Giáo trình Kinh tế công cộng nhằm cung cấp cho sinh viên ngành kinh tế cơ sở lý luận để trả lời câu hỏi khi nào thì nhà nước nên can thiệp vào nền kinh tế và nhà nước nên can thiệp bằng công cụ gì để hỗ trợ quá trình phát triển. Giáo trình kết cấu gồm 6 chương và chia thành 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội; công cụ can thiệp chủ yếu của chính phủ vào nền kinh tế; lựa chọn công cộng;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1CHƯƠNG 4 PHÂN PHỐI LẠI THU NHẬP VÀ ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Chương trước đã tìm hiểu về các dạng thất bại của thị trường và sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế nhằm khắc phục các thất bại thị trường, đảm bảo nền kinh tế hoạt động hiệu quả Chương này sẽ nghiên cứu các can thiệp của chính phủ trong phân phối lại thu nhập để đảm bảo công bằng xã hội Những nội dung chính là: (1) Quan niệm về công bằng và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập; (2) Quan điểm về công bằng và hiệu quả trong nền kinh tế; (3) Các lý thuyết về phân phối lại thu nhập; (4) Hệ thống an sinh xã hội nhằm phân phối lại thu nhập và hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam
4.1 Công bằng và bất bình đẳng
4.1.1 Quan niệm về công bằng và bất bình đẳng
Công bằng xã hội là một mục tiêu mà bất kỳ quốc gia nào cũng hướng tới trong quá trình phát triển bền vững Do đó, các chính sách được đưa ra bên cạnh vấn đề hiệu quả kinh tế cần được chú trọng tới khía cạnh công bằng xã hội Nhưng quan niệm về công bằng còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi, bởi công bằng là khái niệm chuẩn tắc Có nhiều góc nhìn
về vấn đề công bằng, công bằng là một phạm trù đạo đức, công bằng là một vấn đề xã hội và công bằng là một vấn đề kinh tế Phạm vi của kinh
tế công sẽ đề cập tới công bằng là một vấn đề kinh tế
Công bằng xã hội về phương diện kinh tế không có nghĩa là thành
quả phát triển của xã hội được chia đồng đều cho mọi người Có 2 quan niệm khác nhau về công bằng xã hội:
Thứ nhất, công bằng theo chiều ngang: là sự đối xử như nhau đối với những người có tình trạng kinh tế như nhau Theo quan điểm này, nếu hai cá nhân có tình trạng kinh tế như nhau (về thu nhập, tôn giáo ) thì chính phủ không được phân biệt đối xử
Trang 2Thứ hai, công bằng theo chiều dọc: là đối xử khác nhau với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có Theo cách hiểu này, chính phủ
có thể đối xử khác nhau với những người có tình trạng kinh tế khác nhau nhằm giảm bớt những khác biệt, ví dụ ưu tiên cho những người già, những người có hoàn cảnh khó khăn, người dân tộc
Nếu như công bằng theo chiều ngang có thể được thực hiện bởi cơ chế thị trường thì công bằng theo chiều dọc đòi hỏi sự điều tiết của nhà nước Chính phủ phải thực thi chính sách phân phối theo công bằng dọc nhằm giảm chênh lệch về phúc lợi giữa các cá nhân Điều này được thể hiện rõ qua chính sách thuế và trợ cấp
Mặc dù trên lý thuyết, việc phân biệt giữa công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc là dễ dàng nhưng trên thực tế việc áp dụng những tiêu chuẩn này là không rõ ràng
Trong báo cáo phát triển thế giới năm 2006, NHTG đã xem xét khái niệm công bằng là sự “công bằng về cơ hội” nghĩa là con người cần được bình đẳng với nhau trên mọi phương diện, tránh để những hoàn cảnh cá nhân đã định trước như giới tính, màu da, quê quán, nguồn gốc gia đình, nhóm xã hội nơi cá nhân đó sinh ra góp phần quyết định đến sự phát triển của con người
Công bằng xã hội trong một quốc gia hay vùng miền nào đó thường
được xem xét dưới khía cạnh phân phối thu nhập Phân phối thu nhập công bằng có nghĩa mỗi cá nhân được đánh giá đúng mức với công sức
mà họ đã bỏ ra, nhằm nâng cao mức sống của họ, loại bỏ tình trạng không làm mà vẫn được hưởng lợi, lao động vất vả mà cuộc sống vẫn khó khăn, thiếu thốn Phân phối thu nhập công bằng đối lập với chủ nghĩa bình quân trong phân phối: mọi người có thu nhập tương tự như nhau bất kể năng lực và nỗ lực của họ rất khác nhau Chủ nghĩa bình quân trong phân phối sẽ triệt tiêu động lực học tập, làm việc và sáng tạo của các cá nhân, mà hệ quả tất yếu là một nền kinh tế trì trệ
Quan niệm về bất bình đẳng:
Bất bình đẳng là một vấn đề trung tâm của xã hội, nó là cơ sở tạo nên
sự phân tầng xã hội Bất bình đẳng không phải là hiện tượng tồn tại một cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân mà nó xuất hiện khi có một nhóm xã hội
Trang 3kiểm soát và khai thác các nhóm xã hội khác Bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng, sự không bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội Bất bình đẳng xã hội do nhiều nguyên nhân gây ra, trong những xã hội khác nhau, bất bình đẳng cũng có những nét khác biệt Bất bình đẳng thường xuyên tồn tại với những nguyên nhân và kết quả cụ thể liên quan đến giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội đa dạng và khác nhau giữa các xã hội
và nền văn hóa, và các nhà xã hội học đưa về ba loại căn bản:
Thứ nhất, cơ hội trong cuộc sống Cơ hội trong cuộc sống bao gồm
tất cả những thuận lợi vật chất có thể cải thiện chất lượng cuộc sống như của cải, tài sản, thu nhập, công việc, lợi ích chăm sóc sức khỏe hay đảm bảo an ninh xã hội Trong một xã hội, một nhóm người có thể có cơ hội, trong khi các nhóm khác thì không, đó là nguyên nhân khách quan của bất bình đẳng xã hội
Thứ hai, địa vị xã hội Sự khác nhau về địa vị xã hội, tức là sự khác
nhau về uy tín hay vị trí do quan niệm và sự đánh giá của các thành viên khác trong xã hội Địa vị xã hội là sự phản ánh vị thế xã hội của cá nhân,
do cá nhân đạt được ở trong một nhóm hoặc là một thứ bậc trong nhóm này khi so sánh với thành viên trong nhóm khác, được xác định bởi một loạt đặc điểm kinh tế, nghề nghiệp, sắc tộc Trên thực tế, cơ cấu giai cấp
là nền tảng căn bản nhất của địa vị xã hội Ngoài ra, các thành tố khác tạo lập nên địa vị xã hội phải kể đến trình độ chuyên môn, mức lương, gia đình, lứa tuổi, lãnh thổ, cư trú
Thứ ba, ảnh hưởng chính trị Bất bình đẳng do ảnh hưởng chính trị là
khả năng của một nhóm xã hội thống trị những nhóm khác hay có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc ra quyết định cũng như việc thu được nguồn lợi
từ các quyết định Trên thực tế, bất bình đẳng do ảnh hưởng chính trị có thể được nhìn nhận như là có được từ ưu thế vật chất hay địa vị cao Bản thân chức vụ chính trị có thể tạo ra cơ sở để đạt được địa vị và những cơ hội trong cuộc sống, đặc biệt đối với các cá nhân giữ chức vụ chính trị cao Như vậy, gốc rễ của bất bình đẳng có thể nằm trong mối quan hệ kinh tế, địa vị xã hội, hay trong các mối quan hệ thống trị về chính trị của các giai cấp trong xã hội Trong phạm vi học phần Kinh tế công cộng,
Trang 4chúng ta chỉ xem xét bất bình đẳng về kinh tế hay bất bình đẳng về phân
phối thu nhập mà thôi
4.1.2 Thước đo bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Để đánh giá sự công bằng hay không trong phân phối thu nhập ở một quốc gia, người ta thường sử dụng các thước đo phản ánh mức độ bất bình đẳng Có nhiều thước đo phản ánh mức độ bất bình đẳng, hai thước
đo được sử dụng phổ biến là đường cong Lorenz và hệ số Gini
4.1.2.1 Đường cong Lorenz
Một trong những công cụ biểu đạt mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được sử dụng trong kinh tế học là đường cong Lorenz Tuy không thể phản ánh được hết tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của nền kinh tế nhưng đường cong Lorenz đã cố gắng lượng hoá để
có thể so sánh sự công bằng trong phân phối thu nhập giữa các quốc gia Đường cong Lorenz được biểu thị trong một hình vuông, cạnh bên là
số phần trăm thu nhập cộng dồn, còn cạnh đáy biểu thị số phần trăm cộng dồn các nhóm dân cư sắp xếp theo thứ tự mức thu nhập tăng dần Đường cong Lorenz được xây dựng theo trình tự như sau: (1) sắp xếp thu nhập của dân cư theo thứ tự tăng dần; (2) chia dân số thành các nhóm có số dân bằng nhau (thường chia làm 5 nhóm); (3) đưa số liệu lên đồ thị: % dân số cộng dồn vào cạnh đáy và % thu nhập cộng dồn tương ứng vào cạnh bên; (4) nối các điểm kết hợp giữa % dân số cộng dồn và % thu nhập cộng dồn, ta được đường cong Lorenz
Hình 4.1: Đường cong Lorenz
Trang 5Đường cong Lorenz chỉ ra tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhập cộng dồn theo tỷ lệ phần trăm dân số cộng dồn, do vậy còn được gọi là đường phân phối thu nhập Đường chéo của hình vuông (hay đường 450) cho biết bao nhiêu % dân số nắm giữ bấy nhiêu % thu nhập tương ứng (hay
thu nhập của tất cả các cá nhân bằng nhau) nên được gọi là đường bình đẳng tuyệt đối Ngược lại, khi thu nhập nằm trọn trong tay một cá nhân - trường hợp cạnh đáy và cạnh bên phải của hình vuông thì ta có đường bất bình đẳng tuyệt đối Trong thực tế, hai trường hợp trên không bao giờ
xảy ra nhưng bất bình đẳng luôn tồn tại và nó được biểu thị thông qua hình dáng đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz bắt đầu từ điểm gốc 0 của đường 450
và kết thúc
ở đầu phía bên kia đường 450
, nó nằm ở khoảng giữa đường 450 và đường bất bình đẳng tuyệt đối Đường cong Lorenz càng gần đường 450
thì mức độ bất bình đẳng càng thấp (hay mức độ công bằng càng cao) và ngược lại, đường cong Lorenz càng xa đường 450 thì mức độ bất bình đẳng càng cao (hay mức độ công bằng càng thấp)
Như vậy, đường cong Lorenz là một công cụ tiện lợi, giúp chúng ta đánh giá được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thông qua việc quan sát hình dạng đường cong Bên cạnh đó, nó cũng cho phép so sánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các quốc gia hay giữa các thời kỳ phát triển
Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là: (1) chỉ cho phép thấy được sự bất bình đẳng một cách định tính thông qua nhận định chủ quan của người đánh giá; (2) không thể đưa ra kết luận chính xác về mức độ bất bình đẳng khi các đường Lorenz giao nhau và rất phức tạp khi so sánh nhiều quốc gia cùng một lúc Vì vậy, cần có một thước đo khác hoàn thiện hơn để khắc phục hạn chế này của đường cong Lorenz
4.1.2.2 Hệ số Gini
Hệ số Gini là thước đo mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được sử dụng phổ biến nhất Hệ số Gini được xác định dựa trên đường cong Lorenz, thông qua công thức sau:
Hệ số Gini =
Trong đó, A là phần diện tích được giới hạn bởi đường cong Lorenz
Trang 6và đường 450; B là phần diện tích được giới hạn bởi đường cong Lorenz, cạnh đáy và cạnh bên phải hình vuông
Từ công thức trên, ta thấy rằng hệ số Gini có giới hạn trong đoạn [0,1] Hệ số Gini càng nhỏ, đường cong Lorenz càng gần đường 450 thì mức độ bất bình đẳng càng thấp và ngược lại, hệ số Gini càng lớn, đường cong Lorenz càng xa đường 450 thì mức độ bất bình đẳng càng cao
Trường hợp hệ số Gini = 0 xảy ra khi đường Lorenz trùng với đường bình đẳng tuyệt đối và hệ số Gini = 1 xảy ra khi đường Lorenz trùng với đường bất bình đẳng tuyệt đối Thực tế thì hai trường hợp trên không bao giờ xảy ra, do đó hệ số Gini luôn nằm trong khoảng (0,1) và càng nhỏ càng tốt
Dựa vào số liệu thống kê nhiều năm của nhiều quốc gia, Ngân hàng thế giới nhận thấy rằng, trong thực tế, giá trị của hệ số Gini thay đổi trong phạm vi hẹp hơn, từ 0,2 đến 0,65 Đối với các nước có thu nhập thấp, hệ số Gini từ 0,3 đến 0,5; đối với các nước có thu nhập trung bình,
hệ số Gini từ 0,4 đến 0,65; và đối với các nước có thu nhập cao, hệ số Gini từ 0,2 đến 0,4 Theo đó, Ngân hàng thế giới cũng đưa ra nhận xét rằng, hệ số Gini tốt nhất thường xoay quanh mức 0,3
Bảng 4.1: Hệ số Gini của Việt Nam qua các năm
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Số liệu thống kê cho thấy mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của Việt Nam đang có xu hướng tăng lên mặc dù Chính phủ đã có những nỗ lực nhất định trong việc giảm bất bình đẳng xã hội thông qua các chương trình phúc lợi hỗ trợ người nghèo thời gian vừa qua
Có thể thấy rằng, hệ số Gini đã khắc phục được hạn chế của đường Lorenz là nó lượng hoá được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập bằng một con số cụ thể Tuy vậy, việc sử dụng phương pháp này cũng có những hạn chế: (1) hệ số Gini bằng nhau thể hiện ở diện tích phần A như nhau nhưng độ phân bố các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau là không giống nhau, do đó hình dạng đường Lorenz là khác nhau Điều này đặc biệt đúng khi các đường Lorenz giao nhau, làm cho
hệ số Gini trở thành một thước đo không hoàn toàn nhất quán; (2) không
Trang 7cho phép phân tách hệ số Gini theo các phân nhóm (chẳng hạn nông thôn, thành thị hay các vùng trong một nước) rồi sau đó tổng hợp lại để rút ra hệ số Gini quốc gia Mặc dù vậy, hệ số Gini hiện nay vẫn là thước
đo được sử dụng phổ biến để đo mức độ bất bình đẳng giữa các quốc gia trên thế giới
4.1.3 Nguyên nhân gây ra bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là vấn đề mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt Để hạn chế tình trạng này, các nhà làm chính sách cần phải làm rõ những nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự bất bình đẳng Theo kết quả tổng hợp từ nhiều nghiên cứu, có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu là bất bình đẳng trong phân phối thu nhập xuất phát từ tài sản và từ lao động
4.1.3.1 Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản
Tài sản hay nguồn lực mà các cá nhân trong xã hội nắm giữ là rất khác nhau và nó tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản Trong đó, tài sản của mỗi cá nhân lại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
Thứ nhất, tài sản được hình thành do được thừa kế Của cải của mỗi
gia đình được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vì vậy, nhiều người trong xã hội may mắn sinh ra đã là người giàu có, bởi họ được thừa kế một cơ nghiệp lớn của cha ông để lại Trong khi đó, có rất nhiều người nghèo và sống trong nợ nần túng quẫn từ đời này sang đời khác Điều này tạo ra sự bất bình đẳng sâu sắc trong xã hội Vì vậy, để hạn chế sự bất bình đẳng này, Chính phủ đã thực hiện chính sách đánh thuế cao vào tài sản thừa kế và quà tặng
Thứ hai, tài sản được hình thành do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm
khác nhau Các cá nhân trong xã hội có thu nhập giống nhau nhưng cách thức sử dụng thu nhập của họ khác nhau Người có ý thức tiết kiệm và kế hoạch chi tiêu hợp lý thì tài sản mà họ có sẽ khác với người luôn “vung tay quá trán” và không lo nghĩ gì cho tương lai Chính sự tiêu dùng và tiết kiệm khác nhau của các cá nhân khác nhau đã ảnh hưởng lớn đến lượng tài sản mà họ tích luỹ được
Thứ ba, tài sản được hình thành do kết quả kinh doanh Thực tế cho
thấy những người giàu có trong xã hội hiện nay đều là những người làm
Trang 8kinh doanh, họ dám đầu tư tiền bạc và chấp nhận rủi ro Kết quả kinh doanh thuận lợi khiến họ ngày càng có nhiều tài sản hơn những người
“an phận thủ thường”
4.1.3.2 Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động
Lao động là yếu tố cơ bản để tạo ra thu nhập Tuy nhiên, thu nhập của các cá nhân trong xã hội rất khác nhau bởi họ khác nhau về trình độ, nghề nghiệp hay cường độ lao động Điều này dẫn tới bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động
Thứ nhất, thu nhập khác nhau do khác nhau về khả năng và kỹ năng
lao động Trong xã hội hiện nay, những người có trình độ chuyên môn cao sẽ kiếm được công việc tốt và được hưởng một chế độ lương bổng cao Khi cuộc sống dư giả về tiền bạc thì họ sẽ có nhiều cơ hội để giao lưu, hưởng thụ các dịch vụ mới, hiện đại của xã hội; con cái của họ cũng có nhiều điều kiện tốt để phát triển Ngược lại, những người có trình độ thấp, cơ hội kiếm được việc làm không cao, mức thù lao nhận được cũng không cao, chỉ đủ tiêu pha cho cuộc sống hàng ngày và một phần cho tiết kiệm, con cái của họ sẽ không được phát triển trong một môi trường tốt nhất
Thứ hai, thu nhập khác nhau do khác nhau về cường độ làm việc Hai
cá nhân giống nhau về mọi yếu tố: trình độ chuyên môn, sức khỏe, cơ hội, môi trường làm việc nhưng cường độ làm việc của họ khác nhau thì thu nhập mà họ có khác nhau Những người bỏ nhiều thời gian và công sức để làm việc thì thu nhập của họ sẽ cao hơn những người khác
Thứ ba, thu nhập khác nhau do khác nhau về nghề nghiệp và tính
chất công việc Thực tế cho thấy, những công việc phổ thông, đòi hỏi ít
kỹ năng thường được trả lương thấp; còn công việc chuyên môn có hàm lượng chất xám nhiều sẽ được hưởng lương cao hơn Những công việc có liên quan đến chất độc hại thì sẽ được trả lương cao hơn để bù đắp cho những giảm sút về sức khỏe của người lao động
Ngoài ra, có thể có nhiều nguyên nhân khác ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng trong thu nhập từ lao động như: sự phân biệt đối xử trong xã hội, ảnh hưởng của thiên tai, các rủi ro khác dẫn đến sự khác biệt về tiền lương của các cá nhân
Trang 9Các yếu tố trên tạo nên sự chênh lệch thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội Chênh lệch thu nhập do sự khác biệt trong năng suất là tất yếu, là động lực cho tăng trưởng, là tiền đề của hiệu quả, đây không phải
là nguồn gốc của bất bình đẳng kinh tế Tuy nhiên, một nền kinh tế có chênh lệch thu nhập quá lớn sẽ kéo theo những chênh lệch khác về cơ hội, về khả năng tiếp cận các nguồn lực sẵn có, chênh lệch về trình độ và
về mức sống khi đó sẽ tạo nên bất bình đẳng về phân phối thu nhập Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập dẫn đến nhiều hệ luỵ liên quan đến tăng trưởng kinh tế cũng như an sinh xã hội
4.1.4 Lý do Chính phủ can thiệp nhằm đảm bảo công bằng xã hội
Công bằng và hiệu quả là hai mục tiêu cao nhất trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người Khi nguồn lực xã hội được sử dụng một cách hiệu quả nhưng không có tác động gì tới sự công bằng trong phân phối thu nhập giữa các cá nhân thì Chính phủ phải can thiệp thông qua các công cụ và chính sách về phân phối lại để giảm bớt sự bất bình đẳng
thu nhập trong xã hội
Phân phối lại thu nhập tuy không làm tăng mức của cải chung của xã hội nhưng nó có khả năng làm tăng tổng phúc lợi xã hội Bởi quá trình phân phối lại thu nhập giúp cải thiện lợi ích cho người nghèo nhưng lại khiến người giàu bị giảm lợi ích Tuy nhiên, do thu nhập của người nghèo thấp nên lợi ích tăng thêm đối với họ sẽ lớn hơn lợi ích giảm đi của người giàu Kết quả là tổng phúc lợi xã hội tăng lên
Phân phối lại thu nhập có tác dụng động viên, giúp đỡ người nghèo vượt qua những thời điểm khó khăn, nguy khốn, giúp họ vươn lên trong cuộc sống Nghèo đói thường đi liền với các tệ nạn xã hội, do đó khi người nghèo được hỗ trợ tốt thì cũng góp phần giảm bớt tệ nạn xã hội và giữ vững ổn định chính trị
Phân phối lại thu nhập nhằm đảm bảo công bằng xã hội là cách đảm bảo khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản mà con người được hưởng với tư cách
là quyền của công dân Do vậy, giảm khoảng cách chênh lệch thu nhập tạo
ra một ngoại ứng tích cực đối với quá trình phát triển của nền kinh tế
4.2 Quan điểm về mối quan hệ giữa công bằng và hiệu quả
Công bằng và hiệu quả là hai mục tiêu cao nhất mà mọi Chính phủ luôn hướng tới trong quá trình phát triển đất nước Một câu hỏi đặt ra là
Trang 10chúng ta có phải đánh đổi giữa hai mục tiêu này hay không? Hay chúng
ta có thể đồng thời đạt được cả hai mục tiêu mà không phải hy sinh bất
kỳ một mục tiêu nào? Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này
4.2.1 Quan điểm cho rằng công bằng và hiệu quả có mâu thuẫn
Theo quan điểm này, chúng ta phải hy sinh một trong hai mục tiêu
Có nghĩa là, để đạt được mục tiêu hiệu quả kinh tế, phải chấp nhận sự bất công và ngược lại, để cải thiện công bằng xã hội thì phải hy sinh hiệu quả Trong tác phẩm “Bình đẳng và hiệu quả: Một sự đánh đổi lớn” A Okun đã cho rằng theo đuổi bình đẳng có thể làm giảm hiệu quả (hay giảm sản lượng đầu ra của nền kinh tế, với yếu tố nguồn lực đầu vào như nhau) Bởi vì phân chia thu nhập bình đẳng trong xã hội không chỉ làm giảm động lực lao động và đầu tư trong xã hội mà còn tạo ra một chi phí đáng kể cho toàn xã hội bởi nỗ lực tái phân chia thu nhập, thông qua cơ chế thuế hoặc lương tối thiểu Ông liên hệ cơ chế này với hình ảnh “cái
xô thủng”, khi nguồn lực chuyển từ tay người này sang tay người khác,
nó sẽ bị thất thoát (bởi lỗ thủng đáy xô) và người nghèo sẽ không nhận được tất cả các khoản tiền thu được từ người giàu Vì vậy những “lỗ thủng” trong các chương trình phân phối lại có nguồn gốc từ:
Thứ nhất, quá trình phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người
nghèo sẽ làm tăng chi phí hành chính để vận hành bộ máy thực hiện chức năng phân phối lại Đây là những khoản chi phí không hiệu quả nhưng không thể tránh khỏi trong các chương trình chi tiêu hỗ trợ người nghèo của Chính phủ Bên cạnh đó, trong quá trình phân phối lại còn có sự thất thoát nguồn lực do vấn đề tham ô, tham nhũng của một số cá nhân Do vậy, có được công bằng phải hy sinh hiệu quả, tổng thu nhập trong nền kinh tế giảm đi
Thứ hai, nếu nguồn kinh phí sử dụng để tiến hành phân phối lại được
lấy từ ngân sách với thuế là nguồn thu chủ yếu Khi thuế thu nhập ngày càng tăng, người làm việc giảm động cơ làm việc nên họ làm việc ít đi và giảm đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế Đồng thời, nguồn lực được sử dụng để phân phối lại cũng sẽ giảm
Thứ ba, nếu nguồn kinh phí sử dụng để tiến hành phân phối lại
được lấy từ ngân sách với nguồn hình thành từ tiết kiệm của thu nhập quốc dân Khi tăng thuế sẽ khiến lãi suất thực giảm, tiết kiệm giảm và
Trang 11đầu tư giảm Điều này sẽ ảnh hưởng tới sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế
Thứ tư, các chương trình phân phối lại có thể gây ra sự nản lòng đối
với những người phải đóng góp nhiều Mặt khác, những người nhận được hỗ trợ có thể không có động lực làm việc, vươn lên thoát nghèo
mà có tâm lý ỷ lại vào sự giúp đỡ của Chính phủ và các cá nhân khác trong xã hội
4.2.2 Quan điểm cho rằng công bằng và hiệu quả không mâu thuẫn
Đối ngược với quan điểm ở trên, theo quan điểm này, Chính phủ một quốc gia có thể đồng thời đạt được cả hai mục tiêu bởi quá trình phân phối lại thu nhập giảm bớt sự bất bình đẳng xã hội sẽ tạo động lực để thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao hiệu quả kinh tế M Todaro cho rằng giải quyết vấn đề phân phối thu nhập công bằng sẽ thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế Quan điểm này được đưa ra dựa trên những lập luận sau:
Thứ nhất, phân phối lại thu nhập giúp cải thiện mức sống cho người
nghèo sẽ kích cầu trong nước đối với nhiều mặt hàng, đặc biệt là các hàng hóa thiết yếu Điều này sẽ kích thích sản xuất phát triển, việc làm được tạo ra nhiều hơn và đồng thời gia tăng thu hút đầu tư trong nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh
Thứ hai, quá trình phân phối lại giúp người nghèo gia tăng thu nhập
và mức sống Qua đó, cuộc sống của họ được cải thiện tốt hơn, nguy cơ bệnh tật giảm, có cơ hội được học hành và tìm được công việc có thu nhập ổn định Điều này cũng đóng góp vào quá trình tăng trưởng, phát triển của quốc gia
Thứ ba, phân phối thu nhập công bằng hơn giúp người nghèo có
được sự ổn định về mặt tâm lý để vươn lên trong cuộc sống, không trở thành vật cản đối với quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
Thứ tư, phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người nghèo là cần
thiết và nó không ảnh hưởng tới tính hiệu quả của nền kinh tế Bởi những người giàu có ở các nước đang phát triển thường sử dụng một phần lớn thu nhập để tiêu dùng hàng hóa xa xỉ hay đầu tư vào vàng, ngoại tệ, đất đai - những loại đầu tư không đóng góp gì cho tăng trưởng sản xuất của nền kinh tế
Như vậy, phân phối thu nhập công bằng sẽ tạo ra sự hài hoà về lợi
Trang 12ích trong xã hội, là điều kiện quan trọng để xã hội ổn định và là động lực cho tăng trưởng kinh tế
4.2.3 Mối quan hệ giữa công bằng và hiệu quả trên thực tế
Simon Kuznets là nhà kinh tế học tiên phong trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa công bằng và hiệu quả trong thực tế Với số liệu thống
kê về dân số và thu nhập nhiều năm của nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, ông đã tìm ra mối quan hệ giữa hai vấn đề này
Sử dụng đồ thị với trục hoành là thu nhập bình quân đầu người - đại diện cho tiến bộ kinh tế của một quốc gia, trục tung là hệ số Gini - đại diện cho mức độ bất bình đẳng, kết quả nghiên cứu của Kuznets cho thấy rằng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tồn tại một mối quan
hệ theo dạng hình chữ U ngược Điều đó có nghĩa là các quốc gia khi ở giai đoạn đầu của sự phát triển luôn đi kèm với sự bất bình đẳng cao và khi nền kinh tế phát triển đến một mức nào đó, lợi ích của sự phát triển được chia sẻ rộng hơn cho các cá nhân trong xã hội thì mức độ bất bình đẳng sẽ giảm xuống
Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới cho thấy có 3 mô hình giải quyết vấn đề công bằng và hiệu quả trong nền kinh tế :
Thứ nhất, mô hình tăng trưởng trước, công bằng sau (kiểu chữ U ngược)
Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Canada, Nhật, các nước đang phát triển khu vực nam mỹ hiện nay Theo mô hình này, các
Hình 4.2: Đường Kuznets
Trang 13nước thường không quan tâm đến phân phối lại thu nhập ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển Do vậy, trong giai đoạn này, cùng với sự tăng trưởng (tăng thu nhập bình quân đầu người) thì bất bình đẳng trong nền kinh tế có xu hướng tăng lên Chỉ đến khi nền kinh tế đạt tới mức phát triển nào đó, thu nhập bình quân đầu người cao, lúc đó bất bình đẳng mới
có xu hướng giảm xuống do chính phủ quan tâm đến quá trình phân phối lại, làm cho thành quả tăng trưởng được phát huy một cách rộng rãi
Thứ hai, mô hình công bằng trước, tăng trưởng sau
Mô hình này được áp dụng ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trước đây Mô hình này nhấn mạnh vào các chính sách giải quyết các vấn đề xã hội, tạo ra sự công bằng ngay từ đầu quá trình phát triển, mặc dù tăng trưởng kinh tế đạt được ở mức độ thấp Các chính sách phân phối lại, chính sách phát triển con người như đầu tư vào văn hóa, giáo dục, y tế được quan tâm Do vậy, các quốc gia này đạt được mức độ khá tốt về chỉ số xã hội, tuy nhiên nền kinh tế thiếu động lực phát triển nên tốc độ tăng trưởng thấp
Thứ ba, mô hình kết hợp đồng thời tăng trưởng và công bằng xã hội
Mô hình này được thực hiện ở những nước Bắc Âu và các nước NICs châu Á Chiến lược phát triển lựa chọn mô hình kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng và công bằng xã hội thể hiện rõ ở sự can thiệp của chính phủ vào các lĩnh vực kinh tế và xã hội nhằm tạo ra sự đồng bộ của hai yếu tố này Đặc trưng thứ nhất là lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu, khuyến khích tăng trưởng kinh tế nhanh
Đồng thời với đầu tư vào các ngành của nền kinh tế đảm bảo tăng trưởng nhanh nhưng không gây ra gia tăng bất bình đẳng các quốc gia phát triển mạnh nông nghiệp, những ngành sử dụng nhiều lao động và các yếu tố đầu vào có sẵn trong nền kinh tế Sự chuyển dich cơ cấu kinh
tế thực hiện theo dấu hiệu lợi thế nguồn lực của đất nước
Ngoài ra, các chính sách xã hội nhằm giải quyết ngay từ đầu vấn đề xóa đói giảm nghèo và công bằng xã hội được thực hiện như chính sách
về phân phối lại thu nhập, chính sách trợ cấp xã hội, các dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng giao thông cho các vùng khó khăn, hệ thống giáo dục đảm bảo phổ cập giáo dục và đảm bảo cơ hội giáo dục cho người nghèo, hệ thống
y tế và chăm sóc sức khỏe
Trang 14Các nhà kinh tế trên thế giới cho rằng bất bình đẳng gắn với phương thức phát triển của nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế thường không trung tính về mặt phân phối thu nhập: tăng trưởng có thể thay đổi phép phân phối theo hướng bình đẳng hơn hoặc bất bình đẳng hơn Điều đó tuỳ thuộc vào “phương thức phát triển” mà quốc gia chọn lựa Theo nhà kinh
tế học Pierre Salama, phương thức phát triển dựa vào cầu nội địa, đi liền với phép phân phối thu nhập có tính bất bình đẳng thấp nhất; phương thức phát triển bằng xuất khẩu, đi kèm với phép phân phối thu nhập mang tính bất bình đẳng cao hơn; phương thức phát triển “tài chính hoá”,
tự do hoá thị trường vốn và kích thích hoạt động đầu cơ - đi đôi với một
ít hơn (độ co giãn nhỏ hơn -1); trong trường hợp tỷ lệ nghèo tăng thay vì giảm, bởi tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân tương đối thấp trong khi bất bình đẳng trong phân phối lại tăng (độ co giãn trở nên dương), có thể gọi đó là chế độ tăng trưởng “bần cùng hoá” (immiserizing)
Như vậy, tăng trưởng và công bằng trong nền kinh tế là những mục tiêu tương hợp, không mâu thuẫn Các chính sách của chính phủ đóng vai trò quyết định đến việc giải quyết mối quan hệ này, bởi thực tế chỉ có một số ít các chính sách được coi là hoàn thiện Pareto, còn hầu hết sẽ dẫn đến lợi cho nhóm này và thiệt cho nhóm kia Vì vậy, khi thiết kế và lựa chọn chính sách, chính phủ đều cân nhắc kỹ tác động của nó tới công bằng (phân phối) và hiệu quả kinh tế, hướng tới sự cân bằng trong cả 2 mục tiêu này
Trang 154.3 Các lý thuyết, quan điểm về phân phối lại thu nhập
Các chính sách phân phối lại đều nhằm mục đích tối đa hoá phúc lợi
xã hội Để đạt được mục tiêu này, trong phân tích về phúc lợi xã hội, cần phải thỏa mãn điều kiện để đường bàng quan xã hội tiếp xúc với đường khả năng thỏa dụng của xã hội
Đường khả năng thoả dụng của xã hội là đường biểu thị mức thoả
dụng tối đa mà một cá nhân (hay nhóm người) có thể đạt được trong xã hội khi cho trước mức thoả dụng của những cá nhân (hay nhóm người) khác Đường khả năng thoả dụng là đường biểu thị mức thoả mãn tối đa
mà một cá nhân (hay nhóm người) có thể đạt được trong xã hội khi thực hiện phân phối lại
Hình dáng và tính chất của đường khả năng thoả dụng của xã hội tương tự như đường khả năng sản xuất, chỉ có khác là hai trục tọa độ thể hiện độ thoả dụng của các cá nhân trong xã hội Theo đó, đường khả năng thỏa dụng của xã hội là một đường cong lõm về phía gốc tọa độ và mọi điểm nằm trên đường khả năng thỏa dụng (điểm E) là những điểm đạt hiệu quả, những điểm nằm bên ngoài (điểm F) là không thể đạt tới và những điểm nằm bên trong (điểm M) là chưa hiệu quả
Mọi điểm nằm trên đường khả năng thoả dụng xã hội đều là những điểm đạt hiệu quả Pareto (điểm E), khi đó nền kinh tế đạt được phân bổ nguồn lực tối ưu Pareto Nghĩa là sự phân bổ nguồn lực hiệu quả nên
Hình 4.3: Đường khả năng thỏa dụng xã hội
Trang 16không làm cho người nào lợi hơn (giàu hơn) và không làm ai bị thiệt đi (nghèo đi)
Giả sử mức thoả dụng (sự hài lòng) của các cá nhân trong nền kinh tế đạt tới một điểm trên đồ thị, ví dụ điểm M, nằm phía trong đường khả năng thoả dụng Bất cứ sự thay đổi nào của chính phủ nhằm phân phối lại nguồn lực sẽ làm sự thoả mãn hay hài lòng của các cá nhân tăng lên, di chuyển đến gần đường khả năng thoả dụng hơn, như vậy sẽ là một hoàn thiện Pareto (vì làm cho mọi người đều khá lên)
Đường khả năng thoả dụng mô tả tác động chính sách của chính phủ tới sự thoả mãn hay hài lòng của các cá nhân trong xã hội Thông thường, một chính sách sẽ làm lợi cho nhóm người này, thiệt cho nhóm người khác, chính sách đó có thể làm cho nền kinh tế tốt hơn nhưng chưa chắc
đã là một hoàn thiện Pareto bởi làm thiệt hại lợi ích của ai đó
Như vậy, để so sánh được mức độ đánh đổi giữa thiệt hại hay lợi ích của các cá nhân trong nền kinh tế khi thực hiện các chính sách kinh tế sử dụng thêm phân phối lại thu nhập, các nhà kinh tế cần đường bàng quan
xã hội
Đường bàng quan xã hội là tập hợp của tất cả các điểm kết hợp giữa
sự thoả mãn, hài lòng của mọi thành viên trong xã hội mà những điểm đó mang lại mức phúc lợi xã hội bằng nhau Đường bàng quan xã hội biểu diễn những tập hợp độ thoả dụng của 2 nhóm cá nhân mà xã hội bàng quan Xã hội sẵn lòng đánh đổi khi tăng sự thoả mãn của nhóm này lên hoặc giảm sự thoả mãn của nhóm kia đi
Hình 4.4: Đường bàng quan xã hội
Trang 17Đường bàng quan xã hội có hình dáng và tính chất tương tự đường bàng quan cá nhân Điểm khác biệt duy nhất là hai trục tọa độ của đường bàng quan xã hội thể hiện độ thỏa dụng của từng cá nhân trong xã hội Theo đó, đường bàng quan xã hội là một tập hợp các đường cong lồi về phía gốc toạ độ và không cắt nhau; các điểm trên cùng một đường bàng quan (M, N) mang lại cùng một mức phúc lợi xã hội như nhau (W1) và điểm nằm trên đường bàng quan cao hơn (E) phản ánh mức phúc lợi xã hội lớn hơn (W2)
Để xác định cách phân phối lại thu nhập xã hội tối ưu, chúng ta cần kết hợp đường khả năng thoả dụng và đường bàng quan xã hội Từ đồ thị Hình 4.5, chúng ta thấy rằng điểm hiệu quả như M sẽ không được xã hội
ưa thích bằng một điểm chưa hiệu quả như N vì điểm N nằm trên đường bàng quan cao hơn, phản ánh mức phúc lợi xã hội lớn hơn; và điểm phân phối hiệu quả tại E sẽ mang lại phúc lợi xã hội lớn nhất
Điểm E, điểm tối đa hoá PLXH, đường khả năng thoả dụng của xã hội đã tiếp xúc với đường bàng quan cao nhất có thể đạt tới Rõ ràng, một điểm phân phối PLXH tối ưu chắc chắn phải là một điểm hiệu quả Pareto Như vậy, chúng ta đã có đủ các công cụ cần thiết để phân tích một số lý thuyết nổi bật về phân phối lại thu nhập và tối đa hoá phúc lợi
xã hội Phân phối lại có thể tạo ra sự đánh đổi phúc lợi xã hội giữa các
Hình 4.5: Phân phối lại thu nhập tối ưu
Trang 18nhóm người trong nền kinh tế nhưng nguyên tắc là phải đạt tới đường bàng quan xã hội cao nhất, nghĩa là đạt PLXH cao hơn
4.3.1 Thuyết vị lợi
Thuyết vị lợi được xây dựng dựa trên quan điểm triết học về phúc lợi
do Jeremy Bentham đề xướng đầu thế kỷ XIX Thuyết này được nghiên
cứu dựa trên một số giả định sau:
Thứ nhất, các cá nhân có hàm thoả dụng biên đồng nhất và chỉ phụ thuộc vào thu nhập
Thứ hai, các hàm thoả dụng biên tuân theo quy luật độ thoả dụng biên giảm dần
Thứ ba, tổng mức thu nhập sẵn có là cố định và không thay đổi trong quá trình phân phối lại
Về nội dung, thuyết vị lợi cho rằng phúc lợi xã hội chỉ phụ thuộc vào
độ thoả dụng của các cá nhân trong xã hội Theo đó, phúc lợi xã hội là tổng đại số độ thoả dụng của tất cả các thành viên trong xã hội và để tăng phúc lợi xã hội chỉ cần tăng độ thỏa dụng của bất kỳ một thành viên nào trong xã hội đó
Nếu biểu diễn phúc lợi xã hội dưới dạng hàm toán học thì ta có:
W = U1 + U2 + + Un = ∑
=
n
i i
Đường bàng quan xã hội là đường thẳng vì một chính sách làm giảm
sự thoả mãn của nhóm này đi bao nhiêu thì sẽ tăng lợi ích của nhóm khác bấy nhiêu, có sự đánh đổi ngang bằng
Từ hàm PLXH có thể thấy rằng, thuyết vị lợi coi lợi ích của người giàu và người nghèo có trọng số như nhau Vì thế, xã hội hoàn toàn bàng quan trước việc độ thoả dụng của người nghèo giảm xuống, nếu từ đó thoả dụng của người giàu tăng lên một mức tương đương
Trang 19Một cách phân phối khiến cho độ thỏa dụng của người nghèo giảm xuống và độ thoả dụng của người giàu tăng lên một mức tương đương thì phúc lợi xã hội vẫn không có sự cải thiện Vì vậy, đường bàng quan xã hội của thuyết vị lợi sẽ là một đường tuyến tính có độ dốc bằng -1
Vậy Chính phủ có nên phân phối lại thu nhập xã hội hay không? Và nếu có thì điều kiện phân phối tối ưu là gì?
Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần sử dụng tới các giả định của thuyết vị lợi và sử dụng đồ thị để phân tích Xét một nền kinh tế với 2 cá nhân A & B cùng chia sẻ nhau mức tổng thu nhập không thay đổi trong quá trính phân phối lại là OO’ Trong đó, thu nhập của A tính từ gốc O
và thu nhập của B tính từ gốc O’ Độ thoả dụng biên của các cá nhân chỉ phụ thuộc vào thu nhập và tuân theo quy luật độ thỏa dụng biên giảm dần nên MUA và MUB có dạng như đồ thị:
Hình 4.6: Đường bàng quan xã hội theo thuyết vị lợi
Hình 4.7: Phân phối lại thu nhập tối ưng theo thuyết vị lợi
Trang 20Giả sử ban đầu A giữ OX đồng thu nhập, còn B giữ XO’ đồng Như vậy, A là người giàu và B là người nghèo Nếu tiến hành phân phối lại và chuyển XY đồng thu nhập từ A sang B thì độ thoả dụng của A giảm đi phần diện tích XYGH và độ thoả dụng của B tăng thêm phần diện tích XYQP Xét trong toàn nền kinh tế, phúc lợi sẽ tăng thêm phần diện tích GHPQ Tiếp tục chuyển thêm YZ đồng thu nhập từ A sang B, phúc lợi xã hội tăng thêm phần diện tích EGQ Nếu vẫn tiến hành phân phối lại, chuyển giao thêm ZK đồng thu nhập từ A sang B, lúc này độ thỏa dụng của A bị giảm đi phần diện tích KZEM trong khi độ thỏa dụng của B chỉ tăng thêm phần diện tích KZEN, điều này khiến cho phúc lợi xã hội sẽ bị tổn thất phần diện tích EMN Do đó, việc tiến hành phân phối lại sẽ dừng tại điểm Z bởi tại đó phúc lợi xã hội tăng thêm được nhiều nhất, khi đó
MUA=MUB và mỗi cá nhân nắm giữ một nửa thu nhập của nền kinh tế Điều này tạo ra một sự bình đẳng tuyệt đối trong xã hội
Như vậy, điều kiện để phân phối thu nhập tối ưu theo thuyết vị lợi
là Chính phủ nên tiến hành phân phối lại cho đến khi độ thỏa dụng biên của các cá nhân bằng nhau: MU1=MU2 =MUn
Tuy nhiên, kết quả này hoàn toàn phụ thuộc vào các giả định đã nêu Nếu các giả định được thoả mãn thì kết quả của phân phối lại thu nhập sẽ đảm bảo sự bình đẳng tuyệt đối giữa các cá nhân trong xã hội Nhưng các giả định được đánh giá là không có trên thực tế, do vậy hạn chế của thuyết vị lợi sẽ là:
Thứ nhất, nếu các cá nhân có các hàm thoả dụng biên khác nhau thì chưa chắc điểm phân phối thu nhập tối ưu tại Z (điểm giữa OO’), tức là phân phối thu nhập theo thuyết vị lợi chưa chắc đã mang lại sự bình đẳng tuyệt đối
Thứ hai, quy luật độ thoả dụng biên giảm dần đúng với đa số các hàng hoá nhưng chưa chắc đã đúng với thu nhập Nếu mức thoả dụng biên theo thu nhập của các cá nhân đều không đổi, tức là đường MUA và
MUB đều nằm ngang thì mỗi đồng lấy đi từ người B sẽ làm anh ta mất đi một mức thoả dụng đúng bằng mức thoả dụng tăng thêm khi A có đồng thu nhập ấy Khi đó, chính sách phân phối lại của Chính phủ không có ý nghĩa gì đối với việc cải thiện PLXH
Trang 21Thứ ba, mô hình trên giả định tổng thu nhập xã hội là cố định, nhưng trên thực tế việc phân phối lại thường kèm theo sự thất thoát về nguồn lực, có nghĩa là nếu càng cố gắng phân phối lại thì kích thước của “chiếc bánh” dùng để chia cho hai người càng giảm Phân phối lại thu nhập cần tính đến cả những khoản mất mát về tính hiệu quả này
Như vậy, ngay cả khi chấp nhận giả định là các cá nhân có hàm thoả dụng biên như nhau thì cũng chưa thể kết luận rằng, mục tiêu của chính sách phân phối thu nhập sẽ đạt đến sự bình đẳng tuyệt đối về thu nhập Câu trả lời còn phụ thuộc vào phương pháp được sử dụng để phân phối lại thu nhập và tác động của chúng đến hành vi cá nhân
4.3.2 Quan điểm bình quân đồng đều
Quan điểm này cho rằng xã h ộ i c ầ n ph ấ n đấ u cho s ự ngang b ằ ng phúc l ợ i c ủ a t ấ t c ả các thành viên trong xã h ộ i Như vậy, với một lượng thu nhập quốc dân cố định, quan điểm này cho rằng phải phân phối lượng thu nhập đó sao cho độ thỏa dụng của tất cả các cá nhân trong xã hội phải bằng nhau Do đó, hàm phúc lợi xã hội theo điểm này có dạng:
W = U1 = U2 = = Un
Tuy nhiên, quan điểm này dựa trên giả định t ổ ng thu nh ậ p qu ố c dân
là c ố đị nh và hàm tho ả d ụ ng biên c ủ a m ọ i cá nhân là nh ư nhau do vậy cũng như thuyết vị lợi, cả hai quan điểm đều dẫn đến một kết quả là phân phối thu nhập hoàn toàn bằng nhau cho tất cả mọi người
Điều cần chú ý là quan điểm bình quân đồng đều này ch ỉ ch ấ p nh ậ n
sự khác biệt về mức thoả dụng cho những nhân tố khách quan tạo ra (như quy mô gia đình, tình trạng sức khoẻ ), chứ không chấp nhận những khác biệt do sở hữu tài sản hay các nhân tố chủ quan khác Do vậy, nếu
có sự khác biệt do sở hữu tài sản hay các nhân tố chủ quan khác thì sẽ phải phân phối lại thu nhập bằng cách đánh thuế người có thu nhập cao
để chuyển giao cho người có thu nhập thấp Hệ quả là nếu đánh thuế A
để chuyển giao cho B sẽ gây ra mất mát nguồn lực (ví dụ đánh thuế cao đối với một cơ sở sản xuất, họ sẽ thu hẹp sản xuất lại, sa thải nhân công) thì việc phân phối lại này có thể làm giảm bớt khoảng cách thu nhập giữa hai người, nhưng đồng thời cũng làm giảm thu nhập của cả hai
Vì vậy, quan điểm này gặp phải một hạn chế là khi thu nhập không
cố định, hay có sự thất thoát trong quá trình phân phối lại thì việc phân
Trang 22phối lại này có thể làm giảm bớt khoảng cách thu nhập giữa các cá nhân nhưng đồng thời nó cũng làm giảm thu nhập của tất cả mọi người Do đó, quan điểm bình quân đồng đều này có thể phải hy sinh tính hiệu quả rất nhiều và điều này là rất khó chấp nhận, trừ khi xã hội sẵn sàng đánh đổi tính hiệu quả lấy sự công bằng với cái giá rất cao
W = minimum {U1, U2, , Un}
Theo thuyết này, PLXH chỉ phụ thuộc vào lợi ích của những người nghèo nhất Vì vậy, muốn có PLXH đạt tối đa thì phải cực đại hoá độ thoả dụng của người nghèo nhất Đó là lý do vì sao thuyết này có tên thuyết cực đại thấp nhất
Như vậy, nếu thuyết vị lợi coi mọi người trong xã hội như nhau thì thuyết cực đại thấp nhất coi trọng người nghèo hơn Nếu sự phân phối lại thu nhập làm tăng lợi ích của người giàu nhưng người nghèo không có cải thiện thì cũng không có ý nghĩa gì trong việc nâng cao phúc lợi xã hội
Do đó, theo thuyết này, phân phối lại thu nhập sẽ được tiến hành nếu
nó làm tăng độ thỏa dụng của người nghèo nhất Quá trình phân phối lại
sẽ dừng lại khi độ thỏa dụng của người nghèo nhất đạt tối đa vì khi đó, phúc lợi xã hội là cực đại
Theo thuyết Rawls thì xã hội chỉ quan tâm đến phúc lợi của người nghèo, nên bất kể sự phân phối lại thu nhập này chỉ làm tăng lợi ích của người giàu mà không làm thay đổi lợi ích của người nghèo thì không có ý nghĩa gì trong việc nâng cao PLXH Không một lượng tăng thêm nào trong phúc lợi của người giàu có thể bù đắp cho sự giảm sút trong phúc lợi của người nghèo Nếu tăng độ thoả dụng cho nhóm này thì độ thoả dụng của nhóm kia vẫn không đổi, thì vẫn ở đường bàng quang xã hội ban đầu, nghĩa là PLXH không tăng
Trang 23Vì vậy, đường bàng quan xã hội theo thuyết cực đại thấp nhất có dạng hình chữ L, có độ dốc bằng 0 hoặc bằng 1 và đỉnh của chữ L nằm trên đường phân giác góc 0 Bởi nếu chỉ tăng lợi ích của A (người giàu) trong khi B (người nghèo) không đổi thì chúng ta vẫn giữ nguyên trên đường bàng quan xã hội, có nghĩa là không tốt hơn (phúc lợi xã hội không có sự cải thiện)
Kết hợp với đường khả năng thoả dụng của xã hội, ta luôn tìm được điểm phân phối tối ưu H (đỉnh chữ L), tại đó đường khả năng thỏa dụng (dù có hình dáng ra sao) tiếp xúc với đường bàng quan xã hội cao nhất Khi đó, độ thỏa dụng của các cá nhân bằng nhau và đều bằng U0
Như vậy, đ i ề u ki ệ n để phân ph ố i thu nh ậ p t ố i ư u theo thuyết cực đại thấp nhất là Chính phủ tiến hành phân phối lại cho đến khi độ thỏa dụng của tất cả các cá nhân trong xã hội bằng nhau:
U1 = U2 = = Un
K ế t qu ả phân ph ố i theo thuyết cực đại thấp nhất giống như quan điểm bình quân đồng đều là tạo ra một sự phân phối tuyệt đối bình đẳng, điều khác biệt duy nhất là nó phải bắt đầu từ việc nâng cao phúc lợi của người nghèo nhất trong xã hội
Hình 4.7: Phân phối lại thu nhập tối ưu theo thuyết cực đại thấp nhất
Trang 24Thuyết này cũng có hạn chế là: (1) dễ dẫn tới chủ nghĩa bình quân, làm giảm động lực phấn đấu của nhóm người nghèo và giảm động cơ làm việc của nhóm có năng lực; (2) thuyết này vẫn chấp nhận một mức độ phân hoá thu nhập trong xã hội, miễn là cách phân phối đó làm tăng phúc lợi của nhóm người nghèo nhất
Tuy nhiên, nếu nới lỏng giả định về tổng thu nhập xã hội cố định, thì thuyết cực đại thấp nhất sẽ không còn đồng nhất với quan điểm bình quân đồng đều nữa Hãy xét một trường hợp trong đó người giàu A đang thuê người nghèo B làm việc cho mình Nếu chính phủ đánh thuế A để chuyển giao thu nhập cho B, nhưng điều đó lại khiến A đóng cửa sản xuất và sa thải B; và nếu thu nhập từ lương mà B được trả cao hơn trợ cấp nhận được từ chính phủ thì chính sách thuế này làm B bị thiệt Vì B
là đối tượng quan tâm duy nhất của thuyết cực đại thấp nhất nên thuyết này sẽ không đồng ý với một chương trình đánh thuế như vậy và sẵn sàng chấp nhận để A không bị đánh thuế
Như vậy, một chính sách làm tăng PLXH của nhóm nghèo nhất luôn được thuyết cực đại thấp nhất ủng hộ, cho dù chính sách đó có thể dẫn tới làm cho người giàu thì giàu thêm (bất bình đẳng tăng) Họ không ủng hộ chính sách đánh thuế mạnh đối với người giàu vì chính sách thuế đó có thể ảnh hưởng tới thu nhập của người nghèo Trong khi đó, chính sách này sẽ bị thuyết bình quân đồng đều phản đối vì gia tăng bất công (tăng chênh lệch thu nhập) trong nền kinh tế
4.3.4 Các quan điểm khác về phân phối lại thu nhập
Các lý thuyết phân phối lại thu nhập đã xem xét ở trên đều được đưa
ra dựa trên sở thích của các cá nhân Tuy nhiên, một số nhà kinh tế học cho rằng, phân phối thu nhập không nên phụ thuộc vào sở thích đó Vì vậy, những quan điểm này được gọi là quan điểm không dựa trên độ thoả dụng cá nhân
Họ cho rằng cần quan tâm đến một m ứ c s ố ng t ố i thi ể u mà tất cả mọi cá nhân trong xã hội có quyền được hưởng Mức sống đó không được xác định trực tiếp bằng thu nhập mà được xác định thông qua những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu như: lương thực thực phẩm, quần áo, nhà ở, giáo dục, y tế Chi phí cho những khoản tiêu dùng tối thiểu này sẽ được tập hợp lại rồi tính ra mức thu nhập tối thiểu Chính phủ giúp đỡ những cá nhân có
Trang 25thu nhập dưới mức tối thiểu thông qua các chương trình trợ cấp và an sinh xã hội
4.4 Nghèo đói và thước đo nghèo đói
4.4.1 Quan niệm về nghèo đói
Tại hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Băng Cốc - Thái Lan, năm 1993, định nghĩa “nghèo là tình tr ạ ng m ộ t b ộ
ph ậ n dân c ư không có kh ả n ă ng tho ả mãn nh ữ ng nhu c ầ u c ơ b ả n c ủ a con
ng ườ i mà nh ữ ng nhu c ầ u ấ y ph ụ thu ộ c vào trình độ phát tri ể n kinh t ế xã
h ộ i, phong t ụ c t ậ p quán c ủ a t ừ ng v ừ ng và nh ữ ng phong t ụ c t ậ p quán ấ y đượ c xã h ộ i th ừ a nh ậ n” 6
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (Copenhagen, Đan Mạch, 1995) định nghĩa người nghèo là tất cả những ai có thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại
Theo Ngân hàng thế giới, nghèo đ ói là s ự thi ế u h ụ t không th ể ch ấ p
nh ậ n đượ c trong phúc l ợ i xã h ộ i c ủ a con ng ườ i, bao g ồ m c ả khía c ạ nh sinh lý h ọ c và xã h ộ i h ọ c Thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng nhu cầu vật chất và sinh học như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục và nhà ở Thiếu hụt về mặt xã hội liên quan đến những khái niệm bình đẳng, rủi ro
và được tự chủ, tôn trọng trong xã hội
Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 định nghĩa nghèo đ ói là tình tr ạ ng
b ị thi ế u th ố n ở nhi ề u ph ươ ng di ệ n Thu nh ậ p h ạ n ch ế , thi ế u c ơ h ộ i t ạ o thu nh ậ p, thi ế u tài s ả n để đả m b ả o tiêu dùng trong nh ữ ng lúc khó kh ă n
và d ễ b ị t ổ n th ươ ng tr ướ c nh ữ ng độ t bi ế n b ấ t l ợ i, ít có kh ả n ă ng truy ề n
đạ t nhu c ầ u và nh ữ ng khó kh ă n t ớ i ng ườ i có kh ả n ă ng gi ả i quy ế t, ít đượ c tham gia vào quá trình ra quy ế t đị nh Đây là khái niệm được thừa nhận
và sử dụng rộng rãi ở Việt nam
Như vậy, có nhiều quan điểm về nghèo:
- Quan điểm xem xét nghèo trên phương diện thu nhập (không có đủ khả năng chi trả cho các nhu cầu cơ bản)
- Quan điểm xem xét nghèo trên phương diện phúc lợi xã hội (khó tiếp cận các dịch vụ)
Trang 26
- Quan điểm mới về nghèo không chỉ dựa vào thu nhập hay chi tiêu
mà liên quan tới cơ hội, người nghèo là người ít có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
Như vậy, tình trạng nghèo đói càng ngày càng được tiếp cận với phạm vi rộng hơn: trước kia nghèo là thiếu thốn trong tiêu dùng các nhu cầu cơ bản; sau đó nghèo là người khó tiếp cận các dịch vụ; và nghèo là
ít các cơ hội và dễ bị tổn thương
Nghèo thường gắn với các đối tượng dễ bị tổn thương Vậy, các nguy
cơ của tình trạng dễ bị tổn thương là:
- Các khía cạnh khác nhau của sự tổn thương: chính trị, kinh tế, xã hội
- Sự tổn thương phụ thuộc vào mức độ “phơi nhiễm” trước điều kiện tổn thương và mức độ nhạy cảm trước điều kiện tổn thương Ví dụ: những người nghèo, đồng bào dân tộc vùng cao, những người già, những người di cư từ nông thôn ra thành thị kiếm việc làm, những người khuyết tật và mắc bệnh HIV, là những người dễ bị tổn thương trước các cú sốc
về kinh tế (như lạm phát), về khí hậu (như bão lụt, thiên tai), về xã hội (như dịch bệnh)
- Tình trạng dễ bị tổn thương làm tăng nguy cơ rủi ro trong cuộc sống (người nghèo đối mặt với nguy cơ rủi ro từ lạm phát, từ thiên tai, dịch bệnh lớn hơn) Những rủi ro đó lại không được bảo hiểm (ví dụ ốm đau không có bảo hiểm y tế, không có tiền chữa bệnh nên phải bán tài sản để chữa bệnh) nên gây ra tình trạng giảm thu nhập, tiêu dùng hiện tại (đã nghèo còn nghèo hơn)
- Những biện pháp chống đỡ với rủi ro của những người bị tổn thương là tiết kiệm chi tiêu (sức khỏe kém, suy dinh dưỡng), tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh (không đi kiểm tra sức khỏe kể cả khi thấy những bất thường), cho con thôi học để đi làm kiếm thu nhập Điều đó càng làm cho họ giảm mức sống trong tương lai, rơi vào bẫy nghèo đói, tình trạng càng tệ hơn
Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và đòi hỏi sự nỗ lực tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để từng bước hạn chế và xóa bỏ nó ra khỏi đời sống dân cư Theo quan niệm truyền thống, nghèo là sự thiếu thốn về vật chất, sống với mức thu nhập
và tiêu dùng thấp, với đặc trưng là dinh dưỡng kém và điều kiện sống
Trang 27thiếu thốn Nhưng hiện nay hầu hết các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Liên hiệp quốc đều định nghĩa nghèo đói là đa chiều (không chỉ đơn chiều là thu nhập nữa) bao gồm các khía cạnh cơ bản sau:
- Sự khốn cùng về vật chất
- Sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế
- Có nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro (dễ bị rơi vào cảnh nghèo đói về thu nhập hoặc sức khỏe)
- Không có tiếng nói và quyền lực
4.4.2 Thước đo nghèo đói
Một thước đo nghèo đói được sử dụng phổ biến nhất để xác định tình trạng (quy mô) nghèo đói của một quốc gia là tỷ lệ nghèo đói - được xác định dựa trên công thức sau:
Tỷ lệ nghèo đói
Trong đó, một đối tượng được coi là người nghèo khi họ sống dưới
ng ưỡ ng nghèo Đây là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người
không nghèo Ngưỡng nghèo, được định nghĩa là lượng tiền taka hoặc
pêxô hoặc đôla nhất định có được trong một ngày để chi tiêu, phản ánh mức độ khốn cùng về vật chất, nhưng không phản ánh hết việc đảm bảo vấn đề sức khỏe và giáo dục cơ bản
Một gia đình có thể có đủ tiền để mua một rổ thực phẩm tối thiểu, nhưng chưa được sử dụng nước sạch, thức ăn không đảm bảo đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Theo ý nghĩa quan trọng này, tiếp cận nước sạch cùng với thu nhập bằng tiền được xem là nhân tố quyết định đói nghèo tuyệt đối Mức độ sẵn có của các dịch vụ công như chăm sóc sức khỏe và giáo dục cơ bản đều có thể có ảnh hưởng đến tình trạng đói nghèo hiện tại và kéo dài tình trạng đói nghèo qua các thế hệ Điều này không phụ thuộc vào mức tiêu dùng hiện tại
Một phương diện khác của đói nghèo là tình trạng dễ bị tổn thương trước những cú sốc bất lợi Chi tiêu trong một giai đoạn có thể đưa một gia đình lên trên ngưỡng nghèo; nhưng sau một thời gian, thiên tai, suy thoái kinh tế hoặc thậm chí bệnh tật hay sự qua đời của lao động chính trong gia đình đều có thể khiến gia đình này tái nghèo Các gia đình
Trang 28thường thoát nghèo rồi lại tái nghèo liên tục, do đó giảm mức độ tổn thương này mới có ý nghĩa thực sự trong việc cải thiện phúc lợi
Đói nghèo là một phạm trù đa diện và rất nhiều phương diện của nó có thể lượng hóa được Phương pháp được chú ý nhiều là lượng hóa đói nghèo theo thu nhập hoặc tiêu dùng Các nhà kinh tế học phát triển thường
sử dụng định nghĩa đói nghèo tuyệt đối khi xác định được một giá trị bằng tiền nhất định để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo
Hầu hết các nước đều xác định ngưỡng nghèo của riêng nước mình, thường dựa trên chi phí bình quân đầu người cho một rổ tiêu dùng tối thiểu thực phẩm và một vài hàng hóa thiết yếu khác Thực phẩm chiếm chủ đạo trong các rổ tiêu dùng này, vì nó chiếm từ 2/3 đến 3/4 tổng chi tiêu của người nghèo Ở nhiều nước thu nhập thấp, ngưỡng nghèo được xác định dựa trên mức thu nhập tiêu chuẩn cần thiết để có thể đảm bảo ít nhất 2.000 calo một ngày
Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo:
Ngưỡng nghèo tuyệt đối: là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là
tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh Ngưỡng nghèo này được xác định thông qua chi phí cho một giỏ tiêu dùng tối thiểu đảm bảo mức độ dinh dưỡng tốt cho con người Trên cơ sở
đó, có 2 ngưỡng nghèo tuyệt đối:
- Ng ưỡ ng nghèo l ươ ng th ự c th ự c ph ẩ m: ngưỡng nghèo đói ở mức thấp, được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế thế giới và các cơ quan tổ chức khác xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho thể trạng mỗi con người là 2.100Kcal/người/ngày
- Ng ưỡ ng nghèo chung: ngoài lương thực thực phẩm, có tính toán đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác
Ngưỡng nghèo tương đối: được xác định theo phân phối thu nhập
hoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng
Để so sánh mức độ nghèo đói giữa các quốc gia, Ngân hàng thế giới
đã tính toán ngưỡng nghèo tuyệt đối quốc tế (theo ngang giá sức mua)
cho các nước có thu nhập thấp là 1 đôla/người/ngày, cho các nước có thu nhập trung bình thấp là 2 đôla/người/ngày và cho các nước có thu nhập cao là 4 đôla/người/ngày
Trang 29Ở Việt Nam, việc phân tích và đánh giá tình trạng nghèo đói vẫn sử dụng một trong hai ngưỡng nghèo tuyệt đối Theo đó, ngưỡng nghèo được
áp dụng riêng cho từng khu vực căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và tình trạng giá
cả hàng hóa tiêu dùng ở các khu vực khác nhau Cụ thể, ngưỡng nghèo được xác định theo Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo:
Theo Việt nam chuẩn nghèo là dưới 200.000 đồng/ tháng cho khu vực nông thôn và 260.000 đồng/ tháng cho khu vực thành thị (giai đoạn 2006-2010)
Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21-9-2010 của Thủ tướng Chính phủ, mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định, những hộ có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng; Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị là từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định 59/2015QĐ-TTg ngày 19-11-2015 của Thủ tướng Chính phủ, mức chuẩn nghèo theo thu nhập, những hộ có thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (khu vực nông thôn), 900.000 đồng/ người/ tháng đối với khu vực thành thị; Hộ cận nghèo là những hộ
có mức thu nhập bình quân từ 1.000.000 đồng/người/tháng (khu vực nông thôn), từ 1.300.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị Sau khi đã lựa chọn ngưỡng nghèo, có rất nhiều cách để xác đị nh m ứ c nghèo tuy ệ t đố i Cách đơn giản nhất là báo cáo số người nằm dưới ngưỡng
nghèo Cách dễ hiểu không kém là dùng chỉ số đếm đầu, là tỉ lệ những
người sống dưới ngưỡng nghèo trên tổng dân số Cách thứ ba là dùng
khoảng nghèo, thước đo mô tả mức độ nghiêm trọng của đói nghèo Mức
độ nghiêm trọng của đói nghèo đề cập đến cả việc có bao nhiêu người nằm dưới ngưỡng nghèo lẫn việc họ cách ngưỡng này bao xa
T ỷ l ệ nghèo: là tỷ lệ phần trăm dân số dưới ngưỡng nghèo Con số này cho biết có bao nhiêu phần trăm người nghèo chứ không cho biết mức độ nghèo của họ đến đâu
Trang 30Kho ả ng nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người nghèo với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng nghèo Khi
so sánh các nhóm dân cư trong một nước, khoảng nghèo cho biết tính chất và mức độ của nghèo khổ khác nhau giữa các nhóm
Ch ỉ s ố nghèo kh ổ t ổ ng h ợ p (HPI - Human Poor Index) Chỉ số HPI còn được gọi là chỉ số nghèo tổng hợp, được Liên hiệp quốc sử dụng để đánh giá sự nghèo khổ của con người Giá trị HPI của một nước cho biết
sự nghèo khổ của con người sẽ ảnh hưởng tới bao nhiêu phần dân số của nước đó Khi đem so sánh chỉ số HPI với chỉ số HDI, người ta sẽ thấy được sự phân phối thành tựu có được của một nước Các nước có thể có HDI giống nhau nhưng giá trị HPI lại khác nhau
Chúng ta chủ yếu tập trung vào định nghĩa theo tiêu dùng và thu
nhập của đói nghèo tuyệt đối, nhưng điều quan trọng là phải nhận thức
được rằng đói nghèo là một phạm trù đa diện và khái niệm đầy đủ về sự nghèo khổ không thể phản ánh hết được nếu chỉ dùng thước đo thu nhập
4.5 Chương trình phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội
Phân phối lại thu nhập xã hội được thực hiện theo hai cách: Phân phối theo chiều dọc và phân phối theo chiều ngang Phân phối theo chiều ngang
là sự phân phối trong nhóm đối tượng có cùng cơ hội, điều kiện kinh tế nhằm chia sẻ rủi ro với nhau Người không gặp rủi ro sẽ chia sẻ cho những người gặp rủi ro thông qua cơ chế đóng góp tài chính chung Thông thường,
sự phân phối theo chiều ngang chỉ thực hiện trong nội bộ nhóm người tham gia nhất định (chủ yếu đối với những người lao động bằng việc đóng góp từ thu nhập) mà không bao phủ rộng với toàn thể dân chúng Hạn chế này được khắc phục bởi cơ chế phân phối theo chiều dọc Phân phối lại theo chiều dọc
là sự chuyển giao một phần thu nhập của người (nhóm người) có thu nhập cao, đời sống đầy đủ hơn cho nhóm người nghèo khổ, có khó khăn trong cuộc sống trên phạm vi toàn xã hội Sự phân phối này được thực hiện thông qua nhiều biện pháp kĩ thuật khác nhau dưới hình thức trực tiếp (chủ yếu là thu thuế trực thu, các biện pháp kiểm soát giá cả, thu nhập, lợi nhuận ) và gián tiếp (cung cấp dịch vụ về y tế, giáo dục, nhà ở, trợ cấp thực phẩm ) trên phạm vi rộng Và như vậy, phân phối theo chiều dọc đặc biệt có ý nghĩa trong hoạt động an sinh xã hội nhằm thiết lập hệ thống bảo vệ đối với toàn thể dân chúng, đặc biệt đối với những đối tượng “yếu thế” trong xã hội
Trang 31Trong nền kinh tế, Chính phủ đóng vai trò tích cực trong phân phối lại thu nhập, thực hiện sự chuyển giao tài chính giữa các bộ phận dân cư
có sự chênh lệch về thu nhập trong xã hội Những bộ phận dân cư có mức sống, thu nhập thấp hơn mức tối thiểu chính là “rào cản” của sự phát triển kinh tế và cần phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ để tồn tại và phát triển Các chương trình phân phối lại nhằm điều hoà lợi ích, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống dân cư thông qua các hình thức như các chương trình hỗ trợ công cộng, các chương trình bảo hiểm xã hội tạo thành h ệ th ố ng an sinh xã h ộ i trong nền kinh tế Qua việc thực hiện phân phối lại thu nhập
xã hội, an sinh xã hội góp phần đảm bảo công bằng xã hội, giảm khoảng cách giàu - nghèo giữa các bộ phận dân cư An sinh xã hội không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm thay thế thu nhập mà còn được nhìn nhận như những vectơ hỗn hợp của cái gọi là “những chuyển giao kinh tế” trong xã hội nhằm phân phối lại tiền bạc, của cải và các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm dân cư yếu thế hơn trong xã hội
4.5.1 Hệ thống an sinh xã hội
4.5.1.1 Quan ni ệ m v ề an sinh xã h ộ i
Theo nghĩa chung nhất, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng:
“An sinh xã h ộ i là s ự đả m b ả o th ự c hi ệ n quy ề n con ng ườ i đượ c s ố ng trong hoà bình, t ự do làm ă n, c ư trú, đượ c b ả o v ệ tr ướ c pháp lu ậ t, đượ c làm vi ệ c và ngh ỉ ng ơ i, đượ c ch ă m sóc y t ế và b ả o đả m thu nh ậ p”7
Ở phạm vi hẹp hơn - Tổ chức lao động quốc tế định nghĩa: “An sinh
xã h ộ i là s ự b ả o v ệ c ủ a xã h ộ i đố i v ớ i các thành viên c ủ a mình thông qua hàng lo ạ t các bi ệ n pháp công c ộ ng nh ằ m ch ố ng l ạ i tình c ả nh kh ố n khó
v ề kinh t ế và xã h ộ i gây ra b ở i tình tr ạ ng b ị ng ừ ng ho ặ c gi ả m sút đ áng k ể
v ề thu nh ậ p do ố m đ au, thai s ả n, th ươ ng t ậ t trong lao độ ng, th ấ t nghi ệ p, tàn t ậ t, tu ổ i già, t ử vong, s ự cung c ấ p v ề ch ă m sóc y t ế và c ả các kho ả n
ti ề n tr ợ giúp cho các gia đ ình đ ông con”8
Ngân hàng thế giới cho rằng: “An sinh xã h ộ i là t ổ ng h ợ p các bi ệ n pháp nh ằ m b ả o v ệ ho ặ c t ă ng c ườ ng ngu ồ n l ự c tr ợ giúp cho con ng ườ i,
7
“Intoduction to Social Security”- ILO, Giơnevơ 1992, page 22
Trang 32gia đ ình và c ộ ng đồ ng ch ố ng l ạ i nh ữ ng khó kh ă n m ộ t cách t ố t h ơ n khi
g ặ p nh ữ ng r ủ i ro”9
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), an sinh xã hội là “s ự b ả o v ệ con
ng ườ i khi không còn kh ả n ă ng t ạ o ra thu nh ậ p”10 Hay Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cũng đưa ra định nghĩa an sinh xã hội “là t ậ p h ợ p các chính sách và ch ươ ng trình nh ằ m gi ả m nghèo đ ói, l ệ thu ộ c b ằ ng vi ệ c thúc
đẩ y th ị tr ườ ng lao độ ng tích c ự c, gi ả m r ủ i ro và t ă ng c ườ ng n ă ng l ự c t ự
b ả o v ệ c ủ a ng ườ i lao độ ng ch ố ng l ạ i s ự gi ả m ho ặ c m ấ t thu nh ậ p”11 Như vậy, có nhiều cách tiếp cận an sinh xã hội với những phạm vi khác nhau nên các nhà kinh tế đều cho rằng an sinh xã hội là khái niệm rộng, bao gồm nhiều hình thức hỗ trợ của cộng đồng (về cả vật chất và tinh thần) cho các thành viên của xã hội khi gặp phải rủi ro, khó khăn, bất hạnh nhằm đảm bảo cuộc sống, ổn định và phát triển xã hội Vì thế, việc đưa ra định nghĩa cụ thể về an sinh xã hội là không đơn giản do phụ thuộc rất nhiều vào phạm vi nội dung, thời điểm thực hiện, góc độ tiếp cận vấn đề này
Tuy nhiên, về mặt bản chất, an sinh xã hội có vai trò thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội, điều hoà lợi ích, góp phần đảm bảo công bằng xã hội cho các công dân trong xã hội Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội Vì vậy, an sinh xã hội, xét về khía cạnh tạo ra “mạng lưới” bảo vệ các cá nhân trong xã hội thì gồm có ba hợp phần cơ bản:
- Các biện pháp nhằm nâng cao năng lực, bao gồm chủ yếu những chính sách vĩ mô, chiến lược phát triển và các biện pháp thể chế hỗ trợ Chúng giúp nâng cao vị thế xã hội và trao quyền cho những người yếu thế và những nhóm bị thiệt thòi
- Các biện pháp phòng ngừa, bao gồm các biện pháp trực tiếp để phòng ngừa sự bần cùng hoá Thông thường, các biện pháp phòng ngừa bao gồm hàng loạt các dịch vụ bảo hiểm xã hội và các dịch vụ khác, giúp cho người dân khỏi rơi vào khủng hoảng và cần đến sự cứu trợ xã hội
9
“Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hoá”, Bruno Palier Louis- Charles Viossat, Diễn
đàn kinh tế tài chính Việt - Pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003, tr.110 10
“The insurance role of social security: Theory and lesson for policy reform”, International Monetary Fund (IMF), Washington DC, 1997, page 3
11
Trang 33- Các biện pháp bảo vệ, bao gồm lưới an toàn theo nghĩa hẹp dành cho những đối tượng bị tổn thương thông qua các khoản quyên góp bằng tiền mặt, hiện vật hoặc những sự hỗ trợ ngắn hạn khác Các biện pháp này cũng như cứu trợ trong cơn nguy kịch (thiên tai, bệnh dịch ) Các biện pháp bảo vệ được áp dụng khi những biện pháp phòng ngừa không thể thành công trong thời điểm khủng hoảng
Xét theo các hình thức thực hiện thì an sinh xã hội bao gồm 3 chương trình được thực hiện bởi chính phủ như sau:
Thứ nhất các chương trình trợ cấp do chính phủ tài trợ nhằm vào
người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương (gồm trợ cấp bằng tiền, trợ cấp bằng hiện vật, trợ giá hàng hoá )
Thứ hai các chương trình bảo hiểm xã hội dựa trên cơ sở đóng góp
của những người tham gia như hưu trí, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo thu nhập và tiếp cận các dịch vụ cơ bản của các cá nhân trong xã hội
Thứ ba là các chính sách xã hội hỗ trợ cho việc tạo việc làm, hỗ trợ
thu nhập hoặc nhà ở cho những người thu nhập thấp, người thất nghiệp hoặc vùng có khó khăn Đây là những khoản hỗ trợ gián tiếp cho các cá nhân nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu hoặc tăng cường cơ hội tìm kiếm việc làm, cải thiện cuộc sống cho nhóm người thu nhập thấp
4.5.1.2 B ả n ch ấ t và tính t ấ t y ế u khách quan c ủ a an sinh xã h ộ i
Theo khái niệm an sinh xã hội ở trên, có thể thấy bản chất của an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng Tính tất yếu khách quan của ASXH còn thể hiện ở những khía cạnh sau:
Th ứ nh ấ t, ASXH là bi ể u hi ệ n rõ r ệ t c ủ a quy ề n con ng ườ i đã được Liên hợp quốc thừa nhận Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả gọi chung là những biến cố
và những “rủi ro xã hội” Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công
Trang 34bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau
Th ứ hai, ASXH th ể hi ệ n ch ủ ngh ĩ a nhân đạ o cao đẹ p Mỗi người trong xã hội từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khác nhau là những hiểu hiện khác nhau của một hệ thống giá trị xã hội Nhưng vượt lên trên tất cả, với tư cách là một công dân, họ phải được bảo đảm mọi mặt để phát huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị
xã hội, chủng tộc, tôn giáo ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp họ hướng tới những chuẩn mực của Chân - Thiện - Mỹ Nhờ đó, một mặt có thể chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng” ASXH là yếu
tố tạo nên sự hòa đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội Đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên
Th ứ ba, ASXH th ự c hi ệ n m ộ t ph ầ n công b ằ ng và ti ế n b ộ xã h ộ i. Trên bình diện xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội Trên giác độ kinh tế, ASXH
là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh
và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình Một bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thuế, còn bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác định Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một
“tập hợp đóng” tương đối)
Trang 35Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những nhóm người “yếu thế” Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thu nhập và lợi nhuận ) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặc các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em ) Việc phân phối lại theo chiều dọc có
ý nghĩa xã hội rất lớn (thực hiện cho một “tập hợp mở” tương đối)
ASXH góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Đến nay người ta đã ý thức được rằng, sự phát triển của xã hội là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau Sự phát triển của thế giới trong những năm gần đây đặt ra mục tiêu là bảo đảm những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại những lợi ích cho mọi người; bảo đảm phân phối công bằng hơn về thu nhập và của cải, tiến tới công bằng xã hội; đạt được hiệu quả sản xuất, bảo đảm việc làm, mở rộng và cải thiện về thu nhập giáo dục và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường Đáp ứng những nhu cầu tối cần thiết cho những người gặp khó khăn, bất hạnh là vấn đề được ưu tiên trong chiến lược phát triển của thế giới Những lưới đầu tiên của ASXH đã bảo vệ, giảm bớt sự khó khăn cho họ Sự phát triển sau này của những lưới khác tạo ra sự đa dạng trong ASXH, giải quyết được những nhu cầu khác nhau của nhiều nhóm người trong những trường hợp “rủi ro xã hội” Tuy nhiên, phải thấy rằng, ASXH không loại trừ được sự nghèo túng mà chỉ
có tác dụng góp phần đẩy lùi nghèo túng, góp phần vào việc thúc đẩy tiến
bộ xã hội
4.5.1.3 Th ế nào là m ộ t h ệ th ố ng an sinh xã h ộ i t ố t?
Theo Ngân hàng thế giới đề cập trong cuốn “Về bảo trợ và thúc đẩy
xã hội - Thiết kế và triển khai các mạng lưới an sinh hiệu quả”, một hệ thống an sinh xã hội tốt cần phải đảm bảo các tiêu chí sau:
Thứ nhất là phù hợp Các chương trình được sử dụng và sự cân đối
giữa chúng cùng các yếu tố khác của chính sách công phải đáp ứng được nhu cầu cụ thể của quốc gia, vùng miền Mỗi chương trình phải được tùy biến để phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Như vậy, việc thực thi các chương trình an sinh xã hội cần phải được đặt trong bối cảnh
Trang 36và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nơi áp dụng các chương trình an sinh xã hội nói riêng
Thứ hai là đủ Hệ thống an sinh xã hội phải bao hàm tất cả các nhóm
đối tượng khác nhau cần hỗ trợ, từ những người nghèo kinh niên, người nghèo tạm thời cho tới những người bị ảnh hưởng bởi cải cách, cùng với các nhóm nhỏ của những đối tượng này Từng chương trình cụ thể phải tiếp cận được đầy đủ và cung cấp những hỗ trợ có ý nghĩa cho bất kỳ nhóm dân cư nào mà chương trình được thiết kế ra để hỗ trợ Tức là, chương trình an sinh xã hội phải được thiết kế để bảo đảm mức độ che phủ cao cho tất cả các nhóm đối tượng cần sự trợ giúp, chứ không chỉ riêng một nhóm nhỏ nào
Thứ ba là công bằng An sinh xã hội với mục tiêu giúp đỡ các đối tượng dễ bị tổn thương để đảm bảo một sự bình đẳng hơn trong xã hội Không những vậy, hệ thống an sinh được thiết kế cũng phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, theo cả hai khía cạnh: công bằng ngang và công bằng dọc Nói cách khác, mạng lưới an sinh phải đối xử như nhau với các đối tượng thụ hưởng có cùng điều kiện giống nhau, và có chế độ đối xử khác đối với các đối tượng thụ hưởng đặc biệt
Thứ tư là hiệu quả về chi phí Để đạt được tiêu chí này, các chương trình an sinh được thiết kế phải tiết kiệm chi phí quản lý, dành tối đa nguồn lực cho nhóm đối tượng chủ định Muốn vậy, các chương trình cần phải tránh sự manh mún, rời rạc, tạo ra những chi phí không cần thiết Ngoài ra, chương trình trợ giúp cần hoạt động với hiệu suất cao, với nguồn lực tối thiểu để đạt được tác động mong muốn, song vẫn đảm bảo
đủ nguồn lực để thực hiện tốt các chức năng của chương trình
Thứ năm là khuyến khích thích hợp Các mạng lưới an sinh xã hội
có thể làm thay đổi hành vi của đối tượng thụ hưởng theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Do đó, khi thiết kế các chương trình, các nhà hoạch định phải nghiên cứu cả những biến đổi hành vi mà mỗi chương chình có thể tác động đến đối tượng để có những biện pháp hỗ trợ thích hợp Thay vì trực tiếp mang cá cho người nghèo, các chương trình cần có những biện pháp hỗ trợ để họ có thể tự câu được cá để ăn Vì vậy, các chương trình
an sinh xã hội dành cho người nghèo thường quan tâm tới những khuyến
Trang 37khích nhằm giúp người nghèo tự thoát nghèo hơn là một sự trợ giúp đơn thuần bằng vật chất
Thứ sáu là bền vững Các hệ thống an sinh xã hội thận trọng có tài
chính ổn định, vì chúng được cân đối với những lĩnh vực khác nhau trong chi tiêu chính phủ Từng chương trình cụ thể phải bền vững cả về tài chính lẫn chính trị để tránh việc chương trình phải trải qua những chu trình khởi động/dừng, bởi sẽ rất nhiều cơ hội để quản lý hiệu quả và đạt được những mục tiêu mà chương trình đề xướng và xúc tiến Ở những nước có thu nhập thấp, các chương trình được khởi động với trợ cấp của nhà tài trợ dần dần được lồng ghép vào với khu vực công
Thứ bảy là tính động (khả năng thay đổi) Một hệ thống an sinh tốt
sẽ tiến triển theo thời gian Cấu trúc phù hợp của các chương trình hỗ trợ
sẽ thay đổi theo tốc độ tăng trưởng và sự thay đổi của nền kinh tế, khi những yếu tố chính sách khác có thay đổi hoặc khi có cải cách hay cú sốc Việc quản lý các chương trình cụ thể cũng phải tiến triển trong quá trình giải quyết vấn đề và đề ra các tiêu chuẩn mới
Thứ tám là chất lượng Chất lượng của một hệ thống an sinh phần
nhiều nằm ở cơ cấu tổ chức thực hiện chương trình Một chương trình hỗ trợ đầy đủ ít nhất phải có một hệ thống đăng ký đối tượng thụ hưởng, chế độ chi trả (thanh toán) trợ cấp cho đối tượng thụ hưởng, và quy trình loại bỏ các đối tượng thụ hưởng không còn phù hợp ra khỏi danh sách Ngoài ra, cần có một cơ chế giải quyết khiếu nại, đánh giá, giám sát kết quả xác định đối tượng thường kỳ Các chức năng giám sát và đánh giá sẽ rất quan trọng khi chương trình hỗ trợ phức tạp hơn, lớn hơn hoặc kéo dài hơn
4.5.2 Hệ thống an sinh xã hội ở Việt nam
Hệ thống an sinh của Việt Nam hiện nay gồm được chia làm 3 nhóm:
- Nhóm các chế độ về bảo hiểm xã hội: gồm bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện quan niệm trên nguyên tắc có đóng thì có hưởng và cùng chia sẻ rủi ro Đối tượng tham gia là những người lao động theo quy định, các mức đóng góp tạo nên một quỹ chung Các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp phải các sự cố và đủ điều kiện
để hưởng Mọi chi phí cho các chế độ được chi trả bởi nguồn quỹ chung
- Nhóm các chế độ về trợ cấp xã hội: bao gồm các chế độ cứu trợ xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do gặp phải
Trang 38những rủi ro trong cuộc sống Nguồn chi trả cho các chế độ trợ cấp xã hội được lấy từ ngân sách Nhà nước
- Nhóm các chương trình xã hội khác: bao gồm chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình y tế (phòng, chữa bệnh, y tế cộng đồng ) và gồm cả các loại quỹ tiết kiệm và các loại bảo hiểm khác
Trong hệ thống ASXH thì Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bảo hiểm y
tế (BHYT) là nòng cốt trên cơ sở nguyên tắc ba bên cùng tham gia (người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước) để giảm bớt gánh nặng của ngân sách nhà nước và hướng đến xã hội hóa các hoạt động ASXH, phù hợp với quá trình chuyển đổi từ thực hiện ASXH theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, phân phối bình quân, hoàn toàn do Nhà nước đảm nhiệm, sang mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN
V ề BHXH, hiện có hai loại là BHXH b ắ t bu ộ c (được áp dụng cho khu vực chính thức, gồm người lao động trong các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên) và BHXH t ự nguy ệ n (do người lao động tự nguyện, có mức đóng góp thấp, phù hợp với khả năng thu nhập nên mức hưởng thụ cũng thấp)
V ề BHYT, gồm BHYT b ắ t bu ộ c (áp dụng cho người lao động trong khu vực chính thức); BHYT t ự nguy ệ n (áp dụng cho các đối tượng học sinh, sinh viên và mọi người dân); BHYT ng ườ i nghèo (người nghèo được Nhà nước cấp thẻ BHYT)
Ngoài ra còn có các chương trình ASXH không dựa trên sự đóng góp của người dân như Tr ợ giúp xã h ộ i (gồm trợ giúp xã hội thường xuyên, trợ giúp xã hội đột xuất) Nhà nước tạo cơ chế để hình thành nhiều loại quỹ xã hội, nhân đạo, từ thiện để trợ giúp các đối tượng xã hội như “Quỹ
vì người nghèo”, “Quỹ tấm lòng vàng”, “Quỹ nạn nhân chất độc da cam”, “Quỹ bảo trợ trẻ em”, các quỹ của Hội chữ thập đỏ Khi có thiên tai và rủi ro xảy ra, ngoài sự trợ giúp của các địa phương và người dân tại địa bàn, Nhà nước có chính sách trợ giúp xã hội đột xuất để nhanh chóng
ổn định sản xuất và đời sống cho các thành viên trong xã hội
Trong hệ thống chính sách ASXH của Việt Nam còn có Chính sách
th ị tr ườ ng lao độ ng, gồm hai nhóm chính là chính sách tín dụng và chính
Trang 39sách xuất khẩu lao động nhằm hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, người khuyết tật, người đi xuất khẩu lao động, người lao động bị mất việc làm Chính sách ASXH còn được kết hợp chặt chẽ với các chương trình, chính sách xã hội khác như Ch ươ ng trình xóa đ ói, gi ả m nghèo,Chính sách v ớ i ng ườ i có công, Chính sách ti ế p c ậ n các d ị ch v ụ xã h ộ i c ơ b ả n và
d ị ch v ụ cá nhân như nhà ở, giáo dục, y tế, chăm sóc trẻ em cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, dễ bị tổn thương
Như vậy, có thể nói hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam với các hình thức đa dạng, không chỉ giới hạn trong việc phân phối lại thu nhập và trợ cấp để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho người dân, mà đang trở thành phương tiện phòng tránh và bảo vệ cá nhân trước những rủi ro và sự yếu thế Đồng thời an sinh xã hội có độ bao phủ rộng, đang hướng tới bảo đảm công bằng trong các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng, nhằm bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ về cuộc sống
và đầu tư trong tương lai
4.5.2.1 B ả o hi ể m xã h ộ i
Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là s ự b ả o đả m thay th ế ho ặ c bù đắ p m ộ t ph ầ n thu
nh ậ p cho ng ườ i lao độ ng khi h ọ m ấ t ho ặ c gi ả m kho ả n thu nh ậ p t ừ ngh ề nghi ệ p do b ị m ấ t ho ặ c gi ả m kh ả n ă ng lao độ ng ho ặ c m ấ t vi ệ c làm, thông qua vi ệ c hình thành và s ử d ụ ng m ộ t qu ỹ tài chính do s ự đ óng góp c ủ a các bên tham gia b ả o hi ể m xã h ộ i, nh ằ m góp ph ầ n b ả o đả m an toàn đờ i s ố ng
c ủ a ng ườ i lao độ ng và gia đ ình h ọ ; đồ ng th ờ i góp ph ầ n b ả o đả m an toàn
xã h ộ i
BHXH bao gồm các chương trình được thiết kế để người lao động có thể duy trì ở mức tối thiểu chất lượng cuộc sống trong giai đoạn làm việc cũng như không làm việc trong chu kỳ sống của họ
BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế
độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế
độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao
Trang 40động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH Nguyên tắc của bảo hiểm là đảm bảo thay thế hay bù đắp một phần thu nhập cho người dân khi họ gặp rủi ro trong đời sống (như ốm đau, tai nạn, thất nghiệp ) Do vậy, quỹ BHXH được hình thành thông qua việc đóng góp thường xuyên một khoản tiền (phí bảo hiểm) cho tổ chức (nhà nước hoặc tư nhân) tương ứng với xác suất xảy ra và chi phí của rủi ro liên quan
Có các loại hình bảo hiểm xã hội và cơ chế đóng góp như sau:
người lao động, chủ sử dụng lao động, lãi đầu tư
và thuế BHXH tự
khu vực chính thức (có hợp đồng lao động)
Bắt buộc Đóng góp
khu vực chính thức (có hợp đồng lao động) và người dân
Bắt buộc Đóng góp
Ở Việt Nam, theo Luật BHXH thì BHXH là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc