1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Tìm Hiểu Về Địa Danh Núi Bà Đen

23 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Về Địa Danh Núi Bà Đen
Người hướng dẫn Bùi Thị Kiều Trang
Trường học Trường Đại Học Kiên Giang
Chuyên ngành Địa danh học và Địa danh Việt Nam
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Rạch Giá
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 355,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề Tài Tìm Hiểu về Địa Danh Núi Bà Đen bao gồm các phần mở đầu, nội dung và kết luận, tài liệu tham khảo... ....................................................................................................................................................................................................................................

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIÊN GIANG KHOA SƯ PHẠM VÀ XÃ HỘI NHÂN VĂN

BÁO CÁOTÌM HIỂU VỀ ĐỊA DANH NÚI BÀ ĐEN

Học Phần: Địa danh học và Địa danh Việt Nam Giảng Viên Hướng Dẫn: Bùi Thị Kiều Trang

Sinh Viên Thực Hiện: Võ Hoàng Em

MSSV: 2006216010

Lớp: B20TV

NĂM 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIÊN GIANG KHOA SƯ PHẠM VÀ XÃ HỘI NHÂN VĂN

BÁO CÁOTÌM HIỂU VỀ ĐỊA DANH NÚI BÀ ĐEN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu: 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1.1 Cơ sở lí luận 3

1.1.1 Định nghĩa về địa danh 3

1.1.2 Phân loại địa danh 3

1.1.2.1 Phân loại địa danh theo đối tượng 3

1.1.2.2 Phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ 3

1.2 Định nghĩa về Truyền thuyết 3

CHƯƠNG 2 ĐỊA DANH NÚI BÀ ĐEN 3

2.1 Tên gọi và ý nghĩa 3

2.2 Vị trí địa lý 3

2.3 Truyền thuyết về Núi Bà Đen 3

2.4 Giá trị 3

2.4.1 Giá trị văn hóa 3

2.4.2 Giá trị lịch sử 3

CHƯƠNG 3: ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM NÚI BÀ ĐEN 3

3.1 Ưu điểm 3

3.2 Nhược điểm 3

KẾT LUẬN 3

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu địa danh là một vấn đề quan trọng và cần thiết trong nghiên cứuvăn hóa và nghiên cứu khu vực Bởi vì địa danh là một dạng thức ngôn ngữ, về bảnchất, bao giờ cũng có những mối quan hệ gắn bó, những ảnh hưởng hay tác động qualại với văn hoá, lịch sử, địa lý, dân cư nơi nó tồn tại Nghiên cứu địa danh trong nhữngmối quan hệ với các mặt có liên quan, đặc biệt nghiên cứu địa danh gắn liền vớitruyền thuyết hiện đang là một trong những công việ/c được quan tâm hiện nay

Và đó là lý do tôi chọn đề tài “Núi Bà Đen – Địa danh gắn với truyền thuyết”

Đề tài này sẽ đi sâu tìm hiểu vị trí địa lý, tên gọi, những giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắccủa ngọn núi này, từ đó phân tích đánh giá những tác động tích cực, tiêu cực của núi

Bà Đen đối với sự phát triển du lịch, kinh tế tỉnh Tây Ninh nói riêng và của Việt Namnói chung Tìm hiểu về địa danh này, chúng ta không chỉ có được cái nhìn sâu sắchơn, đầy đủ hơn về lịch sử, văn hoá vùng núi linh thiêng mà còn có được cái nhìn toàndiện hơn, đa dạng hơn về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu.

Đã có nhiều bài báo, bài viết về núi Bà Đen, trong đó tập trung giới thiệu về núi BàĐen qua các giá trị nhằm mục đích quảng bá du lịch và thu hút khách du lịch

Bài báo “Mùa xuân trẩy hội núi Bà Đen (Tây Ninh)” của DIỆU HUYỀN đã giới thiệu

về cảnh quan, những giá trị độc đáo của tự nhiên và nhân văn của núi Bà Đen

Bài “Về núi Bà Đen mùa lễ hội” của Phùng Hiệu - Nguyễn Tý tđã nêu khái quát về sựtích núi Bà Đen, giới thiệu về lễ hội tại núi bà Đen và hệ thống cáp treo phục vụ dukhách khi lên núi

Trang 5

Bài viết “Truyền thuyết về núi Bà Đen Tây Ninh” đã giới thiệu về sự tích núi Bà Đen,nêu lên những quần thể kiến trúc gồm điện, chùa, miếu, tháp…trong khu di tích, lễ hộivía Bà Đen được tổ chức hằng năm, các con đường để lên, xuống núi như đi bộ, cáptreo, máng trượt…

Tóm lai, các bài báo đều đã nêu lên được các sự tích về núi Bà Đen, giới thiệu về cácgiá trị của khu di tích về cảnh quan tự nhiên, văn hóa… để thu hút khách du lịch Tuynhiên, các bài viết chỉ mới nhìn nhận núi Bà Đen trong lĩnh vực du lịch trên mộtphương diện cụ thể chứ chưa đi sâu tìm hiểu để có được cái nhìn tổng thể về các giátrị của núi Bà Đen Trong bài viết này, tôi sẽ nghiên cứu trên các phương diện như vịtrí địa lý, tên gọi, các giá trị văn hóa, lịch sử… của núi Bà Đen, từ đó đưa ra các đánhgiá về những điểm mạnh, điểm yếu của nó trong việc phát triển du lịch để hiểu đượcnhững giá trị giáo dục truyền thống, tìm ra những biện pháp để phát huy điểm mạnh

và hạn chế điểm yếu của địa danh núi Bà Đen

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu địa danh núi Bà Đen trên các phương diện như vị trí địa lý, tên gọi, các giá trị văn hóa lịch sử…để đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của địa danh đó trong việc phát triển du lịch và giáo dục văn hóa truyền thống

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này lấy đối tượng nghiên cứu là địa danh núi Bà Đen thuộc thuộc xã Thạnh Tân, huyện Hoà Thành, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Bài viết tìm kiếm thông tin từ các trang mạng, các bài báo, bài viết có liên quan đến địa danh rồi tiến hành xử lý thông tin sao cho phù hợp với nội dung của đề tài

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Định nghĩa về địa danh.

Địa danh nghĩa là tên đất (danh: tên gọi; địa: đất, vùng đất, địa bàn, địa điểm, địaphương, nơi chốn ); có nghĩa là tên gọi của các địa điểm hay địa phương khácnhau

Địa danh học là khoa học về địa danh Nói cụ thể hơn, địa danh học là ngành khoahọc chuyên nghiên cứu về ý nghĩa, nguồn gốc, cấu tạo của địa danh, các phươngthức đặt tên cho địa danh và biến đổi của địa danh v.v

Thuật ngữ quốc tế Toponymy có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa nhưvậy: “Topos” (địa phương); “Onoma” (tên gọi)

1.1.2 Phân loại địa danh

Phân loại địa danh là vấn đề khá phức tạp Thông thường, người ta chia địa danhthành các loại theo 2 hệ thống như sau:

1.1.2.1 Phân loại địa danh theo đối tượng

a) Địa danh tự nhiên: Địa danh tự nhiên là địa danh về các đối tượng tự

nhiên

như sông, núi, biển, đảo… Ví dụ: Cửu Long, núi Sam, dãy Trường Sơn, hồ Than Thở,đảo Phú Quốc, vịnh Hạ Long, vũng Rô, bán đảo Hòn Khói, mũi Nai, biển Đông, Địa danh tự nhiên có thể chia thành các loại như sau:

+Địa danh sông ngòi: là các đối tượng nước chảy thường xuyên trên bề mặt

đất như sông Hồng, ngòi Thia, rạch Chiếc, suối Đá, nậm Rốm, khuổi Cải, xẻo Chít, rào Nậy, kênh Cùng, v.v…

+Địa danh hồ đầm: là các đối tượng nước đọng trên bề mặt đất như hồ Tây, hồ

Suối Hai, ao Vua, đầm Vạc, đầm Sen, bàu Sen, bàu Bàng, láng Tròn, láng Thế, v.v

+Địa danh đồi núi: là các dạng địa hình dương trên bề mặt đất như núi Đọi, núi

Sam, Trường Sơn, Chủ Yang Sin, Pu Luông, Khau Cọ, Bù Rinh, đồi Độc Lập,

đồi Tức Dup…

+ Địa danh rừng rú: là tên gọi của rừng rú, truông, trảng như rừng Cúc

Trang 7

Phương, rừng U Minh, rừng Sát, rú Mượu, ngàn Hống, truông Nhà Hồ, truông Mây, trảng Bàng…

+Địa danh vũng vịnh: là tên gọi của các vùng nước ven biển ăn vào đất liền như vịnh Bắc Bộ, vịnh Cam Ranh, vũng Tàu, vũng Rô, vũng Quýt (Dung Quất), v.v

+Địa danh hải đảo, địa danh cồn, giồng: là các dạng địa hình dương trên bề mặt nước (biển hoặc sông) như đảo Cồn Cỏ, Côn Đảo, quần đảo Trường Sa, hòn Tre, hòn Nghệ,cồn Hến, cồn Âu, cồn Cái Khế, cù lao Dung, v.v

b) Địa danh kinh tế-xã hội: Địa danh kinh tế-xã hội

là địa danh về các đối tượng được hình thành do các hoạt động của con người Địa danh kinh tế-xã hội bao gồm rất nhiều loại như: làng, bản, thôn, xã, huyện, tỉnh, thị

xã, thành phố, cầu, cống, đường, nhà ga, sân bay, bến xe, bến cảng, cơ quan, xí

nghiệp, trường học, bệnh viện, v.v Ví dụ, làng Sen, Ấp Bắc, huyện Châu Thành, thành phố Cần Thơ, thủ đô Hà

Nội, Nhà máy Bia Phong Dinh, Trường PTCS Lương Thế Vinh, Bệnh viện Từ Dũ, …Địa danh kinh tế-xã hội có thể chia thành các loại như sau:

+Địa danh cư trú: là các đơn vị quần cư cơ bản như làng Chùa, làng Thượng Cát,

làng Gióng, bản Kéo, mường Bi, mường Vang, chạ Chủ (Cổ Loa), xóm Củi, thônĐoài, ấp Bắc, Bát Tràng, trang Liệt, cổ Lễ, sóc Bom Bo, sóc Xoải, công Hoa, kon Tum, buôn Hồ, pley Ku, pley Me…

+Địa danh hành chính: là hệ thống các đơn vị hành chính các cấp từ xã trở lên như

xã phường, quận, huyện, thị xã, tỉnh, thành phố… Ở nước ta, tên gọi và quy mô các đơn vị hành chính thay đổi rất lớn trong lịch sử Vi dụ: cấp tính có thể tương đương với các tên gọi cổ như: bộ, quận, lộ, đạo, trấn, hạt…

Trang 8

Sơ đồ tổ chức hành chính thời Lê thánh tông (1460-1497) Nguồn: Tr.34 Tập bài giảng Địa danh học và địa danh Việt Nam, Quách Việt Tú, Bùi Thị Kiều Trang (2021), trường Đại học Kiên Giang

(lưu hành nội bộ).

Hiện nay, ngoài cấp trung ương, ở nước ta có 3 cấp hành chính cơ bản là xả huyện tỉnh; tương đương với ba cấp này có các đơn hành chính dùng cho đô thị là phường(thị trấn) - quận (thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) - thành phố trực thuộc trung ương

-+Địa danh khác (cầu đường, bến bãi, ngã ba, ngã tư, chùa, miếu, cơ quan, xi

nghiệp, ): Loại địa danh này rất đa dạng và phức tạp Ví dụ, cầu Ông Lãnh, cầu MỹThuận, ngã sáu Cộng Hoà, bùng binh Cây Gõ, chùa Dơi, chùa Vĩnh Nghiêm, miếu BàChúa Xứ, tháp Bà, lăng Ông Bà Chiểu, lăng Cha Cả, đường Trần Hưng Đạo, bảo tàngQuang Trung, khách sạn Khánh Hưng, bệnh viện Xanh Pôn,

Hệ thống phân loại như trên chỉ mang tính tương đối Có những tên gọi vừa ở nhómnày, vừa ở nhóm khác Ví dụ: hòn, ngọc, đảo vừa là danh từ chỉ núi (Hòn Chông,Ngọc Linh, Tam Đảo ) vừa là danh từ chỉ đảo (Hòn Dấu, Hòn Nghệ, đảo Bạch Long

Vĩ, Côn Đảo ); ngàn có thể chỉ núi (núi Ngàn Hống), có thể chỉ sông (sông NgànSâu, sông Ngàn Phố); sông, núi cũng có thể chỉ đơn vị hành chính: tỉnh Tiền Giang,tỉnh Sông Bé, huyện Núi Thành, huyện Sông Cầu,

Mặt khác, sự chuyển hoá và thay đổi các cấp hành chính của địa danh rất phức tạp Ví

dụ, Hà Tiên trước kia là tỉnh (Nam Kỳ lục tỉnh), sau đổi thành thị trấn, hiện nay được

Các cấp cơ

Các cấp tương Thị trấn

Thị xã, Thànhphố

đương (đối vớiđô

thị)

Bảng 1: Bảng hệ thống các cấp hành chính Việt

Nam

Trang 9

nâng cấp thành thị xã; Kon Tum, Buôn Ma Thuột là tên một buôn (bản) chuyển thànhtên tỉnh, tên thành phố

Giữa địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế-xã hội cũng có sự chuyển hoá lẫn nhau.Thường thì tên gọi các đơn vị cư trú gắn với tên gọi các yếu tố tự nhiên, nhất là nguồnnước Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, từ “làng” bắt nguồn từ một từ cổ dùng để chỉsông là: long, lương, lang dần dần chuyển hoá thành làng Trong sách Phủ biên tạplục, Lê Quý Đôn đã nói tới địa bàn cư trú của người Nguồn (sông suối) như sau: “Ởthượng lưu gọi là nguồn, cũng như ở hạ huyện gọi là tổng (hay xã)” Theo NguyễnDương Bình, ở châu Bắc Bố Chính có nguồn Cơ Sa gồm có 7 thôn, phường là: "trang

Ma Nai, phường Mit, thôn Bắc Thọ, phường Kim Bảng, phường Lỗ Hang, phườngĐồng Sai, phường Lãng Trần” Trong các từ gọi đơn vị cư trú của người R ngao ởnhững nơi gần với người Sêđăng có một từ khá phổ biến là đăk (nước, sông): đăk Riđăk Rao, đăk Ước

Phạm Đức Dương cũng cho rằng hệ thống mương phai của các tộc người Mường,Thái có tầm quan trọng đến nỗi về sau trở thành tên của công xã nông thôn cổ làmương hay mường như mường Bi, mường Thanh, mường Vang, mườngKhương Vào thời cận hiện đại, việc dùng tên sông để đặt cho các đơn vị hành chínhcũng khá phổ biến Ví dụ: các tỉnh Tiền Giang, Cửu Long, Sông Bé, Kiên Giang, cáchuyện, thành phố, thị xã: Long Xuyên, Mỹ Xuyên, Sông Cầu,

Ngoài ra, từ dùng chỉ núi cũng có thể trở thành địa danh kinh tế-xã hội như tỉnhHoàng Liên Sơn, huyện Bảy Núi (An Giang), huyện Tiên Sơn (Hà Bắc), huyện NúiThành (Quảng Nam),

Xu hướng ngược lại, chuyển từ địa danh kinh tế-xã hội sang tự nhiên cũng có xảy ranhưng ít hơn Có lẽ vì địa danh tự nhiên thường có trước nên nó mới chuyển thành địadanh kinh tế - xã hội Ví dụ như: sông Dinh, sông Cầu, rạch Miễu, rạch Xóm Củi, núiPháo Đài, núi Chùa, hang Tiền, hang Công Binh, hòn Trại Thuỷ, đồi Ông Bụt, bãibụt…

1.1.2.2 Phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ

Trang 10

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc) Ngoài mối quan hệ giao lưu văn hóa vớicác nước Đông Nam Á láng giềng, lại chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa lớn(Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp ) Vì vậy nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh Việt Nam rấtphức tạp Có thể chia ra các loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ như sau:

a Địa danh thuần Việt:

Địa danh Việt hay địa danh thuần Việt là các địa danh đặt theo ngôn ngữ của ngườiViệt, cũng có người gọi là đặt tên nôm (nam) Ví dụ, kẻ Noi, kẻ Sặt, kẻ Gỗ, Trôi,Nhổn, xóm Củi, cầu Muối, rạch Bần

b Địa danh Hán Việt:

Địa danh Hán Việt là địa danh được đặt theo ngôn ngữ Hán (hoặc Hán-Việt), cũng cóngười gọi là đặt tên chữ Ví dụ, sông Thiên Đức, sông Nhật Đức, sông Cửu Long, núiTrường Sơn, dãy Thất Sơn

c.Địa danh gốc Khmer:

Địa danh gốc Khmer là địa danh đặt theo ngôn ngữ Khmer Loại địa danh này ở Nam

Bộ rất phổ biến: Tuk Khmau (Cà Mau), Svayton (Tri Tôn), chùa Bramatuc (Mã Tộc),đồi Tưk Dup (Tức Dụp),

d Địa danh gốc Pháp:

Địa danh gốc Pháp có thể là đặt theo ngôn ngữ Pháp hoặc có nguồn gốc ngôn ngữPháp (các từ phiên âm theo tiếng Pháp) Do ảnh hưởng văn hóa Pháp, ở Việt Nam cónhiều địa danh gốc Pháp, nhất là ở Nam Bộ: chợ Nancy (Nan xy), Viện Pasteur, kênhXáng, cầu Xáng…

e Địa danh có nguồn gốc khác:

Gốc Chăm - Êđê : Bôndana (Đà Nẵng), Kaut Hara (Khánh Hoà), Panduranga (PhanRang), Ya Tran (Nha Trang)

Trang 11

Gốc Mường, Tày, Thái… Mường Lay (Lai Châu), Mường La (Sơn La), Mường Lò(Nghĩa Lộ), nậm Tè (sông Đà), nậm Rốm, nà Lừa, nà Dương, nà Ngần, khau Phạ,khâu Cấp…

1.2 Định nghĩa về Truyền thuyết.

Khái niệm truyền thuyết được dùng với nội hàm như ngày nay đã trải qua nhiều tranh luận, bàn cãi của các nhà nghiên cứu, học giả để định hình khái niệm Có thể nêu lên hai khái niệm sau

Theo sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, tập một: Truyền thuyết là loại truyện dân gian truyền miệng kể về các nhân vật và sự liện có lien quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng, kì ảo, thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử

Theo Wikipedia: Truyền thuyết là tên gọi dùng để chỉ một nhóm những sáng tác dân gian mà đặc điểm chung của chúng thể hiện các yếu tố kỳ diệu, huyễn tưởng, nhưng lại được cảm nhận là xác thực, diễn ra ở ranh giới giữa thời gian lịch sử và thời gian thần thoại, hoặc diễn ra ở thời gian lịch sử

CHƯƠNG 2: ĐỊA DANH NÚI BÀ ĐEN 2.1 Tên gọi và Ý nghĩa.

Núi Bà Đen còn gọi là núi Bà Đinh, núi Một, núi Vân Sơn, núi Điện Bà hay còn gọivới tên mỹ hiệu là Linh Sơn Thánh Mẫu Mỗi một tên gọi đều trải qua một thời kì và

có ý nghia riêng biệt

Tên núi Bà Đen hay núi Điện Bà đã được định danh từ đầu thế kỷ 20 Song, từ đầu thế

kỷ 19, sách “Gia Định thành thông chí” và cả trong “Đại Nam liệt truyện tiền biên”,đều gọi núi này là núi Bà Đinh Theo ghi chép trong “Gia Định thành thông chí”, trênnúi có chùa Vân Sơn và không đề cập gì đến ngôi đền thờ vị nữ thần có tên gọi đượcdùng để gọi tên núi: Bà Đen Điện Bà, trong “Đại Nam nhất thống chí” khi viết về núinày lại gọi tên chùa trên núi là chùa Linh Sơn và như cách gọi về sau này Bà Đen có

mỹ hiệu là Linh Sơn thánh mẫu Linh Sơn là tên gọi của ngọn núi đã trở thành thánhđịa của Phật giáo Đó là núi có dạng con ó/kên kên gọi là núi Ky Xa Quật (Grudha-

Trang 12

kuta), dịch nghĩa là Thứu Sơn/Linh Thứu Sơn/Linh Sơn ở gần thành Vương Xá(Rajagriha) Ấn Độ, nơi Đức Phật Thích Ca thuyết bộ kinh “Diệu Pháp liên hoa” Do

đó việc đổi tên chùa từ Vân Sơn thành Linh Sơn hẳn không phải là do lỗi khắc innhầm tự dang chữ Hán của “vân” và “linh” như các nhà Hán học giải thích Tên chùaVân Sơn (núi có mây phủ) là tên gọi đượm ý nghĩa tiên đạo hơn là Phật giáo và têngọi này có các cơ sở của nó là các điều linh dị mà Gia Định thành thông chí đã ghichép: 1, tương truyền có chuông vàng trong hồ; 2, rùa vàng bất thời bơi lặn; và 3 là cóđêm trời quang mây tạnh thấy có thuyền rồng bơi lượn, múa hát du dương Từ tên VânSơn thành Linh Sơn là sự biến đổi từ ngôi chùa dân dã chịu ảnh hưởng của tín ngưỡngthờ thần thành ngôi chùa Phật giáo có phần chính thống hơn

Tên núi được gọi là Bà Đinh Tên gọi này cũng thấy ghi chép tương tự trong Đại Namliệt truyện tiền biên (biên soạn 1852), mục nói về Nguyễn Cư Trinh, năm 1755, đưa5.000 dân Côn Man (Chăm) về đóng ở dưới chân Bà Đinh sơn Điều này đã chỉ ra têngọi Bà Đen của núi này (và về sau, là tên của vị nữ thần chính được thờ tự ở đây) đếnthế kỷ XIX là chưa định danh Nói cách khác, Bà Đinh/ Bà Đen là địa danh phiên âmchứ không phải địa danh có nghĩa, tức do nơi này đã là nơi thờ tự một nữ thần là BàĐen nên được gọi tên là núi Bà Đen như cách hiểu về sau này

Trong kho tàng truyện dân gian Khmer, có nhiều câu chuyện dựng theo môtip “trai gáithi nhau đắp núi”: phe nào đắp cao hơn (trong một đêm) thì giành phần thắng, buộcphe kia phải đi cưới Dị bản nói về sự ra đời của núi Bà Đen kể rằng: bên phụ nữ đắpnúi Bà Đen và bên nam giới đắp núi Cậu Bên phụ nữ, do Mê Đêng/ Mê Đênh cầmđầu, đã cố công đắp ngọn núi Còn bên nam giới ỷ lại, cứ lo vui chơi nên thua cuộc.Sáng ra, núi Cậu thấp hơn núi Bà và bên nam giới đã xui một con voi đến phá núinhưng chưa kịp phá thì Mê Đeng làm phép, voi hoá thành đá Chàng trai nọ lại xúibầy heo rừng xộc đến ủi núi Bà cho sụp Bầy heo bị bên nữ làm phép hoá thành mộtngọn núi nhỏ - gọi là núi Heo và bên nam giới lại sai bầy gà đến bới núi Bà: cũng bịhoá thành một ngọn đồi Cuối cùng chàng trai đích thân phá núi: hốt đất rải tứ tung

Do vậy, núi Bà Đen đến nay vẫn còn 3 ngọn núi, đồi nằm bên cạnh, được gọi là núiTượng, núi Heo, núi Gà và những đồi thấp bên chân núi Bà Đen

Ngày đăng: 06/07/2022, 17:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng hệ thống các cấp hành chính Việt Nam - Tiểu luận  Tìm Hiểu Về Địa Danh Núi Bà Đen
Bảng 1 Bảng hệ thống các cấp hành chính Việt Nam (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w