1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)

100 161 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Kinh Tế Công Cộng
Tác giả PGS. TS. Phạm Thị Tuệ, ThS. Ngô Hải Thanh, TS. Nguyễn Duy Đạt
Trường học Thương mại University
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 3,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Kinh tế công cộng nhằm cung cấp cho sinh viên ngành kinh tế cơ sở lý luận để trả lời câu hỏi khi nào thì nhà nước nên can thiệp vào nền kinh tế và nhà nước nên can thiệp bằng công cụ gì để hỗ trợ quá trình phát triển. Giáo trình kết cấu gồm 6 chương và chia thành 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: nhập môn Kinh tế công cộng; thị trường - hiệu quả và phúc lợi xã hội; thất bại của thị trường và giải pháp của chính phủ;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI THUONGMAI UNIVERSITY Chủ biên: PGS TS Phạm Thị Tuệ

GIÁO TRÌNH KINH TẾ CÔNG CỘNG

NHÀ XUẤT BẢN HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và

hỗ trợ của Nhà nước Tuy nhiên mức độ can thiệp, phạm vi can thiệp, công cụ để Nhà nước can thiệp vào thị trường để nền kinh tế đạt hiệu quả vẫn là câu hỏi đối với các nền kinh tế, dù đang ở trình độ phát triển nào Kinh tế công cộng nghiên cứu các hoạt động kinh tế của khu vực nhà nước, các can thiệp của nhà nước vào thị trường nhằm khắc phục các thất bại thị trường, cải thiện công bằng xã hội, hỗ trợ thị trường phân bổ nguồn lực hiệu quả

Học phần Kinh tế công cộng là học phần bắt buộc trong khối kiến thức ngành của chuyên ngành Quản lý kinh tế, hệ đào tạo đại học chính quy, học phần được thiết kế với thời lượng 3 tín chỉ, với mục tiêu giới thiệu những vấn đề cơ bản nhất về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế

và tác động của các can thiệp của nhà nước tới phân bổ nguồn lực của nền kinh tế, nhằm cung cấp cho sinh viên ngành kinh tế cơ sở lý luận để trả lời câu hỏi khi nào thì nhà nước nên can thiệp vào nền kinh tế và nhà nước nên can thiệp bằng công cụ gì để hỗ trợ quá trình phát triển

Giáo trình Kinh tế công cộng được viết theo chương trình môn học thuộc chương trình khung ngành kinh tế, chuyên ngành Quản lý kinh tế

do Hiệu trưởng trường Đại học Thương mại phê chuẩn ngày 10 tháng 2 năm 2017 và được Hiệu trưởng phê duyệt làm tài liệu chính thức dùng cho giảng dạy, học tập ở trường Đại học Thương mại

Giáo trình Kinh tế công cộng do PGS TS Phạm Thị Tuệ chủ biên bao gồm 6 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Nhập môn Kinh tế công cộng (do PGS TS Phạm Thị Tuệ biên soạn)

Chương 2: Thị trường - hiệu quả và phúc lợi xã hội (do PGS TS Phạm Thị Tuệ biên soạn)

Trang 4

Chương 3: Thất bại của thị trường và giải pháp của chính phủ (do ThS Ngô Hải Thanh biên soạn)

Chương 4: Phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội (do PGS TS Phạm Thị Tuệ và ThS Ngô Hải Thanh biên soạn)

Chương 5: Công cụ can thiệp chủ yếu của chính phủ vào nền kinh tế (do PGS TS Phạm Thị Tuệ biên soạn)

Chương 6: Lựa chọn công cộng (do PGS TS Phạm Thị Tuệ và TS Nguyễn Duy Đạt biên soạn)

Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã bám sát nội dung chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời tham khảo một số giáo trình Kinh tế công cộng trong và ngoài nước đang được sử dụng rộng rãi

Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gắng, nhưng do biên soạn lần đầu nên khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tập thể tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, của bạn đọc để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn

Thay mặt nhóm biên soạn

PGS TS PHẠM THỊ TUỆ

Trang 5

CHƯƠNG 1 NHẬP MÔN KINH TẾ CÔNG CỘNG

Chương nhập môn kinh tế công cộng sẽ giúp người học trả lời câu hỏi: khi nào nhà nước can thiệp vào nền kinh tế, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế bằng cách nào và tại sao nhà nước lại can thiệp vào nền kinh

tế bằng cách đó Vì vậy các nội dung chính của chương sẽ là: (1) mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong nền kinh tế; (2) các quan điểm của các trường phái kinh tế về vai trò của nhà nước; (3) chức năng của nhà nước để hỗ trợ thị trường; (4) những nguyên tắc và hạn chế của nhà nước khi can thiệp vào nền kinh tế

1.1 Vai trò, chức năng của nhà nước trong nền kinh tế

1.1.1 Nhà nước và thị trường

Trong nền kinh tế, phần lớn các quyết định của các tác nhân thường

được thực hiện trên thị trường Thị trường là tổ chức hoặc thể chế có

chức năng điều phối sản xuất và tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ thông qua các giao dịch kinh tế tự nguyện Khi tham gia vào thị trường, theo A Smith, mỗi tác nhân đều bị chi phối bởi “bàn tay vô hình”, bàn tay vô hình của thị trường sẽ điều khiển các tác nhân theo đuổi lợi ích của bản thân, qua đó mà nền kinh tế đạt kết quả phân bổ nguồn lực tối ưu Ví dụ trong nền kinh tế giản đơn gồm hai tác nhân là hộ gia đình và doanh nghiệp; hộ gia đình với tư cách là người tiêu dùng luôn theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi ích; doanh nghiệp với tư cách là người sản xuất luôn theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận; nhờ sự dẫn dắt của động cơ lợi ích nên khi các tác nhân hành động để đạt tới lợi ích cá nhân thì cũng làm cho nền kinh tế sản xuất ra mức sản lượng hiệu quả, nhờ thế mà xã hội

đạt lợi ích tối đa Thị trường cạnh tranh hoàn hảo và động cơ lợi ích của

các cá nhân sẽ tự nó hướng thị trường tới sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế Nhưng trên thực tế, không có nền kinh tế nào thực

sự hoàn toàn là thế giới lý tưởng của bàn tay vô hình, mỗi nền kinh tế đều

Trang 6

có những khuyết tật của thị trường, do vậy không có nền kinh tế nào không có sự can thiệp của chính phủ

Theo A Samuelson trong cuốn sách Kinh tế học, các xã hội khác nhau được tổ chức theo những hệ thống kinh tế khác nhau Có thể phân biệt hai phương thức cơ bản trong tổ chức nền kinh tế, ở một cực, chính phủ đưa ra hầu hết các quyết định kinh tế, và ở cực kia, thị trường sẽ đưa

ra các quyết định kinh tế

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó các quyết định đầu tư,

sản xuất và phân phối đều thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định Nhờ sự điều tiết của cơ chế thị trường mà nền kinh tế phân bổ các nguồn lực đầu vào một cách tối ưu Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh Do vậy, nó còn được gọi là “bàn tay

vô hình” Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh

tế thị trường Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn

Nền kinh tế chỉ huy là nền kinh tế mà chính phủ ra mọi quyết định về

sản xuất và phân phối Trong điều kiện nền kinh tế chỉ huy, chính phủ đã

tự biến mình thành một tổ chức siêu kinh tế, trực tiếp quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế từ sản xuất đến phân phối lưu thông Trong nền kinh

tế này, chính phủ vừa đóng vai trò của người quản lý, người sản xuất, người tiêu thụ sản phẩm và người phân phối sản phẩm

Thực tế cho thấy, hiện nay không có nền kinh tế nào được tổ chức hoàn toàn theo một trong hai thái cực trên Tuyệt đại đa số nền kinh tế

hiện nay trên thế giới đều là nền kinh tế hỗn hợp, kết hợp giữa nhà nước

và thị trường, nằm giữa hai cực: “kinh tế chỉ huy” và “kinh tế thị trường hoàn hoàn tự do”

Theo Ngân hàng thế giới: “Nhà nước là một tập hợp các thể chế nắm giữ những phương tiện cưỡng chế hợp pháp, thi hành trên một lãnh thổ

được xác định và người dân sống trên lãnh thổ đó được đề cập như một xã

hội Nhà nước độc quyền ra quy định trong phạm vi lãnh thổ của nó thông

Trang 7

qua phương tiện thi hành của một chính phủ có tổ chức”1 Như vậy nói tới Nhà nước là nói tới hệ thống chính trị bao gồm các cơ quan quyền lực lớn, thường là cơ quan lập pháp (Quốc hội), cơ quan hành pháp (Chính phủ) và

cơ quan tư pháp (Toà án) Trong khi đó chính phủ chỉ là cơ quan hành pháp, cơ quan có chức năng điều hành đất nước theo hiến pháp

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý

đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội Đồng thời, nhà nước còn là một tổ

chức quyền lực công, là phương thức tổ chức bảo đảm lợi ích chung của

xã hội Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, Chính phủ

là cơ quan hành pháp của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nhà nước Chính phủ nắm quyền điều hành mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, từ cung cấp ngân sách, thực hiện mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, đưa ra các chính sách tác động đến phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế Chính phủ là trung tâm của bộ máy nhà nước, có chức năng cơ bản là thực thi Hiến pháp và pháp luật, hoạch

định và điều hành chính sách quốc gia, quản lý hiệu quả nền kinh tế

Mặc dù hai thuật ngữ “nhà nước” và “chính phủ” thường được dùng với những mục đích khác nhau, trong những bối cảnh khác nhau nhưng trong Kinh tế học công cộng, nhà nước và chính phủ có thể dùng thay thế nhau, theo nghĩa là chủ thể thực thi quyền lực, can thiệp vào nền kinh tế Trong nền kinh tế, nhà nước hay chính phủ cần thực hiện các vai trò như:

- Cung cấp khung khổ pháp lý rõ ràng, có hiệu lực và phù hợp với

đòi hỏi của cơ chế thị trường;

- Kiến tạo và bảo đảm môi trường vĩ mô ổn định, khuyến khích kinh doanh;

- Cung cấp kết cấu hạ tầng (gồm hạ tầng “cứng” - giao thông vận tải, cung cấp điện nước và hạ tầng “mềm” - dịch vụ thông tin, bưu chính viễn thông, tài chính ) cũng như các dịch vụ và hàng hoá công cộng (chăm sóc sức khoẻ, giáo dục đào tạo, bảo vệ môi trường )

1

Ngân hàng thế giới, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1998, tr 29

Trang 8

- Hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường bình đẳng

Như vậy, thị trường và nhà nước với những vai trò trên hợp thành những yếu tố cơ bản tạo nên khung thể chế chung của mọi nền kinh tế thị trường Chúng hình thành một tổng thể, quy định lẫn nhau, thiếu bất cứ yếu tố nào trong số đó đều không thể có nền kinh tế thị trường bình thường, vận hành hiệu quả Tuy nhiên, trong mỗi nền kinh tế, tuỳ theo các điều kiện phát triển cụ thể, ở các giai đoạn khác nhau mà vai trò, vị trí và chức năng của từng yếu tố không hoàn toàn giống nhau, vai trò thị trường được đề cao hoặc vai trò của nhà nước được đề cao Lịch sử phát triển của kinh tế thị trường từ thế kỷ XV đến nay cho thấy luôn tồn tại một mối quan hệ rất cơ bản giữa một bên là thị trường và một bên là nhà nước, nhưng bản thân mối quan hệ cơ bản này không hề tồn tại trong trạng thái tĩnh mà nó liên tục vận động, biến đổi trong các không gian kinh tế cũng như các giai đoạn khác nhau

Cho đến nay, mặc dù đã tồn tại nhiều dạng thức kinh tế thị trường khác nhau nhưng trên thực tế chưa bao giờ tồn tại kiểu kinh tế thị trường hoàn toàn không có nhà nước, thoát ly khỏi nhà nước Nhà nước luôn là một bộ phận hữu cơ nằm trong cấu trúc tổng thể của kinh tế thị trường

Sự tồn tại của nhà nước trong cấu trúc đó là một tất yếu kinh tế, tất yếu lịch sử, ở đó, nhà nước vừa có thể là một chủ thể sở hữu, bên cạnh những chủ thể sở hữu khác, đồng thời là một chủ thể quản lý Sự khác biệt giữa các giai đoạn lịch sử và các quốc gia chỉ ở chỗ tính chất của nhà nước như thế nào, cách thức can thiệp, quản lý điều tiết và hệ quả của sự can thiệp này ra sao đối với nền kinh tế

1.1.2 Quan điểm của các trường phái kinh tế về vai trò của Nhà nước

1.1.2.1 Quan điểm của trường phái Cổ điển và Tân cổ điển

Trường phái kinh tế học Cổ điển mà đại diện là nhà kinh tế học Adam Smith với lý thuyết “Bàn tay vô hình”, theo A Smith thì “bàn tay

vô hình” có nghĩa là trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia thị trường luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích của cá nhân mình

Ông tôn vinh vai trò điều tiết thị trường của bàn tay vô hình và cho

rằng, sự tự do tự nhiên đã sản sinh ra một hệ thống điều tiết các quan hệ và các lợi ích thị trường đơn giản và rõ ràng Theo đó, khi chạy theo lợi ích cá

Trang 9

nhân, mỗi người đã vô tình đồng thời đáp ứng lợi ích của xã hội, cho dù trước đó họ không có ý định này (cơ chế này được gọi là sự điều hoà tự nhiên về lợi ích) Vì vậy, hệ thống cạnh tranh tự do tự nó đã sản sinh những quyền lực cần thiết để điều tiết và phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu Do đó nhà nước không cần phải can thiệp vào kinh tế thị trường Quá trình phát triển kinh tế chủ yếu do thị trường tự điều tiết thông qua cơ chế cạnh tranh tự do, nhà nước chỉ có vai trò tối thiểu là xây dựng

hệ thống luật pháp để đảm bảo cạnh tranh công bằng, ổn định vĩ mô, xây dựng và bảo vệ các công trình công cộng, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường tự do vận hành thuận lợi nhất

Cũng giống như các nhà kinh tế Cổ điển, trường phái Tân cổ điển coi nền kinh tế thị trường là một hệ thống mang tính ổn định, mà sự ổn định bên trong là thuộc tính vốn có chứ không phải là kết quả sự can thiệp của nhà nước Khả năng đó được quyết định bởi một cơ chế đặc biệt - “cơ chế cạnh tranh tự do”, cạnh tranh tự do thường xuyên bảo đảm sự cân bằng chung của nền kinh tế Chính cơ chế này cho phép phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý, tận dụng triệt để mọi nguồn lực và dẫn đến quan hệ phân phối mang tính công bằng giữa các bộ phận xã hội

Theo quan niệm của trường phái Tân cổ điển, nhà nước khi can thiệp vào nền kinh tế cần phải hiểu được cấu trúc của nền kinh tế thị trường, cơ chế vận hành của nó và tôn trọng những quy luật khách quan liên quan

đến cung - cầu Cũng theo các nhà kinh tế Tân cổ điển, cạnh tranh tự do

không bao giờ nảy sinh một cách tự nhiên, nó chỉ xuất hiện và phát huy tác dụng khi được đảm bảo bởi nguyên tắc số một: sở hữu tư nhân Vì vậy, vai trò nhà nước là đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các nhà sản xuất và quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng, làm cho thị trường vận hành một cách tốt nhất, đầy đủ nhất

Như vậy, cả trường phái cổ điển và tân cổ điển đều đề cao vai trò của thị trường, của tự do cá nhân và cơ chế cạnh tranh, hạn chế sự can thiệp

điều tiết của nhà nước vào các quá trình kinh tế

1.1.2.2 Quan điểm của Keynes và trường phái Keynes

J.M Keynes trong tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất

và tiền tệ” (1935), đã phê phán quan điểm của trường phái cổ điển, trường phái tân cổ điển về sự điều tiết của cơ chế thị trường tư bản chủ

Trang 10

nghĩa - cho rằng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là mô hình kinh tế tự

động tăng trưởng, không có khủng hoảng và thất nghiệp Đồng thời

Keynes đã nêu ra quan điểm mới về khủng hoảng, thất nghiệp và vai trò

điều tiết kinh tế của Nhà nước Theo Keynes, sở dĩ có khủng hoảng và

thất nghiệp là do thiếu sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, kinh tế thị trường không có khả năng tự điều tiết tuyệt đối và vô hạn như quan

điểm của trường phái Cổ điển và Tân cổ điển Bởi vì bị thôi thúc bởi động cơ lợi nhuận, các doanh nghiệp khi tham gia thương trường đã

không ngừng tiến hành cải tiến và nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý lao động, quản lý sản xuất kinh doanh để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Bên cạnh những tính toán để nâng cao khả năng kinh doanh một cách chính đáng, còn phát sinh các hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh nhằm tiêu diệt đối thủ để chiếm lĩnh vị trí thống trị thị trường, bằng nhiều thủ đoạn chiếm đoạt thị phần của người khác một cách bất chính, lừa dối khách hàng để trục lợi Những biểu hiện không lành mạnh ấy, làm ô nhiễm môi trường kinh doanh của thị

trường, đó cũng là mặt trái của cạnh tranh tự do và sự bất lực của bàn tay

vô hình trong việc điều tiết nền kinh tế

Do vậy, nhà nước cần can thiệp nhằm duy trì trật tự, hạn chế những khuyết tật mà tự do cạnh tranh gây ra, ngăn chặn khả năng lạm dụng quyền lực thị trường của các doanh nghiệp Đồng thời để thúc đẩy tăng trưởng ổn định thì nhà nước cần trực tiếp điều tiết nền kinh tế, cách thức

điều tiết là thông qua những chương trình công cộng, để kích thích và

duy trì tốc độ gia tăng ổn định của tổng cầu

Như vậy, giữa Keynes và trường phái Tân cổ điển, có sự khác nhau căn bản trong quan niệm về vai trò của nhà nước Nếu Tân cổ điển cho rằng nhà nước chỉ có vai trò tạo lập môi trường cạnh tranh và thị trường

tự điều tiết nền kinh tế thì Keynes khẳng định, nhà nước ngoài vai trò tạo lập môi trường cạnh tranh, còn phải trực tiếp điều tiết để nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và suy thoái

1.1.2.3 Quan điểm của chủ nghĩa tự do mới

Lý luận kinh tế của chủ nghĩa tự do mới một mặt kế thừa quan điểm truyền thống của trường phái Cổ điển, đề cao tư tưởng tự do kinh tế, nhấn mạnh bản năng tự điều tiết của các quan hệ thị trường như một thuộc tính

Trang 11

tự nhiên Mặt khác, trường phái này lại muốn xây dựng một hệ thống lý thuyết mới nhằm điều tiết nền kinh tế thị trường hiện đại một cách có hiệu quả hơn trên cơ sở khai thác những luận điểm của các trường phái phi cổ điển

Theo Chủ nghĩa tự do mới, nền kinh tế thị trường hiện đại có khả năng tự điều tiết cao, do vậy sự can thiệp của chính phủ vào tiến trình hoạt động của thị trường là cần thiết nhưng cũng chỉ nên giới hạn theo phương châm “thị trường nhiều hơn, nhà nước can thiệp ít hơn.” Trào lưu

Tự do mới xuất hiện ở nhiều nước tư bản với các tên gọi khác nhau, trong đó điển hình là các khuynh hướng ở Mỹ và ở Đức Lý thuyết tự do kinh tế ở Mỹ biểu hiện thành nhiều trào lưu cụ thể với những tên gọi khác nhau Trong đó nổi bật là phái Trọng tiền, phái Trọng cung, và phái Kinh tế vĩ mô mong đợi hợp lý

Phái Trọng tiền (còn gọi là phái Chicago) đứng đầu là Milton

Friedman đã cổ vũ nhiệt tình cho một nền kinh tế thị trường tự do không

có sự can thiệp của chính phủ Theo phái Trọng tiền, sự can thiệp của nhà nước thường phá vỡ những cân bằng tự nhiên của thị trường - do vậy có hại cho nền kinh tế Milton Friedman chủ trương để cho kinh tế thị trường tự do điều tiết, nhà nước can thiệp chỉ làm xấu thêm tình hình của thị trường, vì nếu thị trường có khuyết tật thì bản thân nhà nước cũng có khuyết tật của nó

Một số đại biểu khác thì khẳng định trong nền kinh tế thị trường hiện

đại, không thể bác bỏ nhà nước, nhưng họ đòi hỏi nhà nước phải điều

tiết, điều chỉnh nền kinh tế theo những qui tắc có tính chuẩn mực đồng thời kiên quyết phản đối cách điều tiết theo kiểu tuỳ hứng của các chủ thể quản lý Họ cho rằng, điều tiết thiếu chuẩn mực là một khuynh hướng khó tránh khỏi, vì khi ban hành các quyết định quản lý, chính phủ thường thiên về lợi ích của bản thân mình hơn là lợi ích của dân chúng Chính vì vậy, cần xác lập một hệ thống nguyên tắc của chính sách và những nguyên tắc này phải mang tính khách quan, độc lập với ý muốn chủ quan

của chính phủ

Phái Trọng cung thì cho rằng, nguyên nhân làm nền kinh tế Mỹ suy

yếu cả ở trong nước và trên thị trường quốc tế những năm 1970 nằm ngay trong chính sách kinh tế của nhà nước Mỹ M Feldstein khẳng định

Trang 12

“ việc nhà nước sử dụng sai chính sách tiền tệ - tín dụng đã làm toàn bộ nền sản xuất bất ổn định và nạn lạm phát phát triển nhanh chóng” Các nhà Trọng cung phủ nhận tính hiệu quả của chính sách tài khoá và hiệu lực khuyếch đại vào sản lượng của “lý thuyết số nhân” của J.M Keynes

Họ đề cao chính sách kinh tế giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà nước bằng cách kết hợp giữa giảm thuế và bãi bỏ các qui định hạn chế gây cản trở khả năng sản xuất Hơn nữa, họ còn cho rằng nhà nước cần phải từ bỏ chính sách phân phối lại, vì “nhà nước càng ra tay can thiệp để

chữa trị bệnh nghèo túng thì số người nghèo túng càng tăng lên”

Tựu chung lại, các phái của chủ nghĩa tự do mới ở Mỹ về cơ bản đều cho rằng, chính sách can thiệp kinh tế của nhà nước có hại nhiều hơn có lợi và nên giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế

Cũng là một khuynh hướng của chủ nghĩa tự do mới, ở Đức, khuynh hướng này có tên là Kinh tế thị trường xã hội Cách nhìn nhận của phái Kinh tế thị trường xã hội về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế có sự khác biệt so với các phái tự do mới của Mỹ Nếu như phái chủ nghĩa tự

do mới ở Mỹ cho rằng can thiệp của nhà nước có hại cho nền kinh tế hơn

có lợi nên cần giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thì phái kinh tế thị trường xã hội cho rằng cần có sự can thiệp của chính phủ vào thị trường, nơi mà cạnh tranh không có hiệu quả hoặc cạnh tranh không phát huy tác dụng

Đồng thời, nhà nước phải làm cho nền kinh tế thị trường ngày càng

mang tính xã hội, làm dịu các mâu thuẫn xã hội thông qua phân phối lại thu

nhập quốc dân Nhà nước luôn bảo đảm sự công bằng xã hội và các cơ hội

tiếp cận bình đẳng cho người dân Điều này được thực hiện thông qua hệ thống thuế, các biện pháp và phúc lợi nhà nước xã hội đa dạng, cùng với đó

là những quyền về xã hội và các cơ hội giáo dục, như: trợ cấp cho người yếu thế, bảo đảm tối thiểu sự an toàn nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội trước những rủi ro trong cuộc sống (tai nạn, bệnh tật, thất nghiệp, tuổi già)

Trong mô hình nền kinh tế thị trường xã hội, về nguyên tắc, nguyên

lý nhà nước tối thiểu vẫn có giá trị với việc duy trì hiệu năng và tạo ra những cân bằng xã hội bên ngoài nền kinh tế Trong nền kinh tế đó, mọi hoạt động của nhà nước phải chịu sự kiểm soát của các công cụ pháp lý,

đồng thời nhà nước phải đưa ra được các chính sách thống nhất, không

Trang 13

đối đầu, không đi ngược lại thị trường, nhằm sửa chữa được các thất bại

thị trường và đảm bảo không thay thế các thất bại thị trường bằng các thất bại của nhà nước

Từ việc hệ thống hóa cách tiếp cận của một số trường phái kinh tế lớn về vai trò của nhà nước, có thế thấy rằng các trường phái kinh tế lớn trong lịch sử học thuyết kinh tế đều đề cập đến vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường nhưng không có một khuôn mẫu lý thuyết nào mang tính vạn năng có thể giải quyết trọn vẹn mọi tình huống mối quan

hệ nhà nước- thị trường cũng như liều lượng can thiệp của nhà nước vào thị trường Lịch sử phát triển của kinh tế thị trường minh chứng rõ sự thay đổi của các lý thuyết kinh tế thống trị gắn với các chu kỳ của nền kinh tế: khi nền kinh tế bị khủng hoảng, thị trường tự do không tự điều tiết được nền kinh tế thì lý thuyết Keynes được đề cao Còn khi nền kinh

tế trì trệ kéo dài do nhà nước can thiệp quá mức, kìm hãm tính năng động của các lực lượng thị trường thì lúc đó, lý thuyết “bàn tay vô hình” và trường phái Tân cổ điển phục hồi trở lại và chiếm ưu thế Vai trò nhà nước ở các quốc gia khác nhau hoặc trong những giai đoạn phát triển khác nhau sẽ khác nhau vì phụ thuộc vào sự phát triển của bản thân thị trường, sự đồng bộ của thể chế thị trường và môi trường kinh tế vĩ mô Khi đó sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường sẽ khác nhau ở mức độ, phạm vi và phương thức can thiệp nhằm đảm bảo tính hiệu quả, tính công bằng và ổn định của nền kinh tế

1.1.3 Chức năng của nhà nước trong nền kinh tế

Từ thời cổ đại, vai trò kinh tế của Nhà nước đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như chính trị học, triết học, luật học, thể hiện qua các quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp, La Mã, như Aritxtốt, Platôn, Khi chủ nghĩa tư bản phát triển, nhiều lý thuyết kinh tế học chính trị đã đi sâu tìm hiểu về cơ chế tác dụng của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó tiêu biểu như: A Smith về nền kinh tế tự do, lý thuyết của Keynes về nền kinh tế có sự điều tiết của nhà nước, lý thuyết của A Samuelson về nền kinh tế hỗn hợp Lịch sử đã chứng minh các nền kinh

tế thị trường thành công đều không phát triển một cách tự phát mà cần có

sự can thiệp và hỗ trợ từ phía Nhà nước, vì vậy vai trò “bàn tay hữu

Trang 14

hình” của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ và trở thành yếu tố không thể thiếu đối với nền kinh tế

Về chức năng của nhà nước, có 3 trường phái: Trường phái thứ nhất

cho rằng nhà nước chỉ đảm bảo chức năng tối thiểu, còn để thị trường tự

điều tiết, tức là vai trò nhà nước nhỏ và thị trường lớn Gắn với trường

phái này là quan điểm của A Smith và các nhà kinh tế theo trường phái

cổ điển với mô hình “Nhà nước tối thiểu” Trường phái thứ hai ủng hộ có

một nhà nước lớn, can thiệp vào điều tiết sản xuất và tiêu dùng trên thị trường, tức là vai trò nhà nước lớn, chính phủ can thiệp vào thị trường nhiều hơn, thị trường tự điều tiết thông qua cạnh trạnh ít hơn Gắn với

trường phái này là quan điểm của Keynes và trường phái Keynes Trường phái thứ ba cho rằng cần phải kết hợp hợp lý giữa nhà nước và thị

trường; Nhà nước nên đóng vai trò dẫn dắt, thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường và thị trường tự do phân bổ nguồn lực Gắn với trường phái này là lý thuyết của A Samuelson về nền kinh tế hỗn hợp, trong đó nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, định hướng theo quy luật thị trường trong phân bổ nguồn lực, thị trường thực hiện phân bổ nguồn lực; tức là nhà nước và thị trường tương tác với nhau, bổ sung cho nhau trong phân bổ nguồn lực

Các trường phái khác nhau xuất phát từ sự phát triển ở các mức độ khác nhau của bản thân thị trường và nhà nước Trên thực tế, không thể

có nền kinh tế chỉ với thị trường cạnh tranh, tự điều tiết; nhưng đồng thời, cũng không có nền kinh tế mà thị trường hoạt động hoàn toàn dưới

sự can thiệp, điều tiết của nhà nước Thị trường hoàn thiện và hoạt động

có hiệu quả không thể thiếu được một nhà nước mạnh, có hiệu lực và hiệu quả; ngược lại, thị trường kém phát triển, méo mó, nhiều khuyết tật

và hoạt động không hiệu quả một phần lớn là do nhà nước thực hiện chưa

đúng vai trò và chức năng của mình, hoạt động kém hiệu lực và hiệu quả

Trang 15

Bảng 1.1: Thị trường và nhà nước trong nền kinh tế

Nhà nước và thị trường trong nền kinh tế tương tác lẫn nhau, Bảng 1.1 cho thấy đặc điểm của thị trường và nhà nước trong nền kinh tế, nếu thị trường được vận hành một cách đầy đủ và hiệu quả thì vai trò của nhà nước là hỗ trợ thị trường, để thị trường vận hành tốt nhất, đầy đủ nhất Những yếu tố đảm bảo thị trường cạnh tranh hiệu quả là:

- Sở hữu tài sản và quyền sở hữu tài sản rõ ràng, minh định; mỗi tài sản (dù thuộc công hữu hay tư hữu) đều có chủ và chủ sở hữu có đầy đủ các quyền sở hữu

Về các chủ thể thị trường và quyền tự do kinh doanh: các thủ thể thị trường phải độc lập về pháp lý, đa dạng; có quyền tự chủ và tự do kinh

1 Sở hữu tài sản và quyền tài sản rõ

ràng Mỗi tài sản đều có chủ và

chủ sở hữu có đầy đủ các quyền

sở hữu

2 Các chủ thể thị trường độc lập, tự

chủ và tự do kinh doanh

3 Cạnh tranh (mỗi chủ thể đều phải

đối mặt với cạnh tranh trong

trao đổi với cá nhân khác)

4 Tự do kinh doanh + cạnh tranh chi

phối phân bổ nguồn lực, chi

phối sự lựa chọn của các chủ thể

thị trường

5 Giá cả quyết định dựa trên khan

hiếm nguồn lực và quan hệ cung

cầu

1 Quản lý và duy trì ổn định kinh tế

vĩ mô

2 Thiết lập khung khổ pháp luật và

bộ máy thực thi: đảm bảo quyền

sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh, đảm bảo cạnh tranh công bằng và chống độc quyền kinh doanh dưới mọi hình thức

3 Khắc phục các khiếm khuyết, thất bại thị trường đồng thời không tạo

ra những tín hiệu “méo mó” sai lệch trên thị trường

4 Phân phối lại thu nhập nhằm giảm bớt bất bình đẳng trong xã hội

và hỗ trợ nhóm người yếu thế

5 Tổ chức cung ứng dịch vụ công ích, dịch vụ xã hội thiết yếu và thực hiện các nhiệm vụ xã hội khác

Nền kinh tế

Thị trường Nhà nước

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 16

doanh; tức là tự do quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào, tự do quyết định giá và trao đổi theo cung cầu thị trường

- Thị trường phải cạnh tranh công bằng và có trật tự; độc quyền phải

được kiểm soát có hiệu quả; cạnh tranh không công bằng, không lành

mạnh phải bị trừng phạt và loại trừ Mỗi chủ thể thị trường (dù đó là người sản xuất hay người tiêu dùng, dù đó là thuộc khu vực công hay khu vực tư ) đều phải đối mặt với cạnh tranh công bằng, bình đẳng trong lựa chọn

và trao đổi, mua bán với chủ thể khác

- Tự do kinh doanh và cạnh tranh thị trường công bằng và có trật tự là hai yếu tố cơ bản chi phối phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế, chi phối sự lựa chọn của các chủ thể thị trường

- Giá cả tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất (vốn,

đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên) đều được quyết định dựa trên

khan hiếm nguồn lực, cạnh tranh và quan hệ cung - cầu của thị trường

- Cuối cùng là môi trường cạnh tranh đảm bảo cạnh tranh công bằng, khách quan dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả Doanh nghiệp, cá nhân năng động, sáng tạo, tìm kiếm các cách thức phù hợp gia tăng được năng suất lao động, sử dụng các nguồn lực hiệu quả thì doanh nghiệp, cá nhân đó sẽ thắng thế trong cạnh tranh Các doanh nghiệp, cá nhân không cạnh tranh được sẽ bị thị trường đào thải để nhường chỗ, nhường cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp, cá nhân khác

Trong nền kinh tế đó, nhà nước cũng cần đảm bảo tốt các vai trò sau

để hỗ trợ thị trường hoạt động tốt nhất:

- Quản lý và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô

- Thiết lập khung khổ pháp luật và bộ máy thực thi nhằm xác lập rõ ràng,

cụ thể quyền sở hữu tài sản và bảo vệ có hiệu quả quyền sở hữu tài sản

- Khắc phục khiếm khuyết, thất bại của thị trường; đồng thời, không làm cho thị trường hoạt động một cách méo mó, sai lệch

- Phân phối lại thu nhập nhằm giảm bớt bất công, bất bình đẳng trong

Trang 17

tật cố hữu, gắn liền với bản chất của nó: (1) luôn luôn xảy ra khủng hoảng thừa hoặc thiếu do “bàn tay vô hình”; (2) quy luật cạnh tranh và

động cơ lợi nhuận thường dẫn đến tình trạng lợi ích doanh nghiệp lớn

hơn lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng; (3) kinh tế thị trường là mô hình làm giàu cho thiểu số Vì thế vai trò của nhà nước là hạn chế tác động tiêu cực thấp nhất của 3 “khuyết tật” trên

Theo Ngân hàng thế giới, nhà nước có hai chức năng cơ bản là giải quyết thất bại thị trường và cải thiện sự công bằng nhằm nâng cao phúc

lợi xã hội Thất bại thị trường nói đến một tập hợp điều kiện mà trong đó

nền kinh tế thị trường không phân bổ được tài nguyên một cách có hiệu quả Có rất nhiều nguyên nhân gây ra thất bại thị trường và nhiều mức độ thất bại khác nhau, vì vậy nhà nước sẽ can thiệp vào thị trường với nhiều mức độ khác nhau và với những công cụ khác nhau

Bảng 1.2: Các chức năng của nhà nước

Giải quyết thất bại thị trường

Cải thiện

sự công bằng Chức năng

Cung cấp dịch vụ bảo hiểm xã hội: lương hưu, trợ cấp, bảo hiểm thất nghiệp

Chức năng

phát triển

Phối hợp với thị trường, thúc đẩy sự phát triển các thị trường thông qua chính sách công nghiệp và tài chính tích cực

Phân phối lại tài sản

Nguồn: Ngân hàng thế giới, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi,

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1998

Một nền kinh tế thường được phân chia một cách đơn giản thành 3 khu vực: chính phủ, doanh nghiệp và hộ gia đình Khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp giao dịch với nhau thông qua thị trường hàng hóa, dịch vụ

Trang 18

và thị trường các yếu tố sản xuất Trong nền kinh tế thị trường, chính phủ

có một số chức năng, nhưng quan trọng nhất trong số đó là vai trò tạo lập thể chế để cho thị trường vận hành hiệu quả và có trật tự; trọng tài và giám sát thị trường để giao dịch giữa khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp được thực hiện một cách công bằng, hiệu quả Như vậy,(1) chức

năng đầu tiên, cơ bản nhất, là chức năng tối thiểu của nhà nước trong nền

kinh tế thị trường là đặt ra các quy tắc - những điều luật và quy định - làm cho thị trường vận hành một cách tốt nhất, đầy đủ nhất có thể được Thị trường không thể phân bổ nguồn lực hợp lý khi xuất hiện các thất

bại thị trường, do vậy (2) chức năng trung gian của nhà nước là can thiệp

vào thị trường nhằm tối thiểu hoá phần phúc lợi xã hội bị mất do thất bại thị trường gây ra (3) Chức năng phát triển là chức năng mà nhà nước can thiệp vào thị trường nhằm điều tiết hướng nền kinh tế tới mục tiêu mong muốn, đặc biệt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhà nước định hướng cho sự phát triển của các ngành và các khu vực của nền kinh tế thông qua các công cụ như chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch

để điều tiết, dẫn dắt doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế hoạt động hướng đích theo mục tiêu chung của nền kinh tế

Đây là chức năng gây tranh cãi bởi các biện pháp điều tiết có thể

không tương thích với thị trường hoặc bản thân nhà nước có năng lực yếu kém sẽ đưa ra những quy định hạn chế sự năng động của khu vực tư nhân, giảm hiệu quả hoạt động của thị trường

Trong nền kinh tế thế giới hiện nay, vai trò của nhà nước ở các nước khác nhau là hết sức khác nhau, nhưng dù nhà nước thực hiện chức năng tối thiểu hay chức năng phát triển thì một nguyên tắc được các nước nhất trí cao là nhà nước đóng vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế và xã hội, không phải với tư cách là người trực tiếp tạo ra tăng trưởng, mà là

đối tác, là chất xúc tác và là người tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng

trưởng đó

1.1.4 Vai trò của nhà nước ở Việt Nam

Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á ra đời Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước cộng hòa non trẻ đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp, năm 1954 miền Bắc được giải

Trang 19

phóng, miền Nam vẫn tiếp tục cuộc kháng chiến chống xâm lược và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Tháng 4/1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới - giai đoạn cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

Có thể điểm lại các giai đoạn và việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường trong nền kinh tế ở Việt Nam như sau:

Giai đoạn 1975 - 1986:

Đây là thời kỳ áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy (kế hoạch hóa tập

trung) Nền kinh tế chỉ huy (command economy): (hay còn gọi là nền

kinh tế tập trung), là nền kinh tế mà nhà nước là người quyết định mọi vấn đề như đất nước sản xuất loại hàng hóa và dịch vụ gì, sản lượng bao nhiêu, giá bán như thế nào, và hình thức phân phối ra sao Trong nền kinh tế, mọi nguồn lực đầu vào đều thuộc nhà nước, việc phân bổ các nguồn lực dựa trên kế hoạch và định hướng phát triển Vào những năm

đầu của thế kỉ 20, nền kinh tế chỉ huy rất phổ biến, tuy nhiên về sau đã

thể hiện tính không hiệu quả nên hầu hết đã bị thay thế dần dần

Nền kinh tế chỉ huy coi nhẹ vai trò của thị trường và cơ chế điều tiết của thị trường mà coi trọng vai trò của nhà nước với công cụ kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế chỉ huy, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu

bổ sung cho kế hoạch

Trong nền kinh tế, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất

cả quyết định sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức

bộ máy, nhân sự, tiền lương đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho nhà nước, lỗ thì nhà nước bù, lãi thì nhà nước thu Thực chất nhà nước làm thay chức năng kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp trở nên thụ động, không có quyền tự chủ và cũng không bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sản xuất

Quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, cơ chế thị trường không phát huy tác dụng, nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát - giao

Trang 20

nộp” Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức vì quá trình sản xuất theo cơ chế cấp phát- giao nộp thì nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa, giá đầu vào, đầu ra Quá trình lưu thông, phân phối hàng hoá thông qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật), Nhà nước quy định chế

độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân

theo định mức qua hình thức tem phiếu với mức giá “tượng trưng” thấp hơn nhiều so với mức giá trên thị trường

Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì nền kinh tế chỉ huy có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào mục đích chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện

cụ thể, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh hoặc một giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế Tuy nhiên, nền kinh tế này thủ tiêu cạnh tranh, không tôn trọng quy luật thị trường nên triệt tiêu động lực kinh tế

đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh, kìm hãm tiến bộ khoa học - công nghệ

Giai đoạn 1986 - nay:

Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo thực hiện bắt đầu từ năm 1986 chuyển từ nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung sang mô hình nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo

định hướng XHCN

Trước hết, đó là sự thay đổi cơ bản quan niệm về chức năng của nhà nước trong nền kinh tế Nếu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII chỉ dừng lại ở mức độ xác định nhiệm vụ: “Bộ máy nhà nước từng bước chuyển sang chức năng quản lý nhà nước, khắc phục dần sự can thiệp vào điều hành kinh doanh ” thì đến Đại hội VIII, quan điểm này được

cụ thể hóa hơn: “Nhà nước định hướng phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực, thiết lập khuôn khổ pháp luật, xây dựng chính sách nhất quán, phân phối lại thu nhập, hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trường”

Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta khẳng định “phát triển nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là đường lối chiến lược nhất quán trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” và xác định rõ định hướng đổi mới chính sách căn bản là: “Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế Đổi mới hơn

Trang 21

nữa công tác kế hoạch hóa, nâng cao công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” Nhà nước cũng đã bước đầu phát huy vai trò của mình trong việc sửa chữa những “khiếm khuyết của thị trường” thông qua các chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên và môi trường

Việt Nam đã có những thành công bước đầu trong việc hình thành và hoàn thiện cơ chế thị trường, cũng như điều chỉnh vai trò tương ứng của nhà nước trong nền kinh tế Thực chất của quá trình đổi mới kinh tế vừa qua ở Việt Nam chính là thừa nhận sự tồn tại khách quan của quan hệ hàng hoá - tiền tệ và cơ chế thị trường dựa trên tư duy, lý luận mới về quan hệ giữa kinh tế thị trường và nhà nước Theo đó, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế cũng có sự thay đổi căn bản Đó là quá trình chuyển nhà nước từ độc quyền sang quan hệ mới giữa Nhà nước tương tác với thị trường trong các hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Nếu trước đây Nhà nước là chủ thể của chế độ sở hữu, thì hiện nay đang giữ vai trò chủ

đạo trong hệ thống đa sở hữu, nếu trước đây là trực tiếp sản xuất kinh

doanh thì hiện nay là thiết kế “luật chơi”, hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, và nếu trước đây thực hiện kế hoạch hoá trực tiếp thì hiện nay chuyển sang điều tiết bằng hệ thống công cụ quản

lý kinh tế vĩ mô

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chức năng cơ bản của Nhà nước về kinh tế bao gồm :

- Nhà nước tạo lập khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh

doanh diễn ra hiệu quả Tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế hoạt động bình đẳng và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh

- Nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường

phát triển, như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất, lưu thông

hàng hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành, nghề, vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, ngành và nhu cầu chung của xã hội

- Định hướng phát triển nền kinh tế thông qua chiến lược, chính sách,

kế hoạch, quy hoạch và quản lý vĩ mô

- Phát triển tất cả các thành phần kinh tế trên cơ sở đa dạng hoá các quan hệ sơ hữu, lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo; thực hiện chế độ phân

Trang 22

phối lợi ích một cách hợp lý thông qua việc sử dụng các công cụ quản lý kinh tế (ngân sách, thuế, tín dụng ), tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế

Đặc biệt, trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước

có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế Ổn định ở đây thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan

hệ nhu cầu, lợi ích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó Là những công cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội, từ đó mà có ổn định xã hội cho phát triển và tăng trưởng kinh tế, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, một mặt, phải phản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội, của mọi chủ thể kinh tế ; mặt khác, phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu, lợi ích cụ thể của các chủ thể đó

Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội, bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Chính sách xã hội hợp lý, bảo

đảm phúc lợi ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách

kinh tế tiến bộ do Nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện bằng những

nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau là nhân tố có vai trò quyết

định trong vấn đề này

Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện ở việc Nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển, như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất, lưu thông hàng hóa; tạo lập sự phân công lao

động theo ngành, nghề, vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy

hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, ngành và nhu cầu chung của xã hội Là chủ thể trực tiếp sở hữu hoặc quản lý, khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia, nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, đối tác kinh tế, thời điểm thực

Trang 23

hiện các giao dịch kinh tế, cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình

Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cũng còn những hạn chế đáng kể: thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa còn chưa được xây dựng đồng bộ, vận hành suôn sẻ; quản lý nhà nước về kinh tế còn nhiều bất cập; chưa có giải pháp mang tầm đột phá để kinh tế nhà nước thực sự hoàn thành tốt chức năng chủ

đạo trong nền kinh tế; kinh tế tập thể còn rất yếu kém; năng lực cạnh

tranh của nền kinh tế thấp; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường

1.2 Những nguyên tắc và hạn chế khi Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế

1.2.1 Những nguyên tắc khi Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế

Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều khẳng định vai trò của nhà nước trong nền kinh tế và sự can thiệp của nhà nước vào thị trường Vai trò nhà nước đã được thể hiện ở nhiều quốc gia, để có sự phát triển kinh

tế - xã hội bền vững thì không thể thiếu một nhà nước hiệu quả Nhưng

điều đó không có nghĩa nhà nước can thiệp càng mạnh, càng đóng vai trò

chi phối nền kinh tế thì nền kinh tế càng phát triển Một nhà nước được coi là hiệu quả nếu nhà nước can thiệp vào thị trường là để bổ sung cho thị trường chứ không phải là thay thế cho thị trường, đó là cách vận dụng

cả hai bàn tay “hữu hình và vô hình” để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Vai trò của “bàn tay hữu hình” hiện nay không chỉ là tạo ra khung khổ luật pháp “quản lý” thị trường mà còn là “người hỗ trợ và tạo điều kiện” để thị trường phát triển Vì thế nhà nước can thiệp vào thị trường dựa trên hai nguyên tắc hỗ trợ và tương hợp Nguyên tắc hỗ trợ xác định chức năng của nhà nước phải khơi dậy và bảo vệ các nhân tố của thị trường, duy trì chế độ sở hữu tư nhân và giữ gìn trật tự an ninh và công bằng xã hội Nếu nguyên tắc hỗ trợ liên quan tới câu hỏi liệu nhà nước có nên can thiệp hay không, thì nguyên tắc tương hợp lại đề cập tới việc sự can thiệp đó nên được thực hiện như thế nào Nguyên tắc tương hợp làm

cơ sở để nhà nước hoạch định các chính sách kinh tế phù hợp với sự vận

Trang 24

động của các qui luật trong nền kinh tế thị trường đồng thời phải đảm bảo được các mục tiêu kinh tế - xã hội của mình

Nguyên tắc hỗ trợ: Nội dung của nguyên tắc này là: Sự can thiệp của

chính phủ phải nhằm mục đích cuối cùng, dài hạn là sự hỗ trợ, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động hiệu quả hơn Như vậy nhà nước trong nền kinh tế thị trường không phải là để cạnh tranh nhằm lấn át thị trường, mà phải là chất xúc tác tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường, hỗ trợ nhằm duy trì cạnh tranh hiệu quả vì lợi ích chung của toàn xã hội Muốn vậy, nhà nước cần thực hiện những điều cơ bản sau: (1) thiết lập một cơ

sở pháp luật đầy đủ, nền tảng thể chế cơ bản để thị trường phát triển; (2) duy trì một môi trường chính sách không lệch lạc, giữ ổn định kinh tế vĩ mô; (3) đầu tư vào các dịch vụ xã hội cơ bản và cơ sở hạ tầng cơ bản; (4) bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương; (5) bảo vệ môi trường

Nguyên tắc tương hợp: Nếu nguyên tắc hỗ trợ chủ yếu nhằm xác

định xem khi nào chính phủ cần can thiệp vào thị trường thì nguyên tắc

tương hợp lại nhằm lựa chọn hình thức can thiệp tối ưu Nội dung chính của nguyên tắc này là, trong hàng loạt các cách thức có thể có để can thiệp vào thị trường, chính phủ cần ưu tiên sử dụng những cách thức hay biện pháp nào tương hợp với thị trường, hay nói cách khác là không làm méo mó thị trường Tuy nhiên, trong thực tế, khó có thể tìm được cách can thiệp nào không gây méo mó Ví dụ, đánh thuế một hàng hoá sẽ làm giá người mua phải trả cho hàng hoá cao hơn, còn người bán nhận được giá thấp hơn so với khi chưa đánh thuế Do đó, thuế sẽ làm cho cả lượng cầu và cung về hàng hoá đều giảm thấp hơn mức hiệu quả xã hội, dẫn

đến những tổn thất vô ích mà xã hội phải gánh chịu Vì thế, áp dụng

nguyên tắc này trong thực tế có nghĩa là phải lựa chọn hình thức can thiệp nào ít gây méo mó nhất cho thị trường

Nguyên tắc tương hợp với thị trường thể hiện thông qua việc ban hành các chính sách, các chính sách đều phải dựa trên nguyên tắc lấy thị trường làm cơ sở để phân tích tính hiệu quả của hoạt động kinh tế Ví dụ như chính sách đối với lao động phải bảo đảm sự cạnh tranh, khuyến khích người lao động tích cực, nâng cao năng suất lao động và từ đó có thu nhập cao Chính sách giá cả phải dựa vào giá cả thị trường, tôn trọng quy luật giá trị, giá cả thị trường phù hợp sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển

Trang 25

Quy luật cung - cầu sẽ quyết định giá cả thị trường Nhà nước phải sử

dụng các chính sách để cân đối cung - cầu nhằm ổn định giá cả Chính

sách thương mại phải vừa bảo vệ những ngành kinh tế trong nước phát triển vừa tăng cường tính cạnh trạnh trên thị trường quốc tế, tránh bảo hộ mậu dịch không có hiệu quả

1.2.2 Những hạn chế khi Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế

Các thất bại của thị trường là lý do để nhà nước can thiệp vào nền kinh tế Việc nhà nước can thiệp vào thị trường mạnh hay yếu phụ thuộc vào năng lực nhà nước, nhưng năng lực của nhà nước và hiệu quả của nhà nước là hai vấn đề khác nhau

Ngày nay, người ta ngày càng thừa nhận rằng một nhà nước hiệu quả, chứ không phải nhà nước tối thiểu là trung tâm của phát triển kinh tế của quốc gia Không thể có sự phát triển kinh tế xã hội bền vững nếu không có một nhà nước hoạt động hiệu quả, nhà nước hoạt động để bổ sung cho thị trường chứ không phải thay thế chúng

Tuy nhiên thực tế cho thấy không phải bao giờ sự can thiệp của nhà nước vào thị trường cũng tốt, cũng mang lại hiệu quả cho xã hội bởi nếu can thiệp không tốt và không đúng cách, nhà nước sẽ gây ra tác hại to lớn bởi không nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế hay không cải thiện tình trạng bất bình đẳng trong nền kinh tế Vì thế, các nhà kinh tế gọi những can thiệp của nhà nước vào thị trường làm cho những thất bại của thị trường trở nên nghiêm trọng hơn hoặc dẫn tới những hệ

lụy khác trong tương lai là “thất bại của nhà nước”

Các dạng thất bại của nhà nước:

Thứ nhất, sự kiểm soát quá mức kèm theo những thủ tục hành chính không phù hợp và quá phức tạp có thể góp phần làm tăng hoạt động không chính thức, tạo cơ hội để “kinh tế ngầm” phát triển

Thứ hai, can thiệp của nhà nước khắc phục khiếm khuyết của thị trường có thể làm nảy sinh các khiếm khuyết khác

Cho nên không chỉ có thất bại thị trường, mà còn có “thất bại” của nhà nước khi can thiệp vào nền kinh tế, những thất bại đó có thể do:

Thứ nhất, hạn chế do thiếu thông tin

Một chính sách can thiệp muốn thực sự hữu hiệu thì cần có đầy đủ

Trang 26

thông tin về thị trường Tuy nhiên, chính phủ cũng đứng trước tình trạng không đầy đủ thông tin, khiến cho nhiều khi sự can thiệp của chính phủ không chính xác hoặc thiếu tính thực tiễn

Thứ hai, hạn chế do thiếu khả năng kiểm soát phản ứng cá nhân

Chính phủ nhiều khi không lường trước hết được cá nhân sẽ phản

ứng như thế nào trước những thay đổi chính sách do chính phủ đề ra Một

khi phản ứng của tư nhân đi theo chiều hướng mà nhà hoạch định chính sách chưa dự kiến được thì chính sách có thể không đạt được hiệu quả mong muốn hoặc thất bại

Thứ ba, hạn chế do thiếu khả năng kiểm soát bộ máy hành chính

Việc ra quyết định của chính phủ thường phải trải qua một quá trình phức tạp, qua nhiều nấc trung gian Nhiều khi, do sự phối hợp thiếu đồng

bộ giữa các cơ quan của chính phủ hoặc do sự không nhất quán về phương hướng hành động giữa các cơ quan này đã khiến cho các chính sách của chính phủ không có sức sống trong thực tiễn

Thứ tư, hạn chế do quá trình ra quyết định công cộng

Việc ra quyết định công cộng là một quá trình phức tạp, phải tuân theo những quy tắc bỏ phiếu nhất định mà không phải lúc nào cũng đem lại hiệu quả Hành động của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến nhiều người nhưng lại được quyết định bởi những người đại diện được bầu ra Những người ra quyết định, vì thế chịu sự chi phối của các cử tri, mà`không phải lúc nào các cử tri đó cũng có lợi ích thống nhất với nhau Điều này đặt người ra quyết định trước tình thế hết sức khó khăn là phải điều hòa các lợi ích này Đó là lý do tại sao quá trình ra các quyết định công cộng thường mất thời gian, khó khăn, thậm chí bế tắc

1.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Cũng giống như kinh tế học, kinh tế học công cộng xem xét trả lời các câu hỏi căn bản của kinh tế học: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? quyết định những vấn đề đó như thế nào?

Kinh tế công cộng là một chuyên ngành của kinh tế học chuyên

nghiên cứu về các hoạt động kinh tế của khu vực công cộng (hay khu vực nhà nước) cả ở tầm quốc gia lẫn địa phương

Trang 27

Vì vậy cũng như kinh tế học, kinh tế công cộng cũng xuất phát từ sự khan hiếm các nguồn lực và vì vậy cũng phải nghiên cứu để lựa chọn việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả (hiệu quả nghĩa là sử dụng ít nhất nguồn lực để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng lớn nhất) Do đó kinh tế công cộng cũng sẽ phải trả lời 4 câu hỏi cơ bản là chính phủ/ khu vực công cộng sẽ sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, các quyết định kinh tế được đưa ra như thế nào? nhằm tối

đa hoá lợi ích xã hội hay lợi ích của các cá nhân trong nền kinh tế

Sản xuất cái gì

Nếu như trong nền kinh tế thị trường việc quyết định sản xuất hàng hoá gì là do người tiêu dùng bỏ phiếu, thông qua các quyết định tiêu dùng hàng ngày, nghĩa là quyết định sản xuất cái gì thông qua tín hiệu giá cả và quan hệ cung cầu Tuy nhiên, trong nền kinh tế có nhiều loại hàng hoá không có thị trường, ví dụ như sân bay, bến cảng, đường sá nên việc cung cấp không thể dựa vào tín hiệu giá cả và khu vực tư nhân không sẵn sàng cung cấp Các quyết định sản xuất những hàng hoá như vậy thuộc về chính phủ và chính phủ cũng phải quyết định dựa trên sự

cân nhắc về lợi ích xã hội biên và chi phí xã hội biên, tuân thủ hoàn toàn

theo nguyên tắc tiếp tục cung cấp hàng hoá đó khi lợi ích xã hội biên lớn hơn chi phí xã hội biên

Sản xuất như thế nào

Nếu như việc quyết định sản xuất như thế nào trong kinh tế thị trường là do cơ chế cạnh tranh giữa những người sản xuất quyết định

Điều này có lợi cho cả người sản xuất và người tiêu dùng vì cạnh tranh sẽ

làm chi phí sản xuất giảm, giá cả cũng sẽ giảm; với người sản xuất thì sẽ tối đa hoá lợi nhuận và lợi thế sẽ rơi vào những nhà sản xuất có chi phí sản xuất thấp, như vậy có lợi cho xã hội hay nói cách khác nền kinh tế

đạt mức hiệu quả

Trong kinh tế công cộng, sẽ không có sự cạnh tranh giữa những người sản xuất, các quyết định sản xuất đều phụ thuộc vào chính phủ Tuy nhiên việc sản xuất như thế nào các hàng hóa công cộng cũng phải

đảm bảo tính hiệu quả cũng giống như với hàng hóa tư nhân Sự khác

biệt duy nhất là đối với những hàng hóa công cộng khác nhau, sẽ phải có những cơ chế cung cấp khác nhau Ví dụ, có thể chính phủ cung cấp

Trang 28

trong trường hợp đó là những hàng hóa công cộng thuần túy như quốc phòng, an ninh; hoặc chính phủ đặt hàng để khu vực tư nhân cung cấp như điện, nước sạch

Tiêu thức lựa chọn nhà cung cấp dựa vào so sánh giữa hiệu quả xã hội và chi phí xã hội của việc cung cấp Nguyên tắc là giảm chi phí cung cấp (gồm chi phí đầu vào, chi phí quản lý, phân phối) để tăng hiệu quả xã hội của hàng hóa

Sản xuất cho ai

Vấn đề sản xuất cho ai, ai là người tiêu dùng và tiêu dùng bao nhiêu trong kinh tế thị trường phụ thuộc vào mức cung cầu các yếu tố sản xuất trên thị trường Hay nói khác đi, trong kinh tế thị trường, sản xuất cho ai phụ thuộc vào ai làm chủ quá trình sản xuất, ai tổ chức quá trình sản xuất

và thông thường những cá nhân đó sẽ là những người hưởng lợi dựa vào những gì cá nhân cung cấp cho thị trường thì họ sẽ nhận lại được mức thu nhập tương ứng với sự đóng góp đó Đây thực chất là vấn đề phân phối, và theo quy luật của thị trường tự do cạnh tranh, ai làm chủ quá trình sản xuất người đó sẽ làm chủ quá trình phân phối Cho nên vấn đề công bằng không được bàn đến ở đây vì công bằng xã hội không làm tăng thu nhập hay lợi nhuận của các cá nhân

Trong kinh tế công cộng, mục tiêu công bằng xã hội, phúc lợi xã hội là một sứ mệnh quan trọng của chính phủ, vì vậy các quyết định sản xuất, các chính sách kinh tế nhằm đạt được mục tiêu này Quyết định sản xuất cho ai trong kinh tế công cộng hướng tới mang lại lợi ích cao nhất cho mọi thành viên trong xã hội, bất kể người đó là ai, có hoàn cảnh như thế nào

Như vậy đối tượng nghiên cứu của kinh tế công cộng là nghiên cứu hành vi của chính phủ hay khu vực công khi can thiệp vào nền kinh tế thị trường nhằm giải quyết các câu hỏi cơ bản của kinh tế học dưới giác độ lợi ích xã hội

1.3.2 Nội dung nghiên cứu

Kinh tế công cộng nghiên cứu và trả lời các câu hỏi:

- Khi nào chính phủ can thiệp vào nền kinh tế: thường thì có 2 lý do

để chính phủ can thiệp vào nền kinh tế đó là thất bại thị trường và phân

phối lại thu nhập Thất bại thị trường đã ngăn cản các cá nhân trong nền kinh tế tối đa hoá lợi ích, do đó nền kinh tế sẽ không hiệu quả Phân phối

Trang 29

thu nhập không công bằng và phúc lợi xã hội không ở mức tối đa, khi đó chính phủ sẽ can thiệp vào nền kinh tế để nền kinh tế công bằng và hiệu quả hơn

- Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế bằng cách nào: các cách chính phủ can thiệp vào nền kinh tế là: (1) chính phủ sử dụng cơ chế giá để can thiệp thông qua công cụ thuế hoặc trợ cấp nhằm khuyến khích hoặc hạn chế tư nhân sản xuất hàng hoá; (2) chính phủ trực tiếp sản xuất và cung

ứng hàng hoá; (3) chính phủ tài trợ cho tư nhân sản xuất và cung ứng

hàng hoá trên thị trường Kinh tế học công cộng sẽ phân tích các cách can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế trong từng trường hợp cụ thể của thất bại thị trường

- Tác động của các can thiệp của chính phủ tới nền kinh tế: khi chính phủ can thiệp vào thị trường sẽ gây ra 2 loại tác động: tác động trực tiếp

và tác động gián tiếp Tác động trực tiếp là tác động xảy ra khi can thiệp

của chính phủ vào nền kinh tế dự đoán được ảnh hưởng và can thiệp đó

không làm thay đổi hành vi của các cá nhân trong nền kinh tế Tác động gián tiếp là tác động xảy ra khi can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế

làm thay đổi hành vi của các tác nhân, ví dụ như nếu chính phủ tăng thuế thì sẽ ảnh hưởng như thế nào tới người tiêu dùng, tới doanh nghiệp và tới nền kinh tế Kinh tế học công cộng sẽ phân tích và lựa chọn các can thiệp dựa vào những tác động của chúng tới nền kinh tế

- Tại sao chính phủ lại lựa chọn cách can thiệp như vậy: vì các can thiệp của chính phủ vào nên kinh tế đều gây ra những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp và nền kinh tế là tập hợp của hàng triệu cá nhân có sở thích khác nhau nên chính phủ mỗi nước sẽ lựa chọn cách can thiệp nào hạn chế thất bại thị trường và đáp ứng đa số mong muốn của dân chúng

về công bằng xã hội

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận nghiên cứu của kinh tế công cộng là phương pháp phân tích thực chứng và phương pháp phân tích chuẩn tắc

Phương pháp phân tích thực chứng xuất phát từ các sự kiện có thể quan sát được trong nền kinh tế để mô tả, phản ánh, phân tích những sự kiện, những mối quan hệ đã xảy ra để trả lời câu hỏi vì sao, như thế nào một cách khách quan

Trang 30

Mục tiêu của phân tích thực chứng là xem xã hội ra quyết định như thế nào về tiêu dùng, sản xuất và trao đổi hàng hóa, nó vừa có mục đích giải thích nguyên nhân hoạt động của nền kinh tế vừa cho phép dự báo về cách phản ứng của nền kinh tế trước những biến động

Phương pháp phân tích chuẩn tắc là phương pháp dựa trên các nhận

định chủ quan để đưa ra các nhận xét hoặc chính sách kinh tế cần có để

nền kinh tế đạt tới những mục tiêu mong muốn Kinh tế công cộng đòi hỏi chính phủ phải đưa ra các chính sách kinh tế dựa trên các phân tích cả thực chứng lẫn chuẩn tắc

Kinh tế công cộng sử dụng các công cụ cơ bản của kinh tế học là đồ thị và mô hình hoá

Phương pháp đồ thị là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng, quá trình kinh tế, sử dụng phương trình hay đồ thị để biểu thị một cách rõ ràng, trực giác các mối quan hệ kinh tế, các hiện tượng, quá trình kinh tế Do có tính khái quát cao, phân tích bằng đồ thị đặc biệt có tác dụng khi mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế tổng quát, trừu tượng Phương pháp mô hình hoá: khi phân tích hiệu quả các chính sách khác nhau các nhà kinh tế sử dụng các mô hình Mô hình kinh tế cũng như mô hình máy bay, cố gắng mô phỏng những đặc điểm cơ bản nhất của máy bay hay của nền kinh tế Xây dựng mô hình để có thể hiểu được những mối quan hệ kinh tế cơ bản trong nền kinh tế một cách đơn giản nhất Khi xây dụng mô hình người ta bỏ qua những chi tiết, những tác

động thứ yếu mà chỉ quan tâm tới số lớn, tới những mối quan hệ cơ bản,

vì vậy gắn với mỗi mô hình là những giả định Vì thế, các mô hình được coi là những khuôn mẫu để người ta tư duy về các vấn đề kinh tế Mô hình cho phép người ta trừu tượng hóa từ thực tế và do vậy làm cho công việc nghiên cứu đơn giản hơn

Mô hình giúp cho người ta có thể nắm bắt được lô gic của các sự kiện một cách dễ dàng hơn, do đó, đây là công cụ hữu ích để phân tích các hành vi kinh tế của con người cũng như sự vận hành của nền kinh

tế Sử dụng mô hình kinh tế để hình dung và phân tích về thế giới kinh

tế thực cũng giống như người ta dùng bản đồ địa chất để hình dung về các mỏ khoáng sản, dùng mô hình giải phẫu cơ thể người để hình dung

về con người dưới góc nhìn sinh học

Trang 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ngân hàng thế giới, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển

đổi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1998

2 Paul A Samuelson, William D Nordhaus, Kinh tế học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 1997

3 Joseph E Stiglitz, Kinh tế học công cộng, Nhà xuất bản Khoa học

Kỹ thuật, Hà nội, 1995

4 Jonathan Gruber, Public Finance and Public Policy (3rd edition), Worth Publisher, NewYork, 2010

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Khái niệm Nhà nước và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế?

2 Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường

3 Chức năng của nhà nước trong nền kinh tế

4 Các hạn chế của chính phủ khi can thiệp vào nền kinh tế

5 Thế nào là nguyên tắc hỗ trợ, thế nào là nguyên tắc tương hợp?

6 Đối tượng, nội dung nghiên cứu của Kinh tế học công cộng

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỊ TRƯỜNG - HIỆU QUẢ VÀ PHÚC LỢI XÃ HỘI

Trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu vì sao nhà nước cần can thiệp vào nền kinh tế, vì sao thị trường cạnh tranh hay “bàn tay vô hình” cần được bổ sung thêm “bàn tay hữu hình” của nhà nước Chương 2 bắt đầu bằng việc phân tích tính hiệu quả của thị trường cạnh tranh do bàn tay “vô hình” chi phối, sử dụng thước đo hiệu quả theo quan niệm hiệu quả Pareto đối với nền kinh tế Tiếp theo sẽ xem xét định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi để thấy được trong điều kiện nào thì thị trường tự nó

sẽ phân bổ nguồn lực hiệu quả, khi nào chính phủ cần can thiệp vào nền kinh tế để tối đa hoá phúc lợi xã hội

2.1 Thị trường cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế

2.1.1 Thị trường cạnh tranh

Thị trường cạnh tranh là thị trường mà trong đó có rất nhiều người

sản xuất cạnh tranh với nhau để đáp ứng mong muốn và nhu cầu của số lượng lớn người tiêu dùng Trong một thị trường cạnh tranh, không có nhà sản xuất đơn lẻ hoặc nhóm nhà sản xuất và không có người tiêu dùng duy nhất hoặc nhóm người tiêu dùng nào có khả năng điều khiển cách thị trường hoạt động Họ cũng không thể tự mình xác định giá của hàng hóa, dịch vụ và tổng khối lượng hàng hóa sẽ được trao đổi

Trong thị trường cạnh tranh, theo lý thuyết “bàn tay vô hình” của A Smith, bàn tay vô hình đã thúc đẩy các cá nhân tìm kiếm lợi ích của cá nhân mình, thông qua thị trường mà cá nhân thoả mãn lợi ích, đồng thời làm cho nền kinh tế xã hội đạt hiệu quả

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi diễn ra sự cạnh tranh của nhiều người mua và nhiều người bán Mỗi mức giá của sản phẩm đầu vào cũng như đầu ra đều được điều chỉnh linh hoạt để đảm bảo luôn có cân bằng cung cầu Doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, người tiêu dùng theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi ích Hơn nữa, nền kinh tế

Trang 33

không có độc quyền, mỗi hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện lợi thế không đổi theo quy mô, không có các rào cản cho việc gia nhập và từ bỏ bất cứ ngành sản xuất nào Một thị trường như vậy sẽ là nơi mà bàn tay vô hình của A Smith có thể thống trị mà không gặp phải bất cứ trở ngại nào

từ các ảnh hưởng ngoại sinh hay từ sự cạnh tranh không hoàn hảo

Khi đó, đường cầu thị trường biểu diễn lợi ích biên của sản phẩm đối với người mua, đường cung thị trường biểu diễn chi phí biên để sản xuất

ra sản phẩm của người bán Trong thị trường cạnh tranh, cá nhân người mua và người bán không quyết định giá bán hàng hoá trên thị trường mà

sẽ mua bán hàng hoá theo mức giá định sẵn trên thị trường Người mua

sẽ lựa chọn số lượng hàng hoá muốn mua khi cân nhắc giá thị trường của hàng hoá với lợi ích biên của hàng hoá mà họ nhận được Người bán cũng sẽ bán hàng hoá khi so sánh giá bán hàng hoá trên thị trường với chi phí biên sản xuất ra hàng hoá Nhờ cơ chế thị trường mà giá cả hàng hóa

được xác định tại điểm cân bằng của thị trường, thông qua tín hiệu giá cả

mà nhà sản xuất và người tiêu dùng điều chỉnh hành vi của mình Người sản xuất sẽ căn cứ vào doanh thu biên và chi phí biên để sản xuất nhằm tối đa hóa lợi nhuận Người tiêu dùng căn cứ vào thu nhập, vào giá cả hàng hóa và độ thỏa dụng biên để tối đa hóa lợi ích của cá nhân Do vậy tại điểm E, điểm cân bằng, lượng cung hàng hoá bằng lượng cầu hàng hoá, giá hàng hoá mà người mua muốn mua bằng với giá hàng hoá mà người bán muốn bán

Hình 2.1: Cân bằng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Trang 34

Điểm E, điểm cân bằng được gọi là điểm hiệu quả của thị trường vì

tại E ta có cung hàng hoá bằng cầu hàng hoá, lợi ích biên bằng chi phí biên, người mua đạt lợi ích tối đa khi mua hàng hoá, người bán cũng đạt lợi nhuận tối đa khi bán hàng hoá

2.1.2 Hiệu quả của nền kinh tế

Nền kinh tế được coi là hiệu quả khi không thể tăng sản lượng của một loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác Nền kinh tế được coi là hiệu quả thường nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất

Khi nền kinh tế đạt hiệu quả trên các thị trường, cả thị trường hàng hoá lẫn thị trường dịch vụ, cả thị trường đầu vào lẫn thị trường đầu ra, khi đó nền kinh tế sẽ hiệu quả do mọi nguồn lực được sử dụng hết, người sản xuất và người tiêu dùng đều đạt lợi ích tối đa Như vậy lý thuyết “bàn tay vô hình” của A Smith cho thấy, khi các cá nhân bị dẫn dắt bởi bàn tay vô hình sẽ làm cho cá nhân họ đạt lợi ích tối đa, đồng thời dẫn dắt nền sản xuất sản xuất ra mức sản lượng hiệu quả, nhờ đó mà xã hội đạt lợi ích tối đa

2.2 Hiệu quả Pareto

2.2.1 Khái niệm hiệu quả Pareto

Nền kinh tế ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, các cá nhân bị dẫn dắt bởi bàn tay vô hình nhằm đạt lợi ích tối đa nên phúc lợi xã hội lớn nhất

và sản xuất ở mức sản lượng hiệu quả

Hiện nay, khi nói đến hiệu quả, các nhà kinh tế thường dùng khái niệm hiệu quả Pareto, mang tên nhà kinh tế - xã hội học người Italia

Vilfredo Paredo (1848 - 1923) Đối với nền kinh tế, một sự phân bổ nguồn lực được gọi là đạt hiệu quả Pareto nếu như không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm cho ít nhất một người được lợi hơn mà không phải làm thiệt hại đến bất kỳ ai khác Khái niệm hiệu quả Pareto

thường được dùng như một tiêu chuẩn để đánh giá các cách phân bổ nguồn lực khác nhau Nếu sự phân bổ chưa đạt hiệu quả Pareto có nghĩa

là vẫn còn sự “lãng phí” theo nghĩa còn có thể cải thiện lợi ích cho người nào đó mà không thể làm giảm lợi ích của người khác

Nếu các thị trường cạnh tranh đều đạt tới việc phân bổ nguồn lực hiệu quả thì khi đó nền kinh tế cũng sẽ hiệu quả và không ai có thể lợi

Trang 35

hơn mà không phải gây thiệt hại cho bất kỳ ai khác Chúng ta có thể biểu diễn điều đó bằng cách sử dụng đường giới hạn khả năng thoả dụng (UPF: Utility Possibility Frontier) Lưu ý khái niệm thoả dụng, phản ánh lợi ích, sự thoả mãn hay hài lòng của các cá nhân nhận được, còn được gọi là phúc lợi cá nhân Như vậy, đường UPF cho biết giới hạn của độ thoả dụng, sự thoả mãn hay phúc lợi xã hội mà nền kinh tế có thể đạt

được Khái niệm về đường UPF rất gần với đường giới hạn khả năng sản

xuất (PPF: Production Possibility Frontier) Nếu đường giới hạn khả năng sản xuất chỉ ra mức hiệu quả của nền kinh tế vì nó phản ánh mức sản lượng cao nhất mà nền kinh tế có thể đạt tới từ các yếu tố đầu vào khan hiếm sẵn có thì đường giới hạn khả năng thoả dụng cũng phản ánh mức độ thoả mãn lớn nhất mà các cá nhân trong nền kinh tế có thể đạt tới trong điều kiện nguồn lực của nền kinh tế xác định

Xét một nền kinh tế đơn giản với hai cá nhân X và Y, đường giới hạn khả năng thoả dụng cho biết sự kết hợp mức độ thoả mãn, hay hài lòng của mỗi cá nhân (phúc lợi của mỗi cá nhân) trong nền kinh tế, tất cả mọi

Hình 2.2: Hiệu quả Pareto và phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế

Trang 36

điểm nằm trên đường UPF đều đạt hiệu quả Pareto vì không thể có cách

phân bổ nào có thể làm tăng phúc lợi cho X mà không làm giảm phúc lợi của Y Nếu di chuyển từ điểm B đến điểm C thì phúc lợi của Y tăng nhưng phúc lợi của X lại giảm Điểm A nằm trong đường UPF là điểm không hiệu quả

Giả sử nền kinh tế phân bổ nguồn lực chưa đạt hiệu quả Pareto (tại

điểm A), phúc lợi xã hội sẽ bị tổn thất và có thể có cách phân bổ khác để

cải thiện tình trạng này Do đó, bên cạnh khái niệm hiệu quả Pareto, một

khái niệm khác cũng được đề cập là hoàn thiện Pareto: một cách phân

bổ lại nguồn lực làm cho ít nhất một người được lợi hơn mà không làm thiệt hại đến bất kỳ ai khác thì cách phân bổ nguồn lực đó là hoàn thiện Pareto so với cách phân bổ ban đầu

Trên đồ thị, di chuyển từ điểm A đến D phản ánh phân bổ nguồn lực theo hướng hoàn thiện Pareto, độ thoả mãn, hài lòng hay phúc lợi của hai

cá nhân trong nền kinh tế đều tăng lên Hiệu quả và hoàn thiện Pareto có quan hệ chặt chẽ với nhau Một sự phân bổ chưa hiệu quả theo nghĩa có một hoặc nhiều người được lợi nhưng có ai đó bị thiệt thì có thể hoàn thiện nó bằng cách phân bổ lại nguồn lực giữa các bên

2.2.2 Điều kiện đạt hiệu quả Pareto

Trước tiên, hãy xét một mô hình đơn giản nhất về một nền kinh tế chỉ

có hai người là A và B, sử dụng hai loại đầu vào có lượng cung cố định

là vốn (K) và lao động (L), để sản xuất và tiêu dùng hai loại hàng hoá là lương thực (X) và quần áo (Y) Điều kiện công nghệ là cho trước, những câu hỏi cần được làm rõ ở đây là:

1 Làm thế nào để phân bổ các đầu vào cố định của nền kinh tế vào một phương án sản xuất có hiệu quả, tức là làm thế nào để đạt hiệu quả trong sản xuất?

2 Khi nền kinh tế đã sản xuất ra được một mức sản lượng nhất định

về lương thực và quần áo, làm thế nào để phân phối chúng một cách hiệu quả giữa các thành viên trong xã hội, tức là đạt hiệu quả phân phối

3 Nếu có nhiều phương án phân phối đạt hiệu quả thì phương án nào

là tối ưu, với nghĩa nó vừa đảm bảo khả thi về mặt kỹ thuật, vừa thoả mãn tối đa lợi ích của dân cư, tức là đạt hiệu quả kết hợp (sản xuất - phân phối)?

Trang 37

Các điều kiện hiệu quả được kinh tế học vi mô chứng minh qua phân tích hiệu quả sản xuất, hiệu quả phân phối và hiệu quả hỗn hợp

Hiệu quả sản xuất: đạt được khi không thể phân bố lại các đầu vào để sản xuất ra các hàng hoá khác nhau sao cho có thể tăng sản lượng của hàng hoá này mà không làm giảm sản lượng của hàng hoá khác

Điều kiện hiệu quả sản xuất: tỷ suất thay thế kỹ thuật biên giữa hai

yếu tố đầu vào bất kỳ phải như nhau đối với tất cả các hàng hoá:

MRTSX = MRTSY Khi đó các hàng hoá được sản xuất ra trong nền kinh tế phải nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất

Hiệu quả phân phối: đạt được khi mọi cá nhân trong nền kinh tế đều thoả mãn như nhau hay nói khác đi với một lượng hàng hoá nhất định

đem phân phối cho các cá nhân trong xã hội theo cách mà không thể tăng

lợi ích hay độ thoả dụng cho người này mà không phải giảm lợi ích của người khác

Điều kiện hiệu quả phân phối: tỉ suất thay thế biên giữa hai loại hàng

hoá của mỗi cá nhân phải như nhau hay lượng hàng hoá Y có thể thay thế cho mỗi đơn vị hàng hoá X mà không làm lợi ích người tiêu dùng thay

đổi:

MRSAxy = MRSBxy

Hiệu quả hỗn hợp đạt được khi cả đầu vào và sản phẩm đầu ra đều

được phân bổ theo cách không thể làm cho bất kể ai được lợi hơn mà

không làm người khác bị thiệt đi Nghĩa là cả người sản xuất và người tiêu dùng đều đạt lợi ích lớn nhất

Điều kiện hiệu quả hỗn hợp: tỉ suất chuyển đổi biên giữa hai hàng

hoá bất kỳ phải bằng tỉ suất thay thế biên giữa chúng của tất cả các cá nhân:

MRTxy = MRSAxy = MRSBxy

2.2.3 Điều kiện biên về hiệu quả

Mặc dù điều kiện hiệu quả của Pareto rất hữu ích trong lý thuyết kinh

tế, nhưng các tiêu chí mà nó đưa ra lại quá nặng về kỹ thuật Không phải lúc nào chúng ta cũng dễ dàng tính được các tỉ suất thay thế hay tỉ suất chuyển đổi của hàng hoá Do đó, khả năng áp dụng điều kiện này trong thực tế rất hạn chế Để khắc phục điều đó, các nhà kinh tế đưa ra một

Trang 38

nguyên tắc đơn giản hơn tiêu chuẩn hiệu quả Pareto, đó là điều kiện biên

về hiệu quả

Điều kiện cần thiết để có mức sản lượng hiệu quả về một hàng hóa

nào đó trong một thời gian nhất định có thể dễ dàng suy ra từ tiêu chuẩn Pareto Để xác định xem liệu các nguồn lực phân bổ cho việc sản xuất một hàng hoá nào đó đã hiệu quả hay chưa, người ta thường so sánh giữa lợi ích tăng thêm khi sản xuất thêm một đơn vị hàng hoá (hay còn gọi là lợi ích biên, ký hiệu là MB) với chi phí phát sinh thêm để sản xuất đơn vị hàng hoá đó (hay còn gọi là chi phí biên ký hiệu là MC)

Điều kiện biên về hiệu quả nói rằng, nếu lợi ích biên để sản xuất một

đơn vị hàng hoá lớn hơn chi phí biên thì đơn vị hàng hoá đó cần được sản

xuất thêm Trái lại, nếu lợi ích biên nhỏ hơn chi phí biên thì sản xuất đơn

vị hàng hoá đó là sự lãng phí nguồn lực Mức sản xuất hiệu quả nhất về hàng hoá này sẽ đạt khi lợi ích biên bằng chi phí biên:

MB = MC

Hay lợi ích biên ròng (hiệu số giữa MB và MC) bằng 0

Nguyên tắc biên về hiệu quả thực chất là một cách phát biểu khác đi của tiêu chuẩn hiện quả Pareto và được áp dụng rất rộng rãi trong phân tích các quyết định về chính sách công, đó cũng là cơ sở để cân nhắc các quyết định đầu tư Trong suốt các chương sau của cuốn sách này, nó

cũng được dùng như một nguyên tắc chủ đạo để đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động của chính phủ

2.3 Định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi

2.3.1 Kinh tế học phúc lợi

Kinh tế học phúc lợi là một nhánh của lý thuyết kinh tế quan tâm đến

sự mong muốn của xã hội đối với các trạng thái kinh tế khác nhau Lý thuyết về kinh tế học phúc lợi được sử dụng để phân biệt các trường hợp trong đó thị trường được coi là hoạt động có hiệu quả với các trường hợp

mà thị trường thất bại, không thể đưa ra được kết quả mong muốn

Cả hai chuyên ngành kinh tế học phúc lợi và kinh tế học công cộng cùng nghiên cứu về phúc lợi (thể hiện qua hiệu quả kinh tế và công bằng trong phân phối thu nhập) Tuy nhiên, trong khi kinh tế học phúc lợi tập trung vào phúc lợi cá nhân, thì kinh tế học công cộng hướng nhiều hơn vào phúc lợi xã hội Đôi khi, vì không muốn tách biệt phúc lợi cá nhân

Trang 39

với phúc lợi xã hội và phúc lợi cá nhân cũng là một mục tiêu nếu muốn làm phúc lợi xã hội tốt hơn nên kinh tế học phúc lợi cũng là một nội dung của kinh tế học công cộng

Kinh tế học phúc lợi dùng các công cụ của kinh tế vi mô để phân tích

sự hiệu quả trong phân bố nguồn lực cũng như phân phối thu nhập của

nền kinh tế Kinh tế học phúc lợi lấy phúc lợi kinh tế của mọi thành viên trong xã hội làm đối tượng nghiên cứu Kinh tế học phúc lợi luôn hướng tới việc tối đa hoá lợi ích xã hội dựa trên nghiên cứu, phân tích hoạt động kinh tế của các cá nhân trong xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế học phúc lợi quan tâm tới hai vấn đề:

Thứ nhất, thị trường tự nó có phân phối nguồn lực khan hiếm một cách hiệu quả hay không bởi vì chỉ khi thị trường phân phối nguồn lực hiệu quả, khi đó tổng sản lượng (hay chiếc bánh lợi ích) của nền kinh tế

sẽ lớn nhất

Thứ hai, nếu thị trường phân phối nguồn lực một cách hiệu quả thì sự phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội công bằng tới mức nào để phúc lợi xã hội là lớn nhất

Như vậy, kinh tế học phúc lợi với mục tiêu tối đa hoá lợi ích xã hội

sẽ nghiên cứu cả hiệu quả xã hội (kích thước của chiếc bánh lợi ích) và công bằng xã hội (cách phân phối chiếc bánh)

2.3.2 Nội dung định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi

Định lý cơ bản của kinh tế học Phúc lợi phát biểu rằng2

: Chừng nào nền kinh tế còn cạnh tranh hoàn hảo, tức là những người sản xuất và tiêu dùng còn chấp nhận giá, thì chừng đó, trong những điều kiện nhất định, nền kinh tế sẽ tất yếu chuyển tới một cách phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto

2

Nội dung của Định lý cơ bản về Kinh tế học Phúc lợi bàn đến ở đây cũng được gọi là Định

lý thứ nhất của kinh tế học phúc lợi Ngoài ra, Định lý thứ hai là định lý đảo của Định lý thứ nhất Định lý này phát biểu rằng, trong một nền kinh tế muốn tuân thủ các quy định kinh tế thông thường và với những điều kiện nhất định, chính phủ có thể đạt tới bất kỳ một cách phân bổ hiệu quả nào bằng cách tiến hành phân phối lại thu nhập ban đầu (bằng các công cụ phân loại lý tưởng, không gây tổn thất cho xã hội) sau đó để nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo

tự hướng dẫn nền kinh tế đi tới điểm mong muốn đó

Trang 40

Định lý này cho thấy điều kiện để nền kinh tế đạt mức sản lượng lớn

nhất (chiếc bánh lợi ích lớn nhất) là trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo

và phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto

Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo sẽ “tự động” phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả nhất mà không cần bất kể một sự định hướng, can thiệp nào Bởi vì, khi nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo thì mọi cá nhân

đều đứng trước những mức giá như nhau và họ không có khả năng thay đổi giá cả thị trường Cạnh tranh dẫn đến hiệu quả vì khi quyết định mua

bao nhiêu hàng hoá nào đó, người ta thường so sánh lợi ích biên (lợi ích tăng thêm) mà họ nhận được từ việc tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá với giá mà họ phải trả khi mua hàng hoá (mức giá này chính là mức chi phí biên của việc sản xuất thêm một hàng hoá) Các doanh nghiệp khi quyết định bán bao nhiêu hàng hoá cũng sẽ cân nhắc giữa giá họ nhận

được với chi phí biên để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Cân bằng

thị trường sẽ xảy ra tại điểm cầu thị trường bằng cung thị trường, tại

điểm E trên Hình 2.3 lợi ích biên bằng chi phí biên, khi đó người tiêu

dùng sẽ tối đa hoá lợi ích và người sản xuất sẽ tối đa hoá lợi nhuận

Điểm cân bằng thị trường không chỉ phản ánh hiệu quả trong phân bổ

nguồn lực mà còn phản ánh hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội đại diện cho thặng dư ròng của xã hội mà người mua và người bán trên thị trường nhận

được, bao gồm hai thành phần: thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất

Thặng dư tiêu dùng là lợi ích mà người tiêu dùng nhận được khi

mua hàng hoá, được tính là phần chênh lệch giữa khoản tối đa người tiêu dùng sẵn sàng trả cho hàng hoá và khoản họ thực sự phải trả, trên đồ thị

nó được biểu diễn bằng diện tích tam giác PEGE, hợp bởi diện tích hình (a + d)

Thặng dư sản xuất là lợi ích mà người sản xuất nhận được khi bán

hàng hoá, được tính là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất, trên đồ thị được biểu diễn bằng diện tích tam giác PEOE, hợp bởi diện tích hình (b+c+e)

Thặng dư xã hội, cũng được gọi là hiệu quả xã hội, là tổng thặng dư

nhận bởi người tiêu dùng và người sản xuất trên thị trường, trên đồ thị

được biểu diễn bằng diện tích tam giác OEG, gồm diện tích các hình

(a+b+c+d+e)

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại học Kinh tế quốc dân (2004), “Giáo trình Kinh tế công cộng”, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Kinh tế công cộng”
Tác giả: Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
3. Harvey S.Rosen (2002), “Public Finance”, 6 th Edition, Princeton University Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Public Finance”
Tác giả: Harvey S.Rosen
Năm: 2002
1. Đường cầu của Ba đối với hamburger (một hàng hóa cá nhân) là Q = 20 - 2P và đường cầu của An đối với hamburger là Q = 10 - P.a/ Viết hàm lợi ích xã hội biên của xã hội đối với việc tiêu dùng hamburger b/ Giờ giả định rằng hamburger là hàng hóa công cộng. Viết hàm lợi ích xã hội biên xã hội khi tiêu dùng hamburger Sách, tạp chí
Tiêu đề: Q "= 20 - 2"P "và đường cầu của An đối với hamburger là "Q "= 10 - "P
3. Ở nhà máy nhiệt điện, lợi ích biên của việc giảm thiểu ô nhiễm là MB =300 - 10Q, trong khi ở nhà máy cao su, hàm lợi ích biên của việc giảm thiểu ô nhiễm là MB= 200 - 4Q. Giả sử chi phí biên của việc giảm thiểu ô nhiễm cố định bằng $12 trên một đơn vị. Mức giảm thiểu ô nhiễm tối ưu đối với từng nhà máy là bao nhiêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: MB" =300 - 10"Q, "trong khi ở nhà máy cao su, hàm lợi ích biên của việc giảm thiểu ô nhiễm là "MB=" 200 - 4"Q
4. Jonathan Gruber, Public Finance and Public Policy (3 rd edition), Worth Publisher, NewYork, 2010.CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ BÀI TẬP Khác
1. Hàng hóa công cộng: khái niệm, thuộc tính (phân biệt với hàng hóa cá nhân), phân loại, vấn đề khi cung cấp hàng hóa công cộng và sự can thiệp của Chính phủ Khác
2. Ngoại ứng: khái niệm, đặc điểm, phân loại, sự phi hiệu quả của ngoại ứng và giải pháp can thiệp của Chính phủ nhằm khắc phục sự phi hiệu quả đó Khác
3. Độc quyền: phân biệt sự khác nhau giữa độc quyền thường và độc quyền tự nhiên, sự phi hiệu quả của mỗi dạng độc quyền và giải pháp can thiệp của Chính phủ Khác
4. Thông tin không đối xứng: khái niệm, nguyên nhân, hậu quả, sự phi hiệu quả do thông tin không đối xứng gây ra và giải pháp can thiệp của Chính phủ Khác
5. Hãy phân tích về thuộc tính không loại trừ và không cạnh tranh của hàng hóa công cộng, sóng radio là một hàng hóa công cộng ở mức độ nào? Đường quốc lộ là hàng hóa công cộng ở mức độ nào Khác
6. Hãy nêu và phân tích vấn đề kẻ ăn không ở thành phố bạn sinh sống, bạn có thể đưa ra khuyến nghị cho chính quyền địa phương nhằm giải quyết vấn đề này không Khác
7. Một hoạt động có thể đồng thời tạo ra cả ngoại ứng tiêu cực và tích cực không? Tại sao Khác
8. Tại sao trong một số trường hợp chính phủ có thể áp dụng những quy định về sản lượng trong đó giới hạn mức độ tiêu dùng những sản phẩm gây ra ngoại ứng tiêu cực, còn trong trường hợp khác chính phủ lại áp dụng quy định về giá bằng việc đánh thuế lên hoạt động tiêu dùng này Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Một số ví dụ về điểm mạnh và điểm yếu. - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Bảng 2 Một số ví dụ về điểm mạnh và điểm yếu (Trang 9)
Bảng 1.1: Thị trường và nhà nước trong nền kinh tế - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Bảng 1.1 Thị trường và nhà nước trong nền kinh tế (Trang 15)
Bảng 1.2: Các chức năng của nhà nước Giải quyết - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Bảng 1.2 Các chức năng của nhà nước Giải quyết (Trang 17)
Hình 2.1: Cân bằng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 2.1 Cân bằng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo (Trang 33)
Hình 2.2: Hiệu quả Pareto và phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 2.2 Hiệu quả Pareto và phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế (Trang 35)
Hình 2.3: Cân bằng cạnh tranh tối đa hóa thặng dư xã hội - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 2.3 Cân bằng cạnh tranh tối đa hóa thặng dư xã hội (Trang 41)
Hình 2.4: Cơng bằng và hiệu quả trong nền kinh tế - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 2.4 Cơng bằng và hiệu quả trong nền kinh tế (Trang 45)
Mơ hình cho thấy, nếu giữ nguyên đường đẳng lượng Y, đồng thời dịch chuyển đường đẳng lượng X ngày càng ra xa gốc O (X 0  dịch chuyển  tới X1 hoặc X2) thì sản lượng của hàng hóa Y khơng đổi trong khi sản  lượng của hàng hóa X gia tăng - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
h ình cho thấy, nếu giữ nguyên đường đẳng lượng Y, đồng thời dịch chuyển đường đẳng lượng X ngày càng ra xa gốc O (X 0 dịch chuyển tới X1 hoặc X2) thì sản lượng của hàng hóa Y khơng đổi trong khi sản lượng của hàng hóa X gia tăng (Trang 49)
Hình 2.6: Các phương án phân bổ lại hàng hóa để đạt hiệu quả phân phối - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 2.6 Các phương án phân bổ lại hàng hóa để đạt hiệu quả phân phối (Trang 51)
Hình 2.7: Phương án đạt hiệu quả hỗn hợp sản xuất - phân phối - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 2.7 Phương án đạt hiệu quả hỗn hợp sản xuất - phân phối (Trang 53)
Hình 3.1: Chi phí biên của tiêu dùng HHCC - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 3.1 Chi phí biên của tiêu dùng HHCC (Trang 57)
Bảng 3.1: HHCC thuần tuý và HHCC không thuần tuý Tính cạnh tranh - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Bảng 3.1 HHCC thuần tuý và HHCC không thuần tuý Tính cạnh tranh (Trang 58)
Hình 3.2: Chi phí biên của người tiêu dùng HHCC có thể tắc nghẽn - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 3.2 Chi phí biên của người tiêu dùng HHCC có thể tắc nghẽn (Trang 59)
Hình 3.3, đồ thị (a) biểu diễn đường cầu cá nhân của A về bánh mỳ; (b) biểu diễn đường cầu cá nhân của B về bánh mỳ; (c) biểu diễn đường  cầu thị trường về bánh mỳ - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 3.3 đồ thị (a) biểu diễn đường cầu cá nhân của A về bánh mỳ; (b) biểu diễn đường cầu cá nhân của B về bánh mỳ; (c) biểu diễn đường cầu thị trường về bánh mỳ (Trang 60)
Hình 3.3: Cộng ngang đường cầu đối với hàng hóa cá nhân - Giáo trình Kinh tế công cộng: Phần 1 - PGS.TS. Phạm Thị Tuệ (Chủ biên)
Hình 3.3 Cộng ngang đường cầu đối với hàng hóa cá nhân (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm