1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o bé quèc phßng

125 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bé Giáo Dục Và Đào Tạo Bé Quêc Phòng
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nguyên tắc chỉ đạo việc rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học phần Sinh thái học Sinh học 12.... Cơ sở khoa học của các nguyên tắc chỉ đạo việc rèn luyệ

Trang 1

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Kết quả điều tra về ý thức học tập và phương pháp học môn

Sinh học của học sinh 15

Bảng 1.2: Sử dụng các phương pháp dạy học Sinh học, Trung học phổ thông của giáo viên 17

Bảng 1.3: Kết quả điều tra hiểu biết của giáo viên về các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức và sử dụng các biện pháp này trong dạy học Sinh học 19

Bảng 2.1: So sánh các dạng biến động số lượng cá thể của quần thể 30

Bảng 2.2: So sánh quần thể và quần xã 31

Bảng 2.3: Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật 34

Bảng 2.4: So sánh hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân tạo 35

Bảng 2.5: Đặc điểm của thực vật do tác động của nhiệt độ và ý nghĩa của các đặc điểm 51

Bảng 2.6: Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ tới sự sinh trưởng và phát triển của thực vật 52

Bảng 3.1: Các bài dạy thực nghiệm 85

Bảng 3.2: Các tham số đặc trưng qua 4 lần kiểm tra trong thực nghiệm 96

Bảng 3.3: Phân loại trình độ học sinh qua các lần kiểm tra trong thực nghiệm 97 Bảng 3.4: Phân phối tần số, tần suất và tần suất tích luỹ kết quả kiểm tra cả 4 lần 98 Bảng 3.5: Kết quả lĩnh hội kiến thức của học sinh qua lần kiểm tra 5 (sau thực nghiệm) 99

Bảng 3.6: So sánh kết quả lần kiểm tra sau thực nghiệm 100

Bảng 3.7: Phân phối tần số, tần suất và tần suất tích luỹ kết quả kiểm tra 101

Trang 2

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc chương trình phần Sinh thái học, Trung học phổ thông 14

Hình 2.1: Sơ đồ quy trình rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh 24

Hình 2.2: Sơ đồ quá trình diễn thế sinh thái ở đầm nước nông 29

Hình 2.3: Sơ đồ nội dung khái niệm quần thể 38

Hình 2.4: Sơ đồ quá trình diễn thế sinh thái 39

Hình 2.5: Sơ đồ mối quan hệ giữa các loài trong quần xã 39

Hình 2.6: Bản đồ tư duy bài "Mối quan hệ dinh dưỡng" 43

Hình 2.7: Sơ đồ mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể 44

Hình 2.8: Sơ đồ các loại môi trường 45

Hình 2.9: Sơ đồ các nhân tố sinh thái 46

Hình 2.10: Sơ đồ hệ thống hoá kiến thức chương “Cơ thể và môi trường” 47

Hình 2.11: Sơ đồ hệ thống hoá kiến thức chương "Hệ sinh thái" 53

Hình 2.12: Sơ đồ hệ thống hoá kiến thức chương "Hệ sinh thái" theo bản đồ tư duy 53

Hình 2.13: Sơ đồ hệ thống hoá kiến thức bài "Hệ sinh thái" theo sơ đồ tư duy 54

Hình 2.14: Sơ đồ lưới thức ăn trong một quần xã 55

Hình 2.15: Sơ đồ hệ thống hoá kiến thức lưới thức ăn trong một quần xã 55

Hình 3.1: Sơ đồ chuỗi thức ăn 93

Hình 3.2: Sơ đồ chuỗi thức ăn 93

Hình 3.3: Sơ đồ chuỗi thức ăn 94

Hình 3.4: Biểu đồ tỉ lệ phần trăm điểm trung bình, khá, giỏi của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 98

Hình 3.5: Đồ thị đường phân bố tần suất 99

Hình 3.6: Đồ thị đường phân bố tần suất tích lũy (hội tụ lùi ωi (≤)%) 99

Hình 3.7: Biểu đồ đường phân bố tần suất 101

Hình 3.8: Đồ thị đường phân bố tần suất tích luỹ (hội tụ lùi ωi (≤)) 102

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Danh mục các bảng ii

Danh mục các biểu đồ Iii MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 7

1.1.1 Khái niệm kĩ năng hệ thống hóa kiến thức 7

1.1.2 Phân loại các kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học 9 1.1.3 Vai trò của kĩ năng hệ thống hóa kiến thức 10

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 11

1.2.1 Đặc trưng cơ bản của môn Sinh học 11

1.2.2 Phân tích cấu trúc nội dung phần Sinh thái học - chương trình Sinh học phổ thông 12

1.2.3 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức trong dạy và học Sinh học 12 15

1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học và học Sinh học 12 20

Chương 2: KỸ NĂNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC, SINH HỌC 12 22

2.1 Một số nguyên tắc chỉ đạo việc rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) 22

2.1.1 Cơ sở khoa học của các nguyên tắc chỉ đạo việc rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) 22 2.1.2 Các nguyên tắc chỉ đạo việc rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) 22

2.2 Xây dựng quy trình rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh 24

2.3 Biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh 25

Trang 4

trong quá trình dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

2.3.1 Biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc, phân tích sách giáo khoa, tài liệu tham khảo 25

2.3.2 Biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng các thao tác tư duy (phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh) 28

2.3.3 Rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích tranh ảnh, hình vẽ 31

2.3.4 Biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích các bảng biểu cho sẵn 33

2.3.5 Rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích tranh sơ đồ, sơ đồ logic 35

2.3.6 Rèn luyện kỹ năng lập bản đồ tư duy 39

2.4 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trong dạy học Sinh thái học (Sinh học 12) 43

2.4.1 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong nghiên cứu tài liệu mới 43

2.4.2 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức để điều khiển quá trình dạy học 48

2.4.3 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức để tổ chức hoạt động học tập 48

2.4.4 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức để củng cố, vận dụng và nâng cao kiến thức 50

2.4.5 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức để tổ chức hoạt động tự học ở nhà của học sinh 54

2.4.6 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức để kiểm tra đánh giá 55

2.5 Một số giáo án rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trong dạy học phần Sinh thái học, Sinh học 12, Trung học phổ thông 56 Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85

3.1 Mục đích thực nghiệm 85

3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 85

3.2.1 Nội dung thực nghiệm 85

Trang 5

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 85

3.3 Kết quả thực nghiệm 89

3.3.1 Đánh giá kết quả định tính 89

3.3.2 Đánh giá kết quả định lượng 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

1 Kết luận 103

2 Khuyến nghị 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 107

Trang 6

Hệ thống hoá là một trong các biện pháp, thao tác tư duy logic quan trọng, đạt hiệu quả cao trong nghiên cứu và dạy học Sinh thái học Hệ thống hóa là thao tác được thực hiện nhằm gia công, xử lý những tài liệu đã được qua giai đoạn phân tích - tổng hợp, so sánh, đối chiếu để từ đó rút ra những kết luận khái quát, có tính quy luật của sự vận động đối tượng nghiên cứu Việc hệ thống hóa còn có tác dụng làm phong phú thêm kiến thức đã học bằng một tư tưởng mới, xem xét các vấn đề đã học dưới góc độ mới Điều

đó rất có ý nghĩa, người học không chỉ cũng cố những điều đã học mà còn

có thể sắp xếp chúng thành hệ thống chặt chẽ và lý giải được ý nghĩa sâu xa của kiến thức Bởi vậy rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa trong dạy học có vị trí quan trọng trong phát triển năng lực tư duy lý thuyết cho học sinh

Phần Sinh thái học trong chương trình Sinh học 12 là nội dung sau cùng của chương trình Sinh học trung học phổ thông Sinh thái học được học tiếp sau các nội dung về thực vật, động vật, sinh lí học, di truyền và tiến hoá Sinh thái học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường ở các cấp độ tổ

Trang 7

chức sống từ cơ thể tới quần thể, quần xã Sinh thái học có nội dung rất rộng và mang tính thực tiễn cao Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên nội dung kiến thức trong sách giáo khoa chỉ tập trung vào những kiến thức cơ bản nhất, với những

ví dụ điển hình và đơn giản hoá những vấn đề phức tạp Để học tốt phần này học sinh cần hệ thống hoá và vận dụng những kiến thức đã học vào giải thích

và minh hoạ cho bài học, đồng thời liên hệ với thực tiễn cuộc sống để trả lời các câu hỏi và bài tập

Thực trạng trong dạy học Sinh thái học ở các trường phổ thông trung học việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh chưa được chú trọng đúng mức Qua điều tra và tìm hiểu, tình hình rèn kĩ năng hệ thống hóa kiến thức ở học sinh còn yếu, giáo viên chưa quan tâm đầy đủ để rèn luyện kĩ năng này cho học sinh

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh trong dạy học phần Sinh thái học, Sinh học 12, Trung học phổ thông”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đưa ra quy trình và biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) nhằm nâng cao chất lượng dạy - học

3 Phạm vi nghiên cứu

Rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho người học trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12), Trung học phổ thông

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và biện pháp rèn kĩ năng hệ thống hoá

kiến thức trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

4.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

5 Giả thuyết khoa học

Trang 8

Những quy trình và biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) mà đề tài đề xuất, sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức và phát triển tư duy

6 Lịch sử nghiên cứu

Hệ thống hoá kiến thức có cơ sở khoa học là lý thuyết Graph ra đời cách đây hơn 200 năm Ngày nay, Graph đã xâm nhập một cách hữu cơ với các mức độ khác nhau vào hầu hết khoa học hiện đại và mạng lại hiệu quả thiết thực trong khoa học giáo dục

Trên thế giới, quan điểm hệ thống và cấu trúc hệ thống đã được đề cập trong Triết học với các đại biểu như: Ph Ăngghen, V I Lênin, Miller Trong các lĩnh vực khoa học khác và lĩnh vực khoa học Sinh học đã có rất nhiều nhà khoa học đề cập đến bản chất, vai trò của nó đối với nhận thức, tiếp cận cấu trúc hệ thống

Năm 1945 L V Bertalanffy đưa ra “Lý thuyết chung của các hệ thống”

để mô tả các hệ thống mở và mô tả cánc trạng thái cân bằng động [25]

Tony Buzan đã viết 92 đầu sách, dịch 30 thứ tiếng và hơn 3 triệu bản tại 125 quốc gia trên thế giới Trong đó, ông khẳng định một trong những công cụ để hệ thống hoá kiến thức là bản đồ tư duy [5]

Đến những năm 70 của thế kỉ XX, trong các tài liệu lí luận dạy học của nước Pháp đã đề cập đến dùng phương pháp Graph để rèn luyện tính chủ động, tích cực của học sinh Tuy nhiên, việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh chưa được đề cập nghiên cứu một cách thoả đáng cả về lí thuyết và thực tiễn

Ở Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu về việc giúp người học rèn kĩ năng hệ thống hoá kiến thức Đó là những công trình nghiên cứu, vận dụng việc xây dựng bảng hệ thống, sơ đồ hệ thống tạo nên một kho dự trữ thông tin có ý nghĩa rất lớn trong dạy học và đã phát huy được tính tích cực trong lĩnh hội tri thức của người học Hiện nay, có nhiều tài liệu được trình bày có hệ thống có thể vận dụng tốt trong dạy học môn Sinh học của các tác

Trang 9

giả: Nguyễn Công Minh, Nguyễn Thu Hoà, Vũ Đức Lưu, Đặng Hữu Lanh, Lê Đình Trung, Lê Văn Liệu Bên cạnh đó, các luận văn thạc sĩ: “Xây dựng và

sử dụng bảng hệ thống trong dạy học Sinh học 10” của Trần Hoàng Xuân (2003); “Ứng dụng nghiên cứu lí thuyết Graph xây dựng và sử dụng sơ đồ để

tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Sinh học trung học phổ thông” của Phạm Thị My (2000); “Xây dựng và sử dụng một số dạng sơ

đồ trong dạy học Sinh thái học lớp 11, trung học phổ thông” của Phan Thị Thanh Hội (2000); “Rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh trong dạy học tiến hoá” của Nguyễn Xuân Hồng (2003); “Rèn luyện kĩ năng

hệ thống hoá kiến thức cho học sinh lớp 11, trung học phổ thông trong dạy học Sinh học” của Nguyễn Thị Hoà (2008); “Rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh trong dạy học phần tiến hoá Sinh học 12, Trung học phổ thông” của Đinh Thị Hà (2011)

Tuy nhiên, cho đến nay trong chương trình Sinh học mới, đặc biệt phần Sinh thái học, Sinh học 12 chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận việc rèn luyện kĩ năng học tập nói chung và

kĩ năng hệ thống hoá kiến thức nói riêng cho học sinh

- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trong dạy học Sinh học ở một số trường trung học phổ thông ở Hà Nội

- Xác định hệ thống nguyên tắc cơ bản trong việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh trong quá trình dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

- Đề xuất quy trình và biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

Trang 10

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả của quy trình và biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trong quá trình dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) do luận văn đề xuất

8 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phân tích và hệ thống hoá cơ sở lí luận về việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu việc rèn luyện luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trong quá trình học môn Sinh học ở một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội

- Phân tích chương trình, nội dung kiến thức trong sách giáo khoa Sinh học 12

- Dự giờ và trao đổi trực tiếp với giáo viên, tham khảo ý kiến của giáo viên dạy môn sinh học

- Tham gia ý kiến của những chuyên gia có kinh nghiệm về phương pháp dạy học

* Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành thực nghiệm dạy học ở 2 nhóm (lớp thực nghiệm và đối chứng) để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của các quy trình và biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

- Phân tích chất lượng câu trả lời câu hỏi của học sinh để thấy rõ vai trò của việc hệ thống hoá về kiến thức cho người học

- Xử lí số liệu bằng các phương pháp thống kê toán học để đánh giá mặt định lượng kết quả thu được

9 Đóng góp mới của đề tài

Trang 11

- Hệ thống hóa được cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho người học

- Đề xuất được quy trình và các biện pháp cụ thể hình thành kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Các biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

- Hệ thống: là khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết hệ thống, nó được

hình thành và phát triển trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử triết học

Ở thế kỷ XIX, Hegel đã giải thích một cách biện chứng lịch sử phát triển của sự vật, hiện tượng như là một quá trình năng động Quan điểm lý thuyết này đã được L V Bertalanffy - nhà sinh vật học sử dụng cho các lĩnh vực nghiên cứu được gọi là “hệ thống lý thuyết chung” như một lĩnh vực đa ngành Khái niệm “Hệ thống” là khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết hệ

thống Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm Hệ thống

Theo L V Bertalanffy xác định: “Hệ thống là tập hợp các yếu tố liên kết với nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất và tương tác với môi trường” [25]

Hoàng Tụy đã định nghĩa “Hệ thống tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp” [22]

Theo Dương Tiến Sỹ, khái niệm hệ thống được hiểu là “Một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mỗi quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở thành một chỉnh thể trọn vẹn” [19]

Theo Từ điển tiếng Việt, “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất” [23]

Nhìn chung, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong những hệ thống nhất định, có nghĩa là các hệ thống tồn tại một cách khách quan Tuy nhiên, định nghĩa Hệ thống lại mang tính chủ quan tùy theo từng cách tiếp cận, điều

đó giải thích vì sao có nhiều định nghĩa khác nhau về Hệ thống

Trang 13

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “Hệ thống”, nhưng những định nghĩa đó đều có những điểm chung đó là tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể có những thuộc tính và tính quy luật tổng hợp Điều cơ bản nhất của hệ thống đó là các yếu tố liên hệ

và quan hệ với nhau theo những quy luật xác định của tự nhiên Chính những mối quan hệ này đã tạo nên những tính chất khác nhau của các hệ thống

- Hệ thống hóa kiến thức: là việc mà người ta làm cho các sự vật, hiện

tượng, đối tượng trở nên có hệ thống

Trong dạy học, khi học nội dung nào đó người ta xâu chuỗi các nội dung lại thành một tổ hợp hệ thống logic gọi là Hệ thống hóa kiến thức

Việc hệ thống hoá kiến thức phải dựa trên quan điểm tiếp cận hệ thống

và được trình bày theo một logic nhất định

Hoạt động tư duy hệ thống hoá được thực hiện trong quá trình học tập dưới hai hình thức:

+ Phân chia toàn thể các đối tượng riêng lẻ nào đó ra các nhóm hoặc các lớp nhất định

+ Xếp đặt tài liệu học tập vào các hệ thống nhất định nào đó

1.1.1.2 Kỹ năng

- Kĩ năng: là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một

hoàn cảnh, điều kiện nhất định, để đạt được một chỉ tiêu nhất định [23]

Thực chất của sự hình thành kỹ năng học tập là tạo điều kiện cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp, với các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong nhiệm vụ học tập và đối chiếu chúng với hành động cụ thể Vì vậy, muốn hình thành kỹ năng (chủ yếu là kỹ năng học tập) cho học sinh, thì giáo viên cần:

+ Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã biết, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng

+ Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, đối tượng cùng loại

Trang 14

+ Xác lập mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến

thức tương ứng

- Kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong học tập: là khả năng vận dụng

thành thạo các thao tác tư duy để sắp xếp kiến thức đã học vào những trật tự logic chặt chẽ khác nhau tùy theo mục đích hệ thống

1.1.2 Phân loại các kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học

1.1.2.1 Phân loại theo kí hiệu sơ đồ

- Hình vẽ lược

- Hệ thống hóa theo nội dung

+ Mô hình hóa cấu trúc

1.1.2.2 Phân loại theo nội dung

1.1.2.3 Phân loại theo các khâu của quá trình dạy học

- Nghiên cứu tài liệu mới

- Củng cố, khái quát kiến thức

- Kiểm tra đánh giá

1.1.2.4 Phân loại theo mục tiêu dạy học

- So sánh

- Khái quát hóa

- Hệ thống hóa

1.1.2.5 Phân loại theo mức độ hoàn thiện kiến thức

- Sơ đồ khuyết thiếu

- Sơ đồ câm

- Sơ đồ bất hợp lí

Trang 15

1.1.3.Vai trò của kĩ năng hệ thống hóa kiến thức

Trong dạy học, việc hệ thống hóa kiến thức được sử dụng để giáo viên

hệ thống một nội dung nào đó Đồng thời, giáo viên tổ chức cho học sinh nghiên cứu các nguồn tài liệu và diễn đạt những thông tin đọc được, gia công

nó theo một hướng nhất định để rút ra được những mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật, hiện tượng Vì vậy, trong quá trình dạy học việc hệ thống hoá kiến thức giúp cho học sinh rèn luyện được những phẩm chất trí tuệ sau:

- Khi ghi chép thông tin, đọc thông tin và ôn bài dưới dạng hệ thống hoá sẽ tiết kiệm được thời gian học tập

- Hệ thống hoá kiến thức giúp người học tăng cường tập trung và nhận biết thông tin chính của bài học

- Hệ thống hoá kiến thức giúp người học cải thiện được sức sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung vào những từ khóa thiết yếu

- Hệ thống hoá kiến thức giúp người học tạo mối liên kết mạch lạc, tối

hệ thống hoá kiến thức một phạm vi kiến thức nào đó

- Hệ thống hoá kiến thức chỉ ra được sự liên hệ giữa các nội dung kiến thức theo một lược đồ nhất định giúp học sinh ghi nhớ và tái hiện bài tốt

- Hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh rèn luyện kỹ năng đọc sách, tài liệu giáo khoa, phát triển năng lực nhận thức cho học sinh

- Hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh sử dụng tài liệu đa dạng, phát triển năng lực tư duy logic, tư duy hình tượng, tư duy biện chứng nhằm phát triển năng lực nhận thức, hành động và sáng tạo Bởi vì, trong khi tập hệ thống hoá, học sinh phải luôn luôn sử dụng các thao tác tư duy khác như phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, xác lập các mối liên hệ

Trang 16

- Hệ thống hóa kiến thức không những giúp học sinh hình thành được một kiến thức mới, củng cố những điều đã học, mà còn biết sắp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, đồng thời hình thành kiến thức dưới một góc độ mới, lí giải được ý nghĩa sâu xa của kiến thức, biết cách diễn đạt ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ của chính mình

- Hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh tìm ra quy luật, mối liên hệ giữa các vấn đề, nghĩa là giúp học sinh có khả năng khái quát hóa rút ra kết luận

- Sử dụng phương pháp hệ thống hoá kiến thức, giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức trên cơ sở hoạt động với đối tượng, nên tri thức phải chính xác, phản ánh đúng bản chất

- Hệ thống hoá kiến thức vừa giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức, vừa giúp học sinh nắm vững phương pháp tái tạo cho bản thân kiến thức đó, phát triển năng lực tự học, giúp học sinh có thể tự học suốt đời

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Đặc trưng cơ bản của môn Sinh học

Sinh học là một bộ môn khoa học tự nhiên, nghiên cứu về sự sống trên Trái đất Những đối tượng nghiên cứu này là một dạng vật chất đặc biệt, có cấu trúc phức tạp, đa dạng và phong phú nhưng lại xuất phát từ một nguồn gốc chung, vận động theo những quy luật chung và gồm nhiều cấp độ tổ chức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp

Đối tượng nghiên cứu của Sinh học cũng tuân theo các quy luật vận động chung của thế giới khách quan, nó cũng tuân theo các quy luật của các

bộ môn khoa học khác như Vật lý, Toán học, Hóa học Do vậy, trong hoạt động dạy học Sinh học không thể tách rời kiến thức sinh học với các kiến thức khác nhằm hình thành thế giới quan khoa học đầy đủ, trọn vẹn và thái độ đúng đắn, tích cực với tự nhiên và xã hội

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, Sinh học hiện đại đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh Nội dung

và khối lượng kiến thức Sinh học ngày càng nhiều, càng phức tạp và có rất

Trang 17

nhiều sự đổi mới Rất nhiều kiến thức trở nên lỗi thời, lạc hậu và có thể thay đổi, vì vậy người giáo viên Sinh học phải thường xuyên cập nhật kiến thức và bồi dưỡng trình độ chuyên môn để đáp ứng được những đòi hỏi của công việc trong thời đại mới

Sinh học cũng là bộ môn khoa học gắn liền với tự nhiên, và có ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, sản xuất phục vụ nhu cầu của loài người

Theo quan điểm dạy học hiện đại, dạy học nói chung không đơn thuần

là truyền thụ kiến thức từ thầy sang trò mà hướng tới những mục tiêu đào tạo

về kỹ năng, về tư duy và thế giới quan khoa học, bồi dưỡng nhân cách và thái

độ tích cực của người học với thế giới xung quanh Cùng với những đặc trưng riêng của bộ môn Sinh học, việc dạy học Sinh học ngày nay cũng đó có

những sự đổi mới, đáp ứng nhu cầu của xã hội về đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao để theo kịp sự tiến bộ của khoa học hiện đại

1.2.2 Phân tích cấu trúc nội dung phần Sinh thái học - chương trình Sinh học phổ thông

Sinh thái học là một môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa các sinh vật trong tự nhiên cũng như giữa sinh vật với môi trường Kiến thức Sinh thái học không phải là hoàn toàn mới mẻ đối với học sinh phổ

thông Bởi vì, ngay từ cấp Tiểu học, học sinh đã được tìm hiểu tiếp xúc với

thiên nhiên, với con người, với xã hội qua môn “Tìm hiểu tự nhiên và xã hội”, và phần nào qua môn “Tiếng Việt”

Đến cấp Trung học cơ sở, qua các phân môn “Hình thái giải phẫu thực vật”, “Sinh lý thực vật”, “Động vật học”, học sinh đã nắm vững được các tri

thức Sinh thái học, về mối quan hệ tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường, vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, các nội dung này còn tản mạn, chưa khái quát và hệ thống hoá Cho tới chương trình Sinh học bậc Trung học phổ thông, học sinh mới được cung cấp một cách hệ thống qua các mối quan hệ cơ bản giữa sinh vật với sinh vật và tương ứng với 3 nội dung cơ bản: Sinh thái học cá thể, Sinh thái học quần thể, Quần xã và Sinh thái học sinh quyển

Trang 18

CHƯƠNG I: CÁ THỂ VÀ QUẦN THỂ SINH VẬT

* Sinh thái học cá thể: Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường ở mức độ đơn giản nhất là mối quan hệ giữa cá thể sinh vật với môi trường Sinh thái học cá thể còn nghiên cứu các khái niệm cơ bản và quy luật tác động của những yếu tố môi trường đối với sinh vật và tác động qua lại giữa môi trường và cơ thể sinh vật, cụ thể là:

- Khái niệm môi trường, các loại môi trường

- Nhân tố sinh thái, các loại nhân tố sinh thái

- Ảnh hưởng của nhân tố sinh thái (nhân tố vô sinh, nhân tố hữu sinh, nhân tố con người)

- Quy luật tác động của các nhân tố sinh thái lên cơ thể sinh vật

- Phản ứng của sinh vật với sự tác động của các nhân tố sinh thái - sự thích nghi của sinh vật với môi trường sống về hoạt động

* Sinh thái học quần thể: Nghiên cứu quy luật hình thành và phát triển của quần thể thông qua mối quan hệ giữa quần thể với môi trường sống trong những điều kiện cụ thể: Mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể Đặc trưng của từng quần thể với lối sống, phương thức sử dụng nguồn sống và phương thức sinh sản, phát triển

Đây là những kiến thức nền tảng giúp cho học sinh hiểu và tiếp thu được những kiến thức cơ bản về mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường ở mức cao hơn, phức tạp hơn ở các chương sau

CHƯƠNG II: QUẦN XÃ SINH VẬT

* Sinh thái học quần xã: Nghiên cứu quy luật hình thành và phát triển quần xã thông qua mối quan hệ tương hỗ giữa các cá thể khác loài với nhau

và giữa những nhóm cá thể với môi trường Sinh thái học quần xã còn ngiên cứu sự biến động số lượng của quần thể và quá trình biến đổi của quần xã (Diễn thế sinh thái) Mối quan hệ giữa các cá thể của quần thể và giữa các quần thể với môi trường được thể hiện bằng chu trình chuyển hoá vật chất

và năng lượng

Trang 19

CHƯƠNG III: HỆ SINH THÁI, SINH QUYỂN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

* Sinh thái học Hệ sinh thái: Nghiên cứu một hệ thống hoàn chỉnh gồm

quần xã sinh vật và sinh cảnh

Đây là chương cuối cùng của phần Sinh thái học, có nhiệm vụ kết thúc

toàn bộ hệ thống tri thức và kỹ năng sinh thái học Đồng thời mở ra cho học sinh những hướng đi cụ thể trong vận dụng tri thức sinh thái vào đời sống thực tế

Nội dung chủ yếu của chương trình cung cấp cho học sinh những tri

thức sinh thái khái quát nhất ở cấp độ vĩ mô - đó là sinh quyển Sinh quyển là một hệ sinh thái lớn nhất trên Trái Đất dựa trên những quy luật sinh thái cơ

bản tạo nên sự cân bằng về vật chất và năng lượng Bên cạnh đó, ở chương

này còn cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về nguy cơ của nạn ô nhiễm môi trường, khẳng định sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và phát

triển bền vững môi trường trên cơ sở khôi phục và khai thác hợp lý môi

trường, những kiến thức cơ bản về luật môi trường

Trên cơ sở phân tích nội dung chủ yếu của từng chương trong chương

trình Sinh thái học ở trường phổ thông, khi xem xét lôgic cấu trúc nội dung

chương trình Sinh thái học, có thể được mô tả khái quát bằng sơ đồ ở hình 1.1

Hữu sinh

Con ngườ

Trang 20

1.2.3 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức trong dạy và học Sinh học 12

Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng

dạy và học Sinh học ở một số trường Trung học phổ thông Chúng tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi trực tiếp và phát phiếu điều tra đối với 20 giáo viên đang trực tiếp tham gia giảng dạy ở 3 trường Trung học phổ thông ở Thanh Oai -

Hà Nội, đồng thời tiến hành khảo sát 300 học sinh khối 12 Ban A - trường Trung học phổ thông Thanh Oai A và trường Trung học phổ thông Thanh Oai

B, Thanh Oai, Hà Nội Kết quả thu được thống kê ở bảng 1.1

Bảng 1.1: Kết quả điều tra về ý thức học tập và phương pháp

học môn Sinh học của học sinh

- Không học bài cũ vì không hiểu bài 12 4

- Không học bài cũ vì không thích môn Sinh học

Trang 21

- Học bài cũ nhưng chỉ học thuộc lòng một cách máy móc

- Học bài cũ trả lời những câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa cũng như của giáo viên cho về nhà đầy đủ

- Học bài cũ, đọc trước bài mới và tìm hiểu những kiến thức có liên quan đến bài mới

5 Trong giờ học, khi giáo viên đưa ra

câu hỏi hoặc bài tập, em thường

Trang 22

duy lập bằng, sơ đồ hệ thống hóa

- Thiết lập được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức nhưng trình bày không logic

- Tái hiện đầy đủ các kiến thức đã học nhưng không phân tích xác định được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức

là các em yêu thích môn học này (chiếm 7,3%)

- Về phương pháp học bộ môn: số học sinh hiểu sâu kiến thức, có phương pháp học tập chủ động sáng tạo chiếm tỉ lệ rất thấp, phần lớn vẫn là phương

pháp học thụ động như: đối với việc chuẩn bị bài mới, nếu giáo viên giao nhiệm

vụ cụ thể thì số học sinh có ý thức chuẩn bị bài cũng là ít (chiếm 7.3%) Có thể nói, phần lớn học sinh vẫn chưa có ý thức đầu tư thời gian và công sức vào tìm hiểu bài, cũng như chưa thấy rõ được tầm quan trọng của bộ môn, nên học sinh chỉ học với thái độ đối phó, chưa thực sự say mê, yêu thích môn học Từ đó đã dẫn đến kết quả là chất lượng lĩnh hội kiến thức và kết quả bộ môn còn chưa cao (số học sinh đạt loại trung bình, loại yếu chiếm tỉ lệ 61.3% và 4%)

Trang 23

Bảng 1.2: Sử dụng các phương pháp dạy học Sinh học,

Trung học phổ thông của giáo viên

S T S

T

T

Tên phương pháp

Sử dụng thường xuyên

Sử dụng không thường xuyên

Rất ít sử dụng

Không sử dụng

Số người

Tỉ lệ %

Số người

Tỉ lệ

%

Số người

Tỉ lệ

%

Số người

thức

Trang 24

Qua các số liệu thống kê ở bảng 1.2, cho thấy các phương pháp thường xuyên được sử dụng là: thuyết trình (60%); giải thích, minh họa (75%), hỏi đáp - thông báo - tái hiện (85%),… Các phương pháp ít được sử dụng thường xuyên như: thực hành thí nghiệm (30%), dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ

(30%), dạy học hệ thống hoá kiến thức (20%)

Bảng 1.3: Kết quả điều tra hiểu biết của giáo viên về các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức và sử dụng các biện pháp này

trong dạy học Sinh học

Chưa hiểu rõ

Chưa biết Thường

xuyên

Ít sử dụng

Không sử dụng

Tỉ

lệ

%

Số lượng

Tỉ

lệ

%

Số lượng

Tỉ

lệ

%

Số lượng

Tỉ

lệ

%

Số lượng

Tỉ

lệ

%

Qua phân tích các phiếu điều tra cho thấy: đa số giáo viên chưa nắm

rõ các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh

trong quá trình dạy học Một số giáo viên có hiểu biết về biện pháp hệ thống hoá kiến thức cho học sinh, tuy nhiên khi vận dụng vào quá trình dạy học lại chiếm tỉ lệ rất ít và chỉ được sử dụng để giải thích minh họa trong khâu

nghiên cứu tài liệu mới hoặc dùng trong khâu củng cố bài hoàn thiện kiến thức Giáo viên cho rằng, việc sử dụng các biện pháp hệ thống hoá kiến thức trong khâu giảng bài mới chiếm rất nhiều thời gian và khó áp dụng trong 1 tiết học trên lớp, chỉ nên áp dụng trong các tiết ôn tập và hướng dẫn học sinh

tự làm bảng tổng kết ở nhà Nếu áp dụng biện pháp rèn luyện hệ thống hoá kiến thức cho học sinh thì phần lớn giáo viên chỉ dừng lại ở việc hệ thống

Trang 25

hoá kiến thức bằng sơ đồ hoặc bảng biểu mà hầu như chưa biết sử dụng các biện pháp hệ thống hoá kiến thức bằng bản đồ tư duy, phối hợp với kênh hình trong hệ thống hoá kiến thức

1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học và học Sinh học 12

1.2.4.1 Về phía giáo viên

Nhiều giáo viên còn ảnh hưởng của cách dạy truyền thống thầy đọc, trò chép, thuyết trình giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện, biểu diễn trực quan minh họa Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc đổi mới về phương pháp giảng dạy là yêu cầu hàng đầu của ngành giáo dục đề ra đối với giáo viên, nên phần lớn trong giảng dạy, giáo viên đã có vận dụng các phương pháp dạy học tích cực Mặc dù ai cũng biết rằng phương pháp này thực sự lôi cuốn học sinh, làm cho học sinh chủ động nắm vững kiến thức Song số giáo viên dạy học theo biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức chưa nhiều và thường xuyên, mà chủ yếu là trong giờ thao giảng, các tiết dạy thi giáo viên giỏi

Đa số giáo viên cho rằng vận dụng biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức chỉ áp dụng có hiệu quả đối với học sinh khá và giỏi, vì chỉ những học sinh có nhận thức nhanh mới có khả năng tiếp nhận có hiệu quả phương pháp này

Do thi cử và kiểm tra, tuyển sinh đại học, cao đẳng còn nặng vẫn nặng về tái hiện kiến thức, nên cách dạy chủ yếu vẫn cung cấp kiến thức cho học sinh

Ngoài ra, một số giáo viên còn chưa tâm huyết với nghề, ý thức tích cực cải tiến phương pháp dạy học còn mờ nhạt nên dẫn đến chất lượng giờ học chưa tốt, không kích thích được tính tích cực và hứng thú của học sinh đối với bộ môn Sinh học

1.2.4.2 Về phía học sinh

Đa số học sinh vẫn coi môn Sinh học là môn phụ Do vậy, không đầu

tư thời gian và công sức vào học mà chỉ mang tính chất đối phó với các giờ kiểm tra của giáo viên

Trang 26

Hầu hết học sinh chưa biết cách học, chỉ quen với cách học thuộc lòng nội dung mà giáo viên cho ghi và chưa chú ý đến việc so sánh, phân tích, chứng minh bản chất các nội dung đó và tìm mối liên hệ giữa các kiến thức, chưa biết lập bảng biểu, sơ đồ tư duy, chưa biết hệ thống hóa kiến thức

Học sinh chưa có thói quen tự làm việc với sách giáo khoa để chủ động lĩnh hội tri thức mới, thậm chí học sinh không có sách giáo khoa, sách tham khảo Chỉ một số ít học sinh mới sử dụng tài liệu sách giáo khoa để học ở nhà

Học sinh ở cấp Trung học phổ thông đã mang xu hướng phân hóa về mục tiêu học tập Thực tế ở Việt Nam, đa số các trường đại học có đầu vào là khối A (Môn Toán, Lí, Hóa) hoặc khối C, khối D, riêng các trường khối B -

có môn Sinh rất ít trường nên cơ hội lựa chọn ngành nghề giảm Chính vì vậy, các em có thiên hướng xem nhẹ môn Sinh học, nên ít đầu tư về thời gian Nhiều em chỉ coi môn học là nhiệm vụ bắt buộc

Thói quen học tập khoa học của các em chưa được hình thành Đa số các

em chưa có ý thức tự học, tự nghiên cứu, chuẩn bị bài mới ở nhà, học nhóm, học tổ, đặt câu hỏi “vì sao” - điều đó rất cần cho các môn học nói chung và Sinh học nói riêng Đa số các em đón nhận nội dung bài mới trong tâm thế chờ đợi ở giáo viên Tức là các em chưa chủ động sáng tạo, có thói quen ỷ lại, thụ động, ít bộc lộ quan điểm trong nội dung bài học do tâm lý sợ sai, sợ xấu hổ Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập bộ môn Sinh học

* Nội dung sách giáo khoa:

Chương trình Sinh học 12 mới có tính cập nhập, hiện đại, nội dung phong phú, hình ảnh sinh động nhưng có nhiều kiến thức mới và khó Trong khi vốn kiến thức sẵn có của giáo viên chưa kịp đáp ứng với việc dạy học theo chương trình mới

Toàn bộ chương trình Sinh học bậc Trung học phổ thông được sắp xếp thep cấu trúc thống nhất, lớp 12 chủ yếu nghiên cứu cấp độ cơ thể và trên cơ thể Trong mỗi cấp độ các kiến thức lại có mối liên hệ mật thiết, xâu chuỗi với nhau

Trang 27

* Cơ sở triết học: Triết học duy vật biện chứng đã đề cao vai trò lí

thuyết hoạt động qua cách tiếp cận lí luận dạy học hiện đại [24] Theo đó, kĩ năng hệ thống hoá của học sinh chỉ phát triển dưới tác động liên hoàn của các biện pháp cụ thể, thực sự đưa học sinh vào vị trí “hoạt động hóa” người học Đây là quy luật tất yếu của quá trình lĩnh hội kiến thức: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tương lại quay lại phản ánh thực tiễn ở mức khái quát cao hơn

2.1.2 Các nguyên tắc chỉ đạo việc rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

2.1.2.1 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy học

Ba thành tố cơ bản của quá trình dạy học là mục tiêu, nội dung, phương

pháp dạy học có tác động qua lại, hữu cơ với nhau

Trang 28

Giải quyết tốt mối quan hệ này, chất lượng dạy học sẽ đạt kết quả cao

Vì vậy, trong quá trình rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức cần phải đảm bảo sự thống nhất giữa 3 yếu tố: mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học

2.1.2.2 Nguyên tắc thống nhất giữa toàn thể và bộ phận

Giải quyết mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận thực chất là quán triệt tiếp cận cấu trúc hệ thống trong quá trình rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh

2.1.2.3 Nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng

Nhận thức chỉ có thể bắt đầu bằng cái cụ thể có thể tri giác bằng giác quan Con đường nhận thức thế giới khách quan của nhân loại là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”

Hệ thống hóa kiến thức là một trong những loại mô hình có thể mô hình hóa các đối tượng cụ thể và cụ thể hóa các đối tượng thành mô hình cụ thể trong tư duy Trong giai đoạn trừu tượng hóa, hệ thống hoá kiến thức có ý nghĩa là phương tiện để mô hình hóa các mối quan hệ bản chất của đối tượng, làm cho những vấn đề trừu tượng được cụ thể trong tư duy

2.1.2.4 Nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học

Thống nhất giữa dạy và học trong hệ thống hoá kiến thức, giáo viên phải thể hiện vai trò tổ chức, chỉ đạo để phát huy tích cực, tính tự lực của học sinh

Thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học, giáo viên không chỉ sử dụng sơ đồ bảng biểu như một biểu đồ cho kiến thức cần minh họa, mà phải biết

tổ chức cho học sinh tìm tòi khám phá kiến thức phù hợp với nội dung học tập

2.1.2.5 Đảm bảo tính chính xác chặt chẽ, phù hợp

Trong quá trình dạy học rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa là hết sức cần thiết Tuy nhiên, khi hướng dẫn học sinh lập các sơ đồ hay các bảng hệ thống hoá phải luôn đảm bảo tính chính xác về kiến thức của nội dung bài học, tránh việc xây dựng những sơ đồ, bảng hệ thống quá rườm rà, phức tạp Việc sử dụng các sơ đồ, bảng hệ thống hoá phải phù hợp cả về trình độ nhận thức của học sinh, cả về thời gian và logic chung của chương trình, không gò bó, gượng ép

Trang 29

2.1.2.6 Đảm bảo nâng dần mức độ từ dễ đến khó

Trong quá trình rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá cho học sinh, tuỳ vào

trình độ và năng lực cụ thể của học sinh, giáo viên nâng dần yêu cầu các mức

độ hệ thống hoá từ dễ đến khó, không nóng vội sẽ dễ làm cho học sinh chán nản khi không thực hiện được các yêu cầu mà giáo viên đặt ra

Theo chúng tôi, mức độ hệ thống hoá được sắp xếp từ dễ đến khó như sau:

+ Tham khảo tài liệu theo hướng dẫn của giáo viên

Hình 2.1: Sơ đồ quy trình rèn luyện kĩ năng

hệ thống hóa kiến thức cho học sinh

Xác định mối liên hệ giữa các kiến thức

Hoàn thiện

sơ đồ, bảng

hệ thống hoá kiến thức

Trang 30

hiện được tốt nhiệm vụ này, thì giáo viên cần phải hình thành cho học sinh động cơ học tập, nhu cầu muốn giải quyết các nhiệm vụ học tập đặt ra

Bước 2: Phân tích xác định nội dung kiến thức cần hệ thống hoá

Để thực hiện bước này, giáo viên cần định hướng cho học sinh những kiến thức trọng tâm dựa trên những nhiệm vụ học tập đã nêu ở bước 1 Giáo viên có thể gợi ý bằng các yêu cầu như đọc sách giáo khoa, tài liệu, quan sát tranh vẽ, nghiên cứu sơ đồ, lập bảng, điền tiếp vào bảng, rút ra nhận xét, …

Bước 3: Xác định mối liên hệ giữa các kiến thức

Xác định các cạnh, chiều của các cạnh đối với hệ thống hóa bằng sơ đồ Xác định được các nhánh đối với hệ thống hoá bằng sơ đồ tư duy Xác định cấu trúc của bảng hệ thống hoá kiến thức với các cột các hàng tên theo tiêu chí các cột các hàng Tùy theo chủ đề bảng, sơ đồ hệ thống hoá

và nội dung đã xác định ở bước 2, mà xác định mối quan hệ và tính chất của mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức để bước đầu định hình sơ đồ bảng hệ thống hoá kiến thức

Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức

Sau khi xác định được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức, thì học sinh phải trình bày được mối quan hệ giữa các nội dung đó thông qua việc hoàn thiện sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh theo một logic xác định

Học sinh thực hiện được 4 bước này dưới sự định hướng, giúp đỡ của giáo viên, tức là giáo viên đã hình thành cho học sinh năng lực hệ thống hoá kiến thức trong quá trình học tập

2.3 Biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trong quá trình dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)

2.3.1 Biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc, phân tích sách giáo khoa, tài liệu tham khảo

* Ý nghĩa: Rèn luyện kĩ năng sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham

khảo cho học sinh là một biện pháp hết sức quan trọng, nếu không nói là quan trọng bậc nhất, để phát triển tính tự giác, tích cực, độc lập trong học tập Kĩ

Trang 31

năng làm việc với sách giáo khoa đòi hỏi các em phải biết khai thác tất cả các nguồn cung cấp kiến thức từ kênh chữ đến kênh hình, để tự học, tự rèn luyện nâng cao trình độ kiến thức, rèn luyện các kĩ năng, trau dồi thế giới quan khoa học và nâng cao phẩm chất đạo đức

Ngoài ra, làm việc với sách giáo khoa còn có tác dụng làm cho công việc giảng dạy của giáo viên có hiệu quả hơn Bởi vì, khi học sinh biết cách làm việc với sách giáo khoa thì khi lên lớp, giáo viên chỉ cần đi sâu phân tích một số điểm mấu chốt, còn lại để các em làm việc với sách giáo khoa ngay trên lớp hoặc ở nhà với sự chỉ dẫn của giáo viên

Kĩ năng làm việc với sách giáo khoa, bao gồm các kĩ năng làm việc với cả kênh chữ và kênh hình (tranh ảnh, hình vẽ sách giáo khoa hoặc phóng to), bảng biểu…

* Cách tiến hành:

Đọc sách là một trong những kĩ năng cơ bản nhất của người học Để chọn lọc thông tin và ghi nhớ các thông tin quan trọng trong thời gian ngắn nhất, thì phải nâng cao khả năng tập trung Muốn vậy, người đọc nên ghi ra mục tiêu cần đạt nhằm tập hợp lại những suy nghĩ của mình và có tư thế ngồi thoải mái (trong quá trình đọc, người đọc phải chú ý đến cách bố trí và cường

độ ánh sáng, tài liệu đọc, thoải mái về thể chất

- Bước đầu tiên là hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu cấu trúc nội dung

của sách giáo khoa, tài liệu bằng một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị trước

Trang 32

+ Nội dung chính của bài là gì?

+ Trong bài phần hình gồm những gì?

- Trong tiết dạy để xây dựng bài, hình thành kiến thức, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, các mẫu tư liệu bằng phiếu học tập, giáo viên có thể ra hệ thống câu hỏi như: tại sao? cái gì? ở đâu? ai? bằng cách nào? cái nào? khi nào? giáo viên có thể ra hệ thống bài tập hoặc bảng hệ thống để học sinh thực hiện

* Ví dụ 1: Khi dạy mục IV: “Nơi ở và ổ sinh thái”, bài 47 “Môi trường

và các nhân tố sinh thái”, giáo viên có thể tiến hành như sau:

Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc mục IV sách giáo khoa: nêu khái niệm ổ sinh thái, vai trò của ổ sinh thái đối với đời sống của các loài

Bước 2: Giáo viên sử dụng câu hỏi định hướng

- Nêu định nghĩa nơi ở và ổ sinh thái?

- Phân biệt ở sinh thái riêng và ổ sinh thái chung?

- Nguyên nhân dẫn đến cạnh tranh của các loài ?

- Ý nghĩa của sự phân hóa ổ sinh thái?

Ví dụ 2: Khi dạy bài 52: “Các đặc trưng cơ bản của quần thể”

Trang 33

+ Quan sát hình minh họa từng kiểu phân bố của các cá thể trong quần thể, kết hợp với thông tin trong sách giáo khoa, từ đó rút ra đặc điểm của kiểu phân bố

+ Từ đặc điểm của từng kiểu phân bố rút ra ý nghĩa sinh thái?

2.3.2 Biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng các thao tác tư duy (phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh)

Kĩ năng phân tích - tổng hợp:

* Ý nghĩa: Phân tích và tổng hợp là hai mặt của một quá trình tư duy

thống nhất, có sự liên hệ mật thiết với nhau Nhờ có phân tích từng thành phần, từng mặt của sự vật, hiện tượng mà ta hiểu rõ ràng, đầy đủ về sự vật, hiện tượng đó Tổng hợp sơ bộ ban đầu cho người học ấn tượng chung về đối tượng, nhờ đó mà xác định được phương hướng phân tích đối tượng Từ sự phân tích đối tượng sẽ giúp người học có một nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng Quá trình phân tích càng sâu thì sự tổng hợp cuối cùng càng cao, càng đầy đủ Sự tổng hợp hoàn chỉnh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của sự phân tích tiếp theo

Cứ như vậy, nhận thức ngày càng tiến sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng

* Cách tiến hành: Trong dạy học để rèn luyện cho học sinh kĩ năng

phân tích - tổng hợp, giáo viên cần thông báo cho học sinh quy trình thực hiện các bước nhất quán và ra các bài tập để học sinh thực hiện

Các hình thức diễn đạt phân tích - tổng hợp có thể sử dụng là: Liệt kê bằng lời hoặc bằng chữ viết, dùng sơ đồ bằng mũi tên để chỉ mối quan hệ, dùng bảng để phân tích (thường bảng có hàng ngang và cột dọc, một phía dùng để chỉ các chỉ tiêu phân tích, một phía dùng để chỉ các bộ phận phân tích, mối quan hệ giữa cột dọc và hàng ngang là thể hiện sự tổng hợp của các yếu tố phân tích)…

Ví dụ 1: Khi dạy mục II 1 “Quan hệ hỗ trợ”, bài 51: “Khái niệm về quần thể và mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể”

Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu sách giáo khoa mục II (trang 211) tìm hiểu về quan hệ hỗ trợ giữa các cá thẻ trong quần thể

Trang 34

Bước 2: Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý:

+ Thế nào là quan hệ hỗ trợ?

+ Phân tích ý nghĩa của quan hệ hỗ trợ?

+ Nêu thêm ví dụ về quan hệ hỗ trợ?

Thông qua việc làm việc phân tích nội dung kiến thức trong sách giáo

khoa, học sinh sẽ nêu được định nghĩa, vai trò, ví dụ về mối quan hệ hỗ trợ

giữa các cá thể trong quần thể

Ví dụ 2: Dạy mục I “Diễn thế sinh thái”, bài 59: “Diễn thế sinh thái”

Giáo viên: Yêu cầu học sinh nghiên cứu sách giáo khoa (H41.2, sách

giáo khoa cơ bản)

Vẽ sơ đồ biểu diễn quá trình diễn thế sinh thái ở đầm nước nông?

Học sinh phân tích tranh hình, nội dung sách giáo khoa, vẽ được quá

trình diễn thế sinh thái ở đầm nước nông, từ đó tổng hợp kiến thức để hình

thành nên khái niệm diễn thế sinh thái (hình 2.2)

Hình 2.2: Sơ đồ quá trình diễn thế sinh thái ở đầm nước nông

Kĩ năng so sánh - đối chiếu

* Ý nghĩa: Biện pháp so sánh là thao tác cơ bản trong dạy học Sinh học,

vì nó gắn liền chặt chẽ với phân tích tổng hợp để từ đó khái quát hóa, trừu

tượng hóa đối tượng, thiết lập mối quan hệ nhân quả

- Đầm nước nông biến đổi thành vùng đất trũng

- Cỏ và cây bụi đến sống trong đầm

Các vùng đất quanh đầm bị xói mòn, theo thời gian đáy đầm nông dần, thành phần loài sinh vật thay đổi

Trong đầm có nhiều loài thủy sinh ở các tầng khác nhau

Trang 35

Trong nhận thức, cùng với sự hiểu biết sự vật, hiện tượng là cái gì và như thế nào? Còn phải hiểu được sự vật, hiện tượng này không giống sự vật, hiện tượng khác ở chỗ nào? Muốn vậy cần phải thực hiện các thao tác so sánh, đối chiếu Qua sự so sánh, đối chiếu, học sinh phân biệt được các sự vật, hiện tượng đó, sắp xếp chúng vào hệ thống nhất định và củng cố các khái niệm

* Cách tiến hành: Tuỳ theo mục đích, nội dung của bài học mà phương

pháp so sánh có thể nặng về tìm sự giống nhau hay sự khác nhau (so sánh điểm khác nhau chủ yếu dùng trong phân tích, so sánh điểm giống nhau thường dùng trong tổng hợp)

Theo Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành thì khi so sánh tìm sự giống nhau hay khác nhau của các đối tượng ta có thể dạy theo trình tự sau:

Bước 1: Nêu định nghĩa các đối tượng cần so sánh

Bước 2: Phân tích đối tượng, tìm ra dấu hiệu bản chất của mỗi đối tượng Bước 3: Xác định những điểm khác nhau của từng dấu hiệu tương ứng Bước 4: Xác định những điểm giống nhau của từng dấu hiệu tương ứng Bước 5: Khái quát các dấu hiệu quan trọng giống và khác nhau của hai đối tượng so sánh

Bước 6: Nếu có thể, thì nêu rõ nguyên nhân của sự giống và khác nhau

đó

* Ví dụ 1: So sánh các dạng biến động số lượng cá thể của quần thể

Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu sách giáo khoa mục II trang 224 - 225, bài 54 trong so sánh các dạng biến động số lượng cá thể của quần thể

Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh tiếp tục đọc sách giáo khoa, thảo luận nhóm, hoàn thành bảng 2.1

Bảng 2.1: So sánh các dạng biến động số lượng cá thể của quần thể

Kiểu biến động số lượng cá thể của

quần thể

Nguyên nhân gây biến động

Ví dụ

Trang 36

Biến động không theo chu kì

Chu kì nhiều năm

Ví dụ 2: Sau khi học xong bài: “Quần xã’’, giáo viên yêu cầu học sinh

làm bài tập so sánh quần thể và quần xã theo bảng mẫu 2.2

2.3.3 Rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích tranh ảnh, hình vẽ

* Ý nghĩa: Tranh ảnh, hình vẽ và video là một trong các phương tiện

trực quan quan trọng giúp kích thích tư duy, tạo hứng thú học tập cho học sinh, hình thành những biểu tượng và khái niệm cụ thể, làm cơ sở lĩnh hội sâu sắc các kiến thức sinh học Video clip có thể được sử dụng để nâng cao nhận thức của mối quan hệ giữa các hình thức (tranh ảnh, sự chuyển động, âm thanh, thuyết minh) Video clip tạo điều kiện cho người học quan sát những hình ảnh thực, xem chuỗi chuyển động và những cảnh mà khó quan sát được trong cuộc sống hàng ngày Thường trong quá trình dạy học, tranh ảnh, hình

Trang 37

vẽ, trong sách giáo khoa hoặc phóng to, video được lựa chọn để phục vụ sát nội dung của mỗi bài

Ví dụ 1: Khi dạy mục III.2 “Giới hạn sinh thái”, bài 47: “Môi trường

và các nhân tố sinh thái”, sách giáo khoa sinh học 12 nâng cao, giáo viên có

thể hướng dẫn học sinh tiến hành như sau:

Bước 1: Xác định nhiệm vụ: giáo viên cho học sinh quan sát H.47.1 - sách giáo khoa

Bước 2: Xác định nội dung kiến thức trọng tâm

Để giúp học sinh thu nhận đầy đủ thông tin qua quan sát các tranh, giáo viên sử dụng các câu hỏi vấn đáp gợi mở như sau:

- Hãy đọc kĩ phần ghi chú của các bức tranh nói trên?

- Chú ý về sự tương quan giữa số cây sống, cây chết ở giới hạn trên, giới hạn dưới, khoảng thuận lợi?

- So sánh mật độ cây sống ở khoảng thuận lợi và khoảng chống chịu?

- Giải thích sự khác nhau về sức sống của sinh vật ở các khoảng thuận lợi và khoảng chống chịu theo nhân tố nhiệt độ?

- Giới hạn sinh thái là gì?

- Khoảng thuận lợi và khoảng chống chịu của các nhân tố sinh thái là gì?

Ví dụ 2 : Khi dạy mục II.2 “Quan hệ cạnh tranh giữa các loài và sự phân li ổ sinh thái”, bài 56: “Các mối quan hệ giữa các loài trong quần xã”

Trang 38

Để chỉ ra được mối quan hệ cạnh tranh giữa các loài trong quần xã, và cạnh tranh với sự phân li ổ sinh thái

Giáo viên: Yêu cầu học sinh nghiên cứu H 56.4 sách giáo khoa trang

234 phân tích sự cạnh tranh giữa 2 loài trùng P Caudatum và P Aurelia?

+ Nêu nguyên nhân hình thành ổ sinh thái khác nhau trong quần xã? + Tại sao nói, cạnh tranh là một trong những động lực chủ yếu của quá trình tiến hoá?

2.3.4 Biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích các bảng biểu cho sẵn

* Ý nghĩa: Bảng biểu là một phương tiện dạy học gồm các cột và các

hàng được bố trí trên một mặt phẳng thể hiện mối liên hệ kiến thức

Trên một bảng biểu thể hiện mối quan hệ giữa các cột và các hàng (các cột thường thể hiện các đặc điểm, các hiện tượng Các hàng thường thể hiện các tiêu chí, các mục cần so sánh)

Bảng biểu là một công cụ đắc lực phục vụ việc hệ thống hóa kiến thức: trên một bảng biểu, học sinh có thể thể hiện tổng hợp kiến thức của nhiều phần, nhiều bài có liên hệ với nhau

Bảng biểu giúp học sinh suy nghĩ, hình dung và sắp xếp kiến thức của mình

Qua việc phân tích các số liệu, sự kiện trong bảng sẽ giúp học sinh phát huy các kĩ năng thao tác tư duy phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, kĩ năng khái quát hóa, hệ thống hóa Việc phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu các số liệu, sự kiện ghi trong bảng không chỉ giúp học sinh rút ra được những nhận xét đúng, mà còn có tác dụng giúp các em nhớ lâu, hiểu cặn kẽ vấn đề,

có khả năng tư duy sáng tạo trong việc so sánh các đối tượng tương tự

* Cách tiến hành: Để rèn luyện kĩ năng làm việc với bảng, giáo viên

cần hướng dẫn học sinh thực hiện theo quy tắc chung như sau:

- Đọc kĩ nhan đề của bảng, xem nội dung đề cập đến vấn đề gì và nhằm mục đích gì?

- Đọc kĩ tiêu đề các cột dọc, hàng ngang, tìm hiểu kĩ những thuật ngữ chưa hiểu rõ

Trang 39

- Đọc kĩ số liệu hoặc sự kiện lần lượt theo cột dọc rồi đến hàng ngang hoặc ngược lại

- Phân tích, đối chiếu so sánh các số liệu, sự kiện và rút ra những nhận xét, kết luận phù hợp

+ Để lập bảng, giáo viên yêu cầu học sinh tiến hành theo các bước sau:

- Tìm hiểu loại bảng và chủ đề của bảng định thể hiện (bảng liệt kê một

số chỉ tiêu của hai hay nhiều đối tượng, bảng so sánh giữa các đối tượng, bảng tổng kết…)

- Xác định các đối tượng, các chỉ tiêu cần liệt kê hay so sánh

- Căn cứ vào chủ đề và số đối tượng, số chỉ tiêu so sánh để xác định số hàng, số cột phù hợp

- Căn cứ vào các bước trên để xác định cách trình bày bảng (kích thước của bảng, kích thước các hàng, các cột, bố trí theo chiều ngang hay dọc…)

- Thiết kế bảng với các số liệu xác định

Ví dụ 1: Nghiên cứu bảng số liệu

Khi dạy bài 48: “Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật”

Bước 1: Giáo viên cung cấp cho học sinh bảng ảnh hưởng nhiệt độ đến đời sống sinh vật (bảng 2.3)

Bảng 2.3: Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật

Lá có lớp cutin, sáp

hoặc lông ánh bạc

hoặc có nhiều lông tơ

Lớp cutin, sáp hoặc lông tơ làm giảm bớt các tia nắng xuyên qua lá, đốt nóng lá

Trang 40

Hạt của cây này có thể tồn tại trong điều kiện nhiệt

độ quá nóng hoặc quá lạnh, gặp khi điều kiện thời tiết thuận lợi sẽ nảy mầm

Tăng thoát hơi nước

khi nhiệt độ cao, độ

Ví dụ 2: Khi dạy mục III trang 247 - 248, bài 60: “Hệ sinh thái”

Giáo viên yêu cầu học sinh lập bảng phân biệt hệ sinh thái tự nhiên và

hệ sinh thái nhân tạo ở các đặc điểm nguồn gốc, độ đa dạng, khả năng tự điều chỉnh, trạng thái cân bằng và tính ổn định

Học sinh nghiên cứu sách giáo khoa và thảo luận, lập được bảng 2.4

Bảng 2.4: So sánh hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân tạo

Ngày đăng: 10/07/2022, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đinh Quang Báo (1995), "Dạy học Sinh học ở trường phổ thông theo hướng hoạt động hoá người học", Kỷ yếu hội thảo khoa học đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, (1/1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Sinh học ở trường phổ thông theo hướng hoạt động hoá người học
Tác giả: Đinh Quang Báo
Năm: 1995
3. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (1998), Lý luận dạy học Sinh học (Phần đại cương). Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Sinh học (Phần đại cương)
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Tony Buzan (2006), Sơ đồ Tư duy. Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ đồ Tư duy
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
5. Tony Buzan (2010), Lập Bản đồ tư duy - How to mind map. Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập Bản đồ tư duy - How to mind map
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
6. Nguyễn Phúc Chỉnh (2002), “Vận dụng Grap để khắc phục tính hình thức trong dạy học Sinh học”, Tạp chí Giáo dục (46), tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng Grap để khắc phục tính hình thức trong dạy học Sinh học”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Năm: 2002
7. Nguyễn Phúc Chỉnh (2007), Ứng dụng tin học trong nghiên cứu khoa học giáo dục và dạy học Sinh học. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng tin học trong nghiên cứu khoa học giáo dục và dạy học Sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Phúc Chỉnh (2009), “Cơ sở lí thuyết của bản đồ khái niệm”, Tạp chí Giáo dục (210), tr. 18 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí thuyết của bản đồ khái niệm”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Năm: 2009
9. Hoàng Chúng (1982), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
10. Trần Ngo ̣c Danh, Lại Thị Phương Ánh, Phạm Phương Bình, Trần Thi ̣ Ngọc Hải (2009), Câu hỏi trắc nghiê ̣m sinh học 11. Nxb Gia ́o dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi trắc nghiê ̣m sinh học 11
Tác giả: Trần Ngo ̣c Danh, Lại Thị Phương Ánh, Phạm Phương Bình, Trần Thi ̣ Ngọc Hải
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
11. Phan Đức Duy (2008), “Bản đồ khái niệm trong dạy học Sinh học bậc Trung học phổ thông”, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Dạy học Sinh học ở trường phổ thông theo chương trình và sách giáo khoa mới”, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ khái niệm trong dạy học Sinh học bậc Trung học phổ thông”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học “Dạy học Sinh học ở trường phổ thông theo chương trình và sách giáo khoa mới
Tác giả: Phan Đức Duy
Năm: 2008
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1998
14. Trịnh Nguyên Giao, Nguyễn Đƣ ́ c Thành (2009), Dạy học Sinh học ở trường Trung học phổ thông. Nxb Gia ́o dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Sinh học ở trường Trung học phổ thông
Tác giả: Trịnh Nguyên Giao, Nguyễn Đƣ ́ c Thành
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
15. Đặng Thành Hƣng (1994), Các biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ lên lớp. Viện khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện khoa học giáo dục
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Năm: 1994
16. Ngô Văn Hƣng (2008), Kiểm tra - đánh giá thường xuyên và định kì môn sinh học. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra - đánh giá thường xuyên và định kì môn sinh học
Tác giả: Ngô Văn Hƣng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
17. Nguyễn Thế Hưng (2007), “Phương pháp phân tích nội dung sách giáo khoa để thiết kế bài giảng Sinh học”, Tạp chí Giáo dục (160), tr 39 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phân tích nội dung sách giáo khoa để thiết kế bài giảng Sinh học”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thế Hưng
Năm: 2007
18. Quốc hội (2006), Luật giáo dục 2005. Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục 2005
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Dương Tiến Sỹ (2006), "Quán triệt tư tưởng Cấu trúc - Hệ thống và tư tưởng tiến hoá sinh giới trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông", Tạp chí Giáo dục (142) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt tư tưởng Cấu trúc - Hệ thống và tư tưởng tiến hoá sinh giới trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông
Tác giả: Dương Tiến Sỹ
Năm: 2006
20. Dương Tiến Sỹ (2008), Tiếp cận Cấu trúc - Hê ̣ thống trong dạy - học Sinh học , Bài giảng chuyên đề đào thạc sỹ chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Sinh học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận Cấu trúc - Hê ̣ thống trong dạy - học Sinh học
Tác giả: Dương Tiến Sỹ
Năm: 2008
21. Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Văn Tuệ, Dương Tiến Sỹ (2002), Dạy học Sinh học ở trường phổ thông (tập I). Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Sinh học ở trường phổ thông (tập I)
Tác giả: Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Văn Tuệ, Dương Tiến Sỹ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w