1 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM (Tổng số giờ 04; Lý thuyết 03; Thảo luận 01) I Một số cách tiếp cận và quan niệm về hệ thống chính trị Việt Nam 1 Một số cách tiếp cận hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là phạm trù của khoa học chính trị hiện đại, xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX Nhà chính trị học D Istons được coi là người đặt nền móng cho sự hình thành học thuyết hệ thống chính trị với các tác phẩm Hệ thống chính trị (1953) và Giới hạn sự phân tích chính trị (19.
Trang 1Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM./
(Tổng số giờ: 04; Lý thuyết: 03; Thảo luận: 01)
I Một số cách tiếp cận và quan niệm về hệ thống chính trị Việt Nam
1 Một số cách tiếp cận hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là phạm trù của khoa học chính trị hiện đại, xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX Nhà chính trị học D.Istons được coi là người đặt nền móng cho sự hình thành học thuyết hệ thống chính trị với các tác phẩm:
Hệ thống chính trị (1953) và Giới hạn sự phân tích chính trị (1965) Từ đó đến
nay, hệ thống chính trị là một khái niệm được dùng phổ biến trên thế giới, được nghiên cứu từ nhiều góc độ tiếp cận và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau
Có thể khái quát các nghiên cứu hệ thống chính trị từ hai cách tiếp cận: thể
chế và hệ thống Cách tiếp cận thể chế (Institutional Approach), hệ thống chính
trị được xem như một chỉnh thể bao gồm tập hợp các thể chế chính trị (nhà nước, đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội) và những mối quan hệ qua lại giữa
chúng Cách tiếp cận hệ thống (System Approach), không chỉ dừng lại ở việc
phân tích cấu trúc, mối quan hệ giữa các thể chế mà còn đánh giá những chuẩn mực, vai trò, hành vi chính trị của hệ thống chính trị cũng như môi trường tác động đến hệ thống chính trị Hai cách tiếp cận này bổ trợ lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu hệ thống chính trị trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Cách tiếp cận thể chế giúp các nhà nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc (các bộ phận - thể chế) cấu thành hệ thống chính trị với những mối quan hệ đa dạng, đa chiều Các nghiên cứu theo cách tiếp cận này thường lấy các thể chế quyền lực
cơ bản trong các nhánh quyền lực (hành pháp, lập pháp, tư pháp), đảng chính trị,
hệ thống bầu cử, làm trung tâm nghiên cứu Bên cạnh đó, cách tiếp cận hệ thống giúp nghiên cứu hệ thống chính trị một cách tổng quát, đi sâu làm rõ bản chất, cơ cấu, chức năng và hoạt động thực tế của nó
Hệ thống chính trị là phạm trù lịch sử, xuất hiện và phát triển trong xã hội
có giai cấp và nhà nước Trước thời kỳ hiện đại, hệ thống chính trị chưa thể hiện một cách toàn diện với những nhân tố cấu thành hệ thống chính trị như ngày nay
Từ đó, tiếp cận thể chế là cách tiếp cận sớm nhất và lâu đời nhất trong nghiên cứu hệ thống chính trị Thời kỳ tư bản chủ nghĩa với nền dân chủ tư sản hình
Trang 22
thành và phát triển đã chấm dứt thời kỳ quyền lực chính trị tập trung ở một cá nhân hay một nhóm nhỏ người trong xã hội Những quyết định chính trị của xã hội không còn là sản phẩm ý chí chủ quan của một cá nhân hay của một nhóm nhỏ người trong xã hội mà là sản phẩm của cả một hệ thống với sự tham gia của nhiều chủ thể với những thể chế bắt buộc, vận hành theo những cơ chế, nguyên tắc đa dạng và phức tạp Nghiên cứu chính trị hiện đại không thể dừng lại ở việc nghiên cứu hoạt động của một thể chế (nhà nước) hay một cá nhân đứng đầu nhà nước mà là nghiên cứu cả một hệ thống chính trị với một cơ cấu tổ chức bao gồm nhiều thể chế, vận hành theo cơ cấu, chức năng nhất định, vừa phối hợp vừa đối trọng, kiểm soát quyền lực lẫn nhau Vì vậy, trong các nghiên cứu về hệ
thống chính trị thời kỳ cổ đại, trung đại và cận đại thường sử dụng khái niệm thể
chế chính trị, thiết chế chính trị (Political Institution) nhưng đến xã hội hiện đại
thì khái niệm hệ thống chính trị trở nên phổ biến hơn
Thuật ngữ "Thể chế" trong ngôn ngữ tiếng Việt theo cuốn Đại từ điển
tiếng Việt1 do Nguyễn Như Ý biên soạn cho rằng nó đồng nghĩa với "Thiết chế"
và được giải nghĩa là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi
người phải tuân theo Thể chế (Institution) trong tiếng Anh, tiếng Pháp được
xem xét như là sự quy định, sự đặt ra luật lệ, là tổng hợp những chuẩn mực
pháp lý trong các quan hệ xã hội, sự thiết lập các tổ chức nhà nước và xã hội, là
hình thức này hay hình thức khác của cấu trúc xã hội
Giải thích về mặt ngôn ngữ khái niệm "thể chế" hay "thiết chế" cho thấy:
Thứ nhất, "thể chế" là những quy định, luật lệ, chuẩn mực mang tính pháp lý
của xã hội Với cách hiểu này, ở Việt Nam hiện nay đang xác định việc thực hiện một trong ba khâu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó mục tiêu cao nhất là hoàn thiện
hệ thống pháp luật kinh tế thị trường định hướng XHCN Thứ hai, "thể chế" là
nói đến tổ chức nhà nước hay xã hội với mô hình cấu trúc xã hội nhất định Cách hiểu này phù hợp với giải thích của Từ điển Oxford Learner's Dictionary, thể chế
là một tổ chức có mục đích nhất định, đặc biệt, là những tổ chức có liên quan tới giáo dục hay một ngành nghề cụ thể Áp dụng khái niệm "thể chế" vào nghiên
1 Nguyễn Như Ý biên soạn: Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998
Trang 3cứu đời sống chính trị, các nhà khoa học chính trị xây dựng khái niệm "thể chế chính trị" hay "thiết chế chính trị" nhằm làm rõ vấn đề hệ thống chính trị
Khái niệm hệ thống chính trị xuất hiện từ yêu cầu của xã hội hiện đại đồng thời được thúc đẩy bởi sự phát triển của khoa học công nghệ với những lý thuyết mới ra đời trong thời kỳ này Năm 1920, Ludwig von Bertalanffy, nhà sinh vật học người Đức áp dụng lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu các thực thể sinh vật thích nghi và phát triển trong sự tương tác với môi trường bên ngoài Đây là một
xu hướng nghiên cứu mới được các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau
áp dụng trong đó có khoa học chính trị học
Từ cách tiếp cận hệ thống, các nhà chính trị học nghiên cứu hệ thống chính trị như một chỉnh thể, chỉ ra cấu trúc, chức năng, mối quan hệ nội tại giữa cấu trúc và chức năng trong hệ thống chính trị cũng như mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với môi trường bên ngoài Trên cơ sở đó, có thể so sánh được hệ thống chính trị của các quốc gia cũng như hệ thống chính trị giữa các thời kỳ lịch sử khác nhau của một quốc gia Việc áp dụng lý thuyết hệ thống trong phân tích hệ
thống chính trị đem lại những ý nghĩa như: Một mặt, phân tích cấu trúc giúp làm
rõ hệ thống chính trị vận hành như thế nào; Mặt khác, phân tích chức năng giúp
làm rõ hệ thống chính trị làm gì, hoạt động thực tế như thế nào Từ đó, giúp phân tích hệ thống chính trị ở trạng thái "tĩnh" (ổn định) và trạng thái "động" (biến đổi)
Từ cách tiếp cận hệ thống, hệ thống chính trị được định nghĩa là "toàn bộ các
hoạt động của đời sống chính trị như một chỉnh thể có khả năng tiếp nhận, xử lý và chuyển hóa các đòi hỏi (từ cả bên trong và bên ngoài) thành các quyết định chính trị"
2 Quan niệm về hệ thống chính trị ở Việt Nam
Hệ thống chính trị là một hiện tượng xã hội rất phức tạp, đa dạng, đa chiều
và có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị Thông qua hệ thống chính trị, quyền lực chính trị mà trung tâm là quyền lực nhà nước phân bổ hệ thống giá trị xã hội theo những mục tiêu nhất định Với cách định nghĩa sau là cơ
sở cho việc nghiên cứu hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể bao gồm các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và các
Trang 44
phong trào xã hội) được xây dựng trên cơ sở các quyền và chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những cơ chế nguyên tắc và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị
Hệ thống chính trị là một hệ thống, có cấu trúc phức tạp, vận hành theo những cơ chế vận hành và nguyên tắc khác nhau Mặc dù, hệ thống chính trị của một quốc gia hay của các thời kỳ khác nhau của quốc gia đó có những điểm khác biệt căn bản nhưng đều thống nhất ở ba thuộc tính cơ bản:
- Tính chỉnh thể: hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm tổng hợp các
yếu tố, bộ phận cấu thành với tư cách là các tiểu hệ thống Có thể khái quát trong
hệ thống chính trị có 4 tiểu hệ thống: tiểu hệ thống thể chế (nhà nước, đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, ), tiểu hệ thống quan hệ, tiểu hệ thống cơ chế vận hành và tiểu hệ thống nguyên tắc Bốn tiểu hệ thống nói lên sự gắn kết, ràng buộc lẫn nhau giữa các thể chế chính trị với nhiều mối quan hệ, vận hành theo những cơ chế và nguyên tắc nhất định
- Tính công khai: hệ thống chính trị tồn tại một cách hợp pháp trong đời
sống chính trị, tức là được pháp luật công nhận và bảo vệ
- Tính giai cấp: hệ thống chính trị bao giờ cũng chịu ảnh hưởng và phản
ánh sự tồn tại những tư tưởng, lợi ích chính trị của giai cấp cầm quyền, các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau trong đời sống xã hội với vị trí, vai trò khác nhau
Hệ thống chính trị bảo vệ tư tưởng, lợi ích của giai cấp mình và các giai cấp, tầng lớp xã hội liên minh
Quan niệm về hệ thống chính trị ở Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa Trước những năm 90 của thế kỷ XX, cũng như Liên Xô
và các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, khái niệm hệ thống chính trị chưa xuất hiện ở Việt Nam Thời kỳ đó, do đặc điểm lịch sử và yêu cầu của
nhiệm vụ chính trị, các nước xã hội chủ nghĩa thường sử dụng khái niệm hệ
thống chuyên chính vô sản để nhấn mạnh nhiệm vụ chuyên chính vô sản trong
thời kỳ đấu tranh giành, giữ bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc và từng bước xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
Ở Việt Nam, khái niệm hệ thống chính trị thay thế cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản bắt đầu được chính thức sử dụng trong các văn kiện
Đảng từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3/1989)
Trang 5Từ đó đến nay, khái niệm hệ thống chính trị được sử dụng phổ biến với nhiều cách hiểu khác nhau dựa trên hai cấp độ: khái quát mang tính hệ thống và cụ thể,
đi sâu phân tích các thành tố cơ bản trong hệ thống chính trị Việt Nam
Ở cấp độ khái quát, có hai cách hiểu cơ bản về hệ thống chính trị ở Việt Nam: (1) Hệ thống chính trị bao gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất giai cấp cầm quyền, luôn hướng tới phục vụ quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền Cách hiểu này nhấn mạnh thuộc tính giai cấp của hệ thống chính trị (2) Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm nhà nước, đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp Cách hiểu này nhấn mạnh hơn đến tính chỉnh thể, tính hợp pháp, tức là bên cạnh những bộ phận của giai cấp cầm quyền là bộ phận cơ bản, quyết định bản chất, chức năng của hệ thống chính trị còn có các tổ chức, thiết chế hợp pháp khác Hai cách hiểu này bổ sung cho nhau nhằm làm rõ
hệ thống chính trị ở tầm khái quát, thể hiện bản chất, tính chất và hoạt động thực
tế của nó trong đời sống chính trị
Ở cấp độ phân tích cụ thể hơn, chỉ rõ hệ thống chính trị bao gồm những thành tố cơ bản nào và được “phân vai, phân việc„ với những vị trí, vai trò, chức năng nhất định Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đóng vai trò quản lý; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đóng vai trò quan trọng trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đoàn kết toàn dân Thông qua cách tiếp cận này, bản chất của hệ thống chính trị Việt Nam được xác định
là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, tất nhiên trong điều kiện hiện nay là hệ thống chính trị quá độ lên xã hội chủ nghĩa
II Đặc điểm và những yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị Việt Nam
1 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam
a) Tính dân tộc, tính nhân dân chi phối tính chất và hoạt động của hệ thống chính trị
Tính dân tộc thể hiện ở nhu cầu củng cố sự thống nhất, chủ quyền độc lập
dân tộc cũng như sự phát triển của quốc gia Nhu cầu đó của dân tộc đặt ra những mô hình thể chế chính trị, hệ thống chính trị phù hợp
Chẳng hạn, thời kỳ phong kiến, mô hình chính trị không hoàn toàn giống Trung Quốc mà có sự thay đổi phù hợp; thời kỳ cách mạng, mô hình hệ thống
Trang 66
chính trị phù hợp nhiệm vụ chính trị là giành độc lập, thiết lập thể chế dân chủ cộng hòa sau đó là cộng hòa xã hội chủ nghĩa – mang đậm tính chất dân chủ nhân dân; bảo vệ và phát huy quyền lực chính trị của nhân dân
Tính dân tộc còn thể hiện ở việc đặt ra những nhu cầu lựa chọn hệ tư tưởng chính trị - bệ đỡ cho hệ thống chính trị một cách phù hợp và được dân tộc hóa (vận dụng sáng tạo cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thể hiện ý chí, văn hóa chính trị của dân tộc Việt Nam) Tính dân tộc tạo nên sự thống nhất, nhất quán về mặt tư tưởng là một trong những đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Tính nhân dân của hệ thống chính trị Việt Nam thể hiện ở quyền lực
chính trị của cá nhân, của chủ thể được ủy quyền luôn chịu áp lực của người dân, sức mạnh, ý nguyện của quần chúng nhân dân
Trong lịch sử, quyền lực của nhà vua mặc dù rất cao song luôn chịu áp lực của người dân Sức mạnh, ý nguyện của quần chúng nhân dân luôn là nhân tố điều tiết chính sách cai trị và hạn chế quyền lực của các nhà vua Sự tồn tại của nhà nước hay quyền lực của vua phụ thuộc vào việc thực hiện tốt chức năng xã hội, sự ủng hộ của nhân dân Vai trò của nhà vua không hoàn toàn tuyệt đối bởi
vì còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của nhân dân Hệ thống chính trị thời kỳ cận đại, hiện đại tiếp tục thể hiện đặc điểm này: bộ máy nhà nước, các nhà hoạt động chính trị, nhà quản lý, lãnh đạo phải thật sự tận tụy với công việc, cống hiến cho
xã hội, có uy tín trước nhân dân
Thời kỳ phong kiến, chế độ quân chủ tập quyền, chính quyền trung ương không với được tới chính quyền địa phương Sự tương quan này dần dần thay đổi cùng với sự cải cách về phân chia địa giới hành chính và cơ cấu hành chính Ngày nay, vai trò của địa phương ngày càng được nâng cao Điều đó còn thể hiện ở quan hệ làng xã ảnh hưởng rất lớn đến quyền lực của nhà vua, của trung ương Chính quyền địa phương có vai trò to lớn đến tính chất, hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị Yếu tố hòa đồng giữa vua – tôi, giữa nhà nước và công dân là một đặc trưng và là sự phù hợp với truyền thống chính trị Việt Nam
Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân là
đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị Việt Nam thời kỳ hiện đại Đặc điểm này được khẳng định trước hết ở tính chất kép của hệ thống chính trị nước
Trang 7ta, tức là hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống không chỉ gắn với chính trị, quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội Do vậy, trong cấu trúc của hệ thống chính trị luôn bao gồm các tổ chức chính trị như Đảng, Nhà nước và các tổ chức vừa có tính chính trị, vừa có tính xã hội như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội Hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách khỏi xã hội (như những lực lượng chính trị áp bức xã hội trong các xã hội có bóc lột) mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó với xã hội Cầu nối quan trong giữa hệ thống chính trị mang ý nghĩa là xã hội chính trị với xã hội (trong ý nghĩa là xã hội dân sự) chính là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiện trên các yếu tố: gắn bó mật thiết với nhân dân là quy luật tồn tại của Đảng, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền; Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội là hình thức tập hợp, tổ chức của chính các tầng lớp nhân dân Sự gắn bó giữa hệ thống chính trị với nhân
dân còn được xác định bởi ý nghĩa: hệ thống chính trị là trường học dân chủ của
nhân dân, mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân
b) Kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc
Tính xã hội và tính đại diện, tính giai cấp và tính dân tộc là đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam thể hiện trong mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Lịch sử nền chính trị Việt Nam cho thấy, do nhiều lý do nên các vấn đề giai cấp luôn gắn bó với các vấn đề dân tộc Mỗi giai cấp đều gắn mình với dân tộc Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp và dân tộc hòa đồng, đoàn kết, hợp tác để cùng phát triển
Ngày nay, hệ thống chính trị nước ta là hình thức tổ chức chính trị, đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện quyền lực của nhân dân Điều đặc biệt là ở chỗ, các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và do vậy hệ thống chính trị nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân sâu sắc
Trang 88
Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam là có tính nhất nguyên chính trị (không có chính đảng đối lập), nhất nguyên về tổ chức (các tổ chức chính trị - xã hội đều là cánh tay của Đảng) Đảng nằm trong hệ thống chính trị nhưng hệ thống chính trị lại gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Và cũng vì lẽ đó hiện nay hệ thống chính trị có tính nhất nguyên về
tư tưởng, dựa trên nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Cùng với tính nhất nguyên là tính thống nhất trong hệ thống chính trị và chi phối bởi sự thống nhất về tổ chức, về mục tiêu xây dựng một nhà nước dân chủ và pháp quyền, gắn bó với nhân dân và vì lợi ích của nhân dân Mỗi một tổ chức trong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Hệ thống chính trị đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Do vậy, hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay vừa mang mang bản chất giai cấp vừa mang tính dân tộc sâu sắc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ trương đoàn kết toàn dân tộc
Vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là đoàn kết giai cấp, tập hợp lực lượng trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân Sự tồn tại của Mặt trận tổ quốc Việt Nam với tư cách là một thành viên quan trọng của
hệ thống chính trị là yếu tố quan trọng của hệ thống chính trị là yếu tố quan trọng tăng cường sự kết hợp giữa giai cấp và dân tộc
Sự kết hợp giữa tính giai cấp và dân tộc được khẳng định trong bản chất của từng tổ chức thuộc hệ thống chính trị Chẳng hạn: Đảng Cộng sản Việt Nam- đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội quy định hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện trung thành lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã gắn kết vấn
đề dân tộc với vấn đề giai cấp Do vậy trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, sự phân biệt giữa dân tộc và giai cấp đều mang tính tương đối và không có ranh giới
rõ ràng, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị Nhờ vậy, hệ
Trang 9thống chính trị luôn là đại biểu cho dân tộc, là yếu tố đoàn kết dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân và là hệ thống của dân, do dân, vì dân
c) Tư tưởng dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại là bệ đỡ tư tưởng cho hệ thống chính trị
Quá trình hình thành và phát triển hệ thống chính trị Việt Nam luôn dựa trên bệ đỡ tư tưởng của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Trong
đó phải kể đến sự tiếp thu văn hóa phương Đông: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Pháp giáo,… và sự cải biến, “Việt hóa” trong quá trình du nhập Thời kỳ hiện đại, sự tiếp thu văn hóa phương Tây: tư tưởng nhân sinh trong các tôn giáo lớn, các hệ tư tưởng chính trị cận đại, hiện đại và được vận dụng sáng tạo Đó là sự tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo, bổ sung những luận điểm mới vào kho tàng văn hóa của nhân loại
d) Các nhánh quyền lực nhà nước không phân tách tuyệt đối mà phối hợp thống nhất trong hệ thống chính trị
Một trong những đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam là giữa các nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp và tư pháp) không có sự phân tách tuyệt đối; ba nhánh quyền lực đó thực hiện sự phối hợp, thống nhất theo những cơ chế vận hành, nguyên tắc hoạt động theo những mô hình hệ thống chính trị trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau Thời kỳ cổ đại và trung đại, vua là người có quyền lực cao nhất về lập pháp, hành pháp và tư pháp; các cơ quan trung ương vừa thực hiện chức năng hành pháp vừa có chức năng tham gia hoạt động lập pháp Sự dung hòa giữa luật và tục ảnh hưởng nặng nề tới quá trình phát triển của hệ thống chính trị
Thời kỳ hiện đại, hệ thống chính trị được tổ chức như một chỉnh thể thống nhất ở từng cấp từ Trung ương đến địa phương, mỗi cấp tổ chức lãnh thổ, hệ thống chính trị luôn được tổ chức như một chỉnh thể thống nhất với khá đầy đủ các bộ phận hợp thành; các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp không hoàn toàn tách rời nhau mà có sự phối kết hợp chặt chẽ với nhau Đảng ta đưa ra quan điểm “quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp….Quan điểm về tính thống nhất của quyền lực về sự phân công phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một quan điểm chính trị pháp lý khái quát Tuy nhiên, hàng loạt vấn đề
Trang 1010
lý luận được đặt ra chưa thật sự được giải đáp: đó là quan niệm thế nào về tính thống nhất của quyền lực nhà nước, sự phân công phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp cần được xác xác lập trong mối quan hệ quyền lực nào, quyền uy phục tùng hay quan hệ đối tác bình đẳng Hiện nay, địa vị pháp lý của Chính phủ trong mối quan hệ quyền lực xác định thiếu nhất quán và không thật sự rõ ràng, Chính phủ dường như rơi vào tình trạng vừa như thiếu những quyền cần thiết để trở thành cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, vừa phải thực hiện những quyền làm phương hại đến quyền hạn của cơ quan lập pháp, biến Chính phủ thành “ Cơ quan nghị bàn” hơn là một cơ quan hành động và quyết định Do không phân định rõ các quyền lập pháp, hành pháp nên nhiều cán
bộ, công chức trong bộ máy hành pháp đã được bầu là đại biểu Quốc hội vì thế
có sự “ phân thân” của một con người vừa là đại biểu vừa là công chức, trong những trường hợp đó rất khó xác định khi nào họ hành động với tư cách một đại biểu, khi nào hành động với tư cách là một công chức Đối với Quốc hội, cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực chính trị chưa thật sự hiệu quả và hợp lý Trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực đóng vai trò của chiếc “ phanh “ an toàn, đảm bảo cho guồng máy quyền lực hoạt động hết công suất Một khi hệ tông phanh an toàn không được đảm bảo, bộ máy quyền lực vận hành cầm chừng hoặc vận hành ngoài tầm kiểm soát của người chủ quyền lực dẫn đến quan liêu, tha hóa quyền lực Quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước vấn chưa
có được một cơ chế thích hợp để Quốc hội thực hiện tốt quyền này Các hình thức giám sát lâu nay như Quốc hội nghe báo cáo công tác của Chính Phủ, Tòa
án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, nghe các thành viên Chính Phủ và các quan chức khác trả lời chất vấn đã đặt Quốc hội vào tình huống bị động trước các việc đã rồi Do vậy, sự kiểm soát này về thực chất mang nặng tính hình thức, sau mỗi kỳ họp của Quốc hội, mọi việc lại tiếp tục diễn ra theo cách thức vốn có của nó
e) Chế độ khoa cử ảnh hưởng mạnh mẽ đến hệ thống chính trị
Chính trị hay hệ thống chính trị cũng đều là sản phẩm hoạt động có ý thức của con người trong lĩnh vực chính trị Vấn đề nhân lực luôn là vấn đề trung tâm,
Trang 11quyết định sự hình thành, phát triển, biến đổi của hệ thống chính trị trong lịch sử Nguồn nhân lực đó chính là các chủ thể chính trị
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị, từ các triều đại phong kiến đã quan tâm đến công tác đào tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng và sử dụng thông qua nhiều hình thức khác nhau Trong đó, hình thức khoa cử để tuyển chọn quan chức nhà nước sớm được coi trọng và duy trì trong lịch sử Việt Nam Cho đến nay nó còn thể hiện khá rõ nét trong đời sống xã hội Việt Nam Thực trạng này có hai mặt: tích cực - đây là con đường đáng tin cậy, thông qua con đường này đã lựa chọn được nhiều người tài đức đóng vai trò to lớn cho đất nước; mặt tiêu cực - do sự biến tướng của nó là chạy theo bằng cấp, chạy chọt Nhìn nhận vấn đề này cần xem xét trên cả hai mặt, tránh tuyệt đối hóa, coi thường việc học tập hoặc quá đề cao việc học tập lý luận thuần túy mà cần coi trọng nó đúng mức
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị Việt Nam
a) Điều kiện kinh tế - xã hội
Hệ thống chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng tất yếu được xây dựng trên nền tảng kinh tế - xã hội và chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế - xã hội Giữa điều kiện kinh tế - xã hội và hệ thống chính trị có mối quan hệ biện chứng, trong
đó, yếu tố kinh tế đóng vai trò quyết định và hệ thống chính trị đóng vai trò tác động trở lại, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội quyết định bản chất, tính chất giai cấp, cấu trúc của hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là sự phản ánh yếu tố kinh tế, xã hội trên phương diện chính trị, thể hiện và phục vụ quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền cũng như phản ánh nhu cầu, lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội
Sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội đối với đời sống chính trị nói chung, hệ thống chính trị nói riêng thể hiện qua sự tác động của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tính chất, trình độ phát triển của quan hệ sản xuất, đặc biệt là chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất Từ đó nó quy định sự phân hóa xã hội thành những giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau với địa vị, vai trò khác nhau trong đời sống xã hội Hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền cũng chính
là hệ tư tưởng chính trị chủ đạo, chi phối toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển
Trang 12về mặt lịch sử, chính trị to lớn Trong sự biến đổi không ngừng đó của lịch sử và diễn biến chính trị, hệ thống chính trị có những thay đổi căn bản
Đời sống chính trị của mỗi quốc gia không chỉ chịu tác động của những yếu tố chủ quan mà còn do nhiều yếu tố khách quan từ môi trường thiên nhiên đến những tác động của xã hội do sự đấu tranh giữa các cộng đồng người trong một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau
c) Văn hóa truyền thống
Trong quá trình tồn tại và phát triển, mỗi dân tộc hun đúc nên những giá trị văn hóa riêng Văn hóa dân tộc vừa như thẻ căn cước, định hình, khẳng định bản sắc dân tộc vừa là sức mạnh nội sinh không ngừng được dân tộc bồi đắp, nuôi dưỡng trong lịch sử Những yếu tố này vừa tạo nên tính truyền thống thậm chí tính bảo thủ vừa tạo nên những yếu tố biến động theo xu thế phát triển của xã hội đương thời
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia có những nét đặc trưng của nền chính trị, bản sắc địa chính trị do những tác động chủ quan và khách quan đến quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc
III Ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống chính trị Việt Nam
1 Củng cố kiến thức lịch sử dân tộc về vấn đề hệ thống chính trị
Trang 13Sự hình thành và phát triển hệ thống chính trị không tách rời lịch sử dân tộc, đánh dấu những bước ngoặt của lịch sử và sự trưởng thành của dân tộc về ý thức chính trị, văn hóa chính trị và quản lý nhà nước Vì vậy việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của hệ thống chính trị Việt Nam từ thời dựng nước đến nay sẽ giúp bổ sung kiến thức lịch sử dân tộc về hệ thống chính trị Việt Nam mang tính hệ thống và có quá trình phát triển (từ khi mới hình thành nhà nước
sơ khai thời Văn Lang –Âu Lạc cho đến khi hình thành hệ thống chính trị Việt Nam thời hiện đại)
Với cách tiếp cận lịch sử chính trị, việc nghiên cứu hệ thống chính trị Việt Nam được đặt trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Trên cơ sở đó những hiểu biết về hệ thống chính trị Việt Nam đều được gắn kết với các hiểu biết về lịch sử dân tộc.Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhà nước Văn Lang – Âu Lạc đã ra đời từ rất sớm trên cơ sở của nhu cầu tự vệ và nhân tố trị thủy dẫn đến sự gắn kết trong cộng đồng và suy tôn một thủ lĩnh là đại diện cho dân chứ không phải trên cơ sở của phân hóa xã hội và mâu thuẫn giai cấp Chính truyền thống cộng đồng này đã khiến thể chế chính trị của thời phong kiến trung đại dù tính tập quyền thắng thế nhưng lại dựa trên sự ủng hộ của toàn dân
Sang thời hiện đại, cách tiếp cận lịch sử chính trị càng phát huy được tính tính cực rõ rệt Hệ thống chính trị là một khái niệm của xã hội hiện đại, trong hệ thống chính trị có sự tồn tại của đảng phái Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản đã giữ vai trò độc quyền lãnh đạo từ năm 1930 Ở mỗi quốc gia trong xã hội hiện đại, các tổ chức chính trị (đảng phái), tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội đều tồn tại trong đại thể chế nói chung và trong tiểu thể chế chính trị nói riêng Do đặc điểm giữ vai trò lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi nghiên cứu hệ thống chính trị, nghiên cứu vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản khi nằm trong hệ thống chính trị trở thành một yếu tố không thể thiếu,
là một nội dung quan trọng trùng khớp và gắn kết với cách tiếp cận lịch sử Đây cũng là một yếu tố cơ bản cần nắm chắc trong nghiên cứu về hệ thống chính trị Việt Nam thời hiện đại Khi nghiên cứu hệ thống chính trị Việt Nam trên cơ sở cách tiếp cận này, đường lối và lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là một nội dung quan trọng có tác động tích cực với sự tồn tại và phát triển của hệ thống chính trị trong thời kỳ hiện đại
Trang 142 Nâng cao trách nhiệm công dân trong xây dựng hệ thống chính trị
Nghiên cứu hệ thống chính trị Việt Nam để hiểu được nền chính trị của
dân tộc và đồng thời nâng cao được trách nhiệm công dân của mỗi người học khi
hiểu được những nội dung cốt yếu của hệ thống chính trị Việt Nam
Trách nhiệm công dân gắn liền với văn hóa chính trị mà mỗi con người cần có khi sống trong xã hội để trở thành một chủ thể có nhân cách trong xã hội Văn hóa chính trị là những giá trị được hình thành trong thực tiễn chính trị, thể hiện nhận thức về chính trị, lý tưởng, niềm tin vào chính trị và cách thức tham gia vào đời sống chính trị của các công dân theo những chuẩn mực phù hợp với mục tiêu chung của xã hội Văn hóa chính trị cũng là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc được hun đúc từ những giá trị, truyền thống cốt lõi tốt đẹp của quốc gia phản ánh thái độ, tình cảm của mỗi công dân đối với vận mệnh của quốc gia dân tộc, lòng tự tôn dân tộc và đối với lãnh thổ của đất nước Văn hóa chính trị Việt Nam là kết tinh của truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh quật cường để bảo vệ lãnh thổ Tổ quốc, ý chí quyết tâm xây dựng đất nước vững mạnh và phát triển theo con đường tiến bộ Khi nghiên cứu và hiểu được
hệ thống chính trị của đất nước, mỗi người học đều có cơ hội để nâng cao tinh thần trách nhiệm công dân, đóng góp trách nhiệm vào xây dựng hệ thống chính trị của đất nước
Mỗi người công dân khi hiểu được bản chất của hệ thống chính trị của quốc gia sẽ có khả năng nâng cao trách nhiệm công dân khi tham gia những nhiệm vụ công dân vào xây dựng hệ thống chính trị Người học sẽ hiểu được trách nhiệm và quyền hạn khi tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội khác nhau cũng như việc tham gia vào tổ chức lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam
để đóng góp vào xây dựng đất nước văn minh và giàu mạnh
Trang 15CÂU HỎI HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP
1 Phân tích hệ thống chính trị là phạm trù lịch sử và chỉ ra sự khác biệt giữa các khái niệm thể chế chính trị, thiết chế chính trị và hệ thống chính trị
2 Phân tích khái niệm hệ thống chính trị ở hai cấp độ: hệ thống và cụ thể Chỉ ra tính ưu điểm của cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu hệ thống chính trị
3 Tại sao nói hệ thống chính trị nước ta hiện nay là hệ thống chính trị quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà không phải là hệ thống chuyên chính vô sản hoặc chưa phải là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
4 Hãy làm rõ các đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam
5 Hãy làm rõ các yếu tố tác động đến hệ thống chính trị Việt Nam
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ĐỌC TÀI LIỆU CHƯƠNG 2
1 Tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Việt Nam qua các câu chuyện truyền thuyết, di tích khảo cổ học và phân tích của các nhà sử học
2 Kể tên các triều đại phong kiến Việt Nam với những diễn biến chính trị cơ bản
3 Nhà nước đầu tiên ở Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh nào? Tìm tính đặc thù trong sự ra đời của nhà nước đầu tiên ở Việt Nam?
Một số câu hỏi định hướng:
- Nhà nước Văn Lang ra đời trong khoảng thời gian nào? trong điều kiện kinh tế
- xã hội như thế nào? Diễn biến chính trị hình thành Nhà nước Văn Lang? Nhà nước Văn Lang do ai đứng đầu? Đóng đô ở đâu? Được tổ chức như thế nào?
- Nước Âu Lạc ra đời trong hoàn cảnh nào? Sự thay đổi trong nhà nước Âu Lạc?
4 Kể tên các triều đại phong kiến phương Bắc thời kỳ đô hộ Việt Nam
5 So sánh sự khác nhau về tổ chức bộ máy chính quyền và phương thức cai trị của phương Bắc thời Đông Hán trước và sau năm 43 Lý giải tại sao có sự
khác nhau đó
6 Hãy chỉ ra những cải cách hành chính và thay đổi bộ máy chính quyền đô hộ
của phương Bắc thời nhà Đường
7 Kể tên các chính quyền độc lập tự chủ của người Âu Lạc thời kỳ đấu tranh
chống Bắc thuộc Những giá trị đạt được về mặt thể chế chính trị thời kỳ này
Trang 1616
8 So sánh chính quyền thời Lý Bí và Khúc Hạo Chỉ ra những bước phát triển
về thể chế chính trị
9 Hãy rút ra những nhận xét khái quát về thể chế chính trị thời kỳ Bắc thuộc
10 Hãy chỉ ra những điểm đặc biệt về điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính
trị thời Đinh – Tiền Lê
11 Hãy chỉ ra những điểm đặc biệt về điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính
trị thời Lý – Trần – Hồ
12 Hãy chỉ ra những điểm đặc biệt về điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính
trị thời Lê – Nguyễn
13 Hãy làm rõ những đóng góp về phương thức tổ chức bộ máy chính quyền từ
trung ương đến địa phương và pháp luật của Lê Thánh Tông
14 Hãy rút ra những nhận định khái quát về đặc điểm thể chế chính trị Việt Nam
thời kỳ cổ - trung đại
CÂU HỎI CHUYÊN SÂU
1 Phân tích tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ của phương Bắc từ năm 179
TCN đến năm 40 để làm rõ sự không ngừng củng cố, tăng cường số lượng và trách nhiệm quyền hạn, nhằm đẩy mạnh sự cai trị và bóc lột dân bản địa
2 Tại sao nói bộ máy cai trị phương Bắc thời kỳ này vẫn chưa thật sự vươn tới được cấp xã ở Việt Nam?
3 Chính quyền đô hộ đã tiến hành một số thay đổi quan trọng trong bộ máy cai trị cấp huyện ở Việt Nam từ năm 43 đến hết thời kỳ Bắc thuộc như thế nào?
4 Vua Lê Thánh Tông tổ chức lại bộ máy nhà nước thành 6 bộ, 6 tự, 6 khoa – Hãy liên hệ với tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay
5 Lê Thánh Tông còn lập ra 6 khoa để giám sát 6 bộ theo khía cạnh chuyên
môn Hãy liên hệ 6 khoa này có chức năng tương tự những cơ quan nào trong
bộ máy nhà nước ta hiện nay?
6 Ngự sử đài giống chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nào trong bộ máy nhà nước ta hiện nay?
7 Tiêu chuẩn quan lại dưới triều đại Lê Thánh Tông ? Liên hệ với nước ta hiện
nay Hãy đưa ra quan điểm cá nhân về những tiêu chuẩn quan chức trong bộ máy nhà nước thời kỳ phong kiến và hiện nay
Trang 178 Thể chế chính trị qua các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đã bộc lộ những ưu điểm và hạn chế gì?
9 Tại sao khi nghiên cứu thể chế chính trị thời Nguyễn thì thể chế chính trị thời Minh Mạng lại thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà chính trị học?
10 Chế độ Công đồng và Đình nghị trong thể chế chính trị Minh Mạng có vai trò gì trong bộ máy nhà nước? Liên hệ với cơ quan nào trong bộ máy nhà nước ta hiện nay?
11 Tại sao các triều đại thời nhà Nguyễn đã cố gắng thể hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với đất nước song lại thiếu nhạy bén về tư tưởng và hành động mang tính phù hợp thời cuộc để đề ra những chính sách mới nhằm đưa đất nước đi lên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lưu Văn An, Thể chế chính trị Việt Nam trước cách mạng Tháng tám
dưới góc nhìn hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008
2 Lưu Văn An, Thể chế chính trị Việt Nam lịch sử hình thành và phát triển,
Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012
3 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 1992
4 Nguyễn Việt Hưng (Chủ biên), Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2012
5 Khâm định Việt sử thông giám cương mục ,tập 1, Nxb Giáo dục, 1998 9.Trương Hữu Quýnh, Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục,
2000
Trang 1818
Chương 2
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945
(Tổng số giờ:14; Lý thuyết: 09; Thảo luận: 05)
I Thời kỳ Hùng Vương
1 Điều kiện kinh tế - xã hội thúc đẩy sự ra đời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc
Văn Lang – Âu Lạc là hai giai đoạn phát triển nối tiếp nhau trong đó thời
kỳ nhà nước Văn Lang gồm các đời Hùng Vương và thời kỳ Âu Lạc là đời An Dương Vương Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc là từ thế kỷ VII tr.CN đến năm 179 tr.CN
a) Nhà nước Văn Lang
Nhà nước Văn Lang được coi là nhà nước đầu tiên xuất hiện trên lãnh thổ
Việt Nam vào cuối thời đại Đông Sơn (từ thế kỷ VII tr.CN đến thế kỷ I sau CN)
Đây là giai đoạn chuyển từ đồ đồng sang sơ kỳ đồ sắt Sự phát triển cao của kỹ thuật luyện kim đồng và nền kinh tế nông nghiệp dùng cày đã tạo ra sản phẩm thừa - cơ sở tạo ra sự phân hóa xã hội thành ba tầng lớp: quí tộc, nô tỳ và nông dân tự do tuy nhiên chưa sâu sắc đến mức mâu thuẫn giai cấp phát triển và dẫn đến sự ra đời của một nhà nước
Theo luận điểm của Ph.Angghen về sự ra đời của nhà nước phương Đông thì việc thiết lập ra nhà nước nơi đây là dựa trên sự bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng: nhu cầu tưới nước của nền nông nghiệp lúa nước và sự tự vệ chống kẻ thù bên ngoài và từ đó duy trì sự cai trị của giai cấp thống trị với giai cấp bị trị Trên
cơ sở đó có thể thấy, sự phân hóa xã hội dựa trên sự phát triển của kinh tế là tiền
đề không thể thiếu trong sự hình thành một nhà nước nhưng với dân tộc Việt Nam
với những đặc điểm của một khu vực phương Đông, sự ra đời khá sớm của nhà
nước Văn Lang là do sự xuất hiện của yêu cầu xây dựng các công trình thủy lợi
phục vụ cho nền nông nghiệp lúa nước và đấu tranh tự vệ chống ngoại xâm
Sự xuất hiện nhân vật Hùng Vương với tư cách là tù trưởng một bộ lạc có
uy tín trong cộng đồng liên minh các bộ lạc, do yêu cầu về sự thống nhất trong
sự tồn tại và phát triển của cộng đồng đã trở thành một thủ lĩnh tối cao Từ người thủ lĩnh liên minh bộ lạc với việc đảm nhận chức năng xã hội gồm công tác thủy lợi và tự vệ chống ngoại xâm, trong quá trình phát triển của cộng đồng, Hùng
Trang 19Vương đã vươn lên thống trị xã hội và tạo nên một bộ máy nhà nước với chức năng xã hội
b) Nhà nước Âu Lạc
Nhà nước Âu Lạc ra đời xuất phát từ nhu cầu liên kết các bộ tộc ở mức độ cao hơn nữa nhằm chống quân ngoại xâm Năm 208 TCN, nhà nước Âu Lạc ra đời là kết quả của sự liên minh giữa hai cộng đồng dân cư Tây Âu và Lạc Việt để cùng chống quân ngoại xâm Tần
Việc Thục Phán, một thủ lĩnh của cư dân Tây Âu ở vùng Đông Bắc của nước Văn Lang được thay thế Hùng Vương trong sự liên minh giữa hai cộng đồng cư dân Văn Lang và Tây Âu đã chứng tỏ đây là một bước phát triển theo một định hướng chung Nước Âu Lạc đã tồn tại và phát triển như là một giai đoạn phát triển kế tiếp nước Văn Lang theo một hình thức chung và với ý nghĩa
là nhà nước đầu tiên
2 Cấu trúc và đặc điểm hệ thống chính trị
Trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc Việt Nam, thời kỳ Văn Lang –
Âu Lạc được biết đến là một thời đại dựng nước với một nhà nước sơ khai đầu tiên đã tồn tại trong lịch sử dân tộc
Nhà nước Văn Lang là một chính quyền sơ khai với hình thức tổ chức đơn giản gồm: thủ lĩnh tối cao (Hùng Vương) đóng đô tại Phong Châu và dưới Hùng Vương có các quan giúp việc (quí tộc) nắm giữ các vị trí chủ chốt của triều đình
là Lạc Hầu Lạc Hầu giữ trọng trách: tư vấn cho vua, giúp vua quản lý sản xuất nông nghiệp và thu thuế đất của các Lạc dân… Vai trò của Lạc Hầu tiếp tục được duy trì trong thời kỳ Âu Lạc, Lạc Hầu thay vua giải quyết các công việc lớn và đã trở nên nổi tiếng được nhân dân coi trọng (nhân vật Cao Lỗ, Nội Hầu phụ trách xây dựng và quân sự)
Các đơn vị hành chính được chia thành 15 bộ và đơn vị hành chính cấp cơ
sở là các công xã Cả hệ thống chính quyền trung gian là bộ và công xã nông thôn đều tồn tại theo chế độ tự trị có tính dân chủ nông thôn và cha truyền con nối Tại 15 bộ địa phương có các Lạc Tướng cai quản Dưới Lạc Tướng là các quan Bồ Chính cai quản từng khu vực công xã nông thôn gồm kẻ, chạ, chiềng
Xã hội phân chia thành ba tầng lớp gồm vua quan, dân và nô lệ Nô lệ chỉ
có trong nhà vua quan Lạc dân trong công xã dưới sự cai quản của Bồ Chính
Trang 2020
chủ yếu làm nghề nông Sự phân hóa xã hội và giai cấp đã xuất hiện nhưng chưa sâu sắc nên nhà nước ra đời chủ yếu do nhu cầu trị thủy và chống ngoại xâm dẫn đến sự liên kết cộng đồng để tạo lập thành một nhà nước sơ khai có nhiệm vụ
thực hiện các chức năng xã hội là chính - đây là đặc điểm lớn nhất trong giai
đoạn đầu tiên của lịch sử hệ thống chính trị Việt Nam
Mối quan hệ giữa nhà nước và công xã nông thôn có tính chất lưỡng hợp Nhà nước đại diện cho công xã và dựa vào công xã để quản lý Lạc dân thu thuế
và bắt lính, quản lý xã hội dựa vào đại diện lãnh đạo trong công xã
Tại nhà nước Âu Lạc đã tồn tại một công cụ của chính quyền là quân đội thường trực Biểu hiện là An Dương Vương đã xây dựng được một tòa thành Cổ Loa có chức năng phòng thủ quân sự vững chắc nhằm bảo vệ nhà vua, triều đình
và kinh đô Việc phát hiện thấy kho mũi tên đồng hàng vạn chiếc ở di tích Cổ Loa là những căn cứ xác nhận về sự phát triển lực lượng quân sự như một công
cụ bảo vệ chính quyền nhà nước Âu Lạc Sự phân bố từng khu cư trú cho vua
quan, binh lính cũng thấy rõ sự phân hóa xã hội một cách rõ rệt của thời Âu Lạc
với một mức độ phát triển cao hơn thời Hùng Vương
Về chức năng nhà nước, nhà nước Văn Lang – Âu Lạc có hai chức năng
Một là, chức năng bóc lột nông dân công xã (Lạc dân) bằng hình thức thu thuế
và nộp sản vật của công xã nông thôn thông qua ruộng đất chung của công xã giao cho Lạc dân cày cấy và việc tham gia quân đội và làm tạp dịch cho chính
quyền của nông dân công xã Hai là, chức năng xã hội mà nhà nước Văn Lang –
Âu Lạc thực hiện như xây dựng, quản lý các công trình thủy lợi và tổ chức lực lượng quân sự để chống ngoại xâm
Chức năng bóc lột của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc dựa trên tính cộng
đồng đậm nét nên mâu thuẫn giai cấp chưa gay gắt Chức năng xã hội đóng vai
trò chủ đạo Đây là đặc điểm đã chi phối chức năng hoạt động và ảnh hưởng đến
các ứng xử chính trị của nhà nước, được coi như là nét khác biệt của các nhà nước phương Đông đối với đặc điểm của thể chế chính trị phương Tây
Tính chất pháp luật của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc còn sơ khai, chủ yếu là dựa trên phong tục tập quán của cộng đồng làng xã và chưa tìm thấy những minh chứng của pháp luật thành văn mà chủ yếu là truyền miệng, thông qua lời vua phán, “chính sự dùng lối kết nút” như thư tịch cổ ghi (Việt Sử lược)
Trang 21Những luật tục của công xã nông thôn được nhà nước quan tâm để đưa ra những quyết định phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xây dựng trên cơ sở của hệ thống ứng xử của công xã nông thôn
Nhận xét về nhà nước sơ khai Văn Lang – Âu Lạc trong thời kỳ dựng nước của dân tộc Việt:
Thứ nhất: Thời gian ra đời của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc tương đối
sớm, vào thế kỷ VII TCN khi sự phát triển kinh tế còn ở mức độ chưa cao, mới ở giai đoạn đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt (văn hóa Đông Sơn) và sự phân hóa của xã hội vẫn chưa sâu sắc Chính vì vậy, nhân tố trị thủy và nhu cầu tự vệ chống ngoại xâm có tính thường xuyên và cấp bách có vai trò quyết định đối với sự tồn vong của dân tộc đã trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng thúc đẩy nhà nước của dân
tộc Việt ra đời sớm và ngay từ đầu đã nổi lên tính chất cộng đồng dân tộc khá
rõ nét
Thứ hai: Cơ cấu tổ chức nhà nước Văn Lang – Âu Lạc còn giản đơn, dựa
trên cơ sở của bộ máy tổ chức quản lý thời kỳ nguyên thủy do đi theo con đường hình thành nhà nước từ quá trình liên kết các liên minh bộ lạc và thủ lĩnh của liên minh bộ lạc đã trở thành người đứng đầu nhà nước Các tổ chức công xã nông thôn cơ sở vẫn giữ tính tự trị và cha truyền con nối
Thứ ba: Pháp luật của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc chỉ ở hình thức
truyền miệng, dựa trên phong tục tập quán và nguyện vọng của nhân dân Pháp
luật thời kỳ này được cấu thành bởi hai yếu tố: ý chí của nhà nước và luật tục cũng như nguyện vọng của nhân dân
Thứ tư: Kiểu nhà nước Văn Lang – Âu Lạc được nhiều ý kiến cho rằng
trùng hợp kiểu nhà nước phương Đông với sự tồn tại của công xã nông thôn, chế
độ công hữu về ruộng đất và nhà nước là chủ sở hữu cao nhất của ruộng đất, nhà vua là đại diện
II Thời kỳ Bắc thuộc
1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội
Năm 179 tr.CN, Triệu Đà là vua nước Nam Việt, một nước mạnh ở phía nam Trung Quốc, giáp phía Bắc của Âu Lạc đã xâm lược và chinh phục Âu Lạc,
mở đầu thời kỳ Bắc thuộc với việc các triều đại phong kiến Trung Quốc thay nhau cai trị Việt Nam Đến năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán tại
Trang 22Có thể nói, Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, đồng hóa và chống đồng hóa
để giành lại nền độc lập là nội dung chi phối lịch sử chính trị Việt Nam suốt hơn nghìn năm bị phong kiến Trung Quốc đô hộ
Về chính trị, luôn tồn tại phong trào giải phóng dân tộc và tồn tại trạng
thái đan xen giữa chính quyền đô hộ và chính quyền tự chủ do người dân Việt thiết lập trong một thời gian ngắn
Về kinh tế, do quá trình giao lưu và ảnh hưởng của Trung Quốc đối với
Việt Nam theo hai hình thức cưỡng bức và tự nhiên đã khiến đời sống kinh tế Việt Nam khá phát triển
Kỹ thuật luyện sắt phát triển, các công trình thủy lợi được mở rộng đã thúc đẩy nông nghiệp trồng lúa nước phát triển
Các nghề thủ công như làm giấy, thủy tinh, mộc, sơn the… phục vụ cho đời sống dân cư cũng được phát triển
Về xã hội, ở Việt Nam xuất hiện những thay đổi do chính quyền đô hộ đã
di dân vào Việt Nam để đóng vai trò cai trị và tiến hành đồng hóa về dòng máu Cùng với sự đồng hóa dòng máu, chính sách đồng hóa văn hóa với hình thức cưỡng bức cũng được tiến hành như: bắt người dân bỏ phong tục dân tộc Việt để theo phong tục của Trung Quốc, truyền bá chữ Hán, phát triển giáo dục Nho giáo
và du nhập các tôn giáo như Phật giáo, Đạo giáo vào Việt Nam Trên cơ sở đó chính quyền phong kiến Trung Quốc xây dựng chính quyền đô hộ để cai trị người dân Việt
Tuy nhiên có một thực tế là: những quí tộc, quan lại, dân di cư người Hán
do lập nghiệp ở Việt Nam đã bị Việt hóa và trở thành tầng lớp phong kiến bản địa người Việt sau này Bên cạnh đó, tầng lớp hào trưởng người Việt hình thành
từ sự phân hóa xã hội thời Văn Lang – Âu Lạc (tầng lớp Lạc hầu, Lạc tướng, Bồ
Trang 23Chính trước đây) vẫn tồn tại và đã ngày một phát triển về thế lực kinh tế và có vai trò quan trọng ở địa phương và uy tín trong nhân dân Đây cũng là tầng lớp
có tinh thần dân tộc, đóng vai trò đi đầu trong phong trào giành độc lập tự chủ và dẫn dắt nhân dân tham gia
Quan hệ xã hội bao trùm trong thời Bắc thuộc là quan hệ giữa kẻ thống trị ngoại xâm là chính quyền đô hộ Hán tộc và toàn thể dân tộc Việt trong đó đại đa
số người dân là nông dân và thợ thủ công Toàn bộ ruộng đất của Văn Lang -
Âu Lạc cũ đều bị coi là thuộc quyền sở hữu của chính quyền đô hộ Lạc dân phải nộp tô thuế, đi lao dịch cho chính quyền đô hộ Các di dân Trung Quốc vô cùng thuận lợi trong việc chiếm đất của Lạc dân để lập đồn điền, trang trại nông nghiệp Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt và chính quyền đô hộ ngày một nặng nề dẫn đến bùng nổ các cuộc khởi nghĩa giành độc lập
Những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thời Bắc thuộc đã dẫn đến việc bên cạnh thể chế chính trị do nhà nước phong kiến Trung Quốc thiết lập để cai trị dân tộc Việt còn tồn tại cả chính quyền do người dân Việt tự lập ra là sản phẩm của phong trào đấu tranh giành độc lập
2 Cấu trúc và đặc điểm hệ thống chính trị thời kỳ Bắc thuộc
Thời kỳ Bắc thuộc, tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ trải qua hai giai
đoạn tương ứng với mức độ tự trị tại Văn Lang – Âu Lạc (giai đoạn từ năm 179
TCN đến năm 40 và sau đó từ năm 43 đến năm 938)
a) Tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ từ năm 179 TCN đến năm 40
* Sau khi xâm lược được Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập Âu lạc vào Nam
Việt và chia Âu Lạc thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân và giao cho 2 viên quan Điển sứ trông coi hai quận này Hai viên quan này được coi như là sứ giả của vua Triệu
Các cấp hành chính cũ của Âu Lạc và chế độ Lạc tướng vẫn được giữ nguyên Các Lạc tướng phải thần phục và cống nộp cho vua Triệu thông qua hai viên quan Điển sứ Hai quan Điền sứ có quân tướng đi theo đồn trú tại hai quận
để dùng lực lượng kiềm chế các Lạc tướng và nhân dân Âu Lạc
Nhà Triệu ở Nam Việt chưa trực tiếp cai trị Âu Lạc vì vậy đã không có
sự phản ứng của các tầng lớp xã hội ở Âu Lạc cũ trong suốt 60 năm chịu sự cai trị của Nam Việt
Trang 2424
* Năm 111 TCN, nhà Tây Hán chinh phục được Nam Việt trong đó có Âu Lạc cũ
Tiến hành chia lại khu vực hành chính và tổ chức bộ máy cai trị: quận, huyện
và biến Âu lạc thành đất đai của nhà Hán Nước Âu Lạc bị chia thành 3 quận (Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) nằm trong bộ Giao Chỉ cùng với 6 quận thuộc đất Trung Quốc thành 9 quận Quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) gồm 12 huyện Quận Cửu Chân (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) gồm 7 huyện Quận Nhật Nam (là vùng đất
từ Đèo Ngang đến Đèo Hải Vân gồm một số đất đai của người Chăm Pa) gồm 5 huyện
Thứ sử - đứng đầu Bộ Giao Chỉ, phụ trách chung Thái Thú - đứng đầu các quận chuyên trông coi hành chính và thu cống nạp trong quận Bên cạnh Thái thú
có viên đô úy phụ trách quân sự, chỉ huy quân lính, đàn áp khởi nghĩa của nhân dân
Năm 106 tr.CN, nhà Tây Hán lập ra một cấp trên của quận là Châu Lúc này 7 quận miền lục địa của nước Nam Việt (trừ hai quận ở Đảo Hải Nam) của nước Nam Việt cũ được trở thành một châu Quận Giao Chỉ là quận lớn nhất, được lấy tên đặt cho tên Châu – Châu Giao Chỉ và trung tâm của Quận Giao Chỉ
là Mê Linh được lấy làm nơi trụ sở của châu Đứng đầu châu là Thứ sử phụ trách chung các quận Đứng đầu quận là Thái thú phụ trách dân sự và Đô úy phụ
trách quân sự Dưới cấp quận là cấp huyện do bộ đổi thành, Lạc tướng vẫn được
cai quản địa phương của mình với danh hiệu Huyện lệnh và được cha truyền con
nối nắm quyền cai trị.Theo chế độ nhà Hán, Huyện lệnh được phát ấn đồng, có
dây tua xanh Hàng năm Huyện lệnh phải lo việc thu thuế và nộp lên quận Với
cách cai trị này nhà Hán vẫn thu được nguồn lợi mà ít động chạm đến quyền lợi của tầng lớp quí tộc bản địa
* Nhà Đông Hán được thiết lập ở Trung Quốc năm 23, đã tiến hành củng
cố bộ máy chính quyền đô hộ theo hướng giữ nguyên các cấp đơn vị hành chính
nhưng được tổ chức chặt chẽ và tăng cường thêm số lượng và trách nhiệm
quyền hạn Thứ sử phải thường xuyên có mặt tại trụ sở nơi trấn trị, dù có tang
cha mẹ cũng không được bỏ chức Giúp việc Thứ sử có thêm các viên quan mới
là Công tào tòng sự coi việc tuyển bổ quan lại và dân sự, Binh tào tòng sự coi việc binh, Bạc tào tòng sự coi việc tài chính Với cấp quận, đứng đầu vẫn là Thái
thú nhưng giúp việc Thái thú có thêm Quận thừa (thay thế công việc của Thái thú khi Thái thú đi vắng), Hiếu liêm, Đô úy Đô úy phụ trách quân sự và có Đô
Trang 25úy thừa (ngang chức Quận thừa) Ngoài ra cấp quận cũng có thêm một số chức quan khác giúp việc thu thuế như Diêm quan thu thuế muối, Công quan thu thuế sản phẩm thủ công, Thủy quan thu thuế đánh cá,… Cấp huyện vẫn do Huyện lệnh đứng đầu và giúp việc cho Huyện lệnh có một viên thừa (quan văn) và hai viên úy (quan võ) Ngoài còn thêm một số chức quan khác phụ trách công việc
Như vậy, so với nhà Triệu, từ đời Tây Hán đến Đông Hán, đã có một bước
tiến trong tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ, thực hiện cai trị trực tiếp mặc dù
mức độ cai trị mới chỉ dừng ở cấp châu, quận Bộ máy cai trị được củng cố tăng
cường số lượng và trách nhiệm quyền hạn, nhằm đẩy mạnh sự cai trị và bóc lột dân bản địa Tuy nhà Hán đã áp đặt được một bộ máy đô hộ chặt chẽ ở cấp châu, quận, nhưng chính quyền đô hộ vẫn chưa nắm được xuống cấp huyện và làng xã
vì ở cấp huyện, chế độ lạc tướng của người Việt vẫn được bảo tồn quyền lợi, giữ cha truyền con nối Tầng lớp quý tộc bản địa Việt vẫn nắm được quyền uy với người dân Việt Dưới làng xã vẫn giữ nguyên bản sắc văn hóa cộng đồng của người Việt, là nơi bảo tồn những giá trị truyền thống của người Việt
b) Tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ từ năm 43 đến hết Bắc thuộc
* Năm 43, sau khi lật đổ chính quyền tự chủ của Hai Bà Trưng, nhà Đông
Hán đã thiết lập lại chính quyền đô hộ một cách chặt chẽ hơn, loại bỏ những tổ chức cũ do Lạc tướng cai quản ở cấp huyện mà tiến thêm một bước trong việc
tổ chức cai trị bằng quan lại ngoại bang Các chức thứ sử, thái thú vẫn được duy trì như trước cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Để hạn chế thế lực của quí tộc Việt, tăng cường khả năng trấn áp phong trào đấu tranh của dân bản địa, chính quyền đô hộ đã tiến hành một số thay đổi quan trọng trong bộ máy cai trị cấp huyện
Thứ nhất, chức Huyện Lệnh trước kia do Lạc tướng giữ và được cha
truyền con nối nay thay thế bằng người Hán Chế độ Lạc Tướng bị bãi bỏ, chỉ
một số Lạc Tướng bản địa trung thành với chính quyền đô hộ được giữ chức Huyện lệnh nhưng không được cha truyền con nối, còn lại chủ yếu là người Hán nắm giữ chức vụ này
Thứ hai, chính quyền đô hộ đã thay đổi địa bàn cơ sở bằng cách chia nhỏ
các huyện lại làm đảo lộn và phá vỡ cơ sở xã hội của tầng lớp quí tộc Âu Lạc
Trang 2626
Thứ ba, chính quyền đô hộ cho xây đắp các thành lũy chắc chắn ở các trị
sở châu, quận, huyện và tăng số quân đồn trú ở các huyện
Từ sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chính quyền đô hộ phương Bắc đã thất bại trong âm mưu “Dĩ Di trị Di” nên đã thi hành trực trị xuống cấp huyện Tuy nhiên, chính quyền đô hộ vẫn chưa với tay được xuống làng xã.Trong mỗi làng
xã, kết cấu xã hội cổ truyền của người Việt vẫn được giữ gìn vững chắc
* Năm 602, thời nhà Tùy, chính quyền phong kiến Trung Quốc bỏ cấp
châu, chia Âu Lạc thành các quận trực thuộc triều đình trong đó lớn nhất là Quận Giao Chỉ (Bắc Bộ gồm 9 huyện) Trụ sở của Quận Giao Chỉ được dời về Tống Bình năm 607
* Năm 618, nhà Đường thành lập và tiến hành cải cách hành chính trong
đó thay đổi cả bộ máy tổ chức chính quyền nơi đô hộ Năm 622, Âu Lạc được
đặt là Giao Châu đô hộ phủ và năm 679 đổi thành An Nam đô hộ phủ và trụ sở vẫn đặt tại Tống Bình (Hà Nội ngày nay) Chức vụ đứng đầu An Nam đô hộ phủ được đặt tên gọi khác nhau như Kinh lược sứ, Tổng quản kinh lược sứ, Tiết độ
sứ Chức vụ này cai trị cả hành chính và chỉ huy quân sự An Nam đô hộ phủ được chia thành các các châu nhỏ và đứng đầu châu là Thứ sử trực thuộc Đô hộ phủ, bên cạnh đó có chức Trưởng lại là chỉ huy quân sự
Dưới châu là huyện đứng đầu huyện vẫn là Huyện lệnh.Quan lại từ cấp huyện trở lên đều do triều đình Trung Quốc trực tiếp bổ nhiệm Dưới cấp huyện
là cấp hương, tiểu hương và đại hương đứng đầu là hương trưởng, dưới cấp hương là cấp xã có tiểu xã và đại xã đứng đầu là xã trưởng Thời nhà Đường, chính quyền Trung Quốc cũng tăng cường lực lượng quân sự bằng cách xây đắp thành lũy ở các trị sở và các châu quan trọng và tăng số quân đồn trú
Để thực hiện âm mưu đô hộ, các triều đại phong kiến Trung Quốc đều sử
dụng các chính sách cai trị nhằm âm mưu nhất quán: đó là đồng hóa dân tộc
Việt và biến nước Việt thành một bộ phận của lãnh thổ Trung quốc Vì mục
tiêu đồng hóa này mà chính quyền đô hộ Trung Quốc đã di dân nhằm đồng hóa
về dòng máu Sau đó là chính quyền đô hộ đã thực hiện chính sách đồng hóa về văn hóa Chính quyền đô hộ đã sử dụng khá nhiều biện pháp nhằm xóa bỏ văn hóa dân tộc Văn Lang – Âu Lạc như: xóa tên nước, biến Âu Lạc thành một đơn
Trang 27vị hành chính của Trung Quốc, xóa bỏ phong tục tập quán của người Việt để truyền bá phong tục, chữ viết, tôn giáo, và tư tưởng Nho giáo Trung Quốc…
Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, tổ chức bộ máy của chính quyền đô hộ đã
được hoàn thiện theo hướng trực trị và làm suy yếu tính tự trị của làng xã cổ
truyền nhằm đẩy mạnh quá trình đồng hóa Tuy nhiên cho tới tận cuối thời Bắc thuộc, chế độ cai trị của chính quyền phong kiến Trung Quốc vẫn chưa vươn xuống được các làng xã nông thôn Việt Hương và xã vẫn do người Việt tự quản
lý vì vậy người Việt dù mất nước nhưng vẫn giữ được làng, làng xã chính là nơi giữ vững được phong tục tập quán và văn hóa thuần Việt để từ đó người Việt không bị đồng hóa và mất đi bản sắc văn hóa riêng và chính đây là nguyên nhân
mà dân tộc Việt giành lại được nền độc lập tự chủ của đất nước từ năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử
3 Phong trào đấu tranh chống Bắc thuộc và các chính quyền độc lập tự chủ của người Âu Lạc
Cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc của nhân dân Âu Lạc kéo dài hơn một nghìn năm nhằm giành lại nền độc lập tự chủ với những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43), Khởi nghĩa Bà Triệu (248), Khởi nghĩa Lý Bí (542 -543), Khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến, Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722), Khởi nghĩa Phùng Hưng (766 – 779) Một số cuộc khởi nghĩa
đã giành được thắng lợi và có sự thiết lập chính quyền tự chủ của người Âu Lạc tuy không dài Vì vậy vẫn cần thiết có sự xem xét lại những chính quyền độc lập
tự chủ của người Âu Lạc trong thời kỳ Bắc thuộc
a) Chính quyền Hai Bà Trưng (40 - 43)
Theo sử cũ, cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng thắng lợi, được sự ủng hộ của các Lạc tướng và nhân dân Âu Lạc, Trưng Trắc đã lên làm vua, lập ra một triều đình tự chủ “Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta” Đây là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của người Việt chống lại sự cai trị của chính quyền Trung Quốc trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc và giành được tự chủ trong 3 năm, là tấm gương thức tỉnh tinh thần độc lập dân tộc Hai Bà Trưng đã cai quản được hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân Sau khi lên làm vua, Trưng Trắc đã cử các Lạc
Trang 2828
tướng cai quản các bộ và miễn thuế trong hai năm cho nhân dân Do chỉ tồn tại trong ba năm vì vậy ít có những ghi chép về bộ máy tổ chức chính quyền thời kỳ này, tuy nhiên sự tồn tại của chính quyền Hai Bà Trưng đã chứng minh được khát khao chủ quyền và khả năng giành lại nền độc lập của dân tộc
b) Nhà nước Vạn Xuân (544- 602)
Sau khi chính quyền của Hai Bà Trưng bị sụp đổ trước sự đàn áp của phong kiến Trung Quốc, Âu Lạc lại tiếp tục bị đô hộ Nhiều cuộc khởi nghĩa đã liên tiếp nổ ra mặc dù thất bại như khởi nghĩa Bà Triệu (248)
Đến năm 542, Lý Bí, một hào trưởng địa phương được sự ủng hộ của nhân dân đã nổi dậy khởi nghĩa, lật đổ ách đô hộ của nhà Lương Năm 544, Lý Bí chính thức lên ngôi vua, tự xưng là Lý Nam đế Ông đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô tại Tống Bình (Hà Nội ngày nay) tiến hành xây dựng một bộ máy chính quyền mới Tổ chức chính quyền còn khá đơn giản, triều đình có Vua đứng đầu
và hai ban văn võ Lý Nam Đế cho xây Đài Vạn Thọ để làm nơi hội họp văn võ
bá quan, đặt niên hiệu là Thiên Đức, cho đúc tiền đồng tiêu dùng trong nước
Việc Lý Bí lên ngôi Hoàng đế và xây dựng một triều đình mới có một bộ máy dù còn sơ khai nhưng cũng nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc, ý chí độc lập dân tộc, phủ định lại chính quyền đô hộ của phong kiến phương Bắc Lý Bí mất năm 548, lực lượng dưới quyền ông bị mất đoàn kết và phân chia quyền lực Xuất hiện sự mâu thuẫn giữa Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử nên năm 602, nhà Tùy đã tiến hành chiến tranh xâm lược và đô hộ trở lại xóa bỏ nhà nước Vạn Xuân
c) Chính quyền họ Khúc và cải cách của Khúc Hạo (905 – 930)
Vào thế kỷ X, tình hình chính trị của Trung quốc trở nên rối ren Nhà Đường khủng hoảng dẫn đến tình trạng chiến tranh trong nước và chia cắt đất nước, tồn tại tình trạng “ngũ đại thập quốc”
Nhân thời cơ thuận lợi, được sự ủng hộ của nhân dân, năm 905, Hào trưởng đất Hồng Châu (nay thuộc Ninh Giang – Hải Dương) là Khúc Thừa Dụ
đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy chiếm Tống Bình (Hà Nội ngày nay) tự xưng là Tiết độ sứ
Năm 906, vua Đường buộc phải phong cho Khúc Thừa Dụ làm Tĩnh Hải quân Tiết Độ sứ với tước Đồng Binh Chương sự, công nhận Khúc Thừa Dụ có quyền cả về chính trị, quân sự và kinh tế Tuy vẫn nhận là một chức quan nhà
Trang 29Đường nhưng trong thực tế, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng được một chính quyền
tự chủ, đặt cơ sở cho nền độc lập bền lâu của dân tộc
Năm 905 chính là năm đánh dấu một mốc thắng lợi của dân tộc Việt sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc, đã tự chủ nắm được quyền lực chính trị Trước kia, chính quyền đô hộ không bao giờ phong chức Tiết độ sứ cho người bản địa
mà chức đứng đầu nắm quyền hành mọi mặt này chỉ thuộc về người Trung Quốc Thực tế, từ năm 905, với chức Tiết Độ sứ tự giành lấy và được chính quyền đô hộ thừa nhận, Khúc Thừa Dụ đã mở đầu cho việc xây dựng một chính quyền tự chủ
Năm 907, Khúc Thừa Dụ chết, con của Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo lên thay và chính quyền đô hộ buộc phải phong ông là: An Nam đô hộ Tiết Độ sứ Khúc Hạo tiếp tục sự nghiệp và tinh thần tự chủ của cha là Khúc Thừa Dụ Ông
đã dựa vào sự ủng hộ của nhân dân quyết tâm thực hiện một số cải cách nhằm xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, thoát dần ảnh hưởng và sự khống chế của chính quyền thống trị phong kiến phương Bắc
Theo sử cũ, để củng cố chính quyền tự chủ, Khúc Hạo đã bãi bỏ bộ máy hành chính của chính quyền đô hộ thời nhà Đường: An Nam đô hộ phủ- Châu - huyện- hương - xã để tổ chức một bộ máy hành chính mới Đó là: Chính quyền trung ương - Lộ- phủ - châu - giáp Cấp giáp đứng đầu là quản giáp phụ trách chung và phó trị giáp trông nom việc thu thuế Tổng cộng cả nước có 314 giáp Tại cấp xã đứng đầu là chánh lệnh trưởng và lệnh trưởng2 Khúc Hạo đã tiến hành thay đổi thành phần quan lại trong chính quyền mới, thay dần người Việt vào chính quyền tự chủ và qui định cụ thể chức danh của người quản lý cấp cơ
sở là cấp giáp và cấp xã Đường lối chính trị của cuộc cải cách theo định hướng
chung là: “Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị Nhân dân đều được yên
vui” 3 Các chức quan đứng đầu lộ, phủ, châu không được sử cũ nhắc tới, theo lệ
cũ là do các hào trưởng địa phương đứng đầu
Khúc Hạo cũng cho kê khai sổ hộ khẩu, lấy căn cứ để chia ruộng theo
chính sách “Bình quân thuế ruộng, thao bỏ lực dịch”4 và giao cho giáp trưởng
2 Xem Trương Hữu Quýnh ( 2.000), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục tr 103
3 XemKhâm định Việt sử thông giám cương mục (1998), tập 1 , Nxb Giáo dục, tr.210
4 XemKhâm định Việt sử thông giám cương mục (1998), tập 1 , Nxb Giáo dục, tr.218
Trang 3030
trông coi nhằm giúp nhà nước xây dựng, củng cố nhà nước độc lập tự chủ và khẳng định tính tập quyền của nhà nước Thông qua đó, nhà nước với tay xuống tới làng xã Việc quản lý làng xã trên cơ sở này giúp nhà nước có thể thực hiện chính sách xây dựng quân đội
Những cải cách của Khúc Hạo đã tạo điều kiện cho chính quyền trung ương
có khả năng kiểm soát được một cách trực tiếp các địa phương trong nước, góp phần quan trọng củng cố sự thống nhất lãnh thổ, có tác dụng và ý nghĩa lớn lao trong công cuộc xây dựng một chính quyền tự chủ, một quốc gia độc lập, thống nhất, tách khỏi phạm vi thế lực của chính quyền phong kiến Trung Quốc, biểu thị
rõ rệt tinh thần tự chủ, tự cường, tự lập và quyết tâm của dân tộc Việt lúc đó
Năm 917, Khúc Hạo chết, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay Năm 930, nhà Nam Hán đem quân xâm lược Việt Nam và tiêu diệt chính quyền tự chủ họ Khúc
d)Chính quyền Dương Đình Nghệ (931 – 937)
Năm 931, Dương Đình Nghệ là một hào trưởng địa phương ở Dương Xá (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) đã tập hợp lực lượng tiến hành cuộc khởi nghĩa, kéo quân ra Bắc, công phá thành Đại La – Dinh lũy chủ chốt của quân Nam Hán (Hà Nội ngày nay), lập lại nền tự chủ, tự xưng là Tiết Độ Sứ, tiếp tục sự nghiệp của
họ Khúc Chính quyền Dương Đình Nghệ kéo dài 6 năm
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn một viên tướng dưới quyền giết chết nhằm chiếm lấy chức Tiết Độ Sứ Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ đã tập hợp lại lực lượng để trừng trị Kiều Công Tiễn Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Kiều Công Tiễn đã cầu cứu quân Nam Hán Quân Nam Hán đã nhân dịp này đem quân vào Việt Nam theo đường sông Bạch Đằng Trước âm mưu bán nước của Kiều Công Tiễn và được sự ủng hộ của nhân dân, Ngô Quyền một mặt đã tiêu diệt Kiều Công Tiễn, mặt khác đã gấp rút chuẩn bị tiêu diệt quân Nam Hán khi biết chúng tiến vào theo đường sông Bạch Đằng
Năm 938, Ngô Quyền đã đánh bại quân Nam Hán trên Bạch Đằng giang, buộc quân Nam Hán từ bỏ âm mưu xâm lược Chiến thắng Bạch Đằng là mốc chính thức chấm dứt hơn nghìn năm Bắc thuộc, đưa dân tộc Việt vào thời kỳ độc lập tự chủ
Trang 31Nhìn lại thời kỳ Bắc thuộc hơn một nghìn năm, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã thiết lập một thể chế chính trị phù hợp với ý đồ đồng hóa và cai trị vì thu lợi Đương nhiên thể chế chính trị cai trị của phong kiến phương Bắc sẽ đối lập với lợi ích của người Việt và dẫn đến sự mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị là người Hán và toàn thể dân tộc Việt bị cai trị trở thành một đặc điểm xuyên suốt thời kỳ Bắc thuộc Một đặc điểm là dù chính quyền đô hộ cố gắng nhưng không thể xâm lấn và can thiệp vào cộng đồng làng xã của người Việt vì đây chính là thành trì bảo vệ bản sắc văn hóa của người Việt Người Việt mất nước nhưng không mất làng và cũng chính từ cộng đồng làng xã mà người Việt đã giữ được truyền thống bất khuất, kiên cường để đoàn kết giành quyền độc lập
Mặt khác, hơn nghìn năm Bắc thuộc cũng đã ảnh hưởng đến dân tộc Việt trước hết là thể chế chính trị Sau khi giành được độc lập, những vị vua của dân tộc Việt đã chấp nhận áp dụng đúng mô hình nhà nước phong kiến phương Bắc
ở Việt Nam Trong quá trình bị cai trị, những giá trị văn hóa Trung Quốc đã du nhập và tiếp biến Phật giáo và Nho giáo đều được du nhập vào Việt Nam một cách hoà bình và có một số biến đổi để phù hợp với tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” Cũng do đặc trưng của thể chế chính trị thời Bắc thuộc là tính nô dịch
và đồng hóa nên tinh thần được đưa lên hàng đầu trong hệ tư tưởng Việt Nam chính là tinh thần dân tộc Tổ quốc được đưa lên hàng đầu của hệ giá trị trong quan điểm của toàn thể dân tộc Việt
Phong trào đấu tranh giành độc lập và xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt được thiết lập và tổ chức dù chỉ trong một thời gian nhất định đã đặt nền móng, là cơ sở để dân tộc Việt bước vào thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài
4 Một số nhận xét
1 Trong suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc, chính quyền đô hộ Trung Quốc trên đất nước ta có những thay đổi theo các triều đại ở chính quốc Mỗi triều đại phân cấp quản lý theo cách riêng, nhưng đều nhằm mục đích đồng hóa người Việt, biến Giao Châu thành một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc Chúng áp đặt
mô hình chính quyền địa phương của Trung Quốc vào nước ta, chủ yếu theo cơ cấu quận- huyện kiểu Tần - Hán Cấp quận do người Hán nắm giữ, cấp huyện (bộ lạc cũ) được ủy quyền cho các thủ lĩnh người Việt Trong quá trình cai trị, đã
có những thay đổi về cơ cấu và cơ chế vận hành, nhưng đó là một cấu trúc chính
Trang 3232
trị ổn định, bền vững và hữu hiệu dựa trên tính chất quân chủ chuyên chế Quận, huyện luôn là trung tâm và là trọng tâm của hệ thống chính trị, có phiên chế tinh gọn, kết hợp với chế độ pháp lệnh (từ cấp huyện trở lên) và tự quản (cấp dưới huyện), giữa các chế độ hành chính trực thuộc và phiên thuộc (châu, huyện)
2 Càng về sau, thể chế chính trị đô hộ phong kiến phương Bắc được tổ chức ngày càng quy mô, chặt chẽ hơn Triều đại sau rút kinh nghiệm của triều đại trước trong việc cai trị người Việt Dưới triều Đường, thể chế chính trị có quy mô lớn nhất, liên kết được nhiều kiểu dạng mô hình: 1) quyền lực tập trung thống nhất; 2) hệ thống chính quyền được thiết lập ở các châu, huyện, hương, xã; 3) các phủ đô hộ trực thuộc châu; 4) các châu, huyện phiên thuộc ở các vùng dân tộc thiểu số
Dưới hình thức An Nam đô hộ phủ với người đứng đầu là tiết độ sứ có toàn
quyền chính trị và quân sự; thể chế chính trị đã mang dáng dấp và thật sự vận hành như một thể chế chính trị độc lập trên một vùng đất căn bản là lãnh thổ của nước Âu Lạc xưa kia Đây là tiền đề quan trọng để Khúc Thừa Dụ sau này nằm quyền tự trị, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc đầu thế kỷ X, mặc dù nền hành chính tự chủ đó, cả về hình thức lẫn nội dung quản lý vẫn chưa thoát khỏi “ không gian Bắc thuộc”
3 Thể chế chính trị đô hộ đã phát huy tác dụng trong xã hội người Việt như một công cụ quản lý hữu hiệu, là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho nền thống trị của phương Bắc, được “Việt hóa” và dung hòa trong lòng văn minh sông Hồng, đã trở thành một bộ phận của văn hóa chính trị người Việt
Các chính quyền thống trị đã dùng nhiều biện pháp nham hiểm, xảo quyệt nhằm áp đặt xã hội Việt Nam theo mô hình Hán Chúng ra sức củng cố thể chế cai trị trên đất nước ta bằng nhiều biện pháp và thủ đoạn thâm độc, hệ thống chính quyền ngày càng quy mô, chặt chẽ hơn Nhưng chúng đã phải bất lực và thú nhận: “Nước Việt là đất ngoại cõi, là dân cắt tóc xăm mình, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà trị được”5 Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc,
từ triều Hán cho đến Tùy, Đường, kể cả những lúc phong kiến Trung Quốc cực thịnh, về cơ bản chúng chỉ có thể “lấy tục cũ để cai trị” và “ràng buộc lỏng lẻo”
sử Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 22
Trang 33đất Giao Châu mà thôi Ngay cả khi chế độ lạc tướng bị xóa bỏ, chính quyền đô
hộ nắm giữ các cấp huyện, thế nhưng không thể áp đặt được hệ thống chính trị cấp xã, không thể khống chế nổi các công xã của người Việt Nhiều vùng rộng lớn vẫn nằm ngoài sự cai trị của chúng
4 Trong thời kỳ chống Bắc thuộc, nhân dân ta đã nhiều lần vùng dậy đấu tranh để giành lại độc lập nhằm thiết lập thể chế chính trị riêng, độc lập với chính quyền phương Bắc Thể chế chính trị thời Hai Bà Trưng còn rất đơn giản, nhưng
đó là thành quả của nhân dân ta sau hơn 200 năm mất nước Nhà nước Vạn Xuân còn sơ sài, nhưng có ý nghĩa hết sức lớn lao Nó khẳng định sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vào năng lực quản lý, làm chủ đất nước của tầng lớp quý tộc người Việt, phủ nhận quyền đô hộ, thống trị của để quốc phương Bắc, đồng thời đánh dấu một bước phát triển về tư duy chính trị của nhân dân ta Trong hoàn cảnh phải đối phó chống chính quyền đô hộ phương Bắc, buộc phải nhận một chức quan của chúng nhưng Khúc Thừa Dụ đã thiết lập một chính quyền tự chủ, chặt chẽ, quy mô hơn nhiều so với trước, đặt cơ sở cho nền độc lập của dân tộc sau này Những cải cách về chính trị của Khúc Hạo đã tạo điều kiện cho chính quyền trung ương có khả năng kiểm soát được trực tiếp các địa phương, góp phần củng cố sự thống nhất lãnh thổ Như vậy, kể từ nhà nước Vạn Xuân, người Việt đã biết tiếp thu những điểm phù hợp của mô hình thể chế chính trị phong kiến trung ương tập quyền Trung Hoa áp dụng vào thiết lập thể chế chính trị của mình Trong cuộc đấu tranh trường kỳ, quyết liệt và vô cùng gian khổ, trên cơ sở ý thức dân tộc và tinh thần tự lực tự cường, cha ông ta không bảo thủ, khép kín, mà đã biết kết hợp những giá trị truyền thống dân tộc với những cái hay, cái tốt của nước ngoài, kể cả của kẻ thù xâm lược
5 Ngay trong thời kỳ này, người Việt đã nhận thức được vai trò quan trọng của luật pháp trong đời sống xã hội, trong quản lý, bảo vệ sự ổn định chính trị- xã hội của đất nước Trong các cuộc khởi nghĩa, ngay sau khi giành được chính quyền, bộ máy nhà nước được thiết lập và giai cấp nắm quyền đã cho ban hành ngay chính sách giảm thuế, an dân, xóa bỏ pháp luật khắc nghiệt của triều đình phương Bắc, xây dựng nếp sống tự chủ cho dân Việt
6 Trong hơn nghìn năm chống Bắc thuộc, bản lĩnh chính trị của người Việt đã được tôi luyện, thử thách, truyền thống kiên cường, bất khuất đấu tranh
Trang 3434
chống ngoại xâm cũng được hình thành Về phương diện thể chế, mô hình thể chế chính trị quân chủ Trung Hoa cũng đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc Các vị vua Việt sau này đã biết áp dụng những kỹ thuật tổ chức bộ máy nhà nước và phương thức cai trị, tiếp thu có chọn lọc hệ tư tưởng Nho giáo, áp dụng vào điều kiện cụ thể của nước mình, chấp nhận một số chuẩn mực chính trị Trung Hoa như: đề cao những người có tước vị, coi trọng học vấn trong hoạt động chính trị, tuyển chọn quan lại thông qua thi cử Vì vậy, thể chế chính trị Việt Nam có những nét tương đồng với Trung Quốc hơn là thể chế chính trị của một số nước Đông Nam Á
III Thời kỳ Phong kiến độc lập
1 Điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính trị thời Đinh – Tiền Lê (968- 1009)
Thời kỳ Bắc thuộc kết thúc bằng chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 Năm 939, Ngô Quyền chính thức xưng vương xây dựng chính quyền mới, đóng
đô ở Cổ Loa Tuy nhiên, nhà nước của vương triều Ngô là nhà nước đầu tiên của thời kỳ độc lập, Ngô Quyền mới chỉ dám xưng vương, chưa xưng hoàng đế Bộ máy chính quyền còn chưa thật hoàn chỉnh nên đã không giữ được sự ổn định lâu dài trong xã hội
Kinh tế nông nghiệp vẫn tiếp tục phát triển với việc hình thành một số trang trại mà chủ trang trại là những quan chức người Hán cũ (họ Hồ ở trang Bàu Đột (Quỳnh Lưu- Nghệ An), họ Vũ ở Mộ Trạch (Hưng Yên) và các hào trưởng địa phương Điều kiện kinh tế này đã làm lực lượng của các hào trưởng mạnh lên Sau khi Ngô Quyền chết năm 944 do sự tranh giành quyền lực và mâu thuẫn nội bộ trong dòng họ Ngô đã dẫn đến tình hình xã hội trở nên loạn lạc Ngô Vương Văn còn sang Nam Hán xin mệnh vua Nam Hán nhận chức Tĩnh hải quân Tiết độ sứ Sau khi Ngô Xương Văn (con Ngô Quyền) chết năm 965, tình hình đất nước rơi vào tình trạng chiếm cứ của các thổ hào địa phương, sử cũ gọi
là loạn 12 sứ quân
Trong điều kiện bất ổn của đất nước thời đó, đã xuất hiện nhân vật Đinh
Bộ Lĩnh Với tài năng và quyết tâm thống nhất lại đất nước, Đinh Bộ Lĩnh đã liên kết với sứ quân mạnh là Trần Lãm, sau đó tiếp tục dẹp loạn thu phục các sứ quân và thống nhất đất nước, chính thức lên ngôi xưng Hoàng đế (Đinh Tiên
Trang 35Hoàng) năm 968 Ông đã đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, đặt niên hiệu là Thái Bình, bắt đầu xây dựng một thể chế quân chủ độc lập đầu tiên
Có thể nói thể chế quân chủ độc lập đầu tiên mà Đinh Bộ Lĩnh xây dựng ở Việt Nam (sau đó là thời Tiền Lê) đã chịu ảnh hưởng của chế độ quân chủ Trung Quốc Lý do khá dễ hiểu vì Trung Quốc là một đất nước phát triển cao với mô hình quân chủ chuyên chế và các học thuyết chính trị có tư tưởng đặc sắc hơn nữa lại đô hộ Việt Nam hơn một nghìn năm Các khuôn mẫu của chế độ quân chủ ở Trung Quốc đã được các vị đứng đầu đất nước Việt Nam tham khảo Tuy nhiên, có thể nói, các thể chế chính trị phong kiến quân chủ ở Việt Nam đều được xây dựng trên cơ sở đặc điểm dân tộc cao chứ không phải bắt chước một cách dập khuôn
Chính quyền thời Đinh có tổ chức còn khá đơn giản, duy trì dựa vào sức mạnh quân sự là chủ yếu Vua đứng đầu (đã đặt thái tử là người nối ngôi và phong chức vương cho các hoàng tử con vua) Dưới vua là hàng ngũ quan văn, quan võ và đặc biệt là có tăng quan Đứng đầu quan văn là Thái sư đúng đầu triều, đứng đầu quan võ là Thập đạo tướng quân, điện tiền chỉ huy sứ Thời kỳ này các quan lại chưa được chuyên môn hóa, chủ yếu là người giúp việc cho vua Người có quyền lực sau vua chính là vị chỉ huy quân sự (Người trở thành Hoàng đế Tiền Lê chính là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn)
Quyền tư pháp tập trung vào tay vua, vua là người quyết định thưởng phạt cho cấp dưới Thời Đinh, nhà vua đặt vạc dầu ở sân triều, hổ dữ trong cũi, hạ lệnh ai trái phép sẽ cho vào vạc dầu, cũi hổ hoặc đánh roi Luật pháp thành văn chưa có mà mới dựa vào thưởng phạt được vua ban Dưới địa phương chủ yếu là theo luật tục
Tuy nhiên, ngay thời Đinh, nhà vua đã đề cao Phật giáo Đến thời Tiền
Lê, đặt chức Quốc sư, coi như cố vấn và phụ trách quản lý Phật giáo Trong Tăng quan có các chức Tăng thống, Tăng lục, Sùng chân uy nghi
Hệ thống các đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền địa phương đã được tổ chức chặt chẽ Cả nước chia làm 10 đạo Năm 1002, Lê Hoàn đã đổi đạo thành lộ, dưới có phủ, châu và giao cho các quản giáp, thứ sử, trấn tướng trông coi Chế độ “Ngụ binh ư nông” đã được thực hiện ngay từ thời Đinh để xây dựng một lực lượng quân đội mạnh phục vụ an ninh, bảo vệ triều đình và đất nước
Trang 3636
Sự duy trì quyền lực tập trung dựa trên quân sự và những hình phạt nặng
nề thực chất sẽ dẫn đến mâu thuẫn trong xã hội và dẫn đến hậu quả là chế độ tập quyền không tồn tại lâu dài Đinh Tiên Hoàng và con trai ông là Đinh Liễn đã bị một viên quan hầu (Đỗ Thích) sát hại khiến triều đại nhanh chóng suy tàn Thời Tiền Lê, sau khi Lê Đại Hành chết, vương triều cũng trở nên rối loạn Sự phát triển của đất nước đòi hỏi một mô hình thể chế chính trị mới phù hợp hơn
Tuy vậy khi nhìn lại, mô hình nhà nước Đinh – Tiền Lê đã có một bước tiến quan trọng khẳng định nền độc lập của dân tộc tuy vẫn còn hạn chế là đơn giản, dựa vào sức mạnh quân sự là chính Mô hình nhà nước này cũng coi trọng tư tưởng Phật giáo với tư tưởng không phụ thuộc Trung quốc, xây dựng một quốc gia độc lập Đây là mô hình quá độ sang một thời kỳ phát triển ổn định theo hướng phong kiến hóa ngày càng vững chắc và đậm nét dân tộc
2 Điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính trị thời Lý – Trần – Hồ
Sau khi Lê Hoàn chết, được sự ủng hộ của triều thần, Lý Công Uẩn vốn là
Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, được tôn lên làm vua (Lý Thái Tổ)
Lý Công Uẩn lên ngôi, lấy niên hiệu là Thuận Thiên và năm 1010 đã quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La đổi tên là Thăng Long Việc dời đô
từ Hoa Lư ra Thăng Long không những thể hiện sự trưởng thành của dân tộc về mọi mặt mà còn thể hiện tầm nhìn xa của Lý Công Uẩn về tương lai và sự phát triển của đất nước, mở đầu cho Thăng Long trở thành Kinh đô văn vật của đất nước độc lập
Nhà Lý tồn tại từ năm 1009 đến 1025, trải qua 9 đời vua (Lý Thái Tổ
(1009-1028); Lý Thái Tông (1028-1054); Lý Thánh Tông (1054-1072); Lý Nhân Tông (1072-1127); Lý Thần Tông (1127-1137); Lý Anh Tông (1138-1175); Lý Cao Tông (1175-1210); Lý Huệ Tông (1210-1224); Lý Chiêu Hoàng (1224- 1225)) Nhà Lý chăm lo sản xuất nông nghiệp thông qua những chính sách cụ
thể và thiết thực như “cày ruộng tịch điền”, bảo vệ trâu bò là sức kéo trong nông nghiệp, chăm lo công tác đê điều và thủy lợi Trong chính sách ruộng đất nhà Lý cũng đã quan tâm đến các hình thức ruộng đất công như ruộng quốc khố, đồn điền và tư, mở rộng khai hoang, ruộng công làng xã, về ruộng tư, triều đình ưu đãi đất đai cho chùa, một chùa có thể sở hữu hàng trăm mẫu ruộng Kinh tế nông
Trang 37nghiệp thời Lý với các chính sách quan tâm này đã phát triển mạnh tạo đời sống kinh tế no đủ và tình hình xã hội ổn định trong thời Lý
Vua cuối cùng của triều Lý là Lý Chiêu Hoàng là nữ hoàng Lợi dụng tình hình nhà Lý suy yếu, nhà Trần đã thay thế nhà Lý thông qua một cuộc hôn nhân chính trị dưới sự điều khiển của Trần Thủ Độ Năm 1266, Lý Chiêu Hoàng chính thức ra chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh Cuộc chuyển giao ngai vàng về tay nhà Trần đã thành công Nhà Trần thay thế nhà Lý, tiếp tục phát triển đất nước Trong chính sách kinh tế, bên cạnh việc thi hành biện pháp bảo vệ ruộng đất công gồm ruộng quốc khố và ruộng đất công làng xã thì nhà Trần cũng cho phép các quí tộc Trần được khai hoang thành lập điền trang tư nhân và có thể sử dụng nô tỳ để khai khẩn Điền trang là khu vực kinh tế hỗn hợp dựa trên sự bóc lột nông nô và nô tỳ
Việc ban thái ấp cho quí tộc Trần hưởng bổng lộc cũng là một chính sách của nhà Trần nhằm mục đích ưu đãi cho quí tộc họ Trần, tạo cơ sở xã hội vững chắc cho vương triều Thái ấp có diện tích nhỏ hẹp nên không ảnh hưởng đến quyền uy của vương triều mà ngược lại, các vương hầu đều gắn bó với triều đình
Nhà Trần cũng cho phép mua bán ruộng đất dẫn đến sự hình thành địa chủ thường và tiểu nông tư hữu Nhà Trần cũng quan tâm đến sản xuất nông nghiệp,
mở rộng sản xuất bằng việc khai hoang và chú trọng công tác trị thủy, tổ chức đắp đê, thành lập các cơ quan quản lý đê điều Nhà Trần được coi là “triều đại đắp đê”, lần đầu tiên cho xây dựng quai vạc Cũng vì vậy, kinh tế nông nghiệp thời Trần phát triển
Tư tưởng chủ đạo thời kỳ này là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức tìm về cội nguồn, khẳng định bản sắc riêng đã thấm đẫm trong văn hoá Đại Việt Đây cũng là thời kỳ lịch sử mà thể chế chính trị độc lập đã tạo đà cho tư tưởng chính trị, xã hội phát triển vượt bậc Dân tộc Việt, trên cơ sở những thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ XI và chống Nguyên Mông thế kỷ XIII, đã nhận thức sâu sắc về sự vững vàng của nền độc lập tự chủ của quốc gia
và sức sống trường tồn của đất nước Giai cấp phong kiến Đại Việt cũng ý thức
rõ ràng về sự tồn tại và đứng vững của thể chế chính trị do mình tạo lập và đại diện cho dân tộc Việt
Trang 38Cũng vì vậy, thể chế chính trị thời Lý – Trần đã nổi bật lên đặc điểm của
một mô hình quân chủ tập quyền thân dân đậm tính dân tộc Vua là vị chúa tể
quyền lực và có được quyền lực cao là nhờ có “đức lớn” Bệ đỡ của “Đức lớn” là
ý dân, tức là coi trọng ý dân dù vua có quyền lực tối cao và là chủ sở hữu của toàn dân và đất đai.Quyền chúa tể của Hoàng đế Việt Nam còn có bệ đỡ bởi hệ
tư tưởng “tam giáo đồng nguyên”, là sự chung sống hoà bình giữa các tín ngưỡng dân gian của dân tộc Việt và các tôn giáo Phật, Đạo, Nho trong đó Phật giáo là quốc giáo Hầu hết các vua thời Lý và thời Trần đều sùng Phật và bỏ nhiều công sức dựng chùa tháp, dịch kinh Phật… Đạo Phật thời Lý - Trần đã ảnh hưởng đến đường lối cai trị của triều đình, đó là đường lối thân dân, khoan dung, nhân hậu, là một nhân tố bên cạnh đạo Nho, tạo nên một thế cân bằng tôn giáo Thời nhà Trần nổi bật vị vua Trần Nhân Tông, đã đi sâu nghiên cứu về đạo Phật
và thậm chí còn cởi áo bào đi tu Với tài năng của mình, vua Nhân Tông đã thành công trong việc lập ra dòng Phật giáo Trúc Lâm tại Việt Nam
Phật giáo được đề cao thể hiện ý thức giương cao tư tưởng phi Trung Hoa, hướng tới sự hòa đồng xã hội của những người đứng đầu nhà nước Tuy nhiên, Nho giáo vẫn được coi là một công cụ quan trọng được sử dụng như cơ sở để tổ chức bộ máy nhà nước và tuyển chọn quan lại với tư tưởng tập quyền Vì kết hợp
cả Nho và Phật nên ở thời Lý – Trần là tập quyền thân dân Vua vẫn là người
đứng đầu trong các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Vua quan tâm
đến đời sống người dân, trong những trường hợp khẩn cấp, người dân bị oan ức
có thể đến thềm điện Long Trì đánh trống để xin trực tiếp gặp vua
Đội ngũ quan lại được chia thành 9 bậc chánh và tòng cho quan văn và quan võ Sau vua và đứng đầu đội ngũ quan lại văn võ là 3 chức Thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) và 3 chức Thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo) Chức Thái úy có vai trò như tể tướng (Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành đã giữ chức
Trang 39này) Chế độ tuyển dụng quan lại triều Lý lúc đầu chủ yếu thực hiện qua hình thức “nhiệm tử” (con cháu được tập ấm) và “tuyển cử” (giới thiệu, bảo lãnh)
Nhà Lý cũng rất coi trọng Phật giáo (Lực lượng Phật giáo thời Lý rất đông đảo, có ruộng đất riêng) đã kế thừa tổ chức tăng quan thời Đinh- Tiền Lê Tăng quan là tổ chức tôn giáo liên quan chặt chẽ đến thể chế nhà nước phong kiến Tăng sĩ có học vấn cao được nhà vua phong là Quốc sư, giúp vua hiểu về đạo nghĩa Phật giáo, giúp vua quản lý các tăng đồ về mặt hành chính và đồng thời cũng bảo vệ quyền lợi của Phật giáo (sư Vạn Hạnh, Không Lộ thời Lý được phong là Quốc sư)
Chế độ khoa cử được bắt đầu từ thời Lý vào năm 1075, Lý Nhân Tông cho
mở khoa thi Minh Kinh bác học và Nho học tam trường để tuyển chọn những người đỗ đạt trong nước vào làm quan lại Việc mở các khoa thi để tuyển chọn đội ngũ quan lại đã đánh dấu bước tiến mới của nhà nước quân chủ tập quyền thời Lý
Đến thời Trần (12 đời vua: Trần Thái Tông (1225-1258); Trần Thánh
Tông (1258-1278); Trần Nhân Tông (1278-1293); Trần Anh Tông (1293-1314); Trần Minh Tông (1314-1329); Trần Hiến Tông (1329-1341); Trần Dụ Tông (1341-1369); Trần Nghệ Tông (1370-1372); Trần Duệ Tông (1372-1377); Trần Phế Đế (1377-1388); Trần Thuận Tông (1388-1398); Trần Thiếu Đế (1398- 1400) mặc dù coi “khoan thư sức dân là kế sâu rễ bền gốc” nhưng vì muốn thâu
tóm quyền hành vào dòng họ nên mặt khác, nhà Trần đã thực hiện chế độ quân chủ - quí tộc và hôn nhân đồng tộc (các chức vụ quan trọng đều nằm trong tay họ Trần, người họ Trần không kết hôn với người ngoài họ)
Thời Trần qui định chức vụ cao nhất của lực lượng quân đội chỉ thuộc về hoàng tử (Chỉ huy quân đội trong thời bình là Thượng tướng Trần Quang Khải (Hoàng tử) tức Nguyên soái Chỉ khi đất nước có chiến tranh vua Trần mới phong cho Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn chức Quốc công Tiết chế tức Nguyên soái tạm thời)
Một đặc điểm nổi bật của triều Trần là thực hiện chế độ hai vua (vua và Thái thượng hoàng) Các vua nhà Trần sau một thời gian làm vua đã nhường ngôi cho con để làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn kiểm soát chính sự của con Vua cha ra quyết định chính nhưng không hạn chế quyền hành của vua con
Trang 40thái, tam thiếu như thời Lý còn có tam tư (tư đồ phụ trách ngoại giao, lễ tiết, tư
mã phụ trách quốc phòng, an ninh, tư không phụ trách các việc khác)
Nhà Trần đã đặt thêm chức Tể tướng, phải là thân vương với chức danh là
Tả, Hữu tướng quốc và được phong thêm “Bình chương quân quốc trọng sự” hay
“Đồng bình chương quân quốc trọng sự” Bên dưới có một số chức vụ quan trọng như “ Tả, hữu Gián nghị đại phu” “Tả hữu phúc tâm”, “Tả hữu tham tri chính sự” Trong đó một chức chỉ giành cho những vị quan cương trực thẳng thắn là “Gián nghị đại phu” chuyên can gián việc sai trái của vua
Cấp thứ hai dưới các đại thần, thời Trần đặt Hành khiển ty gồm Hành khiển
ty ở cung Quan triều hay Môn hạ sảnh trực thuộc vua, Hành khiển ty ở cung Thánh
từ hay Thượng thư sảnh trực thuộc Thượng hoàng Môn hạ sảnh và Thượng thư sảnh sau đó nhập lại thành Nội mật viện Bên cạnh đó có Trung thư sảnh, gồm các chức quan Tả, Hữu thị lang, Thượng thư (các Bộ Lại, Hộ, Hình đều là bộ phận của
Hành Khiển ty) “Phan Huy Chú cho biết đời Trần đã lập ra đủ lục bộ, nhưng Lịch
triều Hiến Chương loại chí và sử sách cũng không nói việc lập đủ lục bộ có từ đời
vua nào và chức năng quyền hạn của từng bộ ra sao”6
Cấp thứ ba là các cơ quan chuyên môn giúp việc Hành khiển ty có các đài, viện, tự, cục Ngự sử đài (đời Trần mới đặt) có chức năng giám sát quan lại và giám sát việc thi hành pháp luật Trong Ngự sử đài có các chức quan như Ngự sử đại phu, Giám sát ngự sử, Ngự sử trung tán, Ngự sử trung thừa Thẩm hình viện
là cơ quan xét xử cao nhất, Tam ty viện giám sát việc thực thi pháp luật và đề nghị nhà vua sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật Bình Bạc Ty là tổ chức coi việc hình án, kiện tụng ở kinh thành
Quốc Sử viện chuyên chép sử, Thái y viện chăm sóc sức khỏe cho vua, hoàng gia và triều đình Tôn nhân phủ: soạn gia phả hoàng tộc Quốc Tử giám
6 Nguyễn Việt Hưng ( 2012) Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam , Nxb Công an nhân dân, tr.134