Nhận thấy đươc tầm quan trọng của vấn đề nên Tôi quyết định chọn đề tài “Lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT Land” nhằm giúp làm rõ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN ĐÌNH DOANH
LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẤT ĐỘNG SẢN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HA NỘI- 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN ĐÌNH DOANH
LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẤT ĐỘNG SẢN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của cá nhân tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn và phát triển từ các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố, tham khảo các giáo trình, tạp chí chuyên ngành và các trang thông tin điện tử
Những quan điểm đƣợc trình bày trong luận văn là quan điểm cá nhân Các giải pháp nêu trong luận văn đƣợc rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Tác giả
Nguyễn Đình Doanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Thái Hà hiện tại đang công tác tại trường Đại Học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội, giáo viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu, khảo sát thực tế và thực hiện luận văn, đồng thời có những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thành tốt hơn
Bên cạnh đó, tác giả luận văn xin trân trọng gửi lời cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu, thu thập bảng câu hỏi khảo sát của các cán
bộ nhân viên Công ty Cổ Phần Bất Động Sản Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam ( VNPTLAND)
Trang 5
MỤC LỤC
DANH MỤC NHŨNG TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH ĐỂ LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP 4
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 5
1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 5
1.3 Tài liệu và các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.3.1 Tài liệu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 6
1.3.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 9
1.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 10
1.4.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 10
1.4.2 Các nhóm hệ số tài chính 14
1.5 Quá trình lập kế hoạch tài chính 21
1.5.1 Khái niệm 21
1.5.2 Mục đích của kế hoạch tài chính 23
1.5.3 Nội dung của kế hoạch tài chính 24
1.5.4 Quá trình lập kế hoạch tài chính 25
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 30
2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu và tài liệu từ nguồn thứ cấp 30
2.2 Phương pháp thống kê mô tả 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu tại bàn 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp 33
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẤT ĐỘNG SẢN BƯU CHÍNH VIỄN
THÔNG VIỆT NAM ( VNPTLAND) 36
3.1 Giới thiệu công ty 36
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 36
3.1.2 Thông tin về công ty 37
3.1.3 Sơ đồ tổ chức 39
3.2.2 Lập kế hoạch tài chính của VNPTLAND theo phương pháp tỷ lệ doanh thu 59
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẤT ĐỘNG SẢN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM (VNPT LAND) 63
4.1 Bối cảnh chung về tài chính và sự tiếp cận Quản trị tài chính trong các doanh nghiệp 63
4.2 Phương hướng và giải pháp cải tiến hoạt động lập kế hoạch tài chính 63
4.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản bưu chính viễn thông việt nam (Vnpt Land) trong giai đoạn hiện nay 64
4.3.1 Kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản 64
4.3.2 Nhanh chóng triển khai đưa các dự án vào hoạt động 65
4.3.3 Hợp tác kinh doanh bất động sản với các tổng công ty các tập đoàn có thế mạnh trong lĩnh vực hoạt động bất động sản 66
4.3.4 Phát triển lĩnh vực xây lắp công trình 66
4.4 Một số giải pháp khác 66
4.4.1 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, sát hạch, đào tạo, sắp xếp lại cán bộ VNPTLAND 66
4.4.2 Hoàn thiện tổ chức phân tích tích tài chính 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 75 LNST Lợi nhuận sau thuế
6 ROA Tỷ suất sinh lời của tài sản
7 ROE Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
8 ROS Tỷ suất sinh lời của doanh thu
9 SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2:
Bảng 3.1: Phân tích cơ cấu tài sản 46
Bảng 3.2: Phân tích cơ cấu và biến động nguồn vốn 50
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp doanh thu 54
Bảng 3.4: Bảng tổng hợp chi phí 56
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp lợi nhuận 58
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức của Công ty 39 Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện sự biến động giữa TSNH và TSDH 48 Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện sự biến động Nợ phải trả và VCSH 52 Hình 3.3 Quy trình dự báo tài chính theo phương pháp phần trăm trên doanh thu 59
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành đầu tư hay sản xuất họ đều mong muốn đồng tiền của họ bỏ ra sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất Bên cạnh những lợi thế sẳn có thì nội lực tài chính của doanh nghiệp là cơ sở cho hàng loạt các chính sách đưa doanh nghiệp đến thành công Việc lập kế hoạch tài chính chiếm vai trò quan trọng nó trở thành kim chỉ nam cho hoạt động của doanh nghiệp, không có kế hoạch, doanh nghiệp sẽ hoạt động trong bối cảnh mù mờ về mục tiêu tài chính, dễ dẫn đến mất kiểm soát và dễ gặp bất trắc
Kế hoạch tài chính là một vấn đề quan trọng của doanh nghiệp Tất cả các hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp, ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình kinh doanh Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công cụ cần thiết giúp cho doanh nghiệp đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường
Do đó, để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả các nhà quản trị cần phải thường xuyên tổ chức lập kế hoạch tài chính cho tương lai Bởi vì thông qua việc tính toán, phân tích tài chính cho ta biết những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như những tiềm năng cần phát huy và những nhược điểm cần khắc phục Từ đó các nhà quản lý có thể xác định được nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị mình trong thời gian tới Với một doanh nghiệp hay bất kì tổ chức kinh doanh
dù lớn hay nhỏ khi hoạt động đều mong muốn làm sao hoạt động có hiệu quả thu về lợi nhuận nhiều nhất và đạt được mục tiêu mà công ty đề ra Để làm được
Trang 11điều đó đòi hỏi cần có là lập được kế hoạch tài chính cho công ty trong những năm tới Nhận thấy đươc tầm quan trọng của vấn đề nên Tôi quyết định chọn đề tài “Lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)” nhằm giúp làm rõ thêm bài toán kinh tế của công ty VNPTLAND nói riêng và của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay nói chung
Câu hỏi nghiên cứu: Giải pháp nào để hoàn thiện công tác lập kế hoạch Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land) trong giai đoạn hiện nay?
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng về công tác lập kế hoạch tài chính tại Công ty
cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land), qua đó tác giả làm căn cứ để đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land) trong giai đoạn hiện nay
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả đã đề ra các nhiệm vụ như sau:
- Hệ thống được các cơ sở lý luận và thực tiễn về lập kế hoạch tài chính tại doanh nghiệp
- Phân tích thực trạng, đánh giá hoạt động lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)
- Để xuất mốt số giải pháp nhằm tăng cường công tác Lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Trang 123.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)
- Thời gian: Tác nghiên cứu số liệu từ năm 2011 – 2014
4 Những đóng góp của luận văn
Phân tích thực trạng, đánh giá hoạt động lập kế hoạch tài chính tại Công
ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land) qua đó tác giả đã để xuất mốt số giải pháp nhằm tăng cường công tác Lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phục lục đính kèm, nội dung của luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân tích tài chính
để lập kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng vê lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)
Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH ĐỂ LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH CHO
DOANH NGHIỆP
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Một doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh từ việc mở rộng quy mô sản xuất hay thực hiện các cơ hội đầu tư mới Khi đó, nó sẽ đòi hỏi phải bổ sung thêm vốn cho hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Để đảm bảo đủ vốn cho hoạt động của doanh nghiệp thì cần thiết phải dự báo và lập kế hoạch tài chính của doanh nghiệp
Hiện nay đã có rất nhiều tác giả với rất nhiều những công trình đã đi sâu nghiên cứu, lập kế hoạch tài chính doanh nghiệp Qua đó đưa ra một số giải pháp cụ thể để doanh nghiệp luôn chủ động trong việc huy động và có nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, ở mỗi doanh nghiệp khác nhau thì tình hình sử dụng vốn, quản lý tài sản cũng khác nhau, việc huy động vốn cũng khác nhau Trên thực tế, ở mỗi thời điểm khác nhau về sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tùy vào địa bàn hoạt động, điều kiện môi trường kinh doanh, các yếu tố văn hóa xã hội… nên ở mỗi doanh nghiệp sẽ có nhiều điểm khác nhau Do đó đặt ra cho bản thân mỗi doanh nghiệp cần có những biện pháp và chiến lược hoạt động riêng Chính vì lẽ đó, mặc dù đã có nhiều tác giả đã từng làm về đề tài này, nhưng học viên vẫn lựa chọn thực hiện
đề tài này nhằm tìm kiếm thêm những sự thay đổi mới để có thể áp dụng vào thực tế để nâng cao hiệu quả của việc dự báo và lập kế hoạch tài chính tại Công
ty Cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPTLAND)
Trong luận văn này, tác giả đã trình bày được những luận điểm lý thuyết cơ bản và khá chi tiết về các chỉ tiêu đánh giá tài chính doanh nghiệp, quá trình lập
kế hoạch tài chính, căn cứ lập kế hoạch tài chính… Qua đó, làm tiền đề cho
Trang 14việc phân tích thực trạng tài chính Công ty Cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPTLAND)
Cụ thể trong luận văn, tác giả đã xem xét đánh giá tình hình tài chính của công ty trong giai đoạn 2012-2014 để phân tích và lập kế hoạch tài chính của VNPTLAND theo phương pháp tỷ lệ doanh thu
Xuất phát từ thực trạng và những nguyên nhân kể trên, luận văn đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của Công ty cổ phần bất động sản bưu chính viễn thông việt nam ( vnptland)
Những điểm mới trong luận văn của tác giả
Qua đây, tác giả đã có những góc nhìn mới và bổ sung nhằm hoàn thiện hơn cho luận văn của mình Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra một số những giải pháp và kiến nghị có ý nghĩa hết sức tích cực, phù hợp với sự thay đổi của đất nước trong giai đoạn hiện nay
1.2 Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Để hiểu phân tích tài chính doanh nghiệp là gì trước hết ta tiếp cận với khái niệm Tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh
tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống tài chính, tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất
Như vậy sự di chuyển nguồn tài chính của doanh nghiệp tác động đến lợi ích kinh tế của các bên liên quan như chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người lao động, chính phủ Để đưa ra các quyết định kinh tế, quyết định quản lý chính
Trang 15xác , phù hợp thì mỗi bên phải tự phân tích tài chính doanh nghiệp dựa trên góc
1.3 Tài liệu và các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Tài liệu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.1.1.Vai trò của các báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu, công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kinh kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu khi phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1.2 Hệ thống báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ)
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán được lập căn cứ vào số liệu của các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết (sổ cái và sổ chi tiết) các tài khoản có số dư cuối kỳ phản ánh tài sản, công nợ và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và bảng cân đối kế toán kỳ trước
Bảng cân đối kế toán là một trong những báo cáo kế toán quan trọng nhất trong hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp Nó cũng cung cấp thông tin về thực trạng tài chính và tình hình biến động về cơ cấu tài sản, công
nợ và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
Trang 16Thông tin trình bày trên bảng cân đối kế toán phải luôn tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Tài sản = Nợ phải trả + nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu = Tài sản - Nợ phải trả + Nguyên tắc số dư: Theo nguyên tắc này, chỉ những tài khoản có số dư mới được trình bày trên bảng cân đối kế toán Những tài khoản có số dư là những tài khoản phản ánh tài sản (Tài sản có) và những tài khoản phản ánh Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu (Tài sản nợ) Các tài khoản không có số dư phản ánh doanh thu, chi phí làm cơ sở để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ không được trình bày trên bảng cân đối kế toán mà được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh
+ Nguyên tắc trình bày các khoản mục theo tính thanh khoản giảm dần: Theo nguyên tắc này, các khoản mục tài sản Có của doanh nghiệp được trình bày và sắp xếp theo khả năng chuyển hóa thành tiền giảm dần như sau
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn:
I Tiền
II Đầu tư ngắn hạn III Các khoản phải thu
IV Tồn kho Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
+ Nguyên tắc trình bày nợ phải trả theo thời hạn: Theo nguyên tắc này, các khoản nợ phải trả được trình bày theo nguyên tắc các khoản vay và nợ ngắn hạn được trình bày trước, các khoản vay và nợ dài hạn được trình bày sau
Nhìn vào bảng cân đối kế toán nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán là một tài liệu quan trọng nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được
Trang 17khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh được lập căn cứ vào số liệu của các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết các khoản phản ánh doanh thu, thu nhập và chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Cùng với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh là một trong những báo cáo quan trọng nhất của hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp thông tin về kết quả kinh doanh và nghĩa vụ đối với Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một kỳ) của doanh nghiệp Các thông tin trình bày trên báo cáo kết quả kết quả kinh doanh phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
+ Nguyên tắc phân loại hoạt động: Báo cáo kết quả kinh doanh phân loại hoạt động theo mức độ thông dụng của hoạt động đối với doanh nghiệp Như vậy, các hoạt động thông thường của doanh nghiệp sẽ được phân loại là hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động này tạo ra doanh thu của doanh nghiệp Các hoạt động liên quan đến đầu tư tài chính được phân loại là hoạt động tài chính, hoạt động không xảy ra thường xuyên sẽ được phân loại là hoạt động bất thường
+ Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí:
Nguyên tắc phù hợp: Báo cáo kết quả kinh doanh trình bày các khoản doanh thu, thu nhập và chi phí của doanh nghiệp trong kỳ Vì vậy báo cáo kết quả kinh doanh phải được trình bày theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí
Nguyên tắc thận trọng: Theo nguyên tắc này, một khoản chưa xác định chắc chắn sẽ đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp thì chưa được ghi nhận là doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp và không được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh Ngược lại, một khoản lỗ trong tương lai chưa
Trang 18thực tế phát sinh đã được ghi nhận là chi phí và được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh
1.3.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp thực chất bao gồm hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng chuyển dịch và biến đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Tùy vào đối tượng và mục tiêu phân tích cụ thể, người ta có thể chỉ sử dụng một số phương pháp, cũng có thể kết hợp sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau Ở đây, tôi chỉ đưa ra 3 phương pháp cơ bản, thường được vận dụng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.2.1 Phương pháp phân tích xu hướng
Phân tích xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách so sánh các tỷ số tài chính của công ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hay xấu đi của các tỷ số tài chính
1.3.2.2 Phương pháp phân tích cơ cấu
Việc phân tích cơ cấu tài chính doanh nghiệp được bắt đầu bằng phân tích
cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn
Phân tích cơ cấu tài sản là việc xem xét tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng tài sản và thông qua đó có thể đánh giá được việc bố trí, phân bố vốn, trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp có hợp lý hay không Việc bố trí vốn hợp
lý hay không hợp lý sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến việc quản lý, sử dụng vốn cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu nguồn vốn là việc xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn cũng như xem xu hướng biến động của tưng nguồn vốn qua các thời kỳ
1.3.2.3 Phương pháp phân tích Dupont
Trang 19Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu thập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp
Phương pháp phân tích Dupont là phân tích tổng hợp tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông qua quan hệ của một số chỉ tiêu chủ yếu để phản ánh thành tích tài chính của doanh nghiệp một cách trực quan, rõ ràng Thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích Dupont để phân tích từ trên xuống không những có thể tìm hiểu được tình trạng chung của tài chính doanh nghiệp, cùng các quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu đánh giá tài chính, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, cùng các vấn
đề còn tồn tại mà còn có thể giúp các nhà quản lý doanh nghiệp làm tối ưu hóa
cơ cấu kinh doanh và cơ cấu hoạt động tài chính, tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp
DT DT
LNST TS
LNST VCSH
LNST
*
1.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.4.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đánh giá khái quát tình hình tài chính nhằm nhận định sơ bộ thực trạng và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, biết được mức độ độc lập về mặt tài chính cũng như những khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp đang phải đương đầu, nhất là lĩnh vực thanh toán Qua đó các nhà quản lý có thể đề ra các quyết định cần thiết về đầu
tư, hợp tác, liên doanh, liên kết, mua bán, cho vay
Với mục đích trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính chỉ dừng lại ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp, phản ánh những nét chung nhất
Trang 20thực trạng hoạt động tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp như: tình hình huy động vốn, khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Mặt khác, hệ thống chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khái quát tình hình tài chính trên các mặt chủ yếu của hoạt động tài chính cũng mang tính tổng hợp, đặc trưng Việc tính toán những chỉ tiêu này cũng hết sức đơn giản, tiện lợi, dễ tính toán Do vậy để đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích cần sử dụng các chỉ tiêu cơ bản như: Biến động của tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuân và biến động của dòng tiền
1.4.1.1 Biến động của tài sản, nguồn vốn
Biến động của tài sản
Toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm được phản ánh trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán Nó không những thể hiện
cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo mà còn có khả năng biểu hiện những dấu hiệu tương lai trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài sản là phân tích sự biến động các khoản mục tài sản nhằm giúp người phân tích tìm hiểu: sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của từng loại tài sản qua các thời kỳ như thế nào; sự thay đổi này bắt đầu từ những dấu hiệu chủ động hay bị động trong quá trình kinh doanh; có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho kế hoạch, chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp hay không
Biến động của nguồn vốn
Nếu như toàn bộ giá trị hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo được phản ánh trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán, thì nguồn hình thành nên chúng được phản ánh trên phần nguồn vốn của cùng bảng cân đối kế toán
đó Phân tích sự biến động các khoản mục nguồn vốn nhằm giúp người phân tích tìm hiểu: sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào; sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình kinh doanh; có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính,
Trang 21tính tự chủ, khả năng khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không
Phân tích biến động của nguồn vốn ta dùng bảng cân đối kế toán làm tài liệu phân tích chủ yếu Việc phân tích này cho phép nắm được tổng quát diễn biến thay đổi của nguồn vốn và sử dụng vốn trong mối quan hệ với vốn bằng tiền của doanh nghiệp, trong một thời kỳ nhất định giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán Từ đó, giúp doanh nghiệp có thể định hướng cho việc huy động vốn và sử dụng vốn ở thời kỳ tiếp theo
Về cách thức thực hiện, để phân tích biến động của nguồn vốn người ta so sánh các chỉ tiêu cuối kỳ với đầu kỳ Sự thay đổi của từng khoản mục là căn cứ xem xét và phản ánh vào một trong hai cột sử dụng vốn hay diễn biến nguồn vốn theo nguyên tắc:
- Sử dụng vốn sẽ tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn
- Diễn biến nguồn vốn sẽ tương ứng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản
Biến động của nguồn vốn được đặt trong mối quan hệ với vốn bằng tiền Các khoản mục liên quan đến nguồn vốn và sử dụng vốn được sắp xếp theo hình thức một bảng cân đối Qua bảng này, người phân tích có thể xem xét và đánh giá tổng quát: số vốn tăng hay giảm trong kỳ đã được sử dụng vào việc gì và các nguồn phát sinh dẫn đến việc tăng, giảm vốn Trên cơ sở phân tích đó có thể định hướng huy động vốn cho kỳ tiếp theo
Nội dung phân tích này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng (giảm) bao nhiêu? tình hình sử dụng vốn như thế nào? Những chỉ tiêu nào
là chủ yếu ảnh hưởng tới sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp? Từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Nhìn chung, trong quá trình phân tích phải đồng thời xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn Mối quan hệ chặt chẽ này được thể hiện qua quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn tài trợ ngắn hạn, giữa tài sản dài
Trang 22hạn và nguồn tài trợ dài hạn Qua đó xem xét, đánh giá xem doanh nghiệp đã đảm bảo được cân bằng tài chính hay chưa
1.4.1.2 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Phân tích doanh thu
Doanh thu là một chỉ tiêu rất quan trọng, khi phân tích doanh thu ta cần so sánh giữa các chỉ tiêu biến động với doanh thu thuần để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tăng hay giảm so với kỳ trước hoặc so với doanh nghiệp khác là cao hay thấp Nếu mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm, mức sinh lợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng so với kỳ gốc và so với các doanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ tăng lên và ngược lại mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng, mức sinh lợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm so với kỳ gốc và so với các doanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ là thấp đi
Phân tích chi phí
Chi phí tài chính của doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản nhưng thường gặp nhiều nhất là chi phí lãi vay, lỗ hoặc chênh lệch dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính
Phân tích lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh Việc phân tích lợi nhuận giúp ta đánh giá được số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, kết quả sử dụng các yếu tố sản xuất về tiền vốn, lao động, vật tư Khi so sánh lợi nhuận thực hiện so với kế hoạch hay
so với kỳ trước ta thấy được sự tăng giảm của lợi nhuận từ các hoạt động
1.4.1.3 Biến động của dòng tiền
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có tác dụng rất quan trọng trong việc phân tích, đánh giá khả năng tạo ra tiền, khả năng đầu tư, thanh toán tiềm lực thực sự của doanh nghiệp trong xu hướng phát triển, mở rộng hay đi xuống, thấy được năng lực quản lý dòng tiền của doanh nghiệp Để quản trị tốt dòng tiền doanh nghiệp
Trang 23phải thường xuyên phân tích và hoạch định dòng tiền thông qua phân tích thực
tế dòng tiền thu - chi - cân đối thu chi
1.4.2 Các nhóm hệ số tài chính
1.4.2.1 Khả năng thanh toán
Doanh nghiệp thường xuyên phải xem xét khả năng thanh toán để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc vào mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt mà không phát sinh thua lỗ lớn Việc quản lý khả năng thanh toán bao gồm việc khớp các yêu cầu trả nợ với thời hạn của tài sản và các nguồn tiền mặt khác nhằm tránh mất khả năng thanh toán mang tính chất kỹ thuật Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng
Do đó, vấn đề chính là liệu một doanh nghiệp có khả năng tạo ra đủ tiền mặt để thanh toán cho những nhà cung cấp nguyên vật liệu và các chủ nợ hay không
Về cơ bản, các hệ số về khả năng thanh toán thử nghiệm mức độ thanh toán của một doanh nghiệp Hai hệ số thông dụng được sử dụng để xác định khả năng thanh toán của một doanh nghiệp bao gồm hệ số khả năng thanh toán hiện tại tỷ
lệ tài sản trên nợ và hệ số khả năng thanh toán nhanh hay còn gọi là hệ số thử axit
“Khả năng thanh toán” là số tiền có thể dùng để thanh toán, còn “ Nhu cầu thanh toán” là số tiền phải, cần được thanh toán Hệ số khả năng thanh toán phản ánh mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp, là cơ sở để đánh giá tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Cụ thể, hệ số khả năng thanh toán của doanh nghiệp bao gồm:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tài sản ngắn hạn hiện có Tương tự,
hệ số này càng lớn thì khả năng hoàn trả nợ ngắn hạn càng tốt, ngược lại hệ số này nhỏ hơn giới hạn cho phép sẽ cảnh báo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Trang 24của doanh nghiệp đang gặp khó khăn, tiềm ẩn rủi ro không trả được nợ đúng hạn
Tính hợp lý của độ lớn hệ số thanh toán ngắn hạn phục thuộc vào ngành nghề kinh doanh Nếu hệ số này cao điều đó chứng tỏ doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ và ngược lại Tuy nhiên, hệ số này quá cao sẽ cho thấy sự kém hiệu quả trong sử dụng và luân chuyển vốn phục vụ hoạt động kinh doanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số Khả năng thanh toán nhanh =
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp tương ứng với tiềm lực của những khoản có thể nhanh chóng quy đổi ra tiền để thanh toán
Hệ số này lớn hơn 1 nghĩa là tình hình thanh toán nhanh tương đối khả quan Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tức là tình hình thanh toán đang gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể phải bán gấp sản phẩm, hàng hóa để trang trải các khoản nợ Tuy nhiên, độ lớn của tỷ lệ này còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ phải thu, phải trả trong kỳ
Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền
Khả năng thanh toán bằng tiền =
Khả năng thanh toán bằng tiền cho biết khả năng thanh toán bằng nguồn tiền hiện có của doanh nghiệp để trang trải cho các khoản nợ đến hạn phải thanh toán
Tùy thuộc vào từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhưng thực tế cho thấy nếu hệ số này >0.5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn <0.1 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ Do đó doanh nghiệp có thể phải bán gấp hàng hóa, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh toán Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hình không
Trang 25tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
1.4.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản
Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp đòi hỏi phải đầu tư vào cả tài sản ngắn hạn (hàng tồn kho và các khoản phải thu) và tài sản cố định (bất động sản, đất đai và trang thiết bị)
Tính theo công thức = Giá vốn hàng bán/ Tồn kho bình quân
Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho =
Trong đó, doanh thu là doanh số của toàn bộ hàng hóa tiêu thụ trong kỳ không phân biệt đã thu tiền hay chưa, trừ đi phần hoa hồng chiết khấu, giảm giá hay hàng hóa bị trả lại Còn hàng hóa tồn kho bao gồm các loại nguyên vật liệu , sản phẩm dở dang, thành phẩm, vật liệu phụ còn tồn trong kho Độ lớn của quy
mô tồn kho tùy thuộc vào sự kết hợp của nhiều yếu tố như: ngành kinh doanh, thời điểm phân tích, mùa vụ Trong quá trình tính toán, chúng ta cần lưu ý: Mặc dù doanh thu được tạo ra trong suốt năm, nhưng giá trị hàng tồn kho trong Bảng cân đối là mức tồn kho tại một thời điểm cụ thể, do vậy khi tính chúng ta phải lấy giá trị tồn kho trung bình năm
Tỷ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của các loại hàng hóa thành phẩm, nguyên vật liệu, là chỉ tiêu phản ánh năng lực tiêu thụ hàng hóa và tốc độ vòng quay hàng tồn kho, đồng thời để ước lượng hiệu suất quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp và là căn cứ để người quản lý tài chính biết được doanh nghiệp bỏ vốn vào lượng tồn hàng quá nhiều hay không
Do đó, nhìn chung hàng tồn kho lưu thông càng nhanh càng tốt Nếu mức quay vòng hàng tồn kho quá thấp, chứng tỏ lượng hàng tồn quá mức, sản phẩm bị tích đọng hoặc tiêu thụ không tốt sẽ là một biểu hiện xấu trong kinh doanh Vì hàng tồn kho còn trực tiếp liên quan đến năng lực thu lợi của doanh nghiệp Cho nên trong trường hợp lợi nhuận lớn hơn 0, số lần quay vòng hàng tồn kho nhiều
Trang 26chứng tỏ hàng lớn trữ chỉ chiếm dụng số vốn nhỏ, thời gian trữ hàng càng ngắn, hàng tiêu thụ nhanh thu lợi sẽ càng nhiều
Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân =
Trong đó, các khoản phải thu là những hóa đơn bán hàng chưa thu tiền có thể là hàng bán trả chậm, hàng bán chịu hay bán được mà chưa thu tiền, các khoản tạm ứng chưa thanh toán, các khoản trả trước cho người bán
Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán, cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp Vì nếu các khoản phải thu của doanh nghệp không được thu hồi đủ, đúng hạn thì không những gây tổn thất đọng nợ cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới năng lực kinh doanh Số ngày trong kỳ bình quân thấp chứng tỏ doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ khó đòi, tốc độ thu hồi nợ nhanh và hiệu quả quản lý cao Tính lưu động của tài sản cao năng lực thanh toán ngắn hạn tốt,
về một mức độ nào đó có thể khỏa lấp những ảnh hưởng bất lợi của tỷ suất vốn lưu động thấp Đồng thời, việc nâng cao mức quay vòng của các khoản thu còn
có thể giảm bớt kinh phí thu nợ và tổn thất tồn đọng vốn, làm cho mức thu lợi của việc đầu tư tài sản lưu động của doanh nghiệp tăng lên tương đối Ngược lại, nếu tỷ số này cao thì doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng nợ Trong nhiều trường hợp, có thể do kết quả thực hiện một chính sách tín dụng nghiêm khắc, các điều kiện trả nợ hà khắc làm cho lượng tiêu thụ bị hạn chế, nên công ty muốn chiếm lĩnh thị trường thông qua bán hàng trả chậm hay tài trợ nên có kỳ thu tiền bình quân cao
Điều đáng lưu ý khi phân tích là kết quả phân tích có thể được đánh giá là rất tốt, nhưng do kỹ thuật tính toán đã che dấu những khuyết điểm trong việc quản trị các khoản phải thu Nên cần phải phân tích định kỳ các khoản phải thu
để sớm phát hiện các khoản nợ khó đòi để có biện pháp xử lý kip thời
Trang 27Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn =
Chỉ tiêu này nhằm đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Nó cho biết với một đồng tài sản ngắn hạn doanh nghiệp bỏ ra trong một
kỳ kinh doanh thì sẽ thu được về bao nhiêu đồng doanh thu
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định (vòng quay tài sản cố định)
Hệ số này nói lên một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =
Muốn đánh giá việc sử dụng tài sản dài hạn có hiệu quả không phải so sánh với các doanh nghiệp khác cùng nghành hoặc so sánh với các thời kỳ trước Tuy nhiên, khi phân tích hệ số này cần lưu ý là trong tài sản dài hạn có tài sản cố định mà tài sản cố định phải được xác định theo giá trị còn lại tại thời điểm báo cáo
Hiệu quả sử dụng tổng tài sản (vòng quay toàn bộ tài sản)
Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản đo lường một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hiệu quả sử dụng tổng tài sản =
Nếu như trong các thời kỳ, tổng mức tài sản của doanh nghiệp đều tương đối ổn định, ít thay đổi thì tổng mức bình quân có thể dùng số bình quân của mức tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ Nếu tổng mức tài sản có sự thay đổi biến động lớn thì phải tính theo tài liệu tỷ mỉ hơn đồng thời khi tính mức quay vòng của tổng tài sản thì các trị số phân tử và mẫu số trong công thức phải lấy trong cùng một thời kỳ Mức quay vòng của tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất
sử dụng tổng hợp toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng
Trang 28tốt Giá trị của chỉ tiêu càng cao chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được mức lợi ích càng nhiều, do đó trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán
và năng lực thu lợi của doanh nghiệp càng cao Nếu ngược lại, thì chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp chưa được sử dụng có hiệu quả
1.4.2.3 Đòn bẩy tài chính
Các doanh nghiệp luôn muốn thay đổi tỷ trọng các loại nguồn vốn theo
xu hướng hợp lý nghĩa là tìm cho chúng một kết cấu tối ưu nhất Nhưng kết cấu này luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư Vì vậy tìm hiểu về hệ số nợ trên tổng tài sản, hệ số nợ trên VCSH và tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn sẽ cung cấp cho các nhà quản trị một cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính doanh nghiệp
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu:
Hệ số nợ trên VCSH =
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cho thấy tỷ trọng giữa nợ với vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng đi vay nợ, có thể hàm ý doanh nghiệp chịu rủi ro thấp Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế
Trang 29Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định Khoản tiền mà doanh nghiệp dùng để trả lãi vay là thu nhập trước thuế và lãi vay Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết công ty sẵn sàng trả lãi đến mức nào Cụ thể hơn chúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có thể đem lại khoản lợi nhuận bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vay hay không
Khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay bao gồm tiền lãi phải trả cho các khoản vay ngắn hạn, vay dài hạn
và tiền lãi của các hình thức vay mượn khác như trả lãi trái phiếu
Lãi vay được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ của doanh nghiệp nên tạo ra phần tiết kiệm thuế Do vậy, doanh nghiệp có thể cân nhắc lựa chọn một mức sử dụng nợ hợp lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào Việc không trả được các khoản nợ sẽ thể hiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản
1.4.2.4 Khả năng sinh lời
Để phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất - kinh doanh và hiệu năng quản lý, chúng ta cần phải tính toán các tỷ số lợi nhuận Thông qua các tỷ số lợi nhuận, các nhà quản lý đánh giá năng lực thu lợi của doanh nghiệp vì lợi nhuận
là kết quả cuối cùng trong kinh doanh của doanh nghiệp, thu được lợi nhuận là mục tiêu chủ yếu của sự tồn tại doanh nghiệp
Đây là những chỉ tiêu thường được các nhà quản trị, các nhà đầu tư… quan tâm xem xét bởi họ đặc biệt chú ý đến khả năng sử dụng tài sản một cách có hiệu quả nhất, để mang lại lợi tức cao nhất
Tỷ suất doanh lợi (biên lợi nhuận)
Tỷ suất doanh lợi = x100%
Trang 30Để xác định chỉ tiêu này tốt hay không tốt, ngoài việc so sánh nó với chỉ tiêu trong năm gốc và kế hoạch để có thể thấy rõ xu hướng phát triển của doanh nghiệp, nhà quản lý còn phải xem tính chất của ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động Chẳng hạn có những ngành mang tính chất sinh lợi cao như khai khoáng (thường >20%), nhưng cũng có ngành chỉ đạt 2 – 5% như ngành thương mại
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời của tài sản (%) = x100%
ROA cho biết hiệu quả sử dụng của tài sản trong hoạt động tại doanh
nghiệp Chỉ tiêu trên cho biết cần phải có bao nhiêu đồng tài sản để tạo ra 1 đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời của VCSH (%) = x100%
ROE cho biết tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là bao nhiêu, thường được những người góp vốn và các cổ đông quan tâm
Tương tự ROA, ROE cho thấy hiệu quả của việc đầu tư vốn chủ sở hữu trong kinh doanh
1.5 Quá trình lập kế hoạch tài chính
kế hoạch tài chính, ta cần có:
- Mục đích của công ty
Trang 31- Phạm vi hoạt động của công ty
- Các mục tiêu của công ty
- Các chiến lược của công ty
Mục đích của công ty
Kế hoạch chiến lược dài hạn phải bắt đầu bằng một tuyên bố về mục đích của công ty, theo đó phải định nghĩa sứ mệnh tổng quát của công ty Mục đích này có thể được định nghĩa rất cụ thể hoặc rất chung Ví dụ, mục đích của công
ty là “tăng giá trị nội tại của cổ phiếu phổ thông của công ty”, hoặc “tối đa hóa
tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và cổ tức trên cổ phần đồng thời tránh rủi ro quá mức” Tuy nhiên cũng có thể phát biểu mục đích chủ yếu là “cung cấp cho khách hàng của chúng ta hệ thống tính toán đẳng cấp vượt trội với chi phí thấp nhất, mà theo chúng tôi, cũng sẽ tối đa hóa lợi ích cho nhân viên và cổ đông của chúng ta”
Đôi khi giữa những hoạt động kinh doanh lành mạnh và lợi ích của cổ đông cũng có xung đột Ví dụ, Varian Associates, Inc., có doanh thu năm 1992 trên 1
tỷ $, trong nhiều năm được coi là một trong những công ty có công nghệ tiên tiến nhất trong các lĩnh vực thiết bị điện tử và bán dẫn Tuy nhiên ban điều hành của Varian mang tiếng là quan tâm tới việc phát triển công nghệ mới nhiều hơn
là tới việc tiếp thị công nghệ đó, và giá cổ phiếu thấp hơn so với mức của 10 năm trước Một số cổ đông lớn hết sức bất bình với các vấn đề của công ty và ban điều hành bị đặt trước mối đe dọa về một hành động lật đổ của cổ đông hoặc một cuộc sáp nhập cưỡng bức Lúc này, ban điều hành công bố một sự thay đổi
có ý thức trong chính sách, và nói rằng trong tương lai họ sẽ chú trọng cả công nghệ tiên tiến lẫn khả năng lợi nhuận chứ không chỉ tập trung vào công nghệ Thu nhập tăng lên rõ rệt, giá cổ phiếu cũng tăng từ 6,75$ lên tới hơn 60$ chỉ trong vòng 4 năm Varian là một ví dụ minh họa tầm quan trọng của mục đích công ty được nhìn nhận bởi ban điều hành, cũng như sự trừng phạt mà thị trường
áp đặt
Phạm vi hoạt động của công ty
Trang 32Phạm vi hoạt động của công ty xác định các loại hình kinh doanh và khu vực địa lý của các hoạt động của công ty Phạm vi hoạt động của công ty có thể được thể hiện một cách cụ thể hoặc chung chung Ngành thép là một ví dụ, với một số công ty đa dạng hóa rất mạnh, từ dầu mỏ cho tới các dịch vụ tài chính, còn một số công ty khác lại chỉ đeo đuổi những hoạt động kinh doanh cơ bản là kinh doanh thép
Các mục tiêu của công ty
Mục đích và phạm vi hoạt động cho thấy triết lý chung và cách tiếp cận của kinh doanh, nhưng họ không cung cấp mục tiêu hoạt động cho các nhà quản trị Mục tiêu của công ty mới chỉ rõ các mục tiêu cụ thể mà ban điều hành cố gắng đạt tới Các mục tiêu có thể là định lượng, ví dụ như một chỉ tiêu cụ thể về thị phần, một mức ROE mục tiêu, hay một tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phần mục tiêu; cũng có thể là định tính, như “duy trì những nỗ lực nghiên cứu và phát triển của công ty luôn ở vị trí mũi nhọn của ngành” Thường thì có nhiều mục tiêu được đặt ra đồng thời, và các mục tiêu này cần được thay đổi và thực sự đã thay đổi khi các điều kiện thay đổi Các mục tiêu cũng phải mang tính thách thức nhưng lại phải khả thi một cách thực tế, và thù lao cho ban điều hành cũng cần dựa trên mức độ đáp ứng được các mục tiêu này
Các chiến lược của công ty
Một khi công ty đã xác định được mục đích, phạm vi hoạt động và các mục tiêu, nó phải phát triển một chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Chiến lược công ty là những cách tiếp cận tổng quát thay vì những kế hoạch chi tiết Ví dụ, một hãng hàng không có thể có chiến lược chào bán dịch vụ “no frills” giữa một số thành phố nào đó, trong khi một hãng khác lại có thể dự định chào bán “staterooms in the sky” Các chiến lược phải là có thể đạt được và phải tương thích với mục đích, phạm vi hoạt động và các mục tiêu của công ty
1.5.2 Mục đích của kế hoạch tài chính
Việc lập kế hoạch tài chính có nhiều mục đích cho công tác quản trị tài chính của doanh nghiệp cụ thể:
Trang 33+ Kế hoạch tài chính là cơ sở cho việc tổ chức huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vồn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp luôn đảm bảo có đủ vốn cho hoạt động, tránh gây gián đoạn sản xuất kinh doanh
do bị thiếu vốn
+ Kế hoạch tài chính là cơ sở để phân bổ vốn cho các khâu, các hoạt động của doanh nghiệp đảm bảo vốn được phân phối và sử dụng một cách tiết kiệm
và hiệu quả
+ Kế hoạch tài chính còn giúp cho các nhà quản trị tránh được những yếu
tố bất ngờ và cân nhắc xem nên đối phó như thế nào với những yếu tố bất thường có khả năng xảy ra trong hoạt động của doanh nghiệp ở tương lai
+ Kế hoạch tài chính là cơ sở để kiểm tra và giám sát nguồn lực tài chính của doanh nghiệp đảm bảo nguồn lực tài chính được sử dụng một cách tiết kiệm
và hiệu quả, ngoài ra nó giúp thiết lập các mục tiêu cho các nhà quản trị hướng tới và cung cấp các tiêu chuẩn giúp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
1.5.3 Nội dung của kế hoạch tài chính
Dự kiến được báo cáo kết quả kinh doanh và dự kiến chính sách phân phối lợi nhuận Báo cáo kết quả kinh doanh là cơ sở để xác định được số lợi nhuận doanh nghiệp có khả năng tạo ra trong kỳ kế hoạch, trên cơ sở chính sách cổ tức của công ty, chúng ta có thể xác định được quy mô của nguồn vốn tài trợ từ bên trong để đáp ứng cho nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Dự kiến nhu cầu tài chính thông qua thiết lập bảng cân đối kế toán mẫu của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán mẫu sẽ cho chúng ta thấy được nhu cầu vốn
mà doanh nghiệp phải huy động để đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai, mặt khác nó còn cho biết chi tiết cách phân bổ vốn của doanh nghiệp và nguồn vốn cân huy động
Dự kiến kế hoạch lưu chuyển tiền tệ: Kế hoạch lưu chuyển tiền tệ là dự kiến dòng tiền ra và dòng tiền vào trong kỳ từ các hoạt động của doanh nghiệp,
Trang 34thông qua đó cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra để xác định số tiền thừa hoặc thiếu trong kỳ
1.5.4 Quá trình lập kế hoạch tài chính
Quá trình lập kế hoạch tài chính có thể được chia thành 5 bước:
Thiết lập một hệ thống báo cáo tài chính dự kiến, có thể được sử dụng để phân tích các hiệu ứng của kế hoạch kinh doanh lên lợi nhuận dự kiến và những chỉ báo về tình trạng tài chính khác Hệ thống này cũng có thể được sử dụng để theo dõi những hoạt động kinh doanh sau khi kế hoạch được phê chuẩn và đưa vào thực hiện Việc nhanh chóng nhận biết trạng thái đi chệch khỏi kế hoạch là tiêu chí quan trọng của một hệ thống kiểm soát tốt mà đến lượt nó lại rất quan trọng cho thành công của công ty trong một thế giới đang thay đổi
Bước 1:Xác định những đòi hỏi cụ thể về tài chính cần thiết để hỗ trợ kế hoạch 5 năm của công ty, bao gồm các quỹ dành cho việc mua sắm máy móc thiết bị, và cho việc tích lũy hàng tồn kho và các khoản phải thu, cho các chương trình R&D và cho những chiến dịch quảng cáo lớn
Bước 2:Dự báo các nguồn tài trợ được sử dụng trong năm năm tới Việc này liên quan tới ước tính quỹ (tiền) sẽ được tạo ra trong nội bộ công ty và lượng quỹ phải huy động từ bên ngoài Những hạn chế đối với kế hoạch kinh doanh, bị áp đặt bởi những giới hạn tài chính hạn chế việc sử dụng nợ tổng thể hoặc nợ ngắn hạn, phải được đưa vào kế hoạch, ví dụ như những hạn chế về tỷ
lệ nợ, về hệ số thanh khoản hoặc các hệ số về khả năng thanh toán
Bước 3:Thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kiểm soát nhằm điều chỉnh việc phân bổ và sử dụng quỹ trong nội bộ công ty Về thực chát, điều này liên quan tới việc bảo đảm cho kế hoạch cơ bản được thực hiện một cách đúng đắn
Bước 4:Xây dựng các quy trình để điều chỉnh kế hoạch cơ bản nếu các điều kiện kinh tế đã được dự báo và được dùng làm cơ sở cho việc lập kế hoạch không trở thành hiện thực Ví dụ nếu nền kinh tế trở nên mạnh hơn so với dự báo khi lập kế hoạch, thì những điều kiện mới này phải được ghi nhận và phản
Trang 35ánh trong những khoản ngân sách cho sản xuất cao hơn, những hạn mức lớn hơn cho marketing, v,v và phải thật nhanh chóng
Bước 1:Đưa ra dự báo cho mỗi nhóm sản phẩm, tổng thể cũng như từng sản phẩm riêng lẻ Dự báo doanh thu cho từng sản phẩm riêng lẻ được cộng lại
và so sánh với dự báo tổng thể của nhóm sản phẩm Những khác biệt được điều chỉnh và kết quả cuối cùng là một dự báo tổng doanh thu cho công ty, chứ không chia nhỏ theo các bộ phận hay sản phẩm
1.5.2 Nội dung của lập kế hoạch tài chính theo phương pháp phần trăm doanh thu:
1.5.2.1 Phân tích về tình trạng tài chính hiện thời của công ty
Phân tích về tình trạng tài chính hiện thời của công ty thông qua phân tích các báo cáo gần nhất
Dự báo về doanh thu:
Dự báo doanh thu bắt đầu bằng một số tổng quan về doanh thu từ 5 đến 10 năm trước Dự báo doanh thu được xây dựng dựa trên một số yếu tố như:
Dựa trên các nhóm sản phẩm chính mang lại doanh thu cho công ty Doanh thu của mỗi loại sản phẩm trong những lĩnh vực này trong các năm gần đây được thể hiện thành biểu đồ, từ đó quan sát xu hướng và đưa ra được một dự báo xấp xỉ với giả định những xu hướng trong quá khứ sẽ tiếp diễn
Dự báo mức độ hoạt động kinh doanh của từng khu vực thị trường của công ty những dự báo này được sử dụng làm cơ sở cho việc điều chỉnh dự báo cầu trong từng lĩnh vực kinh doanh của công ty.Quan sát thị phần của từng thị trường chính Những yếu tố được cân nhắc là năng lực của công ty, năng lực của các đối thủ cạnh tranh, những sản phẩm mới hay những cải tiến sản phẩm của công ty hoặc đối thủ cạnh tranh của nó có thể đang dự định thực hiện Những chiến lược làm giá nhằm nâng cao tỷ suất lợi nhuận, hay để giảm giá nhằm dành thị phần và tiết kiệm nhờ quy mô? Những hành động như thế có thể có tác động mạnh tới dự báo doanh thu Đối với các công ty có khoản thu từ xuất khẩu và
Trang 36đối mặt với cạnh tranh từ các hãng nước ngoài khác thì tỷ giá và giá trị của đôla
có thể ảnh hưởng quan trọng lên thị phần của nó
Các chiến lược quảng cáo, các khoản giảm giá để quảng bá, các điều kiện bán chịu cũng có tác động tới doanh thu, vì thế những diễn biến trong các lĩnh vực này cũng phải được xem xét
Xem xét các nguồn đặt hàng và những xu hướng gần đây trong đặt hàng mới (hay huỷ đơn đặt hàng)
Đưa ra dự báo cho mỗi nhóm sản phẩm, tổng thể cũng như từng sản phẩm riêng lẻ Dự báo doanh thu cho từng sản phẩm riêng lẻ được cộng lại và so sánh với dự báo tổng thể của nhóm sản phẩm Những khác biệt được điều chỉnh và kết quả cuối cùng là một dự báo tổng doanh thu cho công ty, chứ không chia nhỏ theo các bộ phận hay sản xuất
Nếu dự báo doanh thu không chính xác thì hậu quả có thể sẽ rất nghiêm trọng Thứ nhất, nếu thị trường mở rộng hơn so với dự đoán cũng như sự chuẩn
bị, thì công ty sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Đơn đặt hàng
sẽ bị trả lại, thời hạn giao hàng sẽ kéo dài, việc sửa chữa hay lắp đặt sẽ khó lên lịch hơn và khách hàng sẽ ngày càng không hài lòng Cuối cùng, khách hàng sẽ
bỏ đi và công ty sẽ mất thị phần và bị lỡ một cơ hội Mặt khác, nếu dự báo của công ty quá lạc quan, công ty có thể sẽ có quá nhiều máy móc thiết bị, hàng tồn kho và nhân công Điều này có nghĩa là các hệ số quay vòng sẽ chậm, chi phí lao động, khấu hao, tồn trữ sẽ cao, và có thể có sa thải, huỷ bỏ hàng tồn kho và thiết bị lỗi thời Tất cả những điều đó sẽ dẫn đến tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thấp, mà đến lượt nó sẽ làm giảm giá cổ phiếu của công ty Nếu công ty tài trợ sự mở rộng của nó bằng nợ thì tất nhiên vấn đề của nó còn nặng nề hơn Như vậy, một dự báo chính xác về doanh thu là rất quan trọng
1.5.2.2 Hoạch định ngân sách và lập Bộ báo cáo tài chính dự kiến:
Dự báo tài chính liên quan tới việc dự kiến các báo cáo tài chính trên cơ sở một tổ hợp những điều kiện kinh doanh được giả định
Quy trình được dựa trên hai giả định:
Trang 37Tất cả các tài sản và một số nghĩa vụ (nợ) được gắn trực tiếp với doanh thu Các mức hiện tại của phần lớn các khoản mục trong bảng cân đối kế toán là tối ưu so với mức doanh thu hiện tại
Bước đầu tiên của phương pháp phần trăm doanh thu là khu biệt những khoản mục mà thay đổi theo doanh thu trên báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán Với báo cáo thu nhập, doanh thu tăng được dự tính sẽ tạo ra những khoản tăng trực tiếp trong tất cả các biến số, chỉ trừ chi phí lãi Tức là, giá vốn hàng bán và chi phí quản lý được giả định gắn trực tiếp với doanh thu, nhưng chi lãi
là một hàm số của các quyết định tài trợ Hơn nữa các loại thuế của công ty được dự tính sẽ vẫn chiếm tỷ lệ không đổi trong thu nhập trước thuế
Nếu công ty hoạt động hết công suất thì tài sản cố định cũng như tài sản lưu động phải tăng lên nếu muốn doanh thu tăng Như vậy, mỗi khoản mục tài sản đều phải tăng lên để có thế đạt được một mức doanh thu cao hơn Tiền mặt
sẽ cần có thêm cho các giao dịch, các khoản phải thu sẽ cao hơn hàng tồn kho phải dự trữ thêm, và phải bổ sung máy móc mới
Nếu tài sản của công ty tăng thì nợ và vốn chủ sở hữu của nó cũng phải tăng tương ứng, bảng cân đối kế toán phải cân đối, và phần gia tăng trong tài sản phải được tài trợ bằng một cách nào đó Các khoản phải trả và nợ tích dồn sẽ tăng đồng thời với doanh thu; khi doanh thu tăng, việc mua hàng sẽ tăng, những khoản mua lớn hơn sẽ tạo ra những khoản phải trả ở mức cao hơn Như vậy, nếu doanh thu tăng gấp đôi thì khoản phải trả cũng sẽ tăng gấp đôi Tương tự , một mức hoạt động kinh doanh cao hơn sẽ đòi hỏi thêm lao động, do đó tiền công tích dồn sẽ tăng và giả định lợi nhuận ròng trên doanh thu vẫn như cũ thì tăng lợi nhuận sẽ làm tăng thuế tích dồn Thu nhập giữ lại cũng phải tăng, nhưng không tỷ lệ thuận với mức tăng của doanh thu Các khoản phải trả, trái phiếu bất động sản hay cổ phiếu phổ thông cũng đều không tăng đồng thời với doanh thu – doanh thu cao hơn không tự động khiến cho những khoản mục này tăng
1.5.2.3 Kế hoạch tài trợ từ bên ngoài
Trang 38Công ty có thể sử dụng các giấy tờ nợ ngắn hạn, trái phiếu bất động sản, cổ phiếu phổ thông, hoặc một kết hợp nào đó giữa các chứng khoán này để huy động được khoản thiếu hụt Công ty sẽ đưa ra lựa chọn dựa trên cơ cầu vốn mục tiêu, chi phí tương đối của các loại chứng khoán khác nhau, những cân nhắc về việc khớp thời hạn…Tuy nhiên, một số công ty có một số điều kiện hạn chế các lựa chọn tài trợ như: phải giữ tổng số nợ không quá bao nhiêu phần trăm tổng tài sản, giữ hệ số thanh toán ngắn hạn ở mức bao nhiêu
Có 5 yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới nhu cầu tài trợ từ bên ngoài của một công ty:
Mức tăng trưởng doanh thu dự tính của công ty
Tỷ lệ sử dụng tài sản cố định ban đầu, hay tình trạng công suất quá mức Hàm lượng vốn
Tỷ suất thu nhập ròng trên doanh thu
Chính sách cổ tức của công ty
Công thức đơn giản cho phương pháp phần trăm doanh thu, áp dụng chỉ khi tất cả các khoản mục của báo cáo thu nhập và các tài sản và nợ tương ứng đều biến đổi theo cùng một tỷ lệ với thay đổi của doanh thu và bỏ qua những ảnh hưởng phản hồi của tài trợ Mặc dù dự báo nhu cầu về vốn thường được thực hiện bằng cách xây dựng các báo cáo tài chính dự kiến, công thức này rất hữu ích trong việc nêu bật mối quan hệ giữa tăng trưởng doanh thu và nhu cầu tài chính và việc ước tính nhu cầu tài trợ từ bên ngoài
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Thông qua các công trình nghiên cứu trước kia giúp tác giả nhìn nhận vấn
đề nghiên cứu được rõ ràng hơn từ đó giúp tác giả hệ thống khung lý thuyết về phân tích tài chính và từ đó đưa ra được khung lý thuyết về lập kế hoạch tài chính cho một doanh nghiệp
Trang 39CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu trong bài luận văn gồm:
2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu và tài liệu từ nguồn thứ cấp
Việc thu thập dữ liệu và tài liệu là một công việc quan trọng cần thiết cho bất kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào Trong bài luận văn, tác giả đã thực hiện phương pháp sưu tầm và thu thập tài liệu từ các báo cáo Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land) đã được công bố
có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Để hoàn thành bài luận văn cần tiến hành nghiên cứu các bước thiết kế luận văn như sau:
Bước 1: Thu thập thông tin xác định cơ sở lí luận về đối tượng nghiên cứu đảm bảo thống nhất với lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học để đề xuất báo cáo nhà trường
Bước 2: Tìm tài liệu nghiên cứu liên quan đề tài đề xuất để tìm cơ sở lí luận, các khái niệm trong đề tài Bước này tập trung về tổng quan tài liệu nghiên cứu làm rõ các khái niệm của đề tài, tổng quát cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, từ đó định hướng thực hiện thu thập dữ liệu, tài liệu từ các báo cáo Công ty
cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)
Bước 3: Xác định các phương pháp nghiên cứu để định hướng thu thập dữ liệu, tài liệu phục vụ giải quyết vấn đề nghiên cứu và hoàn thành mục tiêu của luận văn gắn với đề tài đề xuất và yêu cầu của Nhà trường quy định
Bước 4: Thu thập tài liệu, xử lý, phân tích và tổng hợp thông tin, số liệu đánh giá thực trạng công tác lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land)
Bước 5: Nghiên cứu các quy định hiện hành, các tài liệu và tìm hiểu các bài viết, bài nghiên cứu khoa học về một số định hướng của ngân hàng để sàng lọc phục vụ cho đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề nghiên cứu và nêu kết luận
Trang 40cho toàn bộ phần nghiên cứu;
Các nguồn tài liệu thứ cấp như: báo cáo thống kê định kỳ hàng năm, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí, biên bản hội nghị, báo cáo chuyên đề, thông tin internet, sách tham khảo, luận văn, luận án, thông tin thống kê, hình ảnh, video, băng cassette, tài liệu-văn thư, bản thảo viết tay…
Phương pháp thu thập dữ liệu và tài liệu thứ cấp là phương pháp tiến hành thu thập thông tin dữ liệu, tài liệu sẵn có liên quan tới đối tượng nghiên cứu từ nguồn báo cáo hàng năm, các thông tin trên trang tin điện tử của ngành hoặc các
đề tài liên quan đăng tải trên internet
Dữ liệu thứ cấp có đặc điểm là chỉ cung cấp các thông tin mô tả tình hình, chỉ rõ qui mô của hiện tượng, không thể hiện được bản chất hoặc các mối liên hệ bên trong của hiện tượng nghiên cứu Vì dữ liệu thứ cấp thu thập từ bên trong hoặc bên ngoài đều là những thông tin đãđược công bố phục vụ cho mục tiêu nào đó, có thể khác với mục tiêu của đề tài đang nghiên cứu nên sẵn có, dễ thu thập nhưng khó xác định độ chính xác/tin cậy
Tại chương 1, cơ sở dữ liệu được thu thập từ hệ thống các văn bản pháp luật, các nghiên cứu có liên quan làm căn cứ xác định khung lý luận về dịch vụ thẻ của ngân hàng Thông qua các số liệu thống kê, các báo cáo, các nghiên cứu được chắt lọc từ sách, báo, tạp chí liên quan đến dịch vụ thẻ
Phương pháp thu thập dữ liệu và tài liệu thứ cấp rất thuận lợi vì dễ thu thập được các tài liệu, thông tin về lĩnh vực dịch vụ thẻ của các ngân hàng và đảm bảo phù hợp với yêu cầu nghiên cứu trên cơ sở phân loại theo những tài liệu về lý luận,
2.2 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là phương pháp đư ợc vận dụng trong nghiên cứu kiến thức chuyên môn nhằm tóm tắt , tổng kết về kết quả của dữ liê ̣u đã thu th ập phù hợp để nêu bâ ̣t những thông tin quan tro ̣ng cần tìm hiểu và ph ục vụ cho việc nghiên cứu Qua các số liệu, tài liệu thu thập về Lập kế hoạch tài chính tại Công
ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land) để trình