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế Một số nghiên cứu cho rằng, các dịch vụ mang tính chuyên nghiệp cao như giáo dục, y tế, quân sự, hành chính nhà nước có nhiều cơ hội nhất để tạo công ăn việc làm trong quá trình tăng sản lượng đầu ra của mình và vị trí tiếp theo là ngành khách sạn, du lịch Lĩnh vực dịch vụ nói chung và ngành khách sạn, du lịch đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cho nền kinh tế quốc dân

6.1.1 Đặc điểm lao động

Lao động trong kinh doanh du lịch được hình thành một cách tất yếu khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Cùng với quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá của nền kinh tế, năng suất lao động tăng lên, lực lượng lao động dư thừa là điều kiện phát triển kinh tế dịch vụ Mặt khác, do chuyên môn hoá cao, thu nhập của người lao động ngày càng tăng, thúc đẩy các nhu cầu dịch vụ,

Trang 23

trong đó có nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi giải trí phát triển Lao động trong kinh doanh du lịch là một bộ phận lao động xã hội cần thiết thực hiện sản xuất và cung ứng các sản phẩm du lịch và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu của khách hàng Lao động trong lĩnh vực dịch vụ nói chung và trong kinh doanh du lịch nói riêng phát triển rất mạnh mẽ từ những năm 50 của thế kỷ XX

Đặc điểm lao động kinh doanh du lịch

Lao động trong kinh doanh du lịch mang tính chất lao động dịch

vụ Lực lượng lao động này bao gồm chủ doanh nghiệp, các nhà quản trị, đội ngũ nhân viên phục vụ và công nhân kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh du lịch Ngoài ý nghĩa là một trong những yếu tố tạo sản phẩm, đội ngũ lao động trong các nhà hàng, khách sạn còn tác động mạnh đến tâm lý khách hàng và quyết định đến chất lượng dịch vụ Loại lao động dịch vụ này hầu như không tạo ra của cải vật chất (trừ những sản phẩm

ăn uống) Quá trình cung ứng gắn liền với quá trình tiêu dùng sản phẩm

cả về không gian và thời gian, vì vậy, nhân viên phục vụ thường có mối quan hệ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng Trong kinh doanh cả hai mảng: Dịch vụ mang tính chất sản xuất (ăn, uống) và dịch vụ thuần tuý (lưu trú, giải trí, ) đều có sự tiêu hao lao động sống, những hao phí này

sẽ được bù đắp bởi nhiều nguồn khác nhau

Ngành du lịch là một ngành dịch vụ, việc sử dụng lao động trong ngành là chủ yếu Điều này cho thấy việc hiện đại hoá, cơ giới hoá trong ngành rất hạn chế Chi phí tiền lương là bộ phận chi phí quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng gia tăng Trong khi đó, nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận, ngành cũng như các doanh nghiệp lại áp dụng các biện pháp tiết kiệm chi phí Khi đứng trên quan điểm lợi ích của khách hàng, các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì phải cân đối lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng

Lao động trong kinh doanh du lịch mang tính chất thời điểm, thời

vụ, phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm ăn uống, lưu trú, giải trí có tính chất thời điểm, thời vụ, vì vậy giờ làm việc

Trang 24

của người lao động thường bị gián đoạn và tương ứng với thời gian đến

và đi của khách hàng Các nhân viên phục vụ bàn, đầu bếp, phải làm việc tích cực vào buổi sáng, trưa, chiều tối tương ứng với các bữa ăn của khách Nhân viên lễ tân đòi hỏi trực 24/24 giờ với thái độ sẵn sàng phục

vụ khách Nhân viên phục vụ phòng làm việc vào buổi sáng và tối với công việc vệ sinh phòng và chuẩn bị giường cho khách, Người lao động hầu hết làm việc theo ca (trừ bộ phận quản lý), việc tổ chức lao động hết sức linh hoạt và mềm dẻo Ở những khách sạn nghỉ biển, nghỉ núi và những khách sạn mà hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào yếu tố thời tiết, khí hậu, thì tính thời vụ của lao động càng rõ nét Đặc điểm này làm cho họ không có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội vào mùa du lịch và làm ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của họ Vì vậy, trong các cơ sở kinh doanh nhà hàng, khách sạn hay lữ hành, nhà quản trị thường sử dụng hợp đồng lao động duy trì sử dụng lực lượng lao động full-time và part-time nhằm tận dụng lực lượng lao động nhàn rỗi đồng thời tiết kiệm được chi phí lao động, điều đó có thể làm giảm chất lượng phục vụ và không tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch

Lao động trong kinh doanh du lịch có tính đa dạng và chuyên môn hoá cao Tính chất đa dạng với nhiều dịch vụ đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn khác nhau Ngoài chuyên môn nghiệp vụ của mình,

họ phải có kiến thức văn hoá tổng hợp, biết ngoại ngữ, am hiểu tâm lý khách hàng, Mặc dù các bộ phận kinh doanh trong các nhà hàng, khách sạn có quan hệ chặt chẽ cùng phục vụ khách hàng, nhưng do tính chất đặc thù nên các nghiệp vụ vẫn có sự độc lập tương đối tạo tính chuyên môn cao của người lao động, như hướng dẫn viên, lễ tân, phục vụ buồng, bàn, bar, bếp, Tính chuyên môn hoá cao một mặt có thể nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng năng suất lao động của doanh nghiệp, nhưng mặt khác lại tạo nên sự cứng nhắc trong phân công lao động, người lao động khó dịch chuyển và thay thế giữa các bộ phận

Ngoài những đặc điểm trên, lao động trong kinh doanh du lịch còn

có đặc điểm: Lao động có tính chất phức tạp; lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động;

Trang 25

Phân loại lao động

Mỗi loại hình doanh nghiệp du lịch có lĩnh vực kinh doanh đặc trưng khác nhau, tương ứng cũng gồm các loại lao động khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản doanh nghiệp du lịch gồm có các nghiệp vụ: Kinh doanh lữ hành, kinh doanh ăn uống, kinh doanh lưu trú, và kinh doanh các dịch vụ khác Tương ứng, đội ngũ lao động bao gồm: Lao động kinh doanh lữ hành, lao động kinh doanh ăn uống, lao động kinh doanh lưu trú, lao động kinh doanh các dịch vụ khác Mỗi người lao động trong các nghiệp vụ cần hiểu rõ quyền hạn, trách nhiệm và phạm vi làm việc của

họ Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuyển dụng, bố trí sử dụng lao động đúng người đúng việc Phân loại lao động theo các nghiệp vụ kinh doanh đã nâng cao trách nhiệm của mỗi bộ phận qua sự độc lập của

họ, tuy nhiên cũng cần thấy rõ, mức độ độc lập chỉ là tương đối, các bộ phận liên kết chặt chẽ với nhau theo quy trình phục vụ khách, đặc biệt là khách du lịch - bộ phận khách hàng sử dụng đồng bộ các dịch vụ trong các doanh nghiệp

Căn cứ vào trình độ chuyên môn, lao động trong kinh doanh du lịch gồm các mức độ: Lao động có trình độ đại học và trên đại học, lao động

có trình độ trung cấp, sơ cấp và lao động chưa qua đào tạo Mỗi doanh nghiệp kinh doanh du lịch cần nắm rõ thực trạng chất lượng đội ngũ lao động của doanh nghiệp mình để có kế hoạch tuyển dụng lao động, sử dụng lao động, bồi dưỡng và đào tạo lao động theo các hình thức khác nhau với nhiều nội dung khác nhau Cũng qua đó, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đánh giá được phần nào năng suất lao động và chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp

Trong ngành du lịch hiện tại, trình độ lao động tương đối thấp Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2018, nhân lực có trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao đẳng du lịch là lực lượng lao động trực tiếp phục vụ khách, cung cấp sản phẩm du lịch, chiếm 47,3% nhân lực được đào tạo, bằng 19,8% tổng nhân lực toàn ngành Nhân lực được đào tạo đại học và sau đại học về du lịch chiếm 7,4% số nhân lực có chuyên môn du lịch, bằng 3,2% tổng nhân lực Số

Trang 26

nhân lực có trình độ đại học và trên đại học về du lịch như trên là thấp so với nhu cầu phát triển và hội nhập quốc tế Nhân lực trình độ dưới sơ cấp nghề (đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng) chiếm 45,3% nhân lực có chuyên môn, bằng 19,4% tổng số nhân lực toàn ngành Nếu chỉ tính nhân lực có trình độ sơ cấp trở lên thì nhân lực được đào tạo chiếm khoảng 23% tổng nhân lực toàn ngành Nếu tính thêm số nhân lực được đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng, thì nhân lực được đào tạo của ngành Du lịch đạt khoảng 42% tổng nhân lực toàn ngành [5] Hiện có khoảng 60% lực lượng lao động của ngành biết ngoại ngữ nhưng chủ yếu là tiếng Anh (42%), tỷ lệ biết tiếng Trung Quốc chỉ 5%, tiếng Pháp 4%, Trong đó,

số lao động có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ chỉ 15%, và cũng chỉ tập trung chủ yếu ở bộ phận làm hướng dẫn viên du lịch, lễ tân khách sạn Về trình độ công nghệ thông tin, có khoảng hơn 60% lao động biết

sử dụng máy tính, nhưng phần lớn chỉ đáp ứng những công việc đơn giản Cùng với những yếu kém trên thì thực tế cho thấy, kỹ năng mềm, khả năng ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của lực lượng lao động du lịch cũng chưa được trang bị đầy đủ Thực trạng này cho thấy số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam hiện tại chưa thể đáp ứng được những yêu cầu phát triển của du lịch trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Theo lĩnh vực hoạt động, nhân lực là hướng dẫn viên du lịch tốt nghiệp đại học chiếm khoảng 65,5% tổng số hướng dẫn viên, tỷ lệ này trong marketing du lịch là 84,2% và lễ tân là 65,3% Trong lĩnh vực phục

vụ buồng, bar, bàn, bếp, lao động có trình độ trung cấp và sơ cấp lại chiếm tỷ lệ lớn: Nhân viên bếp là 85,6%; bàn, buồng, bar tương ứng là: 72,4%, 70,7% và 75,5%

Theo mức độ tham gia vào quá trình kinh doanh, đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồm có: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp tham gia kinh doanh là lao động trong các

bộ phận nghiệp vụ hướng dẫn, điều hành, lễ tân, buồng, bàn, bar, bếp,

Bộ phận lao động này chiếm tỷ trọng lớn, thường chiếm khoảng 80 - 90% tổng số lao động Lao động gián tiếp là lao động quản lý và điều

Trang 27

hành quá trình kinh doanh Bộ phận lao động này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số lao động của doanh nghiệp Do vai trò quan trọng của

bộ phận lao động này nên trình độ chuyên môn của lao động gián tiếp so với lao động trực tiếp thường cao hơn nhiều Lao động gián tiếp luôn được duy trì ở một tỷ trọng nhỏ để tiết kiệm những chi phí gián tiếp không cần thiết, nhưng đồng thời vẫn đảm bảo việc điều hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả Cách phân loại này là một trong những căn cứ

để các doanh nghiệp có hình thức trả công phù hợp đối với từng bộ phận lao động

Trong các cơ sở kinh doanh nói chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng, đội ngũ lao động còn có thể được phân loại theo giới tính gồm: Lao động nam và lao động nữ Do đặc điểm của giới tính, nên cách phân loại đem lại cho doanh nghiệp một chế độ đãi ngộ hợp lý đối với từng loại lao động

6.1.2 Cung và cầu lao động

Sự tham gia của lực lượng lao động

Về dài hạn, quy mô tổng lực lượng lao động (những người có khả năng và sẵn sàng làm việc) sẽ bị ảnh hưởng bởi mức độ tham gia vào lực lượng lao động của từng nhóm dân cư khác nhau Điều này thể hiện theo

"mức độ hoạt động" (activity rate) của từng nhóm lứa tuổi hay giới tính Một số nước trên thế giới, mức độ hoạt động của nam giới có khuynh hướng giảm Hiện tượng này có liên quan đến việc kéo dài thời gian học tập của nam thanh niên, trong khi những người đứng tuổi lại nghỉ hưu sớm hơn Ngược lại, mức độ hoạt động của phụ nữ lại cho thấy khuynh hướng tăng trưởng Bên cạnh đó, hoạt động lao động của nữ còn thể hiện những dao động ngắn hạn lớn

Trang 28

Tại sao mức độ hoạt động dài hạn của phụ nữ có chiều hướng gia tăng?

- Phụ nữ bị lôi cuốn vào lực lượng lao động trong các thời kỳ kinh

- Những người phụ nữ có nghề nghiệp đem lại thêm một nguồn thu nhập nữa cho gia đình Xu hướng tiền lương ngày càng tăng là động cơ không nhỏ để phụ nữ tham gia vào lao động xã hội

Trong ngành du lịch, tỷ lệ lao động nữ so với nam giới là vào khoảng 2:1 Ngược lại, ở các ngành công nghiệp chế tạo khác, nữ giới chỉ chiếm 1/3 tổng số lao động và tầm quan trọng của lao động nữ trong các ngành này cũng không lớn như trong các ngành dịch vụ Một số ngành dịch vụ như bán lẻ, khách sạn, nhà hàng, giáo dục và y tế có tỷ trọng lao động nữ tương đối cao Thông thường trong các ngành dịch vụ lao động nữ đều lớn hơn 60% tổng lực lượng lao động

Hiện tượng tăng trưởng lực lượng lao động nữ gắn liền với việc tăng trưởng các cơ hội nghề nghiệp bán thời gian Trong ngành du lịch, hiện tượng này còn có mối liên hệ với việc ra đời và phát triển các công việc có mức lương thấp ở khu vực dịch vụ này

Thời gian làm việc

Cung lao động của một nền kinh tế nói chung, của từng ngành và từng doanh nghiệp nói riêng không chỉ phụ thuộc vào “mức độ hoạt động” của từng nhóm lao động, mà còn chịu ảnh hưởng bởi số giờ làm

Trang 29

việc của lực lượng lao động Theo thời gian, số giờ lao động có xu hướng giảm dần Trong ngắn hạn, do một số ảnh hưởng của môi trường kinh tế

vĩ mô thì số giờ làm việc có thể tăng hoặc giảm tuỳ từng thời kỳ, nhưng xu hướng dài hạn là số giờ làm việc trong tuần cũng sẽ ngày càng ngắn lại Khi thu nhập của người lao động tăng, thì giá việc nghỉ ngơi cũng tăng lên, theo nghĩa là mỗi một giờ không làm việc trị giá tương đương với một khoản thu nhập tiềm tàng bị mất đi Điều này sẽ dẫn đến “hiệu ứng thay thế” (substitution effect), giờ làm việc có thể sẽ tăng lên do người lao động hy sinh thời gian nghỉ ngơi nhằm tăng thu nhập của mình Bên cạnh đó, cũng có thể dẫn đến “hiệu ứng thu nhập” (income effect) làm cho số giờ lao động giảm đi vì khi thu nhập tăng, người lao động có thể quyết định tiêu dùng nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn, tăng cả thời gian nghỉ ngơi và tiêu dùng chúng

Thực tế cho thấy, người lao động thường chọn việc nghỉ ngơi thư giãn khi mức lương thực tế tăng Cung lao động của bất cứ một ngành hoặc một doanh nghiệp nào cũng có khả năng giảm sút khi thu nhập tăng

và hiệu ứng thu nhập trội hơn hiệu ứng thay thế Hình 6.1 cho thấy người lao động sẽ tăng giờ làm việc lên khi mức lương tăng cho tới điểm J Từ điểm J trở đi, thời gian làm việc sẽ giảm khi mức lương vẫn tiếp tục tăng

Hình 6.1 Đường cung lao động cá nhân

Trang 30

Mặt khác, đường cung lao động đối với lao động nam thường biểu hiện ở nửa trên (từ điểm J trở lên) vì tác động thu nhập lớn hơn tác động thay thế Còn đường cung lao động đối với lao động nữ thường biểu hiện

ở nửa dưới (từ điểm J trở xuống), đường cung có độ dốc dương

Những thay đổi về thuế thu nhập cũng có thể tác động đến giờ làm việc Khi thuế thu nhập tăng, thu nhập của người lao động giảm đi Để đảm bảo sự tiêu dùng của mình thì người lao động có thể sẽ làm việc nhiều hơn để giữ được mức cân bằng trong chi tiêu như trước

Khi nghiên cứu về thời gian làm việc trong ngành du lịch, một nội dung không thể không đề cập là lao động bán thời gian Lao động bán thời gian tăng cũng có nghĩa là lực lượng lao động nữ tăng Nhưng trên thực tế cả lao động nam và lao động nữ làm việc bán thời gian đều tăng Lao động bán thời gian tập trung chủ yếu ở các ngành dịch vụ (chiếm 91% lực lượng bán thời gian của toàn nền kinh tế) Một tỷ lệ lớn lao động tại khách sạn và nhà hàng là làm việc bán thời gian (67% lao động

nữ và 38,7% lao động nam) Xu hướng lao động bán thời gian được thể hiện rõ nét trong mọi mặt của ngành du lịch nên số lao động nữ bán thời gian lớn hơn lao động nữ làm việc cả ngày, còn lao động nam bán thời gian chỉ lớn hơn lao động nam làm việc cả ngày ở một số hoạt động như trong câu lạc bộ, cơ sở giải trí,

Lao động bán thời gian của ngành du lịch là hệ quả tất yếu của nhu cầu đối với loại sản phẩm dịch vụ này Đó là những khoảng dao động lớn

về cầu trong một ngày, trong một tuần, trong một năm và lao động bán thời gian là cách thức hợp lý để đáp ứng nhu cầu trong những giờ cao điểm Không giống như các ngành sản xuất khác là sản xuất ra sản phẩm

và có thể dự trữ chúng để chờ bán ra vào thời điểm nhu cầu cao, sản phẩm của ngành du lịch hầu như không thể dự trữ, tồn kho vì sản xuất và tiêu dùng sản phẩm đồng thời cả về không gian và thời gian

Lực lượng lao động bán thời gian tăng còn có thể là do các chủ doanh nghiệp không tuyển dụng đủ số lao động toàn thời gian cần thiết

Trang 31

Điều này có thể xảy ra cả khi tình trạng thất nghiệp cao, có thể do số lao động thất nghiệp không đáp ứng được nhu cầu lao động trong ngành, không tiếp cận được các thông tin về việc làm trong ngành hoặc có thể

họ sống ở những khu vực địa lý xa với doanh nghiệp tuyển lao động Việc mở rộng quyền hạn và phúc lợi cho lao động bán thời gian đã góp phần làm tăng đáng kể lực lượng lao động nữ trong ngành du lịch và như vậy có nghĩa là các chủ doanh nghiệp trong ngành có được nguồn cung lao động bổ sung với giá thấp mà không cần quá nỗ lực thu hút lao động bằng cách đưa ra những mức lương hấp dẫn hơn

Trình độ của lực lượng lao động

Cung lao động còn chịu tác động bởi trình độ của lực lượng lao động (chất lượng của lực lượng lao động) Giá trị đầu ra của mỗi lao động khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng thiên bẩm, trình độ học vấn và việc đào tạo chuyên môn của doanh nghiệp Ngoài ra, có thể kể đến những yếu tố bổ sung như số lượng và chất lượng máy móc, và việc tổ chức hiệu quả quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ

Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực được coi là một khoản “đầu tư” dài hạn Việc hoàn trả vốn đầu tư sẽ ở dưới dạng nâng cao trình độ của người lao động, tăng năng suất lao động và tăng sản phẩm đầu ra cho

xã hội Bên cạnh những lợi ích này cần phải tính đến các chi phí mà từng

cá nhân và xã hội phải trả Sau chương trình học phổ thông bắt buộc, những ai muốn tiếp tục học lên sẽ phải tốn một khoản chi phí không nhỏ đồng thời đánh mất cơ hội kiếm tiền trong khoảng thời gian đó và xã hội cũng hụt đi một lượng sản phẩm đầu ra Bên cạnh đó, còn các khoản chi phí mua sách vở, xây dựng trường, (Hình 6.2) Nhưng hầu hết các sinh viên đều thấy đầu tư cho học hành ở bậc đại học và bậc cao hơn là một khoản đầu tư có lợi cho bản thân họ, bởi thực tế phần lớn các chi phí đều được Nhà nước thanh toán, cá nhân họ chỉ phải trả một phần

Trang 32

Hình 6.2 Thu nhập và chi phí đầu tư của cá nhân cho học tập

- Lợi ích của đầu tư Jt là thu nhập dự kiến trong tương lai tại thời điểm t của cá nhân Tương tự Kt là thu nhập dự kiến trong tương lai của

cá nhân có trình độ chuyên môn cao hơn do đầu tư thêm vào giáo dục (thời gian đào tạo dài hơn, học thêm để nâng cao trình độ) Chênh lệch thu nhập Kt - Jt chính là lợi ích mà cá nhân nhận được khi đầu tư cho giáo dục (trong một năm)

- Chi phí của đầu tư bao gồm: Học phí + Sách vở + J0, J0 là chi phí

cơ hội (thu nhập bị mất đi do thời gian đi học không làm việc) Do vậy, chi phí đầu tư = D0 + J0, trong đó D0 là chi phí trực tiếp (chi phí cho sách

vở, học phí)

Tuy nhiên, thu nhập được tính là thu nhập trong tương lai (ví dụ, từ khi học xong cho tới khi về hưu) Còn với các khoản chi phí chỉ tính trong thời gian ngắn (ví dụ trong khoảng từ 1 đến 5 năm học đại học) Vì vậy, để so sánh được lợi ích và chi phí cần phải tính được giá trị hiện tại của các khoản lợi ích và chi phí đó

Cá nhân người lao động sẽ quyết định đầu tư cho việc đi học nếu: Chi phí nhỏ hơn lợi ích thu được Hay nói cách khác, cá nhân sẽ đầu tư cho giáo dục khi NPV (net present value) giá trị hiện tại ròng của khoản đầu tư này là lớn hơn 0

Thu nhập của người tốt nghiệp đại học

Thu nhập

Chênh lệch thu nhập Thu nhập của người tốt nghiệp phổ thông

Trang 33

J K J

D

1 0 0

J K NPV

T

t

t t t

Các doanh nghiệp cần phải cân nhắc thận trọng cho mục đầu tư nhân sự này Cử người lao động đi đào tạo hoặc mở các lớp bồi dưỡng tay nghề đều tốn những khoản chi phí lớn Nhưng việc hoàn trả “vốn đầu tư” này lại hoàn toàn phụ thuộc vào người lao động, liệu tay nghề có nâng cao đáng kể không? Liệu sau khi được đào tạo họ có ở lại doanh nghiệp làm việc không? Một số doanh nghiệp có lợi khi không đào tạo lại lao động mà lựa chọn con đường tuyển dụng những người đã có tay nghề và trình độ của các doanh nghiệp khác hoặc chỉ mở các lớp đào tạo mang đậm nét đặc thù riêng của doanh nghiệp

Hiện trong ngành du lịch có nhiều hình thức đào tạo khác nhau với những nội dung khác nhau, gồm cả các lớp nghiệp vụ và lớp nâng cao trình độ quản lý cho cả những người mới tuyển dụng và những người đang làm việc Số liệu thống kê cho thấy, những người không có tay nghề hoặc bằng cấp chính thức chiếm khoảng 50 - 85%, bởi vậy, nhu cầu

về đào tạo nội bộ là rất lớn

Ngoài ra, cung lao động còn có mối quan hệ chặt chẽ với sự lựa chọn của người lao động Nếu người lao động tìm kiếm khả năng hoàn trả cao nhất cho những đầu tư của bản thân thì họ sẽ cân nhắc đến các yếu tố như nghề nghiệp, ngành và công ty, mà những yếu tố này có thể mang lại cho họ nguồn thu nhập và sự thoả mãn nghề nghiệp lớn nhất Trước tiên, người lao động xem xét đến mối tương quan giữa tiền lương

và yêu cầu công việc Ngoài ra, người ta còn tính đến các khía cạnh phi vật chất, chẳng hạn có một số nghề nguy hiểm hoặc độc hại, hoặc có vị trí xã hội thấp kém, còn một số nghề khác thì dễ chịu, có địa vị cao và xem xét các rủi ro thất nghiệp khác Người lao động sẽ cân nhắc để có được “lợi ích ròng” - phối hợp cả các yếu tố vật chất và phi vật chất, từ

đó lựa chọn nơi làm việc thích hợp cho bản thân

Trang 34

6.1.2.2 Cầu lao động

Cầu dài hạn

Các doanh nghiệp cần các nhân tố sản xuất như lao động, nguyên vật liệu và tiền vốn để sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ Nghĩa là, nhu cầu về các nhân tố sản xuất là nhu cầu phát sinh có gốc gác từ nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ

Xét về chiến lược dài hạn, tất cả các nhân tố sản xuất đều có thể biến động Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn bất kỳ công nghệ nào để tạo ra sản phẩm của mình: Từ những dây chuyền sản xuất đòi hỏi cường

độ sức lao động cao (sử dụng nhiều sức lao động), cho đến những công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư cao (sử dụng máy móc thiết bị nhiều hơn sức người) Nếu doanh nghiệp định hướng tối đa hoá lợi nhuận thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn loại hình công nghệ có chi phí thấp nhất

Khi giá lao động và giá vốn đầu tư thay đổi thì các phương án kết hợp hai nhân tố sản xuất đầu vào này cũng sẽ thay đổi theo Nếu giá lao động tăng tương đối so với giá vốn đầu tư thì có thể nhiều doanh nghiệp

sẽ cố gắng dùng các khoản đầu tư cho máy móc thiết bị và công nghệ mới thay cho chi phí lao động Tuy nhiên, khả năng thay thế một nhân tố sản xuất này bằng nhân tố sản xuất khác phụ thuộc nhiều vào bản chất của sản phẩm và t́ình trạng công nghệ Trong các doanh nghiệp du lịch, khả năng thay thế sức lao động bằng vốn đầu tư là tương đối hạn hẹp so với các doanh nghiệp sản xuất khác do tính chất dịch vụ của ngành Các doanh nghiệp sản xuất khác, với các dây chuyền sản xuất có tính lặp lại cao và ít đòi hỏi kỹ năng tinh sảo, thì việc dùng máy móc thay thế con người có thể thực hiện được dễ dàng, chẳng hạn như ở lĩnh vực chế biến thực phẩm

Trang 35

sản xuất tăng lên thì lợi nhuận giảm xuống - nếu số lao động tăng, lợi nhuận sẽ giảm Sản lượng bổ sung khi tăng thêm một nhân công (sản phẩm lao động cận biên) thể hiện ở Hình 6.3

Hình 6.3 Năng suất lao động cận biên (tính bằng đơn vị sản phẩm)

Sản lượng bổ sung đó sẽ được bán ở một mức giá nào đó và doanh thu bổ sung nhận được gọi là doanh thu cận biên Giá trị tăng thêm của doanh nghiệp khi tăng thêm một nhân công sẽ bằng sản phẩm lao động cận biên tính bằng vật chất (sản phẩm hiện vật cận biên) nhân với doanh thu cận biên của một đơn vị sản phẩm Đó còn gọi là sản phẩm doanh thu cận biên (MRP = MPP x MR) và đồ thị của nó cũng có dạng đường cong như Hình 6.3

Các doanh nghiệp du lịch định hướng tối đa hoá lợi nhuận sẽ không thuê thêm nhân công nếu như chi phí thuê thêm nhân công (chi phí cận biên - MC) cao hơn sản phẩm doanh thu cận biên (MRP) Ngược lại, nếu sản phẩm doanh thu cận biên lớn hơn chi phí cận biên thì doanh nghiệp

sẽ thu được nguồn lợi lớn hơn từ việc tăng số nhân công Và khi sản phẩm doanh thu cận biên còn lớn hơn chi phí bổ sung cho những lao động tăng thêm thì doanh nghiệp sẽ còn thu được lợi nhuận

Như vậy, một cơ sở kinh doanh sẽ thuê thêm lao động cho đến khi sản phẩm doanh thu cận biên bằng chi phí lao động cận biên Lợi nhuận được tối đa hoá tại điểm MRP = MC Giả sử doanh nghiệp trả lương theo

Trang 36

giá thị trường cho người lao động và không có một tác động nào đối với mức lương đó, khi đó, chi phí cận biên để thuê thêm lao động sẽ bằng đúng mức lương ấy (MC = W) Vì vậy, điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận

là MRP = W (Hình 6.4)

Hình 6.4 Mức tối đa hoá lợi nhuận từ lao động

Tại điểm mức lương 0W2, lượng lao động cần thiết cho doanh nghiệp là 0q2, bởi ở bất kỳ một lượng lao động nào khác thì lợi nhuận sẽ không đạt mức tối đa Với số lao động nhỏ hơn 0q2, doanh nghiệp sẽ phải trả giá cao hơn để tăng thêm nhân công, MRP cao hơn MC và khi đó vẫn còn có cơ hội để tăng lợi nhuận Với số lao động lớn hơn 0q2, chi phí bổ sung để thuê thêm nhân công (MC2) sẽ lớn hơn giá trị sản phẩm bổ sung (MRP) và vì vậy lợi nhuận sẽ bị suy giảm

Hình 6.5 Đường cầu lao động

Trang 37

Nếu mức lương là 0W1 thì điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận MRP =

MC được thoả mãn tại hai điểm chỉ số lượng nhân công 0q và 0q1 Với

số lao động bằng 0q1, doanh nghiệp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn, vì thế dịch chuyển lượng lao động từ 0q sang 0q1 sẽ làm tăng doanh thu (MRP) nhanh hơn là tăng chi phí (MC1) và lợi nhuận sẽ tăng

Số lượng lao động cần thiết của một doanh nghiệp được thể hiện bằng đường cong MRP Đường cong MRP (chỉ tính đoạn dốc đi xuống) được gọi là đường cầu lao động (Hình 6.5) Có thể đặt ra giả định rằng, nếu tất cả các nhân tố khác không đổi thì một doanh nghiệp chỉ thuê thêm lao động nếu như giá lao động (tiền lương) giảm, nếu giá lao động tăng thì doanh nghiệp sẽ giảm cầu đối với nhân tố sản xuất này Chủ doanh nghiệp sẽ di chuyển dọc theo đường cầu lao động xuống dưới hoặc lên trên tương ứng với mức tiền lương mới và như vậy lượng lao động được thuê sẽ lớn hơn hoặc nhỏ hơn trước Đường cầu lao động tuân theo quy luật cầu

Cũng như đường cầu của bất kỳ loại hàng hoá và dịch vụ nào khác, đường cầu lao động cũng có thể dịch chuyển, lên trên hoặc xuống dưới, sang phải hoặc sang trái Vì nhu cầu đối với yếu tố sản xuất là nhu cầu phát sinh/dẫn xuất, cho nên những thay đổi về nhu cầu trên thị trường hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng sẽ làm dịch chuyển đường cầu lao động Thu nhập của người tiêu dùng tăng, giá của các bữa ăn tại nhà hàng thấp tương đối so với các hình thức tiêu dùng thực phẩm khác, giá phòng khách sạn giảm, có thể tạo nên động cơ kích đẩy nhu cầu đối với dịch vụ

du lịch và làm dịch chuyển cầu về lao động trong ngành du lịch

Đường cầu lao động có thể dịch chuyển ra ngoài khi giá của các nhân tố sản xuất khác tăng Ngược lại, giá của các nhân tố sản xuất khác

rẻ, thì sự thay thế cho lao động sẽ làm cho đường cầu lao động dịch chuyển vào trong (về phía điểm gốc)

Năng suất lao động cũng tác động làm dịch chuyển đường cầu lao động Quyết định tăng hoặc giảm lao động căn cứ vào sự so sánh sản phẩm doanh thu cận biên và mức tiền lương Nếu sản phẩm doanh thu

Trang 38

cận biên tăng lên, doanh nghiệp có thể thuê thêm một số lao động lớn hơn với mức lương tương xứng Đường cầu lao động sẽ dịch chuyển ra ngoài Mỗi người lao động sẽ trị giá cao hơn bởi hiệu quả cao hay bởi doanh thu từ sản phẩm cao hơn

Tính co dãn của cầu lao động phụ thuộc một phần vào khả năng thay thế bằng các yếu tố khác Nếu lao động của con người càng quan trọng và càng khó thay thế trong một quá trình kinh doanh nào đó thì cầu lao động càng ít co dãn Thêm nữa, nếu cầu hàng hoá hoặc dịch vụ không

co dãn thì lao động để tạo ra sản phẩm đó cũng không co dãn

Cầu lao động cũng ít co dãn nếu chi phí lao động chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh Ví dụ, chi phí lao động chiếm 10% tổng chi phí thì khi mức lương có tăng đến 50% cũng chỉ làm giá sản phẩm tăng thêm 5% Còn nếu chi phí lao động chiếm 60% tổng chi phí thì tác động của nó đối với giá sản phẩm cuối cùng sẽ lớn hơn rất nhiều, giá sẽ đội lên đến 30% Điều này cho chúng ta thấy tại sao người lao động trong các ngành công nghệ có cường độ vốn đầu tư cao thường được hưởng mức lương cao hơn mức lương của người lao động trong ngành sử dụng công nghệ có cường độ sức lao động cao Do chi phí lao động chiếm một tỷ trọng đáng kể trong các doanh nghiệp du lịch nên rất khó có thể tăng lương cho người lao động mà không ảnh hưởng đến lợi nhuận hoặc không tăng giá sản phẩm

Đường cầu lao động của ngành du lịch được tổng hợp trên cơ sở đường cầu về lao động của các doanh nghiệp Đường cầu lao động của toàn ngành có hình dạng giống như đường cầu lao động của từng doanh nghiệp Tuy nhiên, đường cầu toàn ngành có độ dốc lớn hơn (kém co dãn hơn), việc tăng tiền lương có khả năng dẫn đến giảm việc làm và sản lượng đầu ra Khi sản lượng giảm, giá của sản phẩm có thể tăng, dẫn đến MRP của lao động sẽ dịch chuyển ra ngoài

Cầu lao động trong ngành du lịch thể hiện những dao động ngắn hạn lớn đối với một số nghiệp vụ nhất định Điều này cho thấy tại sao lao động bán thời gian là lao động điển hình của ngành du lịch, nhưng cũng

Trang 39

có những lao động được thuê không thường xuyên để thực hiện mục đích hay chức năng đặc biệt nào đó

6.1.3 Năng suất lao động

Năng suất lao động là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng lao động sống trong quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, nó cũng là một chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phản ánh mối tương quan giữa kết quả đạt được với các chi phí lao động sống bỏ ra để đạt được kết quả đó

Trong đó:

Các chỉ tiêu biểu hiện kết quả có thể xác định dưới dạng giá trị và hiện vật Về mặt giá trị năng suất lao động được xác định bằng chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận Về mặt hiện vật, năng suất lao động được xác định tùy theo lĩnh vực kinh doanh Đối với kinh doanh lữ hành, có thể xác định bằng chỉ tiêu lượt khách, ngày khách, Đối với kinh doanh ăn uống: số lượng sản phẩm ăn uống, số bàn phục vụ Đối với kinh doanh lưu trú: số khách, số phòng được sử dụng, số ngày khách, số đêm nghỉ Các chỉ tiêu biểu hiện chi phí được xác định qua chỉ tiêu số lao động, tiền lương, ngày công, thời gian lao động

Trong kinh doanh du lịch, năng suất lao động thường có thể đo lường theo hai loại chỉ tiêu: Chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị

Trong đó: W - Năng suất lao động D - Doanh thu

Trang 40

Năng suất lao động dù tính theo chỉ tiêu hiện vật hay chỉ tiêu giá trị cũng đều có sự xác định về mặt thời gian theo ngày, tuần, tháng, năm Chỉ tiêu hiện vật phản ánh đúng thực chất của năng suất lao động, hiệu quả sử dụng lao động Năng suất lao động tính theo hiện vật không phụ thuộc vào sự biến động của giá cả hay các điều kiện kinh tế khác Tuy nhiên, chỉ tiêu này không phản ánh tổng hợp, không thể so sánh năng suất lao động giữa các doanh nghiệp hay giữa các bộ phận nghiệp vụ khác nhau, mà thường chỉ dùng so sánh năng suất lao động giữa các kỳ của doanh nghiệp Do vậy, chỉ tiêu năng suất lao động hiện vật ít được sử dụng trong ngành du lịch Năng suất lao động tính theo chỉ tiêu giá trị đơn giản và dễ xác định Chỉ tiêu giá trị phản ánh tổng hợp năng suất lao động nên có thể sử dụng để so sánh năng suất lao động, hiệu quả kinh tế giữa các doanh nghiệp nhằm xác định vị thế của mỗi doanh nghiệp Chỉ tiêu giá trị cũng có những hạn chế nhất định Chỉ tiêu này chịu sự tác động của giá cả nên tính chính xác kém chỉ tiêu hiện vật Cần có sự loại trừ ảnh hưởng của giá cả cũng như các yếu tố khách quan khác khi áp dụng chỉ tiêu này

Là một chỉ tiêu kinh tế, năng suất lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, có nhân tố tác động trực tiếp, có nhân tố tác động gián tiếp, có nhân tố tác động chủ quan cần nghiên cứu để tìm những giải pháp khắc phục những hạn chế và phát huy mặt tích cực, và cũng có nhân tố tác động khách quan cần phải loại trừ để xác định đúng thực trạng kinh doanh

Để tạo ra sản phẩm, trong quá trình lao động phải sử dụng nhân tố sức lao động cũng như công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động Muốn tăng năng suất lao động phải nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố trên

Sức lao động gồm: Sức khoẻ của người lao động, số lượng lao động, trình độ chuyên môn, trình độ văn hoá, phẩm chất đạo đức của

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5.1. Các phương pháp đánh giá dự án đầu tư - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Bảng 5.1. Các phương pháp đánh giá dự án đầu tư (Trang 4)
Hình 5.1. Các yếu tố đầu tư trong dự án bến cảng khu vực Địa Trung Hải - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 5.1. Các yếu tố đầu tư trong dự án bến cảng khu vực Địa Trung Hải (Trang 9)
Hình 5.2. Quản lý lưu chuyển tiền tệ theo thời vụ - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 5.2. Quản lý lưu chuyển tiền tệ theo thời vụ (Trang 10)
Hình 5.3. Nghiên cứu khả thi đối với một khách sạn - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 5.3. Nghiên cứu khả thi đối với một khách sạn (Trang 16)
Hình 6.1. Đường cung lao động cá nhân - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 6.1. Đường cung lao động cá nhân (Trang 29)
Hình 6.2. Thu nhập và chi phí đầu tư của cá nhân cho học tập - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 6.2. Thu nhập và chi phí đầu tư của cá nhân cho học tập (Trang 32)
Hình 6.3. Năng suất lao động cận biên (tính bằng đơn vị sản phẩm) - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 6.3. Năng suất lao động cận biên (tính bằng đơn vị sản phẩm) (Trang 35)
Hình 6.4. Mức tối đa hố lợi nhuận từ lao động - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 6.4. Mức tối đa hố lợi nhuận từ lao động (Trang 36)
Hình 6.5. Đường cầu lao động - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 6.5. Đường cầu lao động (Trang 36)
Hình 6.6. Mức lương trên thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 6.6. Mức lương trên thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo (Trang 44)
Hình 6.7. Sự chênh lệch giữa các mức lương - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 6.7. Sự chênh lệch giữa các mức lương (Trang 46)
Hình 6.8. Mối quan hệ giữa mức lương và điều kiện làm việc không thuận lợi (đường bàng quan) - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Hình 6.8. Mối quan hệ giữa mức lương và điều kiện làm việc không thuận lợi (đường bàng quan) (Trang 47)
4 Năng suất lao - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
4 Năng suất lao (Trang 59)
Bảng 7.1. Cơ cấu chi phí của một nhà hàng - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Bảng 7.1. Cơ cấu chi phí của một nhà hàng (Trang 75)
Bảng 7.2. Các chi phí của một khách sạn quốc tế - Giáo trình Kinh tế du lịch: Phần 2
Bảng 7.2. Các chi phí của một khách sạn quốc tế (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN