1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o bé quèc phßng

82 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới Khi nghiên cứu các biện pháp PCCCR người ta chủ yếu hướng vào làm suygiảm 3 thành phần của tam giác lửa: 1 - Giảm nguồn lửa bằng cách tuyên truyềnkhông mang lửa vào rừng, d

Trang 1

  

-Trần văn thắng

Nghiên cứu, xây dựng giải pháp quản lý thuỷ văn phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng vườn quốc gia u minh thượng

tỉnh kiên giang

luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà nội - 2008

Trang 2

luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

Mã số: 60 62 68

Người hướng dẫn khoa học

1 Ts Thái thành lượm

2 pgs TS vương văn quỳnh

Trang 3

Ở Việt Nam đất than bùn phân bố rải rác ở nhiều nơi, diện tích lớn nhất tập

trung ở Vườn Quốc Gia (VQG) U Minh Hạ tỉnh Cà Mau và VQG U Minh Thượngtỉnh Kiên Giang với diện tích còn khoảng 4.500 ha [13] Do tính chất độc đáo của

hệ sinh thái (HST) rừng ngập nước trên đất than bùn đã hình thành sự phong phúcủa chuỗi dinh dưỡng tạo điều kiện cho hình thành và phát triển nguồn tài nguyên

đa dạng sinh học Trong nhiều thập kỷ qua, thiên tai và những hoạt động của conngười làm cho diện tích đất than bùn bị mất đi hoặc suy giảm nghiêm trọng

Trong những năm gần đây thời tiết diễn biến phức tạp, hạn hán thường xuyênxảy ra Cháy rừng là một trong những hiện tượng thiên tai gây tổn thất to lớn về kinh

tế và môi trường Nó tiêu diệt gần như toàn bộ động, thực vật trong vùng bị cháy,nguồn tài nguyên đất than bùn dưới tán rừng, cung cấp vào khí quyển khối lượng lớn

rừng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng quá trình biến đổi khíhậu trái đất và các thiên tai hiện nay Mặc dù với những phương tiện và phương phápphòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) ngày càng hiện đại, nhưng cháy rừng vẫnkhông ngừng xảy ra, thậm chí ngay cả ở những nước phát triển nhất Đấu tranh vớicháy rừng đang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách của thế giới để bảo

vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống nói chung

Ở Việt Nam hiện có 12,6 triệu ha rừng, trong đó có tới 6 triệu ha các loại

rừng dễ cháy như rừng tràm, rừng khộp, rừng thông, rừng bạch đàn, rừng tre trúc,v.v…[11] Vào mùa khô, với xu hướng gia tăng nóng hạn của khí hậu toàn cầu và

Trang 4

diễn biến thời tiết phức tạp trong khu vực như hiện nay thì hầu hết các loại rừng trên

đều dễ dàng bắt lửa và cháy lớn Vì vậy, cháy rừng thường xảy ra rất nghiêm trọng

Rừng là tài sản quốc gia, là nguồn sống của người dân và là yếu tố quantrọng bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Vì vậy, cháy rừng với quy mô vàmức độ thiệt hại nghiêm trọng đã trở thành mối quan tâm không chỉ của những

người làm lâm nghiệp hay những người sống gần rừng, có cuộc sống gắn bó với

rừng mà của cả những nhà khoa học, những nhà quản lý của nhiều ngành nhiều cấp

và nhân dân cả nước Trước thực tiễn đó một nhiệm vụ cấp bách đặt ra là phảinghiên cứu xây dựng những giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hiệu quả

Góp phần thực hiện nhiệm vụ trên, đề tài này hướng vào nghiên cứu xâydựng giải pháp quản lý thuỷ văn phục vụ PCCCR tại VQG U Minh Thượng Đây làmột trong số những khu vực cháy rừng trọng điểm ở nước ta

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Khi nghiên cứu các biện pháp PCCCR người ta chủ yếu hướng vào làm suygiảm 3 thành phần của tam giác lửa: (1) - Giảm nguồn lửa bằng cách tuyên truyềnkhông mang lửa vào rừng, dập tắt tàn than sau khi dùng lửa, thực hiện các biện phápdọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để

ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại; (2) - Giảm khối lượng vật liệu cháy

bằng cách đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm đểgiảm khối lượng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt theo hướng ngượcvới hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy; (3) - Làm giảm khả năngcung cấp ô xy cho đám cháy bằng cách dùng chất dập cháy để ngăn cách vật liệucháy với ô xy không khí (nước, đất, cát, hoá chất dập cháy v.v…) Các chất dậpcháy cũng có tác dụng làm giảm nhiệt độ để làm giảm hoặc ngưng hẳn quá trìnhcháy [28], [38], [42]

Những phương tiện PCCCR đã được quan tâm nghiên cứu trong những nămgần đây, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng

và phương tiện dập lửa trong các đám cháy

Các phương pháp dự báo đã được mô hình hoá và xây dựng thành những

phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của dự báo nguy cơ cháyrừng Việc ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích đượcnhững diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khả năng xuất hiện cháyrừng, phát hiện sớm đám cháy trên những vùng rộng lớn

Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng vàbiện pháp PCCCR hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực

lượng PCCCR và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh,báo địa phương và Trung ương, vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v…

Trang 6

Những phương tiện dập tắt các đám cháy được nghiên cứu theo cả hướng pháttriển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phương tiện cơgiới như cưa xăng, máy kéo, máy gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, máy phunbọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa v.v…

Mặc dù, các phương pháp và phương tiện PCCCR đã được phát triển ở mứccao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nướcphát triển có hệ thống PCCCR hiện đại như Mỹ, Úc, Nga v.v… Trong nhiều trườnghợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả Người ta cho rằng, ngănchặn nguồn lửa để không xảy ra cháy vẫn là quan trọng nhất [42]

1.1.2 Ở Việt Nam

Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình PCCCR cũng

như những phương pháp và phương tiện PCCCR Mặc dù trong các quy phạm

PCCCR có đề cập đến những tiêu chuẩn của các công trình PCCCR, những phương

pháp và phương tiện PCCCR song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo

tư liệu của nước ngoài, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam [28]

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về biện pháp PCCCR chủ yếu hướng vào thử

nghiệm và phân tích hiệu quả của giải pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vậtliệu cháy Năm 1995, Phan Thanh Ngọ đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dướirừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt Tác giả cho rằng với rừng thông lớn tuổi không cầnphải gom vật liệu trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thờitiết thích hợp để đốt Năm 2001, Bế Minh Châu đã nghiên cứu ảnh hưởng của điềukiện khí tượng đến độ ẩm và khả năng cháy và vật liệu cháy dưới rừng thông Tácgiả đã hoàn thiện phương pháp dự báo cháy rừng ở một số vùng trọng điểm Thông

ở miền Bắc Việt Nam [7]

Ngoài ra, đã có một số tác giả đề cập đến giải pháp xã hội cho PCCCR (LêĐăng Giảng, 1972; Đặng Vũ Cẩn, 1992; Phạm Ngọc Hưng, 1994) Các tác giả đã

khẳng định rằng việc tuyên truyền về tác hại của cháy rừng, quy hoạch vùng sảnxuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp dự báo, cảnh báo, xây dựng các công

Trang 7

tác, săn bắn, du lịch, quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân v.v sẽ là

những giải pháp xã hội quan trọng trong công tác PCCCR

Nh ững nghiên cứu về PCCCR ở khu vực U Minh Thượng

Những tài liệu đầu tiên trình bày biện pháp PCCCR tràm là cuốn "Bài giảngPhòng cháy chữa cháy rừng" của Phạm Gia Tường (1976) và cuốn "Phòng cháychữa cháy rừng" của Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng và Phạm Ngọc Hưng (1983).Trong những tài liệu này các tác giả đã mô tả một cách khái quát hiện tượng cháyngầm ở rừng tràm và giới thiệu việc xây dựng kênh mương phòng cháy như mộtbiện pháp quan trọng nhất cho PCCCR tràm Một tài liệu khác trình bày cụ thể hơn

về đặc điểm cháy rừng tràm là luận án Phó tiến sỹ của Phan Thanh Ngọ (1996) với

tên đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp PCCCR thông ba lá, rừng tràm ở ViệtNam” Tác giả đã mô tả sự tồn tại cả 3 loại cháy tán, cháy mặt đất và cháy ngầm ở

rừng tràm, nêu đặc điểm thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế xã hội có liên quan

đến cháy rừng tràm Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số biện pháp kỹ thuật và kinh

tế xã hội cho PCCCR tràm [25]

Từ năm 1981-1985, Đề tài cấp Nhà nước Mã số 04010107 do TS PhạmNgọc Hưng làm chủ trì đã tiến hành nghiên cứu một số biện pháp PCCCR thông vàrừng tràm ở ba tỉnh Quảng Ninh, Lâm đồng và Minh Hải (Cà Mau, Kiên Giang).Kết quả đề tài là một số đề xuất về những vấn đề sau:

- Xây dựng hệ thống chòi canh

- Xây dựng đường băng cản lửa (xanh và trắng)

- Xây dựng hệ thống kênh mương

- Xây dựng hệ thống hồ chứa nước phòng cháy

- Dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng thông và rừng tràm

- Nghiên cứu ứng dụng một số công cụ chữa cháy rừng

- Xây dựng lực lượng phòng và chữa cháy rừng thông và rừng tràm

Trong báo cáo sơ kết đề tài “Nghiên cứu về quản lý rừng tràm ở đồng bằng

sông Cửu Long”, Mai Văn Nam (2002) cũng mô tả hiện tượng cháy “khủng khiếp”

Trang 8

của rừng tràm Tác giả chủ yếu tập trung phân tích nguyên nhân về mặt kinh tế - xãhội của cháy rừng, đặc biệt là ảnh hưởng của các chính sách sở hữu và sử dụng rừngtràm, chính sách chia sẻ lợi ích và hình thức tổ chức quản lý rừng tràm đến ý thức vàmức độ tham gia của người dân vào quản lý rừng tràm Tác giả kết luận những giảipháp kinh tế - xã hội sẽ có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc PCCCR tràm [23].

Một tài liệu khác cũng thu hút sự chú ý của những người quan tâm đến cháyrừng tràm là “Báo cáo kiểm điểm trách nhiệm của Cục kiểm lâm về các vụ cháyrừng tràm tại U Minh năm 2002” (Cục kiểm lâm, 2002) Các tác giả đã nêu nhữngnguyên nhân chủ yếu của cháy rừng tràm gồm: sự biến đổi bất thường của thời tiết

đã gây khô hạn nghiêm trọng, hiện tượng tháo nước bắt cá đầu mùa khô làm tăng

mức khô hạn của đất rừng tràm, hoạt động đốt ong thiếu kiểm soát đã làm tăngnguồn lửa ở rừng tràm, tổ chức tuần tra chưa nghiêm túc nên không phát hiện sớm

các đám cháy, không được thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng cháy như đắpđập giữ nước, dọn vệ sinh rừng, thiếu sự tham gia tích cực của chính quyền vàngười dân địa phương vào PCCCR, thiếu phương pháp và phương tiện chữa cháy

hiệu quả v.v Các tác giả cũng đề xuất những giải pháp quan trọng cho PCCCR

tràm như tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ rừng và chấp hành luật PCCCR, xây

dựng hệ thống biển báo, biển cấm lửa, canh gác nghiêm ngặt, xây dựng các côngtrình PCCCR như đường vận chuyển phương tiện chữa cháy, các chòi canh cháyrừng, hệ thống đê bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt, xây dựng trạm bơm cung cấp

nước trong mùa khô, trang bị đủ phương tiện PCCCR như xuồng, dây bơm nước,cưa xăng, xẻng, cuốc, dao, khoan giếng v.v

Tài liệu gần đây nhất về xây dựng giải pháp PCCCR tràm là báo cáo của hộithảo khoa học về những nội dung của “Dự án đầu tư khôi phục, bảo vệ và phát triểnVQG U Minh Thượng sau vụ cháy rừng tháng 3 năm 2002” do Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn phối hợp với Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang tổ chức Hộithảo đã đưa ra một số kết luận quan trọng sau:

- Khôi phục HST rừng tràm sau cháy bằng phương pháp tái sinh tự nhiên làchính, chỉ gieo sạ bổ sung ở những nơi không có tái sinh tự nhiên

Trang 9

- PCCCR tràm chủ yếu phải bằng cách duy trì độ ẩm hợp lý cho than bùntrong suốt mùa khô, tu bổ hệ thống kênh điều tiết nước, làm tốt công tác dự báo, pháthiện sớm và chữa cháy kịp thời, kết hợp phương tiện chữa cháy thô sơ và hiện đại.

- Phải ký thoả ước giữa VQG với người dân địa phương trong việc bảo vệ rừng

và PCCCR, tập trung xây dựng các công trình thuỷ lợi và hệ thống điện sản xuất vàsinh hoạt cho người dân địa phương, tăng cường tuyên truyền giáo dục môi trường,giáo dục ý thức pháp luật, ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường cho người dân địa

phương, phải lôi cuốn được cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động PCCCR

Vào năm 2003, trong Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhànước giai đoạn 2001-2005 về “Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai”, Nhànước đã đầu tư thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phòng chống

và khắc phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên” Mã số:KC.08.24 do PGS TS Vương Văn Quỳnh làm chủ nhiệm Đề tài đã tiến hànhnghiên cứu và đề xuất một số giải pháp PCCCR và khắc phục hậu quả cháy rừngtràm ở tỉnh Cà Mau và tỉnh Kiên Giang và rừng ở các tỉnh Tây Nguyên Đề tài đã

đưa ra giải pháp hữu hiệu cho PCCCR cho vùng U Minh trong đó có VQG U MinhThượng như sau:

- Xây dựng các phương pháp và quy trình dự báo cháy rừng

- Xây dựng các giải pháp khoa học công nghệ, kinh tế xã hội cho PCCCR

- Xây dựng danh mục tập đoàn cây có khả năng chống chịu lửa

- Đề xuất các phương pháp và các phương tiện chữa cháy rừng

- Nghiên cứu những giải pháp và quy trình khắc phục hậu quả của cháy rừng.Hiện nay, việc xây dựng các giải pháp PCCCR đang được Nhà nước ta quan

tâm Đây lại là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có đầu tư thích đáng về thời gian và

tiền của nên nhìn chung chúng ta còn thiếu hụt về thông tin, về phương pháp luận

và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn làm cho công tác PCCCR chưa được hiệu quả.Chính những tồn tại trên đây là một trong những nguyên nhân gây trở ngại cho côngtác quản lý và bảo vệ môi trường, thực hiện các chính sách về môi trường nóichung Do vậy chúng ta cần phải tiếp tục có những nghiên cứu nhằm hoàn thiện dần

Trang 10

phương pháp luận cũng như tích luỹ dần kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời làm

phong phú thêm nguồn thông tin cho các nhà nghiên cứu sau này Xuất phát từnhững lý do nêu trên, và cũng chính là cơ sở cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu

1.2 Mục tiêu quản lý nước và những vấn đề đặt ra

1.2.1 Tầm quan trọng của quản lý nước

Vườn Quốc Gia U Minh Thượng là một trong những vùng đất ngập nước quan

trọng nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Ở Việt Nam, trong HST rừng tràmngập phèn chỉ còn duy nhất hệ thực vật rừng của VQG U Minh Thượng có những

đặc điểm của rừng cực đỉnh nguyên sinh, đó là các ưu hợp của rừng hỗn giao và

rừng tràm trên đất than bùn với diện tích trên 3.000 ha [13] Các đầm lầy và cácsinh cảnh thực vật, các kênh đê nằm xen kẽ, rải rác trong các khu rừng tạo nênnhững khu cư trú thích hợp cho các loài động vật hoang dã Bên cạnh các giá trị về

đa dạng sinh học, VQG U Minh Thượng còn là nơi có nhiều di tích lịch sử, văn hóa

quan trọng đã được Bộ văn hóa thông tin ban hành Quyết định số 1768/QĐ-VHngày 28/6/1997 công nhận là khu di tích lịch sử [36]

Trong 15 năm trở lại đây, vùng U Minh Thượng đã có nhiều biến đổi to lớn

trong phát triển hệ thống thủy lợi dẫn đến những thay đổi về điều kiện tự nhiên

Trước hết, phải kể đến tác động của hệ thống kênh đào các cấp, vừa là nơi truyền tảinước mưa và chua phèn từ U Minh Thượng ra bên ngoài, vừa là nơi dẫn nước triều

mặn từ biển vào vùng U Minh Thượng Vài năm gần đây vùng đệm VQG U Minh

Thượng có tốc độ phát triển nhanh hơn với hàng loạt kênh đào được mở đến từng

nông hộ khiến chế độ thủy văn bên ngoài vùng lõi VQG thay đổi theo hướng biến

động mạnh mẽ hơn Nhân dân vùng đệm càng lấy nhiều nước ngọt cho sản xuất và

sinh hoạt thì hiện tượng xâm mặn càng nghiêm trọng hơn Chính sự phát triển nhưvậy ở vùng xung quanh đã phá vỡ chế độ thủy văn tự nhiên trong vùng lõi làm chocây tràm nói riêng và và HST rừng tràm nói chung không còn được phát triển bình

thường trong điều kiện tự nhiên xưa cũ Bên cạnh đó, do phát triển nông nghiệp vàdân cư trở nên đông đúc hơn, nên chất thải do phân bón, thuốc trừ sâu, sinh hoạt

Trang 11

v.v tăng lên nhanh chóng và là yếu tố bất lợi cho bảo tồn tính đa dạng trong HST

rừng tràm nếu như phải bơm bổ sung nước vào vùng lõi

Trong nhiều năm liền, để bảo vệ rừng tràm trước nguy cơ cháy rừng, VQG U

Minh Thượng đã xây dựng hệ thống công trình quản lý nước bao quanh vùng lõi

nhằm điều tiết nước mưa để PCCCR Tuy nhiên, do quy trình điều tiết chưa thậthợp lý nên chế độ thủy văn và không phù hợp với yêu cầu sinh thái của rừng tràmkhiến rừng tràm bị thoái hóa kéo theo giảm dần tính đa dạng sinh học của các loàikhác Hiện tượng cây tràm đổ ngả, chết cục bộ xảy ra ở phần lớn diện tích bị ngập

nước trong thời gian dài

Do điều kiện tự nhiên trong VQG U Minh Thượng bị phá vỡ, nên quản lý nướcđược xem là một giải pháp cần thiết cho việc PCCCR tràm Phải khẳng định rằng,

nếu không quản lý nước một cách khoa học, các HST trong VQG sẽ nhanh chóngthoái hóa, nạn cháy rừng thường xuyên xảy ra, các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽdần mất đi và VQG không còn giá trị Song để quản lý nước được tốt thì các

phương án quản lý nước cần xây dựng trên cơ sở khoa học và dựa trên những điều

kiện thuận lợi cả về yếu tố tự nhiên và yếu tố con người

Đối với những khu rừng đặc dụng nằm trong vùng có các hoạt động của conngười, việc tái lập điều kiện thích hợp cho các HST trong khu bảo tồn phát triển với

tự nhiên nhất không thể tách rời của sự hỗ trợ ở các mức độ khác nhau từ con

người, đặc biệt đến chế độ thủy văn Thủy văn đất ngập nước có một vai trò rất

quan trọng, nó là chìa khóa quyết định sự tồn tại và phát triển của các HST trongVQG Nếu quản lý nước không tốt, không hợp lý, thì có thể biến HST đất ngập

nước này sang HST đất ngập nước khác, thậm chí nghiêng hẳn sang HST trên cạn

hay thuần thủy sinh

1.2.2 Mục tiêu quản lý nước

Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của rừng tràm và đặc biệt sau đợtcháy rừng tháng 3 năm 2002 cho thấy không thể bảo vệ tốt VQG U Minh Thượngnếu không làm tốt công tác quản lý nước Các hoạt động quản lý nước trong VQG

U Minh Thượng nhằm bảo vệ và duy trì sự cân bằng của các HST tự nhiên Quản lý

Trang 12

nước là thực hiện chuỗi hành động kiểm soát nước trong VQG U Minh Thượng ở

mức hợp lý cả về độ sâu mực nước và thời gian ngập, nhằm tạo điều kiện thích hợpnhất cho sự phát triển bình thường của các loài thực vật trong VQG Quản lý nước

sẽ ưu tiên cho sự phát triển vượt trội của tràm và ở mức vừa phải của các loài câykhác, khống chế sự phát triển của sậy, không làm tăng diện tích đồng cỏ và diện tíchmặt nước trống vì những mục tiêu khác quan trọng hơn là sự đa dạng Đặc biệt, saucháy rừng, sự tái sinh và phát triển của tràm rất nhạy cảm với một số yếu tố môi

trường như độ sâu và thời gian ngập nước, chất lượng nước, độ dày lớp than bùnv.v Trong đó, độ sâu và thời gian ngập nước đóng vai trò quan trọng Đối với

những khu tràm già và dày còn sót lại, quản lý nước không những giúp cho tràm vàcác loài cây khác trong HST rừng tràm phát triển bình thường mà còn là điều kiệntốt để thực hiện PCCCR Rừng tràm U Minh Thượng còn được biết đến là nơi nổitiếng về nguồn lợi thủy sản gồm các loài cá đen như Cá lóc, cá Rô, cá Sặc v.v và

các loài động vật sống gần với môi trường nước như Lợn rừng, Tê tê, Rái cá v.v

Vì thế, quản lý nước tạo môi trường thuận lợi cho các loài động vật háo nước sinhsống và phát triển Một trong những vấn đề mà nhiều người quan tâm đối với VQG

U Minh Thượng là hiện tượng cháy rừng Ngay sau trận cháy rừng tháng 3 năm

2002, câu hỏi lớn đặt ra cho chúng ta là liệu phần sót lại của rừng còn có nguy cơ bịcháy không? Vì thế, quản lý nước không những giúp bảo tồn các HST rừng tràm màcòn phải đảm nhiệm thêm vai trò giữ ẩm cho đất rừng để phòng cháy và trữ nướctrong hệ thống kênh để chữa cháy Đối với VQG U Minh Thượng hiện nay và vềlâu dài, khôi phục và phát triển rừng đã khó, mà bảo vệ và giữ gìn rừng không bịcháy lại còn khó hơn Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển của rừng, từ táisinh, rừng tràm non đến rừng tràm già, lại cần phải có những biện pháp quản lý

nước tương ứng với chúng để vừa tạo điều kiện tốt nhất có thể để chúng phát triển

bình thường, vừa làm tốt công tác PCCCR Nếu chỉ chú trọng đến công tác PCCCR

mà không quan tâm đến điều kiện môi trường cho tràm và các loài thực vật khác

phát triển, thì phòng và chữa cháy cũng chỉ là “làm một việc chưa có cơ sở khoahọc” Nhưng nếu chỉ quan tâm đến tạo điều kiện cho tràm phát triển tốt nhất mà

Trang 13

không làm tốt công tác phòng và chữa cháy, thì khi cháy rừng xảy ra, việc bảo vệrừng tràm cũng chỉ là “làm một việc biết chắc là sẽ không còn gì mà vẫn cứ làm”.Với ý nghĩa và tầm quan trọng như thế, rõ ràng quản lý nước cho VQG U Minh

Thượng rất cần một sự quan tâm và đầu tư thỏa đáng

Trước thực tiễn đó một nhiệm vụ cấp bách đặt ra là phải nghiên cứu xây dựng

những giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trên cơ sở quản lý thủy văn cho VQG

U Minh Thượng một cách hiệu quả và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững

Trang 14

Chương 2 MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn này với những hạn chế nhất định về thời gian,

điều kiện nghiên cứu chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu hiện trạng hệ thống công trình

quản lý nước, ảnh hưởng của việc giữ nước hiện nay đến môi trường sinh thái và sựtồn tại của các loài động thực vật, đề xuất mực nước cần tích trữ cũng như thiết lập

cơ chế vận hành công trình quản lý nước phục vụ PCCCR ở VQG U Minh Thượng

tỉnh Kiên Giang Đây là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng phương ánphòng cháy, chữa cháy rừng ở VQG U Minh Thượng trong thời gian tới

2.3 Phương pháp tiếp cận

Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, hiện trạng công trình và yêu cầu quản lý nước

ở VQG U Minh Thượng sẽ được tiếp cận theo hướng:

- Tôn trọng điều kiện tự nhiên hoặc tái lập điều kiện gần với tự nhiên Đây làyếu tố cơ bản nhất trong bảo tồn đa dạng của các HST tự nhiên

- Định hướng cho việc tái khôi phục HST rừng tràm theo các mục tiêu đadạng và bền vững

Trang 15

- Hệ thống quản lý nước có thể đảm bảo và thích ứng với mọi trường hợp khíhậu khác nhau, tương ứng với khả năng quản lý và vận hành.

2.4 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu những

nội dung sau:

1 Nghiên cứu hiện trạng công trình quản lý nước làm cơ sở cho việc quy hoạch

và thiết lập hệ thống công trình quản lý nước phù hợp với điều kiện của

VQG U Minh Thượng

2 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc giữ nước hiện nay đến khu hệ động thực vậttrong VQG

3 Phân khu quản lý nước và tính toán cân bằng nước cho từng phân khu

4 Nghiên cứu hiệu lực của việc quản lý thuỷ văn đến nguy cơ cháy rừng tràm ở

VQG U Minh Thượng

5 Thiết lập hệ công trình quản lý và giám sát quy trình điều tiết nước

6 Cơ sở và biện pháp chữa cháy rừng từ hướng quản lý nước

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp luận

Đây là đề tài vừa mang tính thực tiễn, vừa mang tính lý luận, do vậy, hướng

tiếp cận chính là:

(1)- Cách tiếp cận hệ thống:

Quản lý thuỷ văn được nhìn nhận từ hai khía cạnh: hệ thống công trình quản

lý nước bao gồm: đê bao, kênh, cống, trạm bơm, trạm giám sát mực nước vv… Cơchế vận hành hệ thống công trình quản lý nước như: chế độ điều tiết nước, chế độgiám sát diễn biến thủy văn, cơ chế điều chỉnh Cháy rừng là hiện tượng tự nhiên,bởi vì nó diễn ra theo những quy luật của tự nhiên và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố khác trong hệ thống tự nhiên như thời tiết, loại rừng, địa hình, thổ nhưỡng v.v

Do cháy rừng có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tự nhiên mà có thể ngăn chặn hoặchạn chế được cháy rừng bằng tác động vào các yếu tố tự nhiên Trên quan điểm hệ

Trang 16

thống có thể xem những giải pháp phòng chống cháy rừng như là những giải pháp

điều khiển hệ thống tự nhiên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu cháy rừng

Để phòng cháy, chữa cháy rừng tràm thì việc quản lý thủy văn duy trì độ ẩm cho

rừng trong suốt mùa khô được coi là một trong những nội dung quan trọng của đềtài này

(2)- Cách tiếp cận đa ngành:

Cháy rừng là hiện tượng tự nhiên, nhưng cũng là hiện tượng kinh tế xã hội

Vì vậy, những giải pháp phòng chống cháy rừng cũng phải bao gồm cả những giảipháp khoa học công nghệ và cả những giải pháp kinh tế xã hội Những giải phápnày sẽ liên quan đến lâm nghiệp, thuỷ lợi, môi trường, văn hoá, quốc phòng v.v

Chúng được xây dựng trên cơ sở những kiến thức khí tượng học, thuỷ văn học, lâm

sinh học, công nghệ thông tin, môi trường và phát triển v.v Chúng được lồng ghépvới nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau để đạt được mục tiêu đặt ra và giảm đến mứcthấp nhất những chi phí của xã hội

Từ những hướng tiếp cận trên, nguyên tắc cơ bản trong thiết lập quản lý thủy

văn phục vụ công tác PCCCR ở VQG U Minh Thượng như sau:

Do VQG U Minh Thượng hoàn toàn không có khả năng nhận nước từ nguồnbên ngoài, trừ trường hợp khi cần thiết nên quản lý nước trong VQG được thực hiệncân bằng nước từ nguồn nước mưa và tổng lượng bốc hơi từ các thành phần khác

nhau Tuy nhiên, để cho các HST rừng phát triển bình thường, không thể tích toàn

bộ lượng nước mưa và để rừng ngập quá sâu thì trong suốt mùa mưa phải luôn sẵn

sàng tháo nước ra ngoài và chỉ tích lên cao trình hợp lý vào cuối mùa mưa Căn cứvào lượng bốc hơi cần phải tính toán mực nước cần điều tiết để duy trì độ ẩm cho

rừng trong mùa khô và hạn chế việc bơm nước bổ sung vào rừng sẽ làm biến đổi

môi trường sinh thái Toàn bộ quá trình nghiên cứu, đánh giá của đề tài được tómlược qua hình 2.1:

Trang 17

Hình 2.1: Sơ đồ tổng quát quá trình nghiên cứu

Điều kiện tự nhiên Hiện trạng hệ thống

công trình quản lý TV

Ảnh hưởng của cơ chế

quản lý nước hiện nay

Điều tra thực địa:

+ Điều tra ÔTC

Đề xuất giải pháp quản lý nước hợp lý

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Thu thập Thông tin

Xử lý, tính toán

Trang 18

2.5.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

- Phương pháp kế thừa tài liệu:

Phương pháp này được áp dụng nhằm rút ngắn khối lượng và thời gian

nghiên cứu Những số liệu được đề tài kế thừa bao gồm:

Các tư liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ở khu vực nghiên

cứu, những kết quả nghiên cứu, kết quả hội thảo liên quan đến phòng chống và khắcphục hậu quả của cháy rừng ở trong nước và thế giới, kết quả các hội thảo nghiêncứu khoa học nông, lâm nghiệp trong những năm gần đây có liên quan đến PCCCR

và khắc phục hậu quả của cháy rừng

- Phương pháp điều tra chuyên ngành

Điều tra nghiên cứu chuyên ngành có nhiệm vụ bổ sung tư liệu để trả lời

những câu hỏi liên quan đến chuyên môn của những ngành hẹp và đòi hỏi những

phương pháp và phương tiện điều tra đặc thù của từng lĩnh vực Trong đề tài nàyđiều tra chuyên ngành bao gồm: quan trắc khí tượng thủy văn, điều tra về cấu trúc

rừng, sinh trưởng của cây rừng ở các mực nước ngập khác nhau, ảnh hưởng củaviệc giữ nước đến đời sống của các loài động vật v.v Những điều tra nghiên cứu

chuyên ngành được thực hiện ở ô và tuyến điều tra nghiên cứu ngoài thực địa

+ Phương pháp thu thập số liệu thủy văn

Ngoài việc tham khảo số liệu quan trắc thủy văn của Trạm nghiên cứu thủy

văn và dự báo cấp cháy, Hạt kiểm lâm VQG U Minh Thượng về số liệu đo mựcnước tại 10 thước đo mực nước dọc kênh Trung tâm Đề tài tiến hành thiết lập và

thu thập chiều cao mực nước ở 05 thước đo mực nước trên tuyến kênh ngang và 9tuyến quan trắc mực nước ở các ống thí nghiệm có đường kính 5 cm và cắm sâu vào

đất 1,5 m tại các khu rừng trên đất than bùn còn lại sau trận cháy rừng tháng 3 năm

2002 Sơ đồ vị trí các thước đo mực nước được thể hiện ở hình 1 (Phụ biểu B)

+ Phương pháp thu thập số liệu trên các ô tiêu chuẩn 100m 2

Đề tài thiết lập một ô tiêu chuẩn ở khu rừng nguyên sinh (OTC số 1) và một ô

tiêu chuẩn tại khu rừng phục hồi sau trận cháy rừng năm 1994 (OTC số 2), 15 ôtiêu chuẩn tại các mực nước ngập khác nhau ở rừng tái sinh phục hồi sau trận cháy

Trang 19

rừng tháng 3 năm 2002 (bảng 2.1) Sơ đồ vị trí các ô tiêu chuẩn được thể hiện ởhình 2.2 Việc điều tra ô tiêu chuẩn được định kỳ 6 tháng 1 lần Tổng cộng có 3 lần

điều tra Mực nước ngập và số lần điều tra ở 15 ô tiêu chuẩn ở rừng tái sinh phục

hồi sau cháy năm 2002 được thể hiện ở bảng sau

Bảng 2.1: Hệ thống ô nghiên cứu rừng tràm tự nhiên ở U Minh Thượng

Trên các OTC xác định các chỉ tiêu cấu trúc của lâm phần như loài cây;

Đường kính thân cây (D1.3); Chiều cao vút ngọn (Hvn); Độ tàn che (TC); Độ chephủ thảm tươi cây bụi (CP); Độ dày tầng than bùn; Đặc điểm vật liệu cháy, nhiệt độ

và độ ẩm vật liệu cháy; Cường độ thoát hơi và lượng thoát hơi nước từ cây cao và

lớp cây bụi thảm tươi; Cường độ và lượng bốc hơi nước từ các thảm khô và mặt đấtrừng, nhiệt độ và độ ẩm không khí, tốc độ gió trong rừng

+ Đường kính thân cây được đo bằng thước Panme, độ chính xác đến mm.Điểm đo D1,3của các thân cây được đánh dấu bằng sơn đỏ để làm tăng sự chính xác

mực nước ngập khác nhau chúng tôi đo tất cả các cây có (D1,3) >1cm Mỗi cây có sốphân biệt viết trên một miếng thẻ nhôm Các thẻ nhôm được đính vào cây bằng đinhnhôm (cho các cây có (D1,3) >5cm) hoặc bằng dây điện cột (cho các cây có (D1,3)

<5cm) Tất cả các thân của một cây đều có cùng số phân biệt, nhưng mỗi cây(nhánh) có thêm một số trong ngoặc đơn để phân biệt với nhau Thí dụ một cây Dấu

dầu 3 lá (Euodia lepta), có số phân biệt là 9 nhưng nó có 03 thân, những thân này sẽ

được đánh dấu là 9 (1), 9 (2), và 9 (3) Các cây có (D1,3) < 2cm đã được đo nhưngkhông cho số phân biệt

Trang 20

+ Chiều cao vút ngọn được đo bằng thước cây dài 6 mét với độ chính xác

đến dm

+ Mực nước ngập được đo bằng thước đo mực nước chính xác đến mm

+ Độ tàn che, che phủ được xác định theo mạng lưới điểm và trực quan

Việc định danh các loài thực vật dựa theo tài liệu Cây cỏ Việt Nam, tập 1 - 3(Phạm Hoàng Hộ, 1991)

- Phương pháp thu thập số liệu trên các tuyến điều tra:

Thiết lập 06 tuyến điều tra, 30 điểm đếm và khảo sát sân chim để ghi nhậnthành phần các loài Chim trong VQG Việc định danh các loài chim theo sách

Guide to the Birds of Thailand [43] Danh pháp dựa theo Inskipp [45] Để ghi nhận

thành phần loài chim và đánh giá mức độ phong phú của chúng trên các dạng sinhcảnh sử dụng phương pháp đếm số loài theo thời gian áp dụng cho sinh cảnh rừngtràm, trảng trống; phương pháp đếm điểm áp dụng cho sinh cảnh trảng Sậy Xử lýkết quả khảo sát đếm điểm sử dụng phần mền DISTANCE

Thành phần các loài thú được ghi nhận thông qua khảo sát trên các tuyến

điều tra (kết hợp với tuyến điều tra chim), đặt bẫy thu mẫu thú nhỏ, 05 điểm bẫyảnh và kết hợp với:

+ Sưu tầm các mẫu vật: các mẫu sống, mẫu nhồi da, sương, sọ, còn lại trongnhà dân, nơi mua bán động vật

+ Phỏng vấn người dân địa phương

+ Tham khảo các tài liệu có liên quan

Đánh giá mật độ: Trên các tuyến điều tra các số liệu được ghi chép tỷ mỉ

(loài gặp, số lượng, sinh cảnh, tần suất gặp v.v…) Mật độ loài được đánh giá theochỉ số phong phú dựa vào tần xuất bắt gặp [30]

Vị trí thu mẫu thú được thể hiện ở phụ lục A, phụ biểu 01

Việc định danh các loài Thú theo Khóa định loại thú năm 1994 [19]

Mức độ đe dọa của các loài thú dựa theo Sách đỏ Việt Nam và Danh lục củaIUCN [1], [20]

Trang 21

Hình 2.2: Sơ đồ vị trí các ô tiêu chuẩn, tuyến điều tra, điểm đếm

Các kết quả ghi nhận được là cơ sở để đánh giá ảnh hưởng của việc giữ nước

đến khu hệ thú và khu hệ chim trong VQG

Trang 22

2.5.3 Phương pháp xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu

2.5.3.1 Phân tích trạng thái rừng các phân khu quản lý nước

Căn cứ vào cao trình mặt đất rừng, hiện trạng hệ thống kênh, hệ thống đê bao

đề tài đã phân chia VQG thành 5 phân khu thủy văn với những mức độ cao mặt đấttương đối đồng nhất Đề tài tiến hành phân tích, thống kê các trạng trái rừng tại các

phân khu quản lý thủy văn bằng phần mềm Mapinfo 8.0 dựa trên ảnh vệ tinhLandsat (Nguồn: Viện Địa lý, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam 2006) và khảosát thực địa

2.5.3.2 Tính toán các chỉ số

Đối với mỗi loài cây gỗ ghi nhận tại các OTC đều tính các chỉ tiêu: tiết diện

ngang, tần suất, mật độ tương đối, độ ưu thế tương đối, tần suất tương đối và chỉ sốquan trọng:

- Tiết diện (b.a.) = tổng diện tích thân cây ở độ cao ngang ngực

- Mật độ tương đối = (số cá thể của một loài)/(tổng số của tất cả các loài)x 100

- Độ ưu thế tương đối= (tổng hợp b.a của một loài)/(tổng hợp b.a của tất cảcác loài) x 100

- Tần suất = số ô đo đếm có loài đó xuất hiện

- Tần suất tương đối= (tần suất của một loài)/(tổng tất cả các tần suất) x 100

- Số lượng loài xác định trong khu vực nghiên cứu như sau:

k m

S S

m

Trong đó: m – số loài trong ô tiêu chuẩn (ô mẫu)

Sm– diện tích ô tiêu chuẩn

Sk– diện tích khu vực nghiên cứu

Trang 23

Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý

Vườn Quốc Gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang có diện tích 21.107 ha

gồm vùng lõi 8.038 ha, vùng đệm 13.069 ha nằm trên địa bàn hai xã: xã An MinhBắc và xã Minh Thuận huyện U Minh Thượng, có toạ độ địa lý từ 9o31'16” đến

9o39'45” vĩ độ Bắc và 105o03'06” đến 105o07'59” kinh độ Đông [36]

3.1.2 Địa hình

Địa hình VQG U Minh Thượng địa hình không đều và có dạng “lưng rùa”,

dốc từ trong ra ngoài Khu vực cao nhất lệch về phía Nam và từ đó thấp dần về phíaBắc Khu vực thấp nhất ở phía Tây - Bắc

Để quản lý và điều tiết nước cho VQG U Minh Thượng, việc thành lập bản

đồ địa hình là rất quan trọng Bản đồ địa hình Vùng lõi VQG U Minh Thuợng do dự

án CARE lập năm 2000, vùng lõi tập trung có cao trình từ +2,0 đến +2,1 m Sautrận cháy rừng tháng 03 năm 2002, bản đồ địa hình được thiết lập lại cho thấy lớpthan bùn giảm thấp 0,3 đến 0,6 m nhưng không đều Để thiết kế và điều tiết nước an

toàn, đề tài sử dụng bản đồ địa hình năm 2002 [21]

từ 0,3-3 m [13]

Trang 24

Có thể chia lớp than bùn thành 2 lớp phụ:

* Bên dưới là lớp than bùn màu đen hơi chặt, dày từ 0,8-1,5 m

* Phía trên là lớp than bùn màu nâu, xốp, nhẹ, dầy từ 0,3-1,5 m

- Địa mạo đất rừng tràm

Về địa mạo có thể phân biệt 2 đơn vị: (1)- vùng đầm lầy than bùn và vùng phẳng giữa ghềnh và lạch triều cổ

(2)-Vùng đầm lầy than bùn phân bố chủ yếu ở những khu vực có độ cao mặt đất

trung bình dưới 0,5 m [13] Trong vùng này mặt đất thấp, tầng sinh phèn nông.Phần lớn đất phèn hoạt động đều phân bố ở vùng đầm lầy hoặc lạch triều cổ Ởnhững đầm lầy than bùn khi bị cháy triệt để khả năng tái sinh của tràm và các loàicây khác rất khó khăn Nguyên nhân chủ yếu do đây là vùng trũng, trong mùa mưa

nước ngập kéo dài, hạt tràm không nẩy mầm được

Vùng phẳng giữa ghềnh và lạch triều cổ phân bố ở những nơi có độ cao mặt

đất trên 0,5m, tầng sinh phèn tương đối sâu Mặt đất thường tương đối cao Khi mất

lớp than bùn hoặc cháy làm giảm độ cao lớp than bùn, do bị ô xy hoá mạnh tầngsinh phèn và trở nên hoạt động Tái sinh tràm và các loài cây khác ở khu vực nàythuận lợi hơn vì đất cao hạt tràm không bị chết do ngập nước, mùa mưa có thể táisinh dễ dàng

Độ cao lớp than bùn thay đổi nhiều phụ thuộc vào tình trạng bị cháy trướcđây Tần suất cháy càng cao thì than bùn càng bị cháy nhiều và lớp than bùn còn lại

càng mỏng Hiện nay lớp than bùn trong khu vực ở mức dao động từ 20 đến 140

cm Sự phân bố của độ cao lớp than bùn còn lại sau cháy rừng năm 2002 ở VQG U

Minh Thượng được thể hiện ở hình sau

Trang 25

Hình 3.1: Phân bố độ cao lớp than bùn sau cháy rừng năm 2002

3.1.3.2 Các loại đất rừng tràm

Các loại đất chính trong khu vực gồm (1) - đất than bùn trên nền phèn tiềmtàng, (2) - đất than bùn trên nền phèn hoạt động, (3) - đất phèn hoạt động, (4) - đất

Trang 26

phù sa, glây Trong khu vực VQG U Minh Thượng hiện nay tồn tại chủ yếu các loại(1) - đất than bùn trên nền phèn tiềm tàng, (2) - đất than bùn trên nền phèn hoạt

động, (3) - đất phèn hoạt động [13]

- Đất phèn hoạt động hình thành trên mẫu chất không có than bùn:

Toàn bộ khu vực U Minh Thượng trước đây đã từng có lớp than bùn dày tới

3 m Chiều dày than bùn bị mất dần sau mỗi lần cháy Tuỳ điều kiện khô hạn củamỗi vị trí mà lớp than bùn có thể bị cháy nhiều, ít khác nhau Phần lớn những khuvực trơ đất sét hiện nay là hậu quả của cháy triệt để lớp than bùn Ở loại đất này,tầng phèn hoạt động gần mặt đất (<50 cm) Phần lớn thực vật là sậy Đây là loàiphát tán mạnh, ưa sáng và có thể sinh trưởng bình thường cả trong điều kiện ngập

nước Lớp phủ sậy có chiều cao từ 2 đến 4 m [32]

Trên đất không có than bùn tràm vẫn có thể tái sinh và phát triển tốt nếu có

một thời kỳ khô cho cây sinh trưởng Ngược lại ở nơi ngập nước quanh năm thì hầu

như tràm không có khả năng tái sinh, chủ yếu là cỏ hoặc sậy

- Đất than bùn trên nền phèn:

Bên dưới lớp than bùn là tầng sinh phèn xuất hiện ở độ nông sâu khác nhau.Những nơi tầng sinh phèn sâu hình thành đất phèn tiềm tàng, những nơi tầng sinhphèn nông đã hình thành đất phèn hoạt động

Ở những nơi có nhiều nhôm đất phèn thường có màu sáng, nước trong.Ngược lại ở những nơi có nhiều sắt, đất thường có màu nâu, nâu đen, nước thường

có màu nâu đen

- Than bùn

Tầng than bùn: Về mặt hình thái, có thể chia thành 2 loại: Than bùn đen có

độ phân giải cao, bị nén chặt nằm ở phần dưới; than bùn nâu có cấu trúc bở rời, mộtvài nơi còn chứa thân gỗ mục, nằm ngay trên lớp than bùn đen

Than bùn còn lại sau cháy chủ yếu là than bùn đen, chặt, thường có bề dày

dưới 1m Đây là lớp dưới của than bùn, có tỷ trọng cao hơn Đất chặt nên khả năng

thẩm ngấm nước bằng mao quản tốt hơn Lớp than bùn đen thường ẩm hơn các lớpthan bùn mầu nâu, xốp ở phía trên và thường khó cháy hơn Chỉ trong trường hợp

Trang 27

thời tiết rất khô, ở những vị trí xa các kênh nước, độ ẩm của chúng mới giảm thấp

đến mức có thể xảy ra cháy

3.1.4 Đặc điểm thời tiết, khí hậu

3.1.4.1 Đặc điểm chung

VQG U Minh Thượng nằm ở vĩ độ thấp, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt

đới gió mùa Theo các tài liệu quan trắc tại trạm khí tượng Rạch Giá cho thấy VQG

U Minh Thượng nằm trong vùng có đặc điểm khí tượng vùng nhiệt đới rất rõ nét

Tháng 3

Tháng 4

Tháng 5

Tháng 6

Tháng 7

Tháng 8

Tháng 9

Tháng 10

Tháng 11

Tháng 12

Cả năm

Tổng bức xạ (kcl/cm2) 13 13 16 14 12 11 12 11 11 11 11 12 147

Tổng số giờ nắng (giờ) 232.9 222.2 241.1 234.1 204 166.9 177.9 162.4 164.3 178.5 200.9 224.1 2409 Vận tốc gió TB (m/s) 1.4 2 2.3 2.2 2.5 3.4 3.6 3.9 2.4 1.6 1.2 1.4 2.3 Nhiệt độ TB (oC) 26 27 28.2 29 28.9 28.2 28.1 27.8 27.8 27.7 27.1 25.9 27.6 Nhiệt độ tối cao (oC) 35.6 35.4 37.8 37.9 37.7 34.2 33.7 33.4 34.4 33.9 33.2 34.8 37.9 Nhiệt độ tối caoTB(oC) 31.1 32.4 33.4 33.7 32.3 30.5 30.2 29.7 30.2 30.9 30.7 30 31.3 Nhiệt độ tối thấpTB 22 22.7 24 25.4 26 25.7 25.8 25.5 25.5 25.2 24.4 22.8 24.6

(Nguồn: Trạm Khí tượng thủy văn Thành phố Rạch Giá)

Nhiệt độ trung bình hàng năm tại khu vực nghiên cứu khá cao (27,60C) là

đặc trưng cơ bản của nền nhiệt độ tại vùng Tây Nam bộ Hàng năm, tháng IV là

trong năm chỉ từ 2,9 - 3,40C Do tính biến động của khí hậu từng năm cụ thể có sự

Trang 28

dịch chuyển tháng nhiệt độ trung bình cao nhất và thấp nhất trong năm song sự dịchchuyển này không gây nên sự xáo trộn lớn nào trong thời tiết hàng năm Trongngày, nhiệt độ cao nhất thường xảy ra vào lúc 13 - 14 giờ và thấp nhất thường xảy

ra vào lúc 3 4 giờ Biên độ dao động nhiệt ngày lớn nhất xảy ra trong mùa khô (7

-80C) và thấp nhất xảy ra trong mùa mưa (6 - 70C) Nhiệt độ trên 350C duy trì trungbình 3 - 4 ngày trong các tháng mùa khô Số ngày có nhiệt độ trung bình từ 26,0 –28,00C là 206 ngày/năm

3.1.4.3 Chế độ mưa

Tài liệu quan trắc mưa nhiều năm cho thấy lượng mưa trung bình ở U Minh

Thượng đạt trên 2.000 mm và khá ổn định theo thời gian song phân bố không đềutrong năm Mùa khô kéo dài từ tháng XII đến tháng IV, với tổng lượng mưa cả 5tháng dao động từ 170 đến 206,2 mm, trong khi đó tổng lượng bốc hơi bình quân

nhiều năm cùng kỳ biến đổi từ 531,7 mm đến 614 mm Sự thiếu hụt nước trong mùakhô rất lớn dao động từ 361,7 đến 417,8 mm (hình 3.2)

0 50 100 150 200 250 300 350

Hình 3.2: Phân bố mưa theo các tháng trong năm ở Rạch Giá

Số liệu cho thấy mùa mưa tập trung từ tháng V đến tháng XI hàng năm Do

địa hình bằng phẳng, độ chênh cao mặt đất ở các khu vực thường không vượt quá

1m Vì vậy, khả năng thoát nước kém Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho mặt đất

có thời gian ngập nước kéo dài trong suốt mùa mưa và tạo nên cảnh quan của vùng

đất ngập nước tương đối điển hình

Căn cứ vào tổng lượng mưa và bốc hơi tiềm năng có thể xác định được cân bằng

Trang 29

-100 -50 0 50 100 150 200 250

Hình 3.3: Cân bằng lượng mưa và lượng bốc hơi các tháng ở Rạch Giá

Số liệu cho thấy tổng cân bằng nước ở khu vực xấp xỉ 884 mm Trong điềukiện kênh rạch ít như trước kia thì lượng nước này được tích luỹ trong đất và lớp thanbùn, rồi từ từ chảy vào kênh rạch làm cho khu vực trở thành vùng đất ngập nước điểnhình

Tương quan nhiệt ẩm ở khu vực nghiên cứu được thể hiện ở hình sau

Hình 3.4: Biểu đồ khí hậu Gaussen Walter tỉnh Kiên Giang

0 30 60 90 120 150 180 210 240 270 300 330

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

20 25 30 35

40

R(m)m)

C)

70 75 80 85 90

Trang 30

3.1.4.4 Đặc điểm nắng

Vườn Quốc Gia U Minh Thượng nằm trong khu vực có số giờ nắng trungbình khá cao, bình quân cả năm khoảng 2.600 giờ, trung bình 7,0-7,5 giờ/ngày.Tháng II-IV có số giờ nắng cao nhất (trung bình 8-10 giờ/ngày) Tháng VIII-X có

số giờ nắng thấp nhất (trung bình 5-6 giờ/ngày) Số giờ nắng cao trong ngày là đặc

điểm thuận lợi cho cây sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là cây tràm Tuy nhiên,

trong mùa khô do có số giờ nắng nhiều, lượng bốc hơi lớn, độ ẩm thấp, lớp thực bì

và mặt đất khô hạn nên gặp lửa dễ phát sinh cháy lớn

3.2 Đặc điểm thủy văn Vườn Quốc Gia U Minh Thượng

3.2.1 Đặc điểm thủy văn toàn vùng U Minh Thượng

Chế độ thủy văn hệ thống sông kênh thuộc vùng U Minh Thượng nói chungchịu ảnh hưởng bởi trực tiếp chế độ mưa nội đồng và triều biển Tây và ảnh hưởnggián tiếp chế độ triều biển Đông và các tác động vùng xung quanh

Triều biển Tây là loại triều hỗn hợp thiên về nhật triều (chu kỳ triều hàngngày trung bình 24,5 giờ) với biên độ khoảng 80 - 100 cm, mực nước chân triều dao

động ít (20 - 40 cm), trong khi đó mực nước đỉnh triều dao động nhiều (60 - 80 cm),

kết quả là khoảng thời gian duy trì mực nước cao và đường mực nước bình quânngày nằm gần với đường mực nước chân triều Một chu kỳ triều trung bình 15 ngày.Trong một năm đường mực nước bình quân 15 ngày cao nhất xảy ra vào tháng XII -

I, thấp nhất vào tháng IV - V Từ những đặc điểm trên cho thấy biên độ triều biểnTây nhỏ nên năng lượng triều không lớn, khi truyền vào các kênh, năng lượng triềugiảm nhanh Hơn nữa, sự gặp gỡ triều từ nhiều phía là nguyên nhân chính hình

thành vùng giáp nước rộng lớn ở khu vực trung tâm VQG U Minh Thượng Tại đây,biên độ mực nước thường rất nhỏ, dòng chảy chủ yếu từ lưu lượng thuần do mưa và

chuyển từ kênh này sang kênh khác nên rất nhỏ và không rõ ràng Đặc điểm này có

liên quan đến sự bồi lắng các kênh mương trong vùng giáp nước Thời kỳ mực nước

thấp nhất (III - V) thường trùng với thời kỳ khô hạn cuối mùa mưa ở vùng U Minh

Thượng nên mực nước ở các kênh rạch xuống thấp, kéo theo sự hạ thấp mực nước

Trang 31

trong khi đó lượng mưa hai tháng này lại rất nhỏ, mùa mưa bắt đầu tư tháng V đạt

giá trị lớn nhất vào tháng VIII và kết thúc vào tháng XI [44]

3.2.2 Chế độ thủy văn sông rạch chính xung quanh VQG

Chế độ thủy văn vùng U Minh Thượng chịu ảnh hưởng từ triều biển Tây từnhiều phía, trong đó có hai hướng chính là từ sông Cái Lớn (phía Bắc) chuyểnxuống và từ sông Ông Đốc (phía Nam) truyền lên Sự gặp gỡ giữa hai hướng triều

này đã hình thành vùng giáp nước chính nằm ở vùng đất giáp ranh giữa hai tỉnhKiên Giang và Cà Mau Giáp nước cùng với điều kiện địa hình thấp đã hạn chế việctiêu thoái nước trong mùa mưa, tình trạng trầm thủy kéo dài ở khu vực trung tâmvùng U Minh Thượng nói chung và vùng đệm VQG U Minh Thượng nói riêng

Sự biến đổi mực nước ở vùng U Minh Thượng có liên quan mật thiết đến sựbiến đổi thủy triều và mưa nội đồng, cả hai yếu tố này còn có một quan hệ chung làbiến đổi theo gió mùa Như vậy, biến đổi mực nước ở đây vừa có tính chu kỳ baogồm chu kỳ mưa và chu kỳ thủy triều, vừa có tính ngẫu nhiên do sự bất thường củacác yếu tố gây mưa như dông, lốc, xoáy, bão, áp thấp nhiệt đới

Trong năm có một thời kỳ mực nước cao và một thời kỳ mực nước thấp thời

kỳ mực nước cao từ tháng VII đến tháng II năm sau (từ tháng VII-X là thời kỳ mưalớn nhất trong năm và từ tháng XI-II năm sau là thời kỳ triều cao trong năm) Thời

kỳ mực nước thấp từ tháng III-VI (từ tháng III-IV mực nước thấp nhất trùng vớithời kỳ khô hạn), từ tháng V-VI tuy đã có nhiều mưa nhưng mực nước còn ở mứcthấp do đây là thời kỳ triều thấp nhất trong năm [44]

Sự biến đổi của mưa còn có liên quan với các hiện tượng ngẫu nhiên gây ra

mưa như dông, lốc xoáy, bão, áp thấp nhiệt đới v.v Các hiện tượng dông, lốc xoáythường xảy ra vào đầu mùa mưa không những gây sập đổ nhà cửa, cây cối, cơ sở hạ

tầng v.v… mà còn gây ra mưa lớn làm ngập úng đầu mùa

Tình hình ngập úng phụ thuộc vào mưa và thủy triều Vùng U Minh Thượngnằm trong khu vực có lượng mưa lớn và sớm nhất ở vùng ĐBSCL Vì vậy, đến cuối

tháng VII đại bộ phận ruộng đã bị ngập với độ sâu nhất thường xảy ra vào tháng VII-X

Trang 32

Hàng năm, từ cuối tháng XI trở đi, do lượng mưa giảm nhanh chóng trong

toàn vùng, thủy triều hoạt động mạnh trở lại, nước mặn có điều kiện xâm nhập sâuvào các kênh rạch nội đồng Độ mặn 4 g/l thường được duy trì 7 - 8 tháng (I - VI) đốivới khu vực nội đồng

3.2.3 Chế độ thủy văn vùng đệm Vườn Quốc Gia U Minh Thượng

Do nằm giữa đê vùng đệm và vùng lõi, có hệ thống cống điều tiết phục vụcho sinh hoạt và các hoạt động phát triển kinh tế của con người, chủ yếu là sản xuấtnông nghiệp và nuôi trồng thủy sản v.v

Hàng năm, thường vào các tháng mùa mưa (từ tháng VI-X) nước từ trong

vùng lõi được xả ra ngoài vùng đệm Vào thời điểm gần cuối mùa mưa (tháng X),các cống trên đê bao vùng lõi được đóng lại để giữ nước phục vụ phòng cháy chữacháy cho vùng lõi Các cống, đập ngoài vùng đệm cũng được đóng lại (trung tuần

tháng XII hàng năm) để giữ nước, ngăn mặn phục vụ sản xuất cho nhân dân vùngđệm Trong những năm điều kiện thời tiết bình thường, sự vận hành như vậy có thểđảm bảo nước sản xuất vụ mùa muộn hay vụ Đông Xuân sớm Không kể phần trongđồng và kênh nông hộ, hệ thống kênh trong vùng đệm có thể tích được khoảng 3,5 -

hoạt của nhân dân vùng đệm trong những tháng đầu mùa khô và trong cả mùa khôkhi thời tiết thuận lợi

3.2.4 Chế độ thủy văn vùng lõi Vườn Quốc Gia

Cũng như vùng đệm, vùng lõi VQG U Minh Thượng có chế độ thủy vănmang tính hồ chứa, được điều tiết theo quy trình vận hành cống cho mục đích bảo

Trang 33

hành đóng mở cống trữ nước giữ độ ẩm thích hợp cho cây tràm sinh trưởng và phát

triển cũng như sự phục hồi của các loài động thực vật khác

3.3 Đặc điểm tài nguyên rừng

3.3.1 Rừng Tràm tự nhiên

Rừng tràm tự nhiên tồn tại chủ yếu ở trong vùng lõi Vườn Quốc Gia U Minh

Thượng, xung quanh khu vực đã cháy tháng 3 năm 2002 Diện tích rừng tràm tự

nhiên còn lại sau khi cháy là 2.340,8 ha, trong đó rừng tràm tự nhiên trên đất thanbùn là 666,45 ha và rừng tự nhiên trên đất sét là 1.674,3 ha [36]

Hình 3.5: Phân bố rừng tràm tự nhiên còn lại sau đợt cháy rừng năm 2002

3.3.2 Rừng tràm tái sinh tự nhiên

Trận cháy rừng tháng 03 năm 2002, diện tích rừng bị cháy là 3.212 ha, chiếm39,96% diện tích vùng lõi, trong đó có 2.300 ha rừng trên đất than bùn và 912 hacác loại rừng và thực vật trên đất sét Trong số 2.300 ha đất than bùn bị cháy có 194

ha bị mất than bùn hoàn toàn và tầng than bùn dày từ 30 cm trở nên chỉ còn 1.460

ha Diện tích rừng tái sinh sau trận cháy rừng tháng 3 năm 2002 là 2.489,3 ha đạt77,5% diện tích [36]

Hiện trạng VQG được minh họa bằng hình 3.6

Rừng tràm tự nhiên

Trang 34

Hình 3.6: Bản đồ hiện trạng VQG U Minh Thượng

3.4 Tình hình kinh tế - xã hội

3.4.1 Dân số, lao động

Dân số sinh sống trong Vùng đệm VQG 18.852 người với 3.675 hộ bao gồm3.396 hộ thuộc dân tộc Kinh, 278 hộ dân tộc Khmer và 1 hộ dân tộc Hoa Bình quânmỗi hộ có 5,6 nhân khẩu; 52% dân cư trong vùng đệm là phụ nữ [37]

Các hộ dân trong vùng đệm được nhận đất để sản xuất theo mô hình nông hộ, trung

Trang 35

3.4.2 Tình hình kinh tế

3.4.2.1 Hi ện trạng kinh tế:

Đa phần dân cư sinh sống trong vùng đệm VQG có trình độ dân trí thấp,

phong tục tập quán còn lạc hậu Việc thâm canh tăng vụ cũng như áp dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, nên năng suất và sản lượng còn rấtthấp Sản lượng lương thực bình quân đầu người mới đạt 173kg/đầu người/năm Số

hộ nghèo chiếm 14,5% [37]

3.4.2.2 Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp

- Hiện trạng đất đai:

Tổng diện tích đất tự nhiên của vùng đệm là 13.069 ha, đất lâm nghiệp là

4.032 ha trong đó đất có rừng là 3.245,7 ha (chiếm 80,5% diện tích đất lâm nghiệp)

Tuy nhiên, trong những năm gần đây cây Tràm mang lại hiệu quả kinh tế không caonên một số hộ dân phá bỏ Tràm để sản xuất nông nghiệp [37]

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện U Minh Thượng, 2008)

- Tình hình sản xuất nông nghiệp:

Sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình Hệ thống câytrồng nông nghiệp ở xã rất đa dạng, nhưng sản phẩm chính vốn là lúa gạo, rau màu.Sản xuất nông nghiệp trong vùng đệm chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên, đấtcanh tác bị thoái hoá, chua phèn nặng do không được bón phân, cải tạo, kỹ thuậtcanh tác còn lạc hậu Giống mới đã được nhân dân địa phương du nhập vào nhưngthiếu sự hướng dẫn kỹ thuật, thiếu đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu nên năng suất cònthấp Về chăn nuôi kỹ thuật còn lạc hậu, dịch bệnh thường xảy ra hàng năm nhưng

Trang 36

thiếu hệ thống dịch vụ thú y tại địa phương Mặt khác do thiếu vốn nên việc đầu tưgiống mới cho chăn nuôi chưa được chú ý Nhìn chung sản xuất nông nghiệp của

nhân dân địa phương chủ yếu còn mang nặng tính tự túc tự cấp, chưa có đầu tư sản

xuất hàng hoá

- Tình hình sản xuất lâm nghiệp:

Trồng rừng sản xuất là một thế mạnh của vùng đệm nhưng những năm gần

đây giá gỗ Tràm liên tục giảm nên nhiều hộ dân đã phá bỏ cây Tràm để cấy lúa

Chính vì vậy, công tác bảo vệ rừng không được quan tâm chú trọng, các vụ cháyrừng trong vùng đệm thường xuyên xảy ra vào mùa khô

Sản xuất lâm nghiệp tại địa phương chưa phát triển, chưa khai thác được thếmạnh của vùng Nhân dân vốn có kinh nghiệm trồng Tràm từ xưa nhưng do thiếuquy hoạch, thiếu vốn, công tác bảo vệ gặp nhiều khó khăn, diện tích rừng chất

lượng chưa cao Nếu được quy hoạch, được đầu tư vốn và hướng dẫn kỹ thuật đúng

mức sẽ khơi dậy được tiềm năng sản xuất lâm nghiệp của người dân địa phương

làm cho độ che phủ của rừng được tăng lên, đời sống kinh tế được cải thiện

3.4.3 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng vùng đệm VQG U Minh Thượng còn nhiều bất cập, giao thông

đi lại gặp nhiều khó khăn, chủ yếu bằng phương tiện đường thủy Hiện nay mới chỉ

có 5/11 ấp trong vùng đệm có điện sinh hoạt [37]

3.4.4 Y tế

Tình hình sức khỏe của các cộng đồng cư dân vùng đệm cũng giống như tìnhtrạng thường thấy trong các cộng đồng nông thôn nghèo ở khắp Việt Nam Thunhập thấp, mức bảo đảm lương thực cho mỗi hộ cũng thấp và các tiêu chuẩn dinh

dưỡng thấp đó là kết quả của nguồn thực phẩm không thích hợp, thiếu hạ tầng cơ sở

và không có các dịch vụ hỗ trợ, do đó dẫn tới các rối loạn về sức khoẻ như là suy

dinh dưỡng và lao Các trạm y tế xã rất thiếu thốn về nhân sự và yếu kém về trang

thiết bị và có trạm ở xa nơi có người ở đến 17 km khoảng các này phải đi bằngthuyền mới tới Cứ mỗi 10.000 dân chỉ có 9 cán bộ y tế và mỗi 1.000 dân chỉ có 1

giường bệnh [37]

Trang 37

3.4.5 Giáo dục

Có 43 điểm trường tiểu học nằm rải rác trong vùng đệm Trong đó chỉ có 6

điểm trường là có kiến trúc kiên cố, 37 điểm trường còn lại chỉ là những chòi sơ sàiđược dựng lên do nhu cầu gia tăng về phòng học trong khu vực [37]

Giáo viên bị thiếu hụt trầm trọng, có giáo viên phải dạy tới 2 ca 1 ngày Phầnlớn trẻ em lớp 1 và lớp 2 phải đi bộ hoặc đi thuyền tới 2 km để đến trường Học sinhnào muốn tiếp tục học cấp III phải đi xa đến tận các thị trấn lớn hơn như Huyện AnMinh, huyện U Minh Thượng và Tp Rạch Giá Phần lớn các gia đình không đủ khả

năng để cho con đi học Thiết bị giáo dục cũng thiếu trầm trọng, phần lớn cáctrường không có điện, nước và phòng vệ sinh, trong một số trường không có đủ cả

bàn và ghế

Trang 38

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng và cơ chế quản lý nước Vườn Quốc Gia U Minh Thượng

4.1.1 Hiện trạng hệ thống công trình quản lý nước

Cho tới nay, hệ thống quản lý nước VQG U Minh Thượng được phát triển quanhiều thời kỳ, bao gồm hệ thống đê và kênh bao khép kín, một số cống tiêu thoát

nước dưới đê, các đê bao than bùn và các kênh trong vùng lõi Ngoài ra, để điều tiếtnước giữa các khu vực, một số đập ngăn tạm cũng được đắp trên kênh bao và kênh

trong vùng lõi, cùng một trạm bơm để bơm bổ sung nước từ ngoài vào khi cần thiết

Hệ thống đê và kênh bao quanh vùng lõi có tổng chiều dài 38 km, tạo thànhmột đa giác bốn cạnh dạng hình thoi không cân Hệ thống đê bao được xây dựng từ

năm 1978, đến năm 2003 được bổ sung và nâng cấp tương đối hoàn chỉnh Mặt đê

có cao trình +2,0, chiều rộng 4 m Theo quy trình vận hành điều tiết nước hiện naythì hầu hết đê bao trong không bị nước tràn qua, kể cả lúc tích nước cao nhất Hệthống đê bao trong có tác dụng giữ nước để cung cấp cho mùa khô, đồng thời là

đường giao thông phục vụ công tác quản lý VQG Hệ thống kênh bao nằm bên

trong và kẹp sát đê bao có tác dụng trữ và giữ nước để cung cấp cho mùa khô Hệthống kênh bao được nạo vét năm 2003 với độ sâu ở dưới cao trình 2,5 m, bề rộngmặt kênh 12 m Khi thi công nâng cấp các kênh bao, các nhà thiết kế đã không chú

ý đến dọn sạch lớp than bùn và thảm mục dưới chân đê, hệ quả là lượng nước vẫn

rò rỉ qua lớp thảm mục và than bùn tương đối lớn

Dưới hệ thống đê bao là 10 cống điều tiết nước, trong đó có 8 cống tròn cóđường kính 100 cm và 2 cống hộp có kích thước 2x3 m Tất cả các cống đều có phaiđóng mở bằng thủ công, song hầu như chỉ có 2 cống hộp là đang hoạt động bìnhthường, các cống tròn ít khi được sử dụng

Hiện trạng hệ thống công trình quản lý nước VQG U Minh Thượng hiện nay

được thể hiện ở hình 4.1

Trang 39

Hình 4.1: Hiện trạng hệ thống công trình quản lý nước

Trang 40

Trong vựng lừi cũn cú cỏc kờnh ngang, kờnh trung tõm, kờnh KT1, KT2,KT3 và cỏc kờnh mới đào năm 2002 để làm đường băng cản lửa Kờnh ngang dài7,2 km, rộng 15 m, sõu - 2,0 m Kờnh Trung tõm dài 10,6 km, chia làm 2 đoạn; đoạn

I từ bờ bao phớa Bắc vào đến kờnh ngang (hồ Hoa Mai) chiều dài 3,3 km, chiều rộngmặt 20 m, sõu -2,5 m; đoạn II dài 7,3 km, bề rộng mặt 15 m, sõu - 2,5 m Từ kờnhbao phớa Bắc cú 2 kờnh nhỏ đi về phớa kờnh ngang và cỏch kờnh ngang 500 m;chiều rộng mặt 12 m, sõu -2,0 m Ngoài ra, cũn cú 2 đờ và kờnh bao vựng than bựn,với cao trỡnh đờ +2,0 m, cao trỡnh đỏy kờnh -1,7 m

4.1.2 Cơ chế quản lý nước

Cơ chế quản lý nước của VQG từ năm 2003 đến nay là tớch nước vào cuối mựamưa để duy trỡ độ ẩm cho rừng trong mựa khụ Hàng năm, vào cuối mựa mưa (thường

là cuối thỏng IX) nước mưa được tớch lại trong vựng lừi ở mức + 1,8 m sau đú do bốc

thoỏt hơi, nước giảm dần và thường đạt mức + 1,5 m vào thỏng III/IV, trước khi cúmưa Với phương ỏn quản lý nước như hiện nay thỡ vào thời điểm cuối mựa chỏy

(thỏng IV) thỡ mực nước đạt ngang bằng hay thấp hơn cao trỡnh bề mặt rừng 20 cm ởnhững nơi cú than bựn cao cú diện tớch cũn lại ớt, những khu vực khỏc hoàn toàn bịngập sõu trong nước trong thời gian dài tại tất cả cỏc phõn khu (hỡnh 4.2; 4.3)

đầu mùa khô 15/10/2007 Mực nước kênh Trung tâm cuối mùa khô 15/04/2008

Ngày đăng: 12/04/2022, 20:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Alt + F4 Đóng bảng tính, đóng Excel - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
lt + F4 Đóng bảng tính, đóng Excel (Trang 9)
III. Bảng phụ, tranh minh hoạ. III. Các hoạt động dạy học: - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng ph ụ, tranh minh hoạ. III. Các hoạt động dạy học: (Trang 14)
-GV yêu cầu 4 hs lên bảng làm hs khác làm vào vở. - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
y êu cầu 4 hs lên bảng làm hs khác làm vào vở (Trang 16)
rừng thỏng 3 năm 2002 (bảng 2.1). Sơ đồ vị trớ cỏ cụ tiờu chuẩn được thể hiện ở hỡnh 2.2 - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
r ừng thỏng 3 năm 2002 (bảng 2.1). Sơ đồ vị trớ cỏ cụ tiờu chuẩn được thể hiện ở hỡnh 2.2 (Trang 19)
4.2. Ảnh hưởng của việc quản lý nước đối với khu hệ động thực vật 4.2.1. Ảnh hưởng của việc quản lý nước hiện nay đối với khu hệ thực vật - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
4.2. Ảnh hưởng của việc quản lý nước đối với khu hệ động thực vật 4.2.1. Ảnh hưởng của việc quản lý nước hiện nay đối với khu hệ thực vật (Trang 42)
Bảng 4.2: Tổ thành cỏc loài thực vật ở rừng tỏi sinh sau chỏy với cỏc mực nước ngập khỏc nhau - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.2 Tổ thành cỏc loài thực vật ở rừng tỏi sinh sau chỏy với cỏc mực nước ngập khỏc nhau (Trang 43)
Bảng 4.3: Tần suất xuất hiện cỏc loài thực vật thuỷ sinh dưới rừng tràm tỏi sinh - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.3 Tần suất xuất hiện cỏc loài thực vật thuỷ sinh dưới rừng tràm tỏi sinh (Trang 45)
Bảng 4.4: Tần suất gặp được cỏc loài thực vật thuỷ sinh dưới rừng tràm tỏi sinh - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.4 Tần suất gặp được cỏc loài thực vật thuỷ sinh dưới rừng tràm tỏi sinh (Trang 46)
Bảng 4.5: Sinh trưởng đường kớnh (D1.3) và chiều cao (Hvn) tràm ở cỏc mực nước ngập khỏc nhau. - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.5 Sinh trưởng đường kớnh (D1.3) và chiều cao (Hvn) tràm ở cỏc mực nước ngập khỏc nhau (Trang 47)
Bảng 4.7. Đường kớnh và chiều cao rừng tràm 6 tuổi ở cỏc mực nước ngập - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.7. Đường kớnh và chiều cao rừng tràm 6 tuổi ở cỏc mực nước ngập (Trang 48)
Qua bảng trờn cho thấy sau khi ỏp dụng giải phỏp quản lý thỷ văn thành phần cỏc loài thỳ và chim trong VQGđều suy giảm.Số loài chim giảm 20 loài, số loài thỳ giảm2 loài - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
ua bảng trờn cho thấy sau khi ỏp dụng giải phỏp quản lý thỷ văn thành phần cỏc loài thỳ và chim trong VQGđều suy giảm.Số loài chim giảm 20 loài, số loài thỳ giảm2 loài (Trang 51)
Bảng 4.11: Thành phần loài chim tại cỏc dạng sinh cảnh trước và sau khi ỏp dụng cỏc giải phỏp giữ nước - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.11 Thành phần loài chim tại cỏc dạng sinh cảnh trước và sau khi ỏp dụng cỏc giải phỏp giữ nước (Trang 52)
Bảng 4.10: Mức độ phong phỳ của cỏc loài thỳ trước và sau khi ỏp dụng cỏcgiải phỏp giữ nước - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.10 Mức độ phong phỳ của cỏc loài thỳ trước và sau khi ỏp dụng cỏcgiải phỏp giữ nước (Trang 52)
Bảng 4.12: Hiện trạng cỏc phõn khu quản lý nước - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.12 Hiện trạng cỏc phõn khu quản lý nước (Trang 57)
Bảng 4.13: Cõn bằng nước tại cỏc phõn khu Phõn khuDiệntớch (ha)Lượngmưa(tấn)Lượngnướcthoỏt hơikhỏi lỏ ởtầng tỏncõy cao (tấn) Lượngnướcthoỏt hơi khỏitỏn cõybụi(tấn) Lượng bốc hơi mặt đấtdướithảm thực vật(tấn) Lượngnước bốc hơimặt nước tựdo(tấn) - Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o                                 bé quèc phßng
Bảng 4.13 Cõn bằng nước tại cỏc phõn khu Phõn khuDiệntớch (ha)Lượngmưa(tấn)Lượngnướcthoỏt hơikhỏi lỏ ởtầng tỏncõy cao (tấn) Lượngnướcthoỏt hơi khỏitỏn cõybụi(tấn) Lượng bốc hơi mặt đấtdướithảm thực vật(tấn) Lượngnước bốc hơimặt nước tựdo(tấn) (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w