Những tác phẩm biến đổi thế giới
Trang 1NHỮNG TÁC PHẨM BIẾN ĐỔI THẾ GIỚIRobert B Downs Hoài Châu và Từ Huệ dịch
Nhà xuất bản Lao Động
2003
Mục lục
Lời giới thiệu
Phần thứ nhất : Thế giới con người
1 Ông Hoàng - Niccolò Machiavelli
2 Lương tri - Thomas Paine
3 Quốc phú luận - Adam Smith.
4 Luận về nguyên tắc dân số - Thomas Malthus.
5 Dân sự bất phục tòng - Henry David Thoreau.
6 Túp lều bác Tom - Harriet Beecher Stowe.
7 Tư bản luận - Karl Marx.
8 Ảnh hưởng uy lực trên biển cả trong lịch sử - Alfred T Mahan.
9 Căn bản địa lý của lịch sử - Sir Halford J Mackinder.
10 Cuộc chiến đấu của tôi (Mein kampf) - Adolf Hiler.
Phần thứ hai : Thế giới khoa học.
11 Vũ trụ tuần hoàn - Nicolaus Copernicus.
12 Vai trò của tim - William Harvey.
13 Nguyên tắc toán học - Sir Isaac Newton.
14 Nguồn gốc muôn loài - Charles Darwin.
15 Đoán mộng - Sigmund Freud.
16 Thuyết tương đối - Albert Einstein.
Lời giới thiệu
16 tác phẩm được Robert B Downs trình bày trong cuốn sách này gồm đủ loại : chính trị, kinh tế, yhọc, triết học…; xuất hiện từ cuối thời Trung cổ tới giữa thế kỷ XX Theo tác giả, đây là những tácphẩm từng gây được những ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài ở phương Tây và ở cả phương Đông, có tácđộng lớn lao tới đời sống nhân loại, xứng đáng được gọi là "Books That Changed World" - Những tácphẩm biến đổi thế giới
Dẫu thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả có nhiều điểm khác chúng ta, và sự nhận định củatác giả không hiếm khi thiếu chính xác, song đây quả là một cuốn sách rất nên tham khảo Nó giới thiệuvới chúng ta, theo trình tự thời gian, những kiến thức và tư tưởng của hàng trăm ngàn trang sách viếtbằng những thứ tiếng khác nhau, đã được thu gọn
Hy vọng rằng, công phu của tác giả cũng như của các dịch giả và sự ủng hộ của Nhà xuất bản, sẽgiúp ích phần nào cho bạn đọc xa gần trong những giờ nghiên cứu ngoại khóa hay những giờ giải trí Rất mong nhận được sự góp ý của các bạn
Chân thành cám ơn
Trang 2Thiên Trung
1 ÔNG HOÀNG Niccolò Machiavelli
Trải qua hơn bốn thế kỷ, trong suy nghĩ mọi người trên khắp thế giới, tiếng "Machiavelian" đồngnghĩa với một cái gì quỉ quái, phản phúc, xấu xa, độc ác và đồi trụy Tính từ ấy bắt nguồn từ cái tênNiccolò Machiavelli là một biểu tượng của nhà chính khách đầy mưu mô, thủ đoạn, giả đạo đức, vôluân lý, tráo trở và bất nhân mà triết lý duy nhất là cứu cánh biện minh cho phương tiện Khắp thiên hạđều cho rằng đối với Machiavelli, cái luật chính trị "cao" nhất là luật tùy thời
Ở Anh vào thế kỷ XVII, "Già Nick" là hiệu danh dùng để bổ nghĩa cho cả hai danh từ riêngMachiavelli và quỉ Satan Có thể nào bào chữa cho bị cáo, hay liệu có trường hợp giảm khinh nào
không ? Cái tiếng dữ ấy đồn xa chỉ vì một cuốn sách, cuốn "Ông Hoàng" viết năm 1513, nhưng mãi
đến năm 1532 mới xuất bản, nghĩa là năm năm sau khi tác giả của nó từ trần Không có tác phẩm văn
học nào thoát khỏi sự liên hệ với thời đại của nó và trong trường hợp cuốn "Ông Hoàng" điều đó lại
càng đúng Thế mà cuốn sách ấy chứa đựng những bài học cho muôn đời
Người ta không biết rõ về cuộc đời của Machiavelli kể từ năm 1498 trở về trước Năm đó, 1498,Machiavelli 29 tuổi đã là Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hòa Florence Ông giữ chức vụ này trong 18năm Vì công việc ngoại giao ông được đi Tuscany, vượt qua bên kia rặng núi Apennines tới Roma,
và sau đó vượt qua cả núi Alpes Ông được quen biết nữ Bá tước Caterina Sforza; các ông PandolfoPetrucci, nhà độc tài xứ Siena; Ferdinand xứ Aragon, Louis XII nước Pháp, Hoàng đế Maximillan,Đức Giáo Hoàng Alexander VI, Đức Giáo Hoàng Julius II và Cesare Borgia Giữa Florence và cáctiểu quốc Venice, Pisa, Milan và Naples luôn xảy ra những mối bất hòa Thời đó, chính trị suy đồi đến
độ không thể tưởng tượng nổi Là người rất sành tâm lý, Machiavelli như cá gặp nước, ông có dịp thithố tài năng trong những nhiệm vụ thương thuyết thật khó khăn Sự thực tế hay trân tráo đối với các vấn
đề chính trị của ông về sau này hẳn là do kinh nghiệm mà có, bởi ông đã học được cái bí quyết coithường mọi động lực khác mà chỉ chú trọng đến lòng tham và ích kỷ
Rồi bất hạnh xảy tới Nhờ viện trợ của Tây Ban Nha, họ Medecis lật đổ chế độ Cộng hòa và tái lậpnền thống trị ở Florence Machiavelli bị cách chức, tống giam, tra tấn và sau cùng bị đày về một trangtrại nhỏ gần San-Casciano Ông sống ẩn dật nơi đó cho đến khi mất, năm 1527, trừ một vài chuyến
xuất ngoại rất ngắn hạn Trong những năm dài ẩn dật buồn nản, sự giải trí của ông là soạn sách : Ông
Hoàng, Những bài diễn văn, Nghệ thuật chiến tranh và Lịch sử xứ Florence , tất cả đều đặc biệt
liên quan đến chính trị thời xưa và đương thời
Khó mà nhận định được tình cảm của ông đối với việc công ra sao, ngoại trừ một vấn đề mà ôngcảm xúc chân thành Ông là một nhà ái quốc chân chính hết lòng mong muốn cho nước Ý được thốngnhất và hùng cường Bình thường ông nhận xét sự việc một cách lạnh lùng, hoài nghi, một nhà trí thứcthuần túy không biết câu nệ Nhưng một khi bàn về sự thống nhất nước Ý thì ông say sưa, hùng hồn,nồng nàn và linh hoạt Tình trạng nước Ý hồi đầu thế kỷ XVI bi thảm đến nỗi có thể làm cho kẻ yêunước rơi nước mắt
Đương thời của Machiavelli, một biến động lớn về chính trị, kinh tế và thần học đang ngấm ngầmnổi lên ở Ý Ở những nơi khác : Anh, Pháp và Tây Ban Nha sau nhiều năm tranh đấu đã tạm hoàn thànhthống nhất quốc gia Trái lại ở Ý quan niệm về một tổ chức quốc gia hay liên bang vẫn còn chưa đượcnghĩ tới Bấy giờ có năm guồng máy chính trị lớn cai trị nước Ý : Milan, Florence, Venice, Tòa Thánh
và Naples Lớn mạnh nhất là Venice Sự phân chia chính trị năm bè bảy mối là một nguyên nhân làm
Trang 3cho nước Ý suy yếu và ngoại bang dòm ngó Khởi đầu là vua Charler VIII nước Pháp xâm lăng năm
1494 và vị vua này vừa rút binh khỏi nước Ý độ vài năm thì đến lượt vua Louis XII và Ferdinand xứArgon, cả hai đều đồng ý chia đôi vương quốc Naples Hoàng đế Maximilian phái binh tới chinh phụcVenice Quân đội Đức, Thụy Sĩ, Pháp và Tây Ban Nha giày xéo và đánh lẫn nhau trên đất Ý
Trong khi đó thì giữa người Ý với người Ý gây hấn lẫn nhau, thù hận, cướp bóc và giết chóc nhaunhư cơm bữa Cộng hòa này khai chiến với Cộng hòa kia, ganh tỵ uy quyền lẫn nhau không thể nào hợpnhất thành một mặt trận cùng chống ngoại thù Tòa Thánh bấy giờ đang ở giai đoạn suy yếu nhất tronglịch sử, lo sợ có đối thủ mạnh cướp mất quyền lực thế gian, nên muốn duy trì tình trạng chia năm xẻbảy hơn là thực hiện thống nhất đất nước
Lúc bấy giờ có lẽ Machiavelli là người sáng suốt hơn cả, đã nhận thức được những nguy cơ đang đedọa nước Ý Trong cuộc sống ẩn dật bất đắc dĩ ngày đêm suy ngẫm về những thảm họa đã giáng xuốngđất nước thân yêu, ông đi tới kết luận là hy vọng duy nhất có thể cứu vãn xứ sở là phải có một đại lãnh
tụ và vị lãnh tụ ấy phải cường mạnh và quyết liệt để thu phục những tiểu quốc nhỏ bé, thống nhất họ lạithành một quốc gia đủ sức tự bảo vệ và đánh đuổi ngoại xâm Một lãnh tụ cỡ đó phải kiếm ở đâu ?Trong cuốn "Ông Hoàng", Machiavelli trình bày quan niệm của ông về bậc lãnh tụ lý tưởng đó và tỉ mỉvạch rõ con đường mà vị đại lãnh tụ ấy phải theo để đi tới thành công
Mặc dù Machiavelli đề tặng cuốn "Ông Hoàng" cho Lorenzo de Medici đương trị vì xứ Florencelúc bấy giờ, nhưng vai chính cuốn sách lại là Cesare Borgia, con của Đức Giáo Hoàng Alexander VI,mới mười bảy tuổi đã là Hồng y Cesare Borgia còn là một tướng lãnh tài ba đã chinh phục tỉnhRomagna và là một nhà độc tài, tàn ác Năm 1502 Machiavelli được cử đi sứ tại triều đình CesareBorgia và, đúng như Nevins đã bình luận, Machiavelli "đã thán phục Borgia hết sức khi thấy nhà độctài này đã khéo léo áp dụng sự thận trọng và sự táo bạo, lời nói ngọt ngào mà hành động lại đẫm máu,lạnh lùng trí trá như thế nào và giả dối ra sao, lúc khủng bố để khuất phục thiên hạ thì tàn nhẫn đếnmức độ nào, cả khi áp dụng chế độ độc tài để kìm kẹp một tiểu quốc thì hiệu quả ra sao" Nhờ sử dụng
sự phản trắc, độc ác và bội tín, Cesare đã thành công rực rỡ, nhưng chỉ là thành công nhất thời.Machiavelli vốn là người chủ trương trung thành với một chính thể cộng hòa nhưng khi nghiên cứu tìnhtrạng tuyệt vọng và bi thảm của nước Ý, ông tin rằng một mẫu người như Cesare Borgia mới đáng làlãnh tụ lý tưởng để chấm dứt tình trạng hỗn loạn bấy giờ Và rồi với lòng ái quốc nhiệt thành, cảmhứng vì viễn tượng thống nhất quốc gia, ý thức được nhu cầu khẩn trương lúc ấy và cơ hội ngàn nămmột thuở dành cho người mới lên cầm quyền, Machiavelli trút hết lòng nhiệt thành và năng lực dồi dào
vào công việc soạn cuốn "Ông Hoàng" Tác phẩm hoàn thành trong sáu tháng cuối năm 1913, và sau
đó ít lâu được đệ lên triều Vua Lorenzo với lời đề tặng của tác giả như sau :
"Trộm nghĩ không còn gì đáng giá để kính tặng ngài, hơn là dâng ngài nhàn lãm, để có thể hiểu đượctrong một khoảng thời gian ngắn nhất tất cả những kinh nghiệm mà tôi đã học hỏi được cùng lúc vớinhiều gian khổ và nguy hiểm"
Luận cứ căn bản trong cuốn "Ông Hoàng" là : thịnh vượng của xứ sở biện minh cho tất cả mọiphương tiện và trong cuộc sống công cộng và đời tư có những tiêu chuẩn luân lý khác nhau Theo luậnthuyết này, vì công ích, nhà chính khách có quyền có những hành động bạo tàn và lừa đảo vốn là nhữnghành động chắc chắn sẽ bị lên án và có thể bị coi như là trọng tội trong những quan hệ giữa cá nhân.Nói cho đúng ra Machiavelli chủ trương phân biệt giữa đạo đức và chính trị, Ông Hoàng là một thứkim chỉ nam cho những bậc vua chúa (có người nói là cho những bạo chúa), dạy cách chiếm đoạt vàduy trì quyền bính, tuy quyền bính đây không phải là để làm lợi cho nhà cầm quyền mà là để làm lợicho dân, để xây dựng cho dân một chính thể ổn định, đủ sức chống lại cách mạng cũng như ngoại xâm.Làm thế nào để tạo được ổn định và an ninh ?
Trường hợp những thể chế quân chủ thế tập thì khỏi cần bàn tới nhiều, vì với trí thông minh và mẫn
Trang 4tuệ trung bình, nhà cầm quyền thế tập tất nhiên có thể nắm giữ việc điều khiển chính phủ Trái lại mộtnền quân chủ mới thành lập gặp nhiều khó khăn phức tạp hơn Việc cai trị sẽ tương đối dễ đàng, nếulãnh thổ mới bị chinh phục và sáp nhập thuộc cùng một dân tộc và ngôn ngữ với quốc gia đi thôn tính,đặc biệt là nếu theo hai nguyên tắc này : "Thứ nhất phải tuyệt diệt dòng họ đã cai trị xứ này, thứ hai làluật lệ và sưu thuế phải để nguyên không thay đổi"
"Nhưng nếu như lãnh thổ mới chiếm được thuộc một dân tộc khác, có ngôn ngữ, phong tục và luật lệriêng thì khó khăn sẽ gấp bội và muốn vượt qua được cần phải có thật nhiều may mắn và khéo léo".Machiavelli đề nghị những biện pháp kiểm soát mà nhà cầm quyền phải tự thân hành đến ngự trị trênlãnh thổ đó, phải di dân sang (như thế đỡ tốn hơn là đóng quân), phải kết thân với những nước lánggiềng yếu hơn mình và phải gắng sức làm suy yếu những nước mạnh Không theo những luật căn bản
đó, Louis XII nước Pháp đã thất bại và mất hết đất đai chinh phục được
Khi nghiên cứu vấn đề làm thế nào để cai trị các miền chinh phục được, Machiavelli trình bày baphương pháp nhờ đó có thể cai trị được một quốc gia vốn đã quen "sống dưới chính luật pháp củamình và trong tự do Phương pháp thứ nhất là tiêu diệt quốc gia ấy; thứ hai là thân hành tới sống ở đó;thứ ba là để xứ đó sinh hoạt theo kỷ cương luật pháp cũ, buộc xứ đó triều cống và trao quyền cho vàingười bản xứ Những người này sẽ tìm cách giữ cho toàn thể dân chúng còn lại là bạn của quốc giathống trị" Trong ba phương pháp ấy Machiavelli cho hai phương pháp đầu là vẹn toàn hơn cả
Tuy nhiên, nếu đô thị hay xứ nào mới chiếm được đó quen sống dưới chế độ một Vương giả màdòng họ vừa bị tuyệt diệt thì người dân địa phương một mặt vì quen sống phục tùng và mặt khác đãquen bị bóc lột tất không thể nào lựa chọn được một thủ lãnh mới Họ lại chưa từng biết thế nào là tự
do, tất còn lâu mới nổi dậy được để chống lại chính quyền mới, một người ngoài cuộc có thể dễ dàngthu phục và lôi kéo họ về với mình
Bàn thêm về "các tân vương quốc", Machiavelli khuyên rằng "Phải luôn luôn nhớ là tâm lý quầnchúng không nhất trí, dễ thuyết phục họ bao nhiêu thì lại khó giữ cho họ tin mình bấy nhiêu Vì thế tacần chuẩn bị để khi quần chúng không còn tự ý tin nữa, thì buộc họ phải tin bằng võ lực"
Tiếp theo tác giả ca ngợi Cesare Borgia là vị lãnh tụ tài ba đặc biệt có quyền phản bội và phạm tộigiết người
"Khi nhớ lại những hành động của quận công Borgia, tôi không biết trách cứ ông như thế nào, màtrái lại tôi nhận thấy rằng, tôi có bổn phận đưa ông ta ra làm gương cho bất cứ ai nhờ may mắn hay dongười khác đưa lên nắm chính quyền Bởi vì có tinh thần cao thượng và hoài bão lớn lao, quận côngBorgia không thể nào xử sự khác được… Vị tân vương này nhận định rằng điều cần thiết để bảo tồncho mình nơi đất mới là phải đắc nhân tâm, phải thắng mọi trở lực hoặc bằng võ lực hoặc bằng xảotrá, phải làm cho dân vừa mến vừa sợ, quân binh trung tín và tôn sùng, phải tiêu diệt những kẻ có uyquyền hay có lý do để hại mình, phải đổi mới trật tự và nề nếp cũ, vừa nghiêm khắc, vừa hòa hoãn,khoan hồng và rộng rãi, phải tiêu diệt đám quân phản phúc và lập những đạo binh mới, phải duy trìtình hữu nghị với vua chúa bằng cách nào để khi họ giúp thì hết lòng mà gây hấn thì dè dặt Tất cảnhững ông Hoàng có quan điểm đó không thể tìm đâu ra một tấm gương sáng hơn về các hành vi của vịquận công này
Một kẻ tiếm quyền khi thôn tính được một xứ rồi phải cấp tốc định việc trừng phạt ngay, rồi sau đó
ra ân để thu phục nhân tâm ân huệ nên ban bố từ từ, chút một, như vậy dân chúng được thụ hưởng đầy
đủ hơn Một ông vua sáng suốt nên nhớ rằng trừng phạt chỉ là một trong nhiều phương pháp để chỉ huynhững bầy tôi
Điều cần thiết cho một vị vương là được lòng dân vì nếu không thế sẽ không còn biết nương dựavào đâu lúc gặp cơn hoạn nạn Đừng để ai dẫn chứng câu tục ngữ xưa : "Xây dựng trên dân chúng làxây dựng trên cát" để chống lại tôi vì điều đó có thể đúng trong trường hợp cá nhân của một công dân
Trang 5quá tin ở tình cảm của thiên hạ đối với mình và cứ tưởng thiên hạ sẵn sàng cứu mình khi mình bị kẻ thùhay công tố viên ức chế Nhưng một đấng anh hùng can đảm và có khả năng lãnh đạo, biết bảo tồn anninh trật tự trong xứ, sẽ chẳng bao giờ nuối tiếc đã xây dựng củng cố an ninh cho mình trên lòngthương mến của nhân dân
Luận về thuộc quốc của Giáo hội, tức là những vương quốc dưới quyền cai trị trực tiếp của Giáohội, Machiavelli có những nhận định châm biếm vừa chua chát vừa nghiêm khắc hơn hết
Nhờ công lao hay may mắn mà những thuộc quốc này được bảo vệ bởi những giáo lệnh khả kính vàhữu hiệu đến nỗi uy quyền của những vị vua chúa các vương quốc này được hoàn toàn bảo đảm mặc
dù họ sống hay hành động cách nào tuỳ ý Họ là những ông chúa duy nhất có đất đai mà không phải bảo
vệ, có bầy tôi mà không phải cai quản
Ở đây cũng như trong những tác phẩm khác, Machiavelli lên án gay gắt Giáo hội La Mã ở đầu thế kỷXVI đã không chịu thống nhất nước Ý để đối phó với ngoại bang Ông chủ trương phải phân biệt hoàntoàn Giáo hội và quốc gia
Vì một chính phủ mạnh cần có quân đội mạnh, Machiavelli cho vấn đề quân sự là tối quan trọng vàdành khá nhiều chỗ bàn tới vấn đề này Đương thời ông, phần lớn những tiểu quốc Ý quen dùng línhđánh thuê, hầu hết là người ngoại quốc, trong việc quốc phòng Machiavelli biện luận rằng những binh
sĩ như thế "vô dụng và nguy hiểm" và một quân đội quốc gia tùy thuộc vào sức mạnh vũ trang, ngườicai trị phải coi vấn đề quân sự là mối bận tâm chính yếu
Machiavelli dành nhiều chương nói về cách cư xử của các ông Hoàng, cư xử thế nào cho phải trongnhiều trường hợp khác nhau
"Giữa lối sống thường nhật và cái đạo sống mà người ta phải theo có một sự khác biệt rất lớn Điềucần thiết cho một vị vương nào muốn giữ vững địa vị của mình là phải biết cư xử đúng hơn là chỉ biếttốt và phải biết tùy trường hợp mà sử dụng hay không sử dụng đến lòng tốt Một vị vương được trờiphú cho những đức tính vẫn được coi là tốt thì ai cũng phải nhận là đáng ca ngợi, nhưng khó mà có thể
có đủ những đức tính ấy, thường xuyên thực thi những đức tính ấy Cho nên làm chúa thì phải cẩntrọng để biết cách tránh điều ô nhục gây ra bởi những đồi trụy có thể làm mình mất ngôi"
Một ông Hoàng phải bất chấp sự mang tiếng là hà tiện vì tiêu xài tiền bạc, của cải, hoặc chính mìnhhay của bề tôi, hoặc của thiên hạ Đối với những cái gì không phải của mình hay của con dân, ôngHoàng phải ban bố chi phí rộng rãi Bởi vì rộng rãi bằng tài sản của người khác (tài sản chiếm đượctrong các cuộc chiến tranh chinh phục) chẳng những không làm giảm mà còn làm tăng thêm oai danhcủa mình Nhưng đem cho tài sản của mình đi nghĩa là làm thiệt hại đến mình Chẳng gì tự hại mìnhbằng sự hoang phí vì làm mất đi phương tiện giúp mình tiêu xài rộng rồi trở thành nghèo túng và bịkhinh nhờn, hoặc để khỏi bị nghèo túng mà hoá ra tham lam và bị thù ghét
Nhà vua phải nhớ rằng độc ác là một khí giới tốt để giữ cho bề tôi khỏi lục đục và phục tùng "Bởi
vì ai mà biết dẹp một tình trạng rối loạn bằng một vài biện pháp cứng rắn làm gương, về sau tất sẽ cóthể nhân từ hơn người lúc đầu quá khoan hồng, cứ để cho cái sảy nẩy cái ung, rồi kết quả là đi đếncướp đoạt và đổ máu làm tổn thương đến toàn thể xứ sở, trong khi ấy thì sự tàn ác của nhà vua chỉ gâythiệt hại cho những cá nhân"
Machiavelli tuyên bố trong một đoạn văn nổi tiếng: "Do đó mới có vấn đề nên để cho dân yêu hơn
là sợ hay là để cho dân sợ hơn là yêu Chắc hẳn có người trả lời là phải làm sao vừa được yêu vừađược sợ : Song le yêu và sợ khó có thể đi đôi với nhau, cho nên, nếu buộc phải chọn lựa thì tốt hơnnên để cho dân sợ hơn yêu Bởi vì con người nhiều khi vô ơn bội nghĩa, nông nổi, giả dối, chỉ biết lotránh hiểm nguy, tham lam; chỉ hết lòng với ta khi ta còn có thể ban ơn cho họ; sẵn sàng nhảy vào lửa,
hy sinh tài sản, sinh mệnh và con đẻ dứt ruột cho ta khi quyền lực vẫn nằm trong tay ta"
Thật là hết sức trơ tráo mặc dù Machiavelli sau khi cân nhắc nặng nhẹ giữa yêu và sợ đã khuyên
Trang 6rằng : "Nhà vua phải hết sức tránh, đừng để cho thần dân oán ghét" Trong cuốn "Ông Hoàng" không cóchương nào bị chỉ trích và lên án cho bằng chương 18 bàn về "bậc vua chúa giữ chữ tín cách nào" Sở
dĩ tính từ "Machiavellian" có cái nghĩa xấu xa là vì chương này hơn là do những phần khác của cuốnnày
Ở chương đó tác giả đồng ý rằng, giữ chữ tín thì đáng ngợi khen lắm, nhưng ông cũng cho rằng đểduy trì quyền lực chính trị, lừa dối, giả đạo đức và bội tín là cần thiết và có thể tha thứ được
"Có hai cách chiến đấu, một là theo luật pháp, hai là dùng vũ lực Phương pháp thứ nhất hợp choloài người, phương pháp thứ hai thích hợp với thú vật Nhưng bởi vì phương pháp thứ nhất thườngkhông hiệu quả cho nên cần phải dùng đến phương pháp thứ hai Vì thế nhà vua phải biết sử dụng cảhai cho khéo Nhưng vì cần phải biết sử dụng cái thiên tính của con thú một cách thông minh, nhà vuaphải chọn cả hai loại sư tử và cáo, vì sư tử không biết tránh cạm bẫy và cáo tại không thể tự vệ nổitrước bầy sói Một ông vua khôn ngoan không cần và cũng không phải giữ lời khi vì chữ tín mà tựmình làm tổn thương mình và khi những nguyên nhân buộc phải hứa đã đổi thay Nếu bản chất của tất
cả mọi người đều tốt thì đó không phải là một lời khuyên tốt, nhưng vì thiên hạ lắm kẻ bất lương vàkhông giữ lời hứa đối với nhà vua, thì ngược lại nhà vua cũng chẳng cần phải giữ chữ tín đối với họ,
và cũng chẳng có một ông vua nào phải mất công tìm những lý do thỏa đáng để khỏa lấp một điều thấttín Nhưng bản tính con người vốn chất phác, và vốn hoàn toàn bị chi phối vì những nhu cầu trướcmắt đến nỗi ai muốn lừa dối họ, sẽ luôn luôn tìm thấy những kẻ sẵn lòng làm người chịu bịp Nhưvậy, nên tỏ ra vẻ đại lượng, thủy chung, nhân đạo, mộ đạo và chính trực và cũng nên như vậy thực sự;nhưng tâm não phải giữ cho được thật cân bằng để khi cần không phải tỏ ra đại lượng, thủy chung, nhânđạo, mộ đạo và chính trực thì có thể và biết cách làm trái ngược lại Mọi người chỉ thấy cái vỏ bềngoài chứ ít kẻ thấy được cái bản chất thực của nhà vua."
Machiavelli còn khuyến cáo là một ông vua cần phải tránh làm cho dân oán ghét hay khinh bỉ Cóhai phương pháp chính cho một ông vua chuốc lấy căm hờn đó là "tham lam và can thiệp vào tài sản
và thê thiếp của con dân Người ta khinh một ông vua lang chạ, phụ bạc, nhu nhược, nhút nhát hay dodự" Vả lại, nhà cầm quyền phải được lòng dân nhờ tự tay ban phát ân huệ và "để mặc cho các quantòa trách nhiệm gia hình, và tất nhiên cách xếp đặt tổng quát mọi sự việc có thể gây ra bất mãn" Ngay
cả những thành lũy cũng không cứu được một ông vua bị dân chúng thù ghét
Để chỉ dẫn nhà vua "về cách cư xử phải thế nào", Machiavelli đã tha thiết khuyên rằng:
"… Một ông vua phải tỏ ra là một kẻ chuộng tài và phải cất nhắc những con dân nào tài giỏi trongmọi ngành nghề Vì vậy có bổn phận khuyến khích làm cho họ được dễ dãi tiếp tục nghề nghiệp, bảotrợ con dân dù là trong ngành thương nghiệp, nông nghiệp hay bất cứ nghề nghiệp gì khác, để cho họkhông bị xao lãng trong việc tô điểm thêm cơ nghiệp mà không sợ bị cướp đi mất, hoặc ngần ngạikhuếch trương xí nghiệp vì sợ phải đóng thuế"
Machiavelli đã tỏ ra rất mực cảm phục chế độ La Mã xưa và ông đã gợi lại hình ảnh chế độ ấy đểkhuyên nhà vua hãy "tìm cách cho dân chúng hưởng lạc qua các buổi lễ lạt và các cuộc trình diễn vàonhững mùa thích hợp trong năm"
Machiavelli rất tin tưởng ở định mệnh và sự may rủi, có lẽ đó là một ảnh hưởng của thái độ chungthời ông đối với khoa chiêm tinh
Ông viết :"Tôi cho rằng có thể là vận mệnh đã làm chủ một nửa những hành động của chúng ta và đểquyền kiểm soát một nửa hay non một nửa những hành động còn lại cho chúng ta" Tuy nhiên ông cũngchỉ tin vừa phải thuyết định mệnh thôi, vì ông cho rằng con người có thể ảnh hưởng được phần nào tới
số mệnh và ông chủ trương "nên xông xáo hơn là thận trọng Vì định mệnh cũng như một người đàn bà,muốn trị được, cần phải đánh đập và mạnh tay cương, và chúng ta thấy rằng định mệnh cũng như mộtngười đàn bà, luôn luôn ưu đãi những người trẻ, vì họ ít câu nệ và liều lĩnh tàn bạo hơn; điều khiển với
Trang 7và mọi áp bức ấy như thế nào Chúng ta cũng thấy nước Ý đã sẵn sàng và sốt sắng ra sao để đi theo bất
cứ tiêu chuẩn nào nếu có chỉ một người nào đó thôi nêu được tiêu chuẩn đó lên
Machiavelli đã chấm dứt lời thỉnh cầu hùng biện ấy trong những dòng sau : "Vì đó, cơ hội chót chonước Ý nhận định người giải phóng không thể để cho trôi qua được Trong tất cả những tỉnh của nước
Ý đã đau khổ vì bị tràn ngập quân ngoại bang, vị tân quân sẽ phải được tiếp đón với một tình cảm mếnnhư thế nào, với một khát vọng phục hận như thế nào, lòng sùng bái và những giọt nước mắt như thếnào Đó là điều tôi thấy không có một tiếng nào có thể diễn tả ra được Còn có cánh cửa nào không mở
ra để đón vị tân quân ấy ? Còn có người nào từ chối không phục tùng và còn có ai ganh ghét cản trởbước đường của vị ấy ? Còn có người Ý nào không tôn kính người ấy ?"
Trên ba thế kỷ rưỡi đã trôi qua trước khi mộng của Machiavelli nhìn thấy một Quốc gia Ý thốngnhất, thoát khỏi ách chiếm đóng và đô hộ của ngoại bang được trở thành sự thực
Những bản chép tay cuốn "Ông Hoàng" đã được lưu truyền trong khoảng thời gian Machiavelli cònsống và nhiều năm sau đó
Tới năm 1532, cuốn sách này đã được Đức Giáo Hoàng Clement VII chấp nhận cho xuất bản VịGiáo Hoàng này là người anh em họ của Ông Hoàng được tác giả đề tặng cuốn sách Trong vòng haimươi năm sau, cuốn "Ông Hoàng" đã được tái bản tới lần thứ hai mươi lăm Cộng đồng Trent ra lệnhhủy diệt những tác phẩm của Machiavelli Ở La Mã người ta tố cáo ông là một kẻ vô thần Và ở đâycũng như ở mọi nơi khác bên Âu châu, người ta đã cấm lưu hành, tàng trữ những tác phẩm của ông ỞĐức, các tu sĩ Dòng Tên đã đốt hình nộm của ông Cả người Thiên Chúa giáo và người theo đạo Tinlành đều đua nhau lên tiếng chống ông Vào năm 1559, tất cả những tác phẩm của Machiavelli đều bịliệt vào loại sách cấm
Mãi cho tới thế kỷ XIX, tiếng tăm của Machiavelli mới được bênh vực và biện minh phần nào.Những phong trào cách mạng ở châu Mỹ, ở Pháp, ở Đức và những nơi khác nữa đã gây ra khuynhhướng mạnh mẽ muốn thế tục hóa chính quyền, tách rời chính quyền với Giáo hội Cuộc chiến đấu cho
tự do của Ý đã đạt tới tột điểm thành công vào năm 1870, là nhờ nguồn cảm hứng của nhà đại ái quốc
Ý Machiavelli Trong một thiên tiểu luận rất sâu sắc, H.Douglas Gregory đã chứng minh rằng nhờ tuântheo những quy tắc của Machiavelli, nhà lãnh tụ Ý, Bá tước Cavour đã thống nhất được nước Ý vàđuổi được kẻ xâm lăng, trong khi đó thì nếu theo bất cứ một bài học nào khác sẽ chỉ đem lại tai họa vàthất bại
Các nhà độc tài và vua chúa chuyên chế trong mọi thời kỳ đều tìm được rất nhiều lời khuyên lợi íchtrong cuốn "Ông Hoàng", điều ấy không thể chối cãi được Bảng danh sách những độc giả say mê cuốnsách rất quan trọng : Hoàng đế Charles đệ ngũ và bà Catherine de Medicis đã tán thưởng tác phẩm.Oliver Cromwell đã kiếm được một bản "Ông Hoàng" chép tay và đã áp dụng những nguyên tắc củacuốn sách đó trong Chính phủ Cộng hòa Anh quốc Hai ông vua Pháp Henry đệ ngũ và Henry đệ tứ lúc
bị ám sát còn cầm cuốn "Ông Hoàng" trong tay Cũng một cuốn sách đó đã giúp cho Fréderick Đại đếtạo ra chính sách của nước Phổ thời ấy Vua Louis thứ 14 đã coi "Ông Hoàng" là cuốn sách gối đầugiường được ưa thích hơn hết Người ta đã tìm thấy một cuốn "Ông Hoàng" có ghi những chú thíchtrong xe ngựa của Hoàng đế Napoléon ở Waterlo Những ý kiến về cách cai trị của Napoléon đệ tam
Trang 8đã chính thức bắt nguồn cũng từ cuốn "Ông Hoàng", và Bismark cũng đã là một đệ tử trung thành củaMachiavelli Gần đây hơn nữa, cứ theo như chính lời của Hitler thì "Ông Hoàng" là nguồn cảm hứngthường xuyên của ông ta lúc nghỉ ngơi Về phần Benito Mussolini, ông này đã từng tuyên bố : "Tôi tinrằng cuốn "Ông Hoàng" của Machiavelli phải là sách chỉ nam tuyệt tác của nhà chính khách Họcthuyết của tác giả ngày nay vẫn hợp thời vì trong vòng bốn trăm năm vẫn không có những gì là thay đổisâu xa trong trí não người ta hay là trong những hoạt động của các quốc gia" (Về sau ý kiến củaMussolini đã thay đổi vì vào năm 1939 đảng Phát xít Ý đã cho liệt Machiavelli vào danh sách nhữngtác giả tân và cựu bị cấm không được cho lưu hành)
Mặt khác nhiều nhà phân tích các biến cố lịch sử sâu sắc đã viết rõ ràng rằng chung cục cuộc đờinhững nhà độc tài như Hitler, Mussolini thường là bi đát vì họ đã không chú ý đến hay là đã hiểu saimột số những nguyên tắc căn bản do Machiavelli đề ra Những người nghiên cứu sâu xa học thuyết của
Machiavelli đã đồng ý là không đọc đầy đủ cả hai tác phẩm "Luận bàn" (Discourses) và "Ông
Hoàng" (The Prince) sẽ không thể hiểu được đầy đủ những ý tưởng của ông
Tác phẩm "Luận bàn" được Machiavelli hoàn thành trong vòng năm năm trời và cũng được xuất
bản một năm cùng với cuốn "Ông Hoàng", là một tác phẩm công phu hơn nhiều Người ta cho rằng có
một sự khác biệt lớn giữa hai tác phẩm ấy Đó là cuốn "Luận bàn" bàn về "cái phải thế" còn cuốn
"Ông Hoàng" bàn về "cái là thế " Cuốn "Ông Hoàng" được hoàn toàn dành cho những vấn đề của các
vương quốc, tức là các quốc gia do những vị quốc vương đơn độc cai trị Còn cuốn "Luận bàn" thìđược bàn về những nguyên tắc cai trị phải được áp đụng ở những nước cộng hòa
Đọc và so sánh hai tác phẩm nói trên người ta phải giật mình mà kết luận rằng : Machiavelli là mộtngười tin đặc biệt vào lý tưởng Cộng hòa Ông không ưa gì chế độ chuyên chế và ông cho rằng mộtchính phủ tốt hơn hết là một chính phủ hòa hợp được các nguyên tắc cai trị của hai thể chế dân quyền
và quân quyền Không có nhà cầm quyền nào có thể yên vị nếu không chiếm được sự ủng hộ của dânchúng Những quốc gia vững bền hơn hết là những quốc gia có những ông vua cai trị với những quyềnhạn được hạn chế do hiến pháp Như người ta đã nhận thấy, theo quan điểm của Machiavelli thì sựphán đoán của dân chúng rất trung thực, khi ông chỉ trích câu phương ngôn xưa : "Xây dựng trên dânchúng là xây dựng trên cát" Theo ông, chính phủ lý tưởng là chính phủ Cộng hòa La Mã xưa, như ông
đã thường nhắc tới trong tác phẩm "Luận bàn"
Như vậy thì tại sao Machiavelli lại viết tác phẩm "Ông Hoàng" khi ông cho rằng một chính phủcộng hòa cho một quần chúng tự do là có giá trị hơn mọi thứ chính phủ khác ? Cuốn "Ông Hoàng" đãđược viết ra cho một thời đặc biệt và cũng vì một số điều kiện đặc biệt nữa Machiavelli đã chắc chắnnhận thức được rằng không thể thiết lập được chế độ cộng hòa cho có hiệu quả tốt ở nước Ý vào thế kỷXVI Ông Hoàng đã được viết ra vì mục đích duy nhất giúp cho một người hùng phương sách cứu dân
Ý thoát ra khỏi cái tình trạng tuyệt vọng của họ và khỏi cái tình thế chính trị thối nát lúc bấy giờ Phảiđương đấu với cơn khủng hoảng trầm trọng lúc ấy, dân Ý không thể phân định quá tỉ mỉ thứ vũ khí cóthể cứu được họ
Hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến rất dị biệt về Machiavelli mặc dù mọi cố gắng đã được thực hiện
để khôi phục lại tên tuổi ông Tình trạng do Giuseppe Prezzolini mô tả vài năm trước đây vẫn cònthịnh hành:
"Bây giờ chúng ta có Machiavelli của các tu sĩ Dòng Tên, một kẻ thù của Giáo hội, Machiavelli củacác nhà ái quốc, Đấng cứu thế của một nước Ý thống nhất và của dòng họ cai trị Savoy, Machiavellicủa quân phiệt, tiền phong của quân đội quốc gia, Machiavelli của các triết gia đã sáng tạo ra mộtđường lối tư tưởng mới, tinh thần thực tiễn; và Machiavelli của những nhà văn, chiêm ngưỡng lối hànhvăn mạnh mẽ và cú pháp táo bạo của ông Và tất cả những Machiavelli ấy đều là chính đáng cả"
Thật khó mà chối cãi được rằng không có ai trước Karl Marx lại có một ảnh hưởng cách mạng tới
Trang 9tư tưởng chính trị như là Machiavelli Ông xứng đáng được tặng danh hiệu "Nhà sáng lập môn chính trịhọc"
2 LƯƠNG TRI Thomas Paine
Không một người bình thường nào đã tiên đoán được cái tương lai rực rỡ của Thomas Paine, khiông tới châu Mỹ vào năm ba mươi bảy tuổi Cho tới tuổi ấy đời ông chỉ là một chuỗi những thất bại vàthua thiệt Công việc nào ông bắt tay vào làm cũng đều đi đến kết quả không ra gì
Vì lý do nào chỉ trong vòng một ít năm, mà Thomas Paine, một người di cư vừa mới đặt chân tớiTân Thế giới lại nổi danh là một trong những tác giả Anh ngữ xuất sắc hơn hết ; một trong những nhânvật được tranh luận hơn hết trong lịch sử Hoa Kỳ ; một tay phiến động và là một cách mạng gia mà aicũng biết tên tuổi ; người ta sợ và ghét, hoan hô và ca ngợi tận hang cùng ngõ hẻm tất cả những thuộcđịa Anh ở châu Mỹ, ở Anh và cả ở Tây Âu nữa ? Hình như cuộc hành trình qua đại dương đã ảnhhưởng tới việc biến đổi kỳ dị con người và tính tình của ông đầu hôm sớm mai từ một kẻ tầm thườngbiến thành một thiên tài
Tuy nhiên nếu nhìn trở lại chuỗi ngày ấu thơ của Paine ta sẽ thấy rõ là thật ra thời kỳ ấy không phải
bỏ đi mà đó là một cách chuẩn bị cho cuộc đời mới của ông Ông sinh ở Thetford, một quận ở Norfolkthuộc miền Đông nước Anh, vào ngày 29 tháng Giêng năm 1737 Cha ông là một tín đồ giáo phái
"Quaker", còn mẹ ông theo Anh giáo Ngay khi vào đời, ông đã nếm cảnh cùng cực thiếu thốn và làmviệc nặng nhọc Cho đến năm mười ba tuổi, Thomas Paine theo học một trường trung học
Theo lời ông thì chính tại trường này, ông đã "hấp thụ được một nền giáo dục thật là tốt và một sốkiến thức hữu ích đáng kể" Thực hành vốn trái ngược với lý thuyết - nên tài linh mẫn về khoa học vàphát minh của ông đã nổi bật lên ngay từ hồi đó và ông vẫn giữ được tài năng ấy qua suốt cả cuộc đờibận rộn
Sau thời kỳ giáo dục ngắn ngủi ấy, Paine bắt đầu tập sự học nghề của cha làm áo nịt phụ nữ
Ba năm học nghề; rồi phần thì vì cái quyến rũ của biển khơi, phần vì quá chán ngán công việc buồn
tẻ đương làm, ông đã trốn khỏi nhà để đăng vào đoàn thủy thủ tàu cướp biển "Nỗi kinh hoàng"(Terrible) do một viên thuyền trưởng có cái tên ghê gớm là Tử Thần chỉ huy Được cha giải thoát, ônglại trở về tiếp tục nghề cũ cho tới năm mười chín tuổi Rồi ông lại lao mình đăng vào đoàn thủy thủ tàu
"Hoàng đế nước Phổ", cũng một tàu cướp biển, trong một thời gian ngắn
Rồi khi đã chán cái quan niệm lãng mạn về đời thủy thủ, ông lại trở về tiếp tục nghề cha, nhưng lầnnày thì ở London chứ không ở Thetford như trước nữa Cửa tiệm ông giúp việc lần này ở gần DruryLane Lúc nhàn rỗi, ông đi dự các lớp thuyết giảng về thiên văn học
Tiếp đó là những năm buồn lo, bối rối, lạc lõng
Ở Sandwich, ông lập gia đình với một cô hầu mồ côi mẹ, nhưng chưa được một năm thì người vợnày chết Nhạc phụ ông làm nghề thu thuế công quản; và Paine cũng bị lôi cuốn vì cái nghề này dànhcho ông nhiều nhàn rỗi và nhiều lợi ích khác
Paine được thu nhận làm một viên chức sở thuế công quản
Thật không còn gì làm mất bè bạn và cảm tình một cách chắc chắn hơn nữa vì nghề của ông là bắtbọn buôn lậu, và kẻ giàu, người nghèo cũng đều chống lại ông cả Sau khi bị cất chức vì thiếu tinh thầnkhông thi hành luật lệ được nghiêm chỉnh, ông đã trở lại nghề làm áo nịt trong một thời gian ngắn, rồilại xoay qua dạy học với một số lương đói rách là 25 bảng Anh một năm ở Kensington
Được sở thuế công quản tái tuyển dụng, ông tục huyền vào năm 1771 và theo vợ cùng bà nhạc về
Trang 10làm việc trong một hiệu bán tạp hóa và thuốc lá ở Lewes, để tăng thêm thu nhập
Trong mấy năm này, Paine đã dành nhiều thì giờ để lui tới nhà White Hart Tavern, tham dự nhữngbuổi hội họp ở một câu lạc bộ xã hội với tư cách là hội viên Với mục đích xây dựng ông đã sáng tácnhững vần thơ châm biếm và những bài ca ái quốc, và có khi lại viết những bài báo về những vấn đềđứng đắn hơn, ông cũng thường hay tranh luận sôi nổi về những vấn đề hàng ngày Vì ông có tài ăn nóinên các đồng nghiệp của ông đã đề cử ông làm phát ngôn viên cho họ nhân một dịp đòi tăng lương vàcải thiện điều kiện làm việc Paine đã dành nhiều tuần lễ sau đó để chuẩn bị một bản điều trần nhan đề: "Tình trạng lương bổng của các nhân viên sở thuế công quản và ý kiến về sự thối nát bởi cái nghèotúng của nhân viên sở thuế công quản" Vào mùa đông năm 1772 - 73 , Paine đã đi London để trìnhbản thỉnh nguyện với các nghị sĩ quốc hội và các viên chức khác
Nhưng chẳng những bản thỉnh nguyện bị bác bỏ mà Paine còn bị sa thải luôn với lý do là đã saolãng bổn phận; cửa hàng bán thuốc lá bị vỡ nợ, đồ đạc, và vật dụng riêng của Paine được đem bán đểcứu ông thoát tù vì nợ, và ông phải rời xa vợ ông Thế là gần trung niên, ông lại phải sống cô độckhông một đồng dính túi
May mắn là trong thời kỳ Paine lưu trú ở London, ông đã gặp Benjamin Franklin lúc ấy đang làm ủyviên đại diện các thuộc địa Anh ở Hoa Kỳ Có thể là vì đã nhận thấy thiên tài của Paine nên Franklin
đã thuyết phục Paine hãy sang châu Mỹ thử thời vận Franklin viết cho con rể là Richard Bache ởPhiladelphia giới thiệu Paine là "một thanh niên tháo vát có giá trị", Franklin cũng đề nghị nên dùngPaine đứng bán hàng, làm phụ giáo trong một trường học, hay làm một phụ tá giám thị Lá thư củaFranklin là vốn liếng chính của Paine khi ông đặt chân đến Philadelphia vào đầu tháng Chạp năm
1774
Tuy nhiên Paine cũng đã đem theo một thứ vốn liếng loại khác quý vô giá Đó là kinh nghiệm bảnthân Ông đã biết ở bên Anh công lý đã được áp dụng tàn ác như thời cổ xưa như thế nào; ông cũng đãbiết cái nghèo hèn ty tiện; ông cũng đã từng được nghe và đã từng đọc nhiều về quyền tự nhiên của conngười, ông cũng đã thấy cái hố sâu phân cách hàng triệu dân thường với con số vài ngàn tôn thất vàquý tộc ở bên Anh, và ông cũng biết kế hoạch bầu cử vào thứ dân nghị viện Anh ở địa phương thối nát
ra sao; ông cũng không lạ gì sự đồi trụy và ngu ngốc của vương thất bên Anh lúc ấy Vì đã suy nghĩ kỹcàng về những vấn đề đó nên Paine đã có một tấm lòng trắc ẩn sâu xa đối với nhân loại, một lòng yêuchế độ dân chủ và phải khuyến khích thúc đẩy để đạt tới một công cuộc cải cách chính trị và xã hộitoàn diện
Ngay sau khi tới Philadelphia, Paine đã được một tờ báo mới ra đời lúc ấy là tờ PensylvaniaMagazine mời làm chủ bút và ông đã giữ chức vụ này gần suốt mười tám tháng là quãng thời gian tờbáo này sống được Và gần như ngay lúc ấy, nhờ xuất bản một bản tiểu luận lên án tình trạng nô lệ củangười da đen và mạnh mẽ ủng hộ công việc giải phóng những người nô lệ này, Paine đã đột nhiên mởđầu cho cái công nghiệp lâu dài chiến đấu để bảo vệ công lý của ông từ đấy trở đi
Năm tuần lễ sau, một hội những người Hoa Kỳ đầu tiên chống chế độ nô lệ đã được thành lập ởPhiladelphia Tiếp theo đó ông đã tham gia vào công việc đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, đề nghịnhững đạo luật quốc tế quy định bản quyền của các tác giả, tố cáo những tàn ác đối với loài vật, chếgiễu tập tục đấu gươm hay đấu súng, và đòi bãi bỏ chiến tranh để thay vào đó bằng đàm phán mỗi khi
có bất hòa giữa các quốc gia
Tuy nhiên chính giữa lúc ông viết những điều trên thì ông cũng không thể không đóng một vai tròquan trọng, một cuộc chiến tranh quốc tế đang lan rộng nhanh chóng Những trận đánh ở Concord,Lexington và ở đồi Bunker đã diễn ra vào mùa xuân 1775
Sau "cuộc tàn sát ở Lexington" vào tháng Tư, Paine đã viết cho Bejamin Franklin như sau : Tôi thấythật khổ tâm khi phải nghe đạn lửa tàn phá quốc gia réo bên tai đúng lúc tôi đặt chân tới
Trang 11Ở mười ba thuộc địa của Anh tại châu Mỹ, người ta rất chia rẽ về thái độ cần phải theo lúc ấy, đi từthái cực này sang thái cực khác
Người như Samuel Adams và John Hancock thì ủng hộ chiến tranh, còn nhóm bảo thủ lại vẫn trungthành với vua nước Anh
George Washington, Benjamin Franklin và Thomas Jefferson thuộc nhóm các lãnh tụ vẫn xác nhậnlòng trung thành với nước Anh và tỏ ra không mấy tin ở ý tưởng phân ly và độc lập Cả hai đệ nhất và
đệ nhị Đại lục Quốc hội đều chấp nhận những quyết định xác nhận lòng trung thành của họ đối vớiVương quyền, và chỉ thỉnh cầu được thanh thỏa những yêu sách của họ Ngay giữa những luồng tưtưởng bất nhất, giữa sự xung đột của các quan niệm và xúc động, giữa sự lôi kéo và giằng co ấy, cómột người đã nhận thấy rõ ràng chiều hướng và kết quả có thể xảy ra của các biến cố Ngay từ đầu,Thomas Paine đã quan niệm cuộc phân ly giữa Anh và Hoa Kỳ là không thể tránh được
Ông đã dành cả mùa thu năm 1775 để ghi lại những ý tưởng của ông
Trước khi xuất bản, Paine đã đưa tác phẩm của mình cho nhiều bè bạn đọc; một trong những người
bạn của ông là bác sĩ Benjamin Rush đã đề nghị nên đề tựa là Lương Tri - (Common Sense) - và đã
giúp Paine tìm một nhà xuất bản Đó là Robert Bell gốc người Scotland vừa là một nhà bán sách, vừa
ở mười ba thuộc địa đã đọc cuốn sách ấy
Mặc dầu số sách lớn lao đã bán được, Paine quyết định không nhận một đồng tiền bản quyền nào Không bao giờ trong lịch sử văn học có một cuốn sách ngay sau khi xuất bản đã có ảnh hưởng sâurộng có thể so sánh được với cuốn Lương Tri
Đó là một tiếng kèn kêu gọi những dân Mỹ thuộc địa chiến đấu cho nền độc lập của xứ sở họ không hòa giải, không do dự Paine đã chỉ cho họ thấy là chỉ có cách mạng mới là giải pháp độc nhất
-để giải quyết vấn đề tương tranh giữa họ với nước Anh và Hoàng đế nước Anh George III
Paine đã tuyên bố : "vì không có gì khác nữa ngoài sự tương tranh, vậy thì, vì Thượng đế, chúng tahãy chia tay nhau hẳn Phải chăng chúng ta đã trả quá đắt cái giá đòi thủ tiêu những sắc luật, nếu đó làtất cả những lý do chiến đấu Trả với cái giá một trận đánh ở đồi Bunker vì luật pháp hay vì đất đai
là quá điên rồ Đó không phải là việc riêng của một thành phố, một quận, một tỉnh hay là một vươngquốc, mà là của một đại lục… Đó không phải là việc làm trong một ngày, một năm hay một thời đại; cảhậu thế cũng bị liên hệ trong cuộc tranh đấu ấy Bây giờ là lúc gieo hạt giống cho tình đoàn kết giữalục địa, cho niềm tin và danh dự Dây liên lạc giữa lục địa quá lỏng lẻo Độc lập là dây liên lạc duynhất ràng buộc chúng ta lại với nhau"
Đây là một đoạn giới thiệu cuốn Lương Tri tương đối ôn hòa:
"Có thể những tình cảm nói tới trong những trang sau đây chưa được hợp thời cho lắm để được mọingười tán thưởng; nếu đã từ lâu chúng ta không cho một điều nào đó là sai thì cái thói quen đó sẽ làmcho ta thấy điều sai kia có cái vẻ bên ngoài đúng và thói quen đó sẽ khiến chúng ta lớn tiếng hò hétbênh vực cho phong tục Nhưng rồi sự xôn xao ấy sẽ sớm lắng dần xuống Thời gian làm cho người tathay đổi ý kiến nhiều hơn là lẽ phải"
Phần đầu cuốn sách nhỏ này luận về nguyên thủy và bản chất của chính quyền với sự ứng dụng đặcbiệt vào hiến pháp của nước Anh Triết lý về chính quyền của tác giả đã được diễn tả ra trong một sốnhững câu đại loại như sau:
"Chính quyền, ngay cả khi ở một tình trạng tốt đẹp hơn hết, cũng chỉ là một thứ tội ác cần thiết ; ở
Trang 12tình trạng tồi tệ hơn hết thì chính quyền ấy ở thế không thể dung thứ được Chính quyền, cũng như yphục, là biểu hiện của tình trạng ngây thơ đã mất; cung điện của vua chúa đã được xây dựng trên nhữngcăn lều đổ nát nơi thiên đường Văn minh càng hoàn hảo bao nhiêu thì nền văn minh ấy càng ít có dịp
có một chính quyền hoàn hảo bấy nhiêu"
Paine lý luận là nguồn gốc và nguyên ủy của chính quyền đã "vì thế giới không cai trị được bằngđức hạnh, mà trở nên cần thiết; đây cũng là mục đích của chính quyền, tức là tự do và an ninh"
Giữa xã hội và chính quyền có một dị biệt sâu sắc Con người bị lôi cuốn vào xã hội, vì qua sự hợptác với người khác, một số nhu yếu cần thiết của con người có thể được thỏa mãn Trong tình trạngnày, con người có một số quyền tự do bình đẳng Đúng lý tưởng thì con người phải được sống tronghòa bình và hạnh phúc mà không có chính phủ, nếu như những "xúc động của lương tâm" được "trongsáng, thuần nhất, và được tuân theo một cách không cưỡng lại được" Vì con người vốn hèn yếu và bấttoàn trên phương diện đạo đức nên mới cần đến một quyền thế để kìm hãm họ lại; và quyền thế đó là
do chính quyền mà có Tuy nhiên an ninh, tiến bộ và niềm an ủi của con người lại lệ thuộc vào xã hộinhiều hơn là vào chính quyền Tập quán và phong tục xã hội, mối liên lạc và quyền lợi giữa người vớingười có ảnh hưởng mạnh hơn là những thể chế chính trị
Sau đó Paine đã "trình bày một vài nhận xét về hiến pháp mà người Anh vốn lấy làm tự hào" Ôngphê bình như sau : "Phải nhìn nhận rằng hiến pháp ấy đã là cao thượng vì được quy định vào giữa mộtthời kỳ nô lệ và đen tối Khi bạo lực chà đạp thế gian thì chỉ một sự thoát ly nhỏ nhoi khỏi bạo lực ấycũng đã là một cứu rỗi vẻ vang rồi Nhưng có thể chứng minh dễ dàng cái bất toàn, và cái mầm rốiloạn trong hiến pháp ấy cũng như không thể thực hiện được những gì mà có vẻ đã hứa hẹn" Để đượccoi là bổn phận chính yếu của chính quyền tức là trách nhiệm, thì Paine lại cho là hoàn toàn không cótrong hiến pháp Anh Hiến pháp ấy phức tạp đến nỗi thật không thể nào xác định được ai là kẻ chịutrách nhiệm về bất cứ một điều gì Phần độc nhất đáng ca ngợi trong hiến pháp ấy là quyền của ngườidân Anh, ít nhất là trên lý thuyết, là được cử người vào Hạ nghị viện
Paine đề nghị một chế độ có một quốc hội lập pháp được bầu cử theo thể thức dân chủ cho cácthuộc địa [1] một Tổng thống và một nội các, với ngành hành pháp chịu trách nhiệm trước quốc hội Nhưng Paine đã dành cho thể chế quân chủ kế thừa những lời lẽ phũ phàng hơn hết và niềm khinh bỉđau độc hơn hết Ông tấn công toàn thể nguyên tắc của chế độ quân chủ, và đặc biệt là thể chế quân chủnước Anh
"Chế độ quân chủ trước hết được những kẻ dị giáo đưa vào thế giới; rồi dân Do Thái (Israel) rậptheo tập tục ấy Đó là một phát minh thành công hơn hết của ma quỉ để dẫn dắt đến sự tôn thờ ngẫutượng Người dị giáo thần thánh hóa những ông vua đã qua đời của họ Chúng ta đã đem cái tội ác thừa
kế nối ngôi ghép thêm vào cái tội ác quân chủ chế độ Và khi cái tội ác quân chủ chế độ là một bạihoại và hạ thể chúng ta thì tội ác thừa kế nối ngôi được đòi hỏi như một vấn đề chính nghĩa, lại là một
xỉ nhục và bắt buộc đối với hậu thế Một trong những chứng cớ tự nhiên chắc chắn hơn hết về cáiđiên rồ của quyền thừa kế ngôi vua là Tạo hóa đã bài bác quyền ấy Tạo hóa đã chẳng thường đemquyền ấy ra mà giễu cợt khi khiến cho các vua chúa sinh ra những kẻ thừa kế bất tài, bạc nhược sao ?" Trong con mắt Paine, quyền thừa kế ngai vàng ở Anh thật đáng nghi ngờ nếu đi ngược dòng thời giantới thời kỳ nước này bị chinh phục Ông đã viết :"Một đứa con hoang người Pháp, đã đổ bộ lên vớimột bầy cướp võ trang rồi tự lập làm vua nước Anh dù không có sự đồng tình của dân bản xứ, nóiđúng ra chỉ là một kẻ lừa bịp láo lếu Chắc chắn là không làm gì có chuyện thiên mệnh ở đây" Nếuchế độ quân chủ bảo đảm chỉ sản xuất ra có những con người tốt và khôn ngoan, thì cũng chẳng có gì làđáng trách cứ, nhưng chế độ ấy đã mở cửa cho những kẻ ngu ngốc, những kẻ tàn ác và những kẻ khôngxứng đáng người nào tự coi mình như sinh ra để mà trị vì, còn những kẻ khác sinh ra để tuân lệnh, sẽsớm trở thành ngạo mạn; được tuyển chọn ưu đãi trong đa số nhân loại, còn lại đầu óc họ sẽ sớm bị
Trang 13đầu độc vì địa vị Khi lên nắm chính quyền, thường thường họ là những kẻ ngu dốt hơn ai hết, vàkhông thích đáng với địa vị hơn ai hết trong suốt bờ cõi Để cho những ông vua còn nhỏ tuổi hay quálão ngự trị trên ngai vàng cũng tạo ra vô vàn điều bất hạnh; trong trường hợp trước, thực quyền cai trịđất nước ở trong tay một nhà nhiếp chính, và trong trường hợp sau, quyền ấy lại lệ thuộc vào tính tìnhbất nhất của một ông vua quá già, suy nhược
Để chống lại lập luận cho rằng chế độ quân chủ thừa kế ngăn ngừa được nạn nội chiến, Paine đãnhấn mạnh là từ ngày bị thôn tính, Anh đã trải "không dưới tám lần nội chiến và mười chín cuộc nổiloạn"
Ông kết luận:
Ở Anh - một ông vua chả có gì để làm hơn là gây chiến và làm mất đất, nói nôm na là đã làm nghèoquốc gia và gây ra những mối bất hòa ở trong nước Thật là một chuyện tốt đẹp cho một người mỗinăm được lĩnh tám trăm ngàn bảng Anh và lại còn được tôn thờ luôn nữa! Đối với xã hội và Thượng
đế, một người lương thiện còn có giá trị nhiều hơn là tất cả những tên vua chúa bất lương từ trước đếnnay
Trong nhiều đoạn Paine đã đặc biệt gắt gao chua chát đối với Hoàng đế Georges đệ tam Sau trậntàn sát ở Lexington, ông viết :"Tôi không nhìn nhận tên Hoàng đế Pharaông này của nước Anh, một ôngvua có tâm tính chai đá, cau có; tôi khinh cái kẻ vô hạnh, với cái danh hiệu giả mạo; Cha của thần dân
đã có thể bình tâm nghe con dân bị tàn sát, và vẫn ngủ yên được với máu của họ trong lương tâm" Trong một đoạn sau ông thêm :"Có người hỏi : Còn vua Mỹ thì ở đâu ? Tôi sẽ trả lời bạn là ông ấyngự trị ở trên và không gây tai họa gì cho nhân loại như là tên hôn quân ở nước Anh"
Sau khi đã phát biểu mạnh mẽ những ý tưởng bình dân về một chính thể quân chủ, Paine đã đề cậpđến "Một vài ý nghĩ về hiện trạng doanh thương Mỹ" Ông đã nhấn mạnh vào những nhân chứng kinh tế
để chủ trương phân ly với nước Anh Về chủ trương của nhóm Tories[2] cho rằng châu Mỹ đã pháttriển nhờ mối liên hệ với Anh, Paine đã trả lời:
"Châu Mỹ cũng đã phát triển như hiện nay và chắc chắn là hơn thế nữa, nếu không còn một quốc giachâu Âu nào có bất cứ một liên quan gì với châu Mỹ Những sản phẩm thương mại nhờ đó châu Mỹ trởnên giàu có được, là những nhu yếu của đời sống, luôn luôn sẽ có thị trường khi mà dân châu Âu vẫncòn cần ăn Lúa mì của chúng ta sẽ bán được giá trên bất cứ một thị trường châu Âu và những thứhàng hóa mà chúng ta phải bỏ tiền ra nhập cảng, chúng ta sẽ mua ở nơi nào chúng ta muốn"
Paine đã bác bỏ luận điệu cho rằng Anh đã che chở cho thuộc địa của mình chống lại người TâyBan Nha, người Pháp và người da đỏ với lời bình luận như sau:
"Nước Anh có thể sẽ bảo vệ nước Thổ Nhĩ Kỳ vì những lý do tương tự là để bảo vệ an toàn cho nềnthương mại và thuộc quốc của mình", và trong bất cứ trường hợp nào, sự bảo vệ ấy cũng được thựchiện bằng "tiền của chúng ta cũng như là tiền của nước Anh"
Paine thừa nhận là một trong những dây liên lạc bền chặt hơn hết đã ngăn cản Hoa Kỳ phân ly vớinước Anh là cái quan niệm đầy tình cảm coi nước Anh như một mẫu quốc Nếu đúng như thế, thì "hành
vi kia của nước Anh lại càng thêm sỉ nhục hơn nữa Ngay các thú dữ cũng không ăn thịt con, và ngay
cả đến những dân mọi rợ cũng không khai chiến với chính gia đình họ Từ ngữ quốc gia họ hàng haymẫu quốc đã được Hoàng đế Anh và bọn thần tử ký sinh giả nhân giả nghĩa chấp dụng, với cái hậu ýthấp kém là để gây một ảnh hưởng bất chính đối với lòng dễ tin của chúng ta Châu Âu là quốc gia bàcon của châu Mỹ, chứ không phải nước Anh"
Ông nhấn mạnh rằng Tân thế giới đã từng là "nơi trú ngụ cho những người ở khắp cả châu Âu bịngược đãi vì yêu chuộng quyền tự do công dân và tự do tín ngưỡng Ngay tại tỉnh này cũng không cótới một phần ba dân số thuộc dòng giống người Anh Vì vậy, tôi cả quyết cho rằng từ ngữ nước mẹ haynước anh em chỉ áp dụng cho nước Anh là sai lầm, ích kỷ, thiển cận và hẹp hòi"
Trang 14Paine cho rằng có rất nhiều điểm bất lợi trong việc tiếp tục liên hệ với nước Anh Và ta đã thấyđược trong đoạn ông viết sau đây một phần nào ý kiến mà sau này được diễn tả ra qua lời cảnh cáocủa George Washington, đó là phải "sáng suốt trong đường lối liên minh thường xuyên với bất cứ miềnnào trên thế giới hải ngoại" và qua chính sách của Thomas Jefferson như sau "Hòa bình, mậu dịch, vàtình bạn chân thật với tất cả mọi quốc gia - không liên kết riêng với bất cứ một quốc gia nào"
"… Vì, bất cứ sự tùng phục hay sự lệ thuộc nào vào nước Anh cũng đều lôi cuốn thẳng lục địa nàyvào những cuộc chiến tranh và tranh chấp ở châu Âu, và sẽ gây ra cho chúng ta những mối bất hòa vớinhững quốc gia khác đang tìm cách kết thân với chúng ta Đối với những quốc gia ấy, chúng ta chẳnggiận hờn cũng chẳng phiền trách Vì châu Âu là thị trường mậu dịch của châu Mỹ, vậy chúng ta phảitránh những liên hệ thiên vị với bất cứ phần đất nào ở đó Quyền lợi chính của châu Mỹ là tránh xakhỏi những cuộc tranh chấp ở châu Âu
Điều mà chúng ta không bao giờ có thể làm được vì sự phụ thuộc với Anh, là chúng ta phải nghiêng
về phía nước Anh để làm tăng giá trị cho chính sách của quốc gia này Châu Âu khó có hòa bình lâudài vì chế độ vương quốc đã bắt rễ quá đậm ở đây, và khi xảy ra chiến tranh giữa nước Anh với bất
cứ một quốc gia nào, nền thương mại của châu Mỹ sẽ sụp đổ, vì châu Mỹ liên hệ với Anh
Những điều bất tiện lợi nhiều vô kể trong guồng máy chính quyền Anh, sau khi được kiểm điểm lại,Paine kết luận:
"Anh không đủ sức thi hành công lý ở cái đại lục này, công việc ấy sẽ sớm trở thành nặng nề và rắcrối khó có thể điều hành cho có kết quả khả quan được, nếu quyền lực ấy xa chúng ta quá và khônghiểu gì về chúng ta cả; vì nếu quốc gia ấy không thể chinh phục ta được, ắt họ không thể cai trị tađược Gửi một bản báo cáo hay một bản thỉnh nguyện đi một nơi xa hàng ba, hay bốn ngàn hải lý, rồiđợi chờ tới bốn hay năm tháng mới nhận được trả lời, rồi cần phải tới năm hay sáu tháng nữa để giảithích; chỉ trong vài năm sự việc này thành điên rồ và ngây ngô Cho rằng một hải đảo sẽ vĩnh viễn caitrị một đại lục thì thật là phi lý Chưa bao giờ ta thấy có trường hợp một vệ tinh lại lớn hơn là mộthành tinh chính của nó"
Đối với những người hoài nghi và yếu bóng vía còn tin là Hoa Kỳ vẫn có thể sống hòa nhịp và hòagiải với Anh được, Paine đã viện đến những lý lẽ cảm động như sau:
"Bạn có thể trả lại cho chúng tôi quãng thời gian đã qua đi không ? Bạn có thể hoàn lại cái trongtrắng thuở ban đầu cho một cô gái điếm không ? Cũng như bạn sẽ chẳng thể nào hòa giải được nướcAnh và châu Mỹ Bây giờ sợi dây cuối cùng đã đứt rồi, dân ở Anh đang chống lại chúng tôi rồi Cónhững sự tổn hại mà tạo hóa không thể tha thứ được; vì nếu tạo hóa có thể tha thứ được những tổn hại
ấy thì tạo hóa không còn là tạo hóa nữa Cũng giống như một người đã yêu không tha thứ cho kẻ đãcướp mất người tình của mình thì đại lục này sao lại tha thứ được cho những người Anh sát nhân! Trong khi áp bức còn đè nặng lên thế giới bên ngoài, châu Mỹ phải mở rộng cánh cửa tự do và sửasoạn một nơi ẩn trú cho những người bị ngược đãi"
Paine đã dành chương cuối cùng cuốn sách nhỏ của ông cho một vài nhận xét rất thực tế về "khảnăng hiện thời của châu Mỹ", nhằm phác họa công trình xây dựng lòng tự tin của người Mỹ và thuyếtphục họ rằng họ có nhân lực, kinh nghiệm chế tạo và nguyên liệu thiên nhiên chẳng những đủ để đánhbại được Anh mà nếu cần còn thắng được cả thế giới thù địch chống lại họ nữa Hoa Kỳ hồi đó còn làthuộc địa đã có một đạo quân lớn được võ trang và có kỷ luật Chỉ trong một thời gian ngắn, người ta
có thể kiến tạo một hạm đội so sánh được với Anh vì nhờ có một số lượng đáng kể như dầu chai, cây,sắt và dây nhợ , và "Đóng tàu là cái tài mà Mỹ vẫn lấy làm hãnh diện hơn hết, nên sớm muộn rồi Mỹcũng sẽ vượt được toàn thế giới" Một hạm đội là một điều cần thiết trong bất cứ trường hợp nào, đểphòng thủ và bảo vệ, vì lẽ hạm đội Anh "ở cách xa đây ba hay bốn ngàn hải lý đã tỏ ra rất ít hứa hẹn
và trong những trường hợp bất ngờ, thì lại hoàn toàn vô hiệu"
Trang 15Về sau Paine bị lôi cuốn vào những cuộc tranh luận về tôn giáo Ghi lại quan điểm của Paine về vấn
đề tôn giáo ở giai đoạn này trên đường sự nghiệp của ông là một điều lợi ích:
"Về vấn đề tôn giáo thì tôi chủ trương rằng bổn phận thiết yếu của tất cả mọi chính phủ là phải chechở tất cả mọi tín ngưỡng, và tôi thấy không còn việc nào mà một chính phủ lại cần phải làm hơn làviệc ấy nữa Một luận chứng có vẻ như muốn chống lại một Giáo hội được thiết lập và có chủ trươngphân quyền giữa Giáo hội và quốc gia Riêng tôi thì tôi hoàn toàn tin tưởng một cách có ý thức là sở
dĩ có những dị biệt về quan niệm tôn giáo ở giữa chúng ta là vì đó là phạm vi Đấng Toàn Năng : điều
đó làm cho phạm vi lòng nhân ái của đạo Ki-tô chúng ta trở thành rộng lớn hơn Nếu chúng ta chỉ biếtsuy tưởng có một chiều, thì khuynh hướng tôn giáo của chúng ta sẽ cần phải được thử thách, chứngminh; và trên nguyên lý tự do ấy, tôi thấy tên các loại tôn giáo khác nhau giữa chúng ta cũng giống nhưtên các đứa trẻ trong một gia đình, có khác là điểm tên thánh mà thôi"
Tóm lại những lý do khiến ông tin tưởng là "không có gì giải quyết được nhanh chóng những vấn đềcủa chúng ta cho bằng một bản tuyên ngôn độc lập rõ ràng và dứt khoát", Paine đã viện ra bốn yếu tố
để kết luận cuốn Lương tri:
1 Bao lâu mà Hoa Kỳ còn bị coi là thuộc quốc của Anh thì sẽ không có một quốc gia nào khác lại
có thể đứng ra hòa giải những mối bất hòa giữa Anh và Hoa Kỳ;
2 Nước Pháp hay Tây Ban Nha sẽ chẳng giúp Hoa Kỳ để nối kết lại sự đứt đoạn và siết chặt lạimối bang giao giữa Hoa Kỳ và Anh, vì làm như thế sẽ thiệt hại cho quyền lợi của quốc gia họ;
3 Khi người dân Mỹ nhìn nhận mình là thần dân của Anh thì những quốc gia khác sẽ coi họ như lànhững kẻ phiến loạn, và do đó chỉ được ít cảm tình cho họ;
4 Kết quả sẽ cực kỳ tốt đẹp nếu dân Mỹ lập một bản tuyên ngôn nói rõ sự bất bình và ý định cắt đứtmọi liên hệ với Anh để gửi tới tất cả mọi quốc gia khác, bày tỏ ý chí hoà bình thân thiện và sự mongmuốn thiết lập bang giao thương mại với các quốc gia ấy
Để kết luận, Paine vẫn chủ trương là
…Cho đến khi độc lập được tuyên bố, Hoa Kỳ sẽ vẫn cảm thấy như một người cứ lần lữa hoãn lạihết ngày này sang ngày khác một công việc khó chịu, tuy vẫn biết là việc đó phải giải quyết; vẫn ghétbắt tay vào việc; mà vẫn mong cho việc đó xong đi, và vẫn cứ luôn luôn bị ám ảnh vì những ý tưởngcủa công việc cần thiết đó
Vì vậy, thay vì nhìn nhau e ngại nghi ngờ, mỗi người trong chúng ta hãy chìa bàn tay thành thật thânhữu cho người láng giềng của ta và đoàn kết lại để vạch ra một đường lối, một đường lối được coi như
là một cử chỉ vị tha, sẽ chôn vùi trong lãng quên tất cả mọi bất hòa trước Hãy để cho cái tên đảng Tự
do và đảng Bảo thủ tàn lụi đi Và chúng ta chớ nên để lọt vào tai bất cứ những gì không phải là điều :một công dân tốt, một người bạn cởi mở và kiên quyết, và chân thành ủng hộ quyền lợi của nhân loại
và một châu Mỹ với những quốc gia tự do và độc lập
Đó là nội dung bức Thông điệp cách mạng do cuốn Lương Tri thông báo cho dân Mỹ đi từ những lý
lẽ bình phàm, thực tế, thiết thực cho tới những lời kêu gọi trĩu nặng tình cảm, mãnh liệt có khuynhhướng của một kẻ sinh ra đã có máu phiến động
Hậu quả cấp biến và mãnh liệt của cuốn Lương Tri có thể dẫn chứng được bằng những đoạn tríchtrong những văn kiện của một số các nhà lãnh tụ đương thời lưu lại
Những mối hồ nghi của George Washington đã tan biến khi ông viết cho Joseph Reed ở Norfolk:"Chỉ một vài bằng chứng nảy lửa nữa như những bằng chứng đã được phô diễn ở Falmouth vàNorfolk thêm vào với cái lý thuyết đúng và phép lý luận vững chắc chứa đựng trong cuốn sách nhỏLương Tri sẽ không làm cho người ta phải bối rối quyết định về tính cách thích đáng của vấn đề phân
ly nữa"; và một vài tuần sau cũng lại George Washington đã viết cho Reed : "Nhờ những lá thư riêngvừa ở Virginia gửi tới, tôi thấy cuốn Lương Tri của Paine đã làm cho tư tưởng nhiều người ở đó thay
Trang 16đổi một cách thật kỳ diệu" John Adams cũng đã viết cho bà vợ ông như sau :"Tôi gửi mình một cuốnsách nhỏ nhan đề là Lương Tri, viết để bênh vực những lý thuyết mà chúng ta có lý do để hy vọng sẽsớm tạo thành tín ngưỡng chung của mọi người" Sau khi đọc xong, Abigail đã trả lời lá thư đó như sau: "Lương Tri, giống như một tia sáng, đã tới đúng lúc để làm sáng tỏ những mối nghi ngờ và ấn định sựlựa chọn của chúng ta"
Benjamin Rush đã viết : "Những tác phẩm của Paine đã tung nổ ngay từ máy in với một hiệu quả ítthấy trong làng sách báo vào bất cứ thời nào và ở bất cứ xứ sở nào"; Tướng Charles Lee đã thêm :
"Tôi nhìn nhận tác phẩm ấy đã thuyết phục được tôi"; Franklin ghi nhận là : "Tác phẩm ấy đã có mộthiệu quả phi thường"; và William Henry Drayton đã thuật lại là : "Bản tuyên ngôn đó đến như mộttiếng sét nổ giữa các nghị sĩ" của Quốc hội Đại lục
Trong cuốn Lịch sử Cách mạng Hoa Kỳ, Sir George Trevelyan đã bình luận như sau :
"Thật khó mà đặt tên cho một tác phẩm đã có ngay một hiệu quả cấp kỳ, bao la và lâu dài đến nhưthế Cuốn sách đó đã được ăn cắp, trích lục, nhại lại và bắt chước phiên dịch sang tiếng của mọiquốc gia đang khao khát chế độ tân Cộng hòa Cứ theo như báo chí đương thời thì cuốn Lương Tri đãcho hàng ngàn người tán thành chủ trương độc lập mà trước đấy họ không thể chịu đựng được ý tưởng
đó Tác phẩm đó đã tạo được phép lạ và biến nhiều người thuộc nhóm Tories[3] thành người của pheWhigs[4]
Trong vòng có vài tháng sau khi cuốn Lương Tri xuất hiện, đa số các tiểu bang đã chỉ thị các đạidiện của họ bỏ phiếu ủng hộ nền độc lập của Hoa Kỳ, chỉ có tiểu bang Maryland là tỏ ra do dự vàNew York là chống lại Vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, chưa đầy sáu tháng sau khi cuốn sách nhỏ danhtiếng của Paine được phát hành, Quốc hội họp tại Philadelphia đã tuyên bố Hoa Kỳ là một quốc giađộc lập ở Châu Mỹ Mặc dù Paine không viết bản tuyên ngôn độc lập đó, song ông đã cộng tác chặtchẽ với Thomas Jefferson khi bản tuyên ngôn được soạn thảo và ngoại trừ điều khoản chống nô lệ màPaine ủng hộ, bị bỏ qua không đề cập đến, những nguyên tắc Paine đã đề ra đều được ghi vào bảntuyên ngôn nổi tiếng này
Tuy nhiên cuốn Lương Tri lại chỉ có một ảnh hưởng gián tiếp tới sự nghiệp của đời Paine về sau đó
Ta có thể kể sơ qua được điểm nổi bật nhất Ngay sau khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập, ông đã gia nhậpđoàn quân Cách mạng Là một phát ngôn viên hoạt bát vì chính nghĩa Hoa Kỳ, ông đã hăng say gópphần vào công cuộc xây dựng nền thống nhất và tinh thần quốc gia bằng một loạt tác phẩm nhỏ, mỗicuốn đều có nhan đề là Cuộc khủng hoảng Cuốn đầu tiên được bắt đầu bằng những dòng sau : "Đây làlúc thử thách dũng khí của mọi người Trong cuộc khủng hoảng này, người chiến sĩ và nhà ái quốc tùythời [5] sẽ co đầu rụt cổ trước bổn phận đối với xứ sở, nhưng kẻ nào ở trong hàng ngũ chiến đấu lúcnày thì kẻ ấy đáng được mọi người yêu mến và biết ơn" Vài tháng sau nhận thấy Paine có tài tuyêntruyền và xây dựng tinh thần các chiến sỹ, Quốc hội đã rút ông ra khỏi quân đội và cử ông làm Thư ký
ủy ban Ngoại giao - nói đó đúng là vị Ngoại trưởng đầu tiên của Hoa Kỳ Những cuộc tranh luận xungkhắc đã buộc ông phải từ chức, và sau đó ông được cử giữ chức vụ Thư ký Quốc hội Tiểu bangPennsylvania
Vào năm 1781, ông được cử sang Pháp cùng với John Laurens để vận động chính phủ nước này trợgiúp về tài chính cho chính phủ Hoa Kỳ lúc ấy đang lâm bước cực kỳ khó khăn; cũng ngay trong năm
đó, ông đã trở về Hoa Kỳ với tiền bạc và nhiều vật dụng trợ giúp khác
Vào năm 1783, là năm Cách mạng đã hoàn tất, Paine quay sang những phát minh về cơ khí; ông đã
vẽ kiểu cây cầu treo bằng sắt đầu tiên và ông cũng đã thí nghiệm về năng lực của hơi nước Painequyết định tham khảo ý kiến các kỹ sư Pháp và Anh về một số vấn đề kỹ thuật, nên tới năm 1787, ônglại sang châu Âu và lưu lại đây mười lăm năm
Cuộc Cách mạng Pháp nổ bùng ít lâu sau khi Paine tới châu Âu, ông đã nhiệt liệt ủng hộ vì ông cho
Trang 17biến cố năy lă một chứng minh cho những ý tưởng dđn chủ của ông trước kia Để bính vực cuộc câchmạng vă để đâp lại những lời công kích của Edmund Burke, ông đê viết tâc phẩm nổi tiếng Nhữngquyền lợi của con người Vì những lý thuyết trình băy trong tâc phẩm trín, ông buộc phải vội vê trốnkhỏi Anh để khỏi bị bắt vì tội phản quốc
Ông trốn sang Phâp vă được bầu văo Quốc ước Hội nghị Hội đồng câch mạng với tư câch đại diệncho thănh phố Calais; vì nhằm mục đích cứu vua Louis thứ 16 thoât khỏi bị xử tử, Paine đê tuyệt giaovới những nhă câch mạng quâ khích như Robespierre vă Marat Nín khi nhóm năy lín nắm chínhquyền, họ cho bắt Paine, vă giam giữ ông mười thâng Ông bị tước bỏ danh hiệu công dđn danh dựPhâp; vă thiếu chút nữa thì bị đưa lín đoạn đầu đăi Ông được trả tự do nhờ sự can thiệp của Đại sứHoa Kỳ James Monroe vă về nghỉ dưỡng sức ở nhă vị Đại sứ năy
Tâc phẩm vĩ đại của Paine văo thời kỳ năy lă The Age of Reason (Tuổi trưởng thănh) Đôi khi tâc
phẩm năy được coi như lă một "bản Thânh kinh của những người vô thần"
Thật ra Paine lă một người ngoan đạo, tin tưởng nơi một Thượng đế vă tin về đời sau vă dù đê chỉtrích bản Cựu Ước nặng nề, tâc phẩm The Age of Reason đê được Paine viết để chống lại lăn sóng vôthần mạnh mẽ đê trăn ngập nước Phâp trong thời Câch mạng Tuy nhiín, câc nhă thần học vă câc nhómChính thống giâo đê gay gắt lín ân Paine lă một kẻ vô tín ngưỡng vă cấp tiến nguy hiểm
Khi Paine trở về Mỹ năm 1802, ông không còn được tiếp đón như một vị anh hùng câch mạng nữa.Trâi lại, câc nhă lênh tụ chính trị vă những giâo hữu ngoan đạo coi như đê thực sự khai trừ ông, vì ông
lă tâc giả cuốn The Age of Reason vă cũng vì những thuyết chính trị cấp tiến của ông
Khi ông đê an cư ở New Rochelle thuộc thănh phố New York, ông đê bị truất mất quyền bầu cử với
lý do ông không phải một công dđn Mỹ Người ta cũng đê tìm câch mưu sât ông
Sau bảy năm trời bị hắt hủi tăn nhẫn, bị thù ghĩt không thể tưởng tượng được, bị bỏ rơi, nghỉo năn
vă đau yếu liín miín, ông đê mất văo năm 1809, thọ 72 tuổi Người ta đê khước từ không cho chônông ở nghĩa địa của giâo phâi "Quaker"
Những nỗi khổ đau, những lọc lừa giả dối vă những tổn hại bạo tăn trong những năm cuối cùng củaPaine vẫn tồn tại cho tới mêi thời gần đđy Thĩodore Roosevelt vẫn coi Paine lă một kẻ "vô thần nhỏ
bĩ vă ghí tởm" mặc dù Paine chẳng ghí tởm, chẳng nhỏ bĩ vă cũng chẳng vô thần, cũng như danh hiệu
"đế quốc" gân cho Tòa thânh La Mê mă Tòa thânh La Mê chẳng phải lă một đế quốc, vă cũng chẳngphải lă La Mê Cho tới năm 1933 một chương trình nói về Paine đê bị cấm phât thanh ở đăi NewYork Rồi tới năm 1945, tín ông mới được ghi văo đăi kỷ niệm những danh nhđn của Hoa Kỳ, tức lẵng chỉ được hưởng vinh dự ấy bốn mươi lăm năm sau ngăy thănh lập đăi kỷ niệm năy Cũng trongnăm đó, thị trấn New Rochelle đê phục hồi quyền công dđn bị truất từ năm 1806 cho vị anh hùng Câchmạng Paine
Có lẽ ông lă người xứng đâng với danh hiệu "Người khai sâng nước Hoa Kỳ độc lập" hơn ai hết.Ông lă người đầu tiín đê dùng danh từ "Hợp Chủng Quốc ở chđu Mỹ" Chính ông đê tiín đoân lă danhhiệu "Hợp Chủng Quốc ở chđu Mỹ" sẽ rền vang trong lịch sử y như danh hiệu Vương quốc Anh vậy.Chính ông đê tuyín bố : "Trong một giới hạn rộng lớn, chính nghĩa của Hoa Kỳ lă chính nghĩa của toănthể nhđn loại" Không có dấu hiệu năo chứng tỏ bản tính của Paine rõ hơn cđu : "Nơi năo không có tự
do thì nơi đó lă đất nước tôi" mă ông đê dùng để đâp lại cđu : "Đđu có tự do thì đó lă đất nước tôi"của Franklin
Ngay ở thời ông, cũng không phải chỉ toăn có những người hận thù vă hiểu lầm ông Andrĩ Jackson
đê dâm nói lă : "Thomas Paine không cần đến những đền đăi kỷ niệm do băn tay con người xđy cất;ông đê tự xđy cất cho ông một đăi kỷ niệm trong thđm tđm tất cả những người yíu chuộng tự do"
_
[l] Đđy lă nói về câc thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ lúc bấy giờ vẫn chưa nổi lín chống lại Anh để
Trang 18lập thành Hoa Kỳ như ngày nay
[2] Nhóm Bảo thủ ở Mỹ chủ trương không nên tách rời khỏi Anh vào thời Hoa Kỳ mở cuộc chiếntranh phân ly với nước này và sau đó trở thành một quốc gia độc lập
cả trăm năm sau khi Adam Smith qua đời, bộ sách mới có ảnh hưởng toàn diện
Năm 1776, có thể rất hợp lý gọi là năm kết thúc một giai đoạn và mở đầu cho một giai đoạn khác.Cuộc cách mạng Mỹ đã bùng nổ, cuộc cách mạng Pháp đang âm ỉ, và cuộc cách mạng kỹ nghệ đượcchâm ngòi bằng sự phát giác ra năng lực hơi nước, đang xúc tiến mau lẹ Một nhà bình luận đã gọi thờitrước đó là "thời Tăm tối của Hiện đại" Ở Anh, mọi lãnh vực sinh hoạt kinh tế, gần như nằm dưới sựkiểm soát chặt chẽ của nhà nước Giá cả, lương bổng và giờ lao động đều được ấn định, sự sản xuấtđược qui định, nền ngoại thương, kể cả xuất nhập cảng, hoàn toàn ở trong tay nhà nước định đoạt.Chiến tranh gần như là một biến cố thường trực Chính sách Quốc gia chủ trương quân lực và hải quânmạnh, dân số đông, giành giật, cướp thuộc địa ở khắp thế giới, và làm suy yếu những quốc gia đối thủthí dụ như Pháp, bằng đường lối cạnh tranh chính và bất chính Giai cấp cầm quyền chống đối lại dữdội mọi đề nghị nhằm phân phối tài sản một cách công bình Giáo dục chỉ dành cho một thiểu số được
ưu đãi, hình luật vô cùng khắc nghiệt, dân quyền chỉ có ở trên lý thuyết nhiều hơn là trong thực tế
Đã qua bao thế hệ, giai cấp quí tộc địa chủ vẫn nắm giữ guồng máy nhà nước, nhưng một giai cấpmới và mạnh gồm những nhà buôn, nhà kỹ nghệ, đã mọc lên, đòi hỏi và được thụ hưởng những đặcquyền riêng Theo quan điểm của giai cấp mới này thì xuất cảng là đáng cầu, nhập cảng là tai họa, tiềnkhông được ra khỏi xứ, cán cân thương mại phải giữ sao cho có lợi, lương công nhân phải hạ, giờ laođộng phải nhiều, quan thuế phải cao để bảo vệ hàng nội hóa, cần phải có một hạm đội hàng hải thươngthuyền hùng hậu và sau hết là mọi biện pháp giúp đỡ thương giới phải làm sao cho có lợi cho cả quốcgia Dưới áp lực của giai cấp mới, quốc hội đã chấp thuận nhiều đạo luật dựa vào những quan niệm kểtrên
Trong tình trạng đó, Adam Smith xuất hiện với ý định phá vỡ những thành kiến mà ông cho là sailầm và nguy hại Cuộc đời của Smith từ trước cho đến giai đoạn này có thể coi như một sự chuẩn bịcho công trình vĩ đại mà ông đang bắt tay vào Sinh quán ở Scotland, năm 14 tuổi (1737) Smith ghi têntheo học trường đại học Glasgow Tại đây Smith thụ giáo với Francis Hutcheson, một giáo sư lỗi lạc,vẫn thường nhắc nhở niềm tin tưởng ở nguyên tắc : "Hạnh phúc tối đa của đại đa số" Chính niềm tin
đó của Francis Hutcheson đã trở nên chủ thuyết của Smith Sau đó ông theo học trường đại họcOxford, và trong sáu năm ở đây ông dành rất nhiều thì giờ để đọc đủ các loại sách Trở về Scotland,
Trang 19Smith làm giảng sư ở Edinburgh, và đến năm 1751 ông được bổ làm giáo sư luân lý và siêu hình học,rồi ít lâu sau làm giáo sư triết học (moral philosophy) tại trường đại học Glasgow Trong 12 năm liềnông được nổi tiếng vì có biệt tài giảng dạy, và nổi tiếng về một tác phẩm bán rất mạnh nhan đề là
"Triết lý về các tình cảm luân lý" - một tác phẩm được dư luận đương thời coi có giá trị hơn bộ Quốcphú luận Vì được trả lương hậu hĩ hơn, Smith từ chức giáo sư để làm bạn đồng hành và là thầy dạy tưcho một nhà quí tộc trẻ tuổi trong cuộc du lịch ba năm ở châu Âu Trong chuyến đi này ông đã làmquen với các nhà kinh tế học, triết lý và chính trị học nổi tiếng ở châu Âu, nhất là ở Pháp
Từ năm 1759, Adam Smith đã phác định nội dung bộ sách sau này là bộ Quốc phú luận Ông mất rấtnhiều thời gian suy tư, nghiên cứu, quan sát, tiếp xúc với đủ mọi lớp người, mất rất nhiều thời gianduyệt đi duyệt lại trước khi trao tác phẩm vĩ đại của đời ông cho nhà in Ba năm trước khi sách xuấtbản, ông luôn có mặt ở London thảo luận về nội dung Quốc phú luận với Benjamin Franklin, khi đó làđại diện của Mỹ thuộc Anh Ngày 9 tháng 3 năm 1776, bộ Quốc phú luận của Adam Smith được pháthành, và từ đó sách được tái bản không biết bao nhiêu lần và được dịch ra rất nhiều thứ tiếng
Vì nội dung có tính cách bách khoa nên bộ Quốc phú luận không phải chỉ là một bộ sách thôngthường về kinh tế học Một nhà phê bình gọi đây là bộ "Lịch sử và nhận định về văn minh châu Âu"
Mở đầu với những trang khảo luận về vấn đề loại lao công, Adam Smith lược qua các lãnh vực cứuxét về nguồn gốc và việc sử dụng tiền tệ, giá cả vật phẩm nhu yếu, lương bổng công nhân, thị trườngchứng khoán, lợi tức đất đai, giá trị vàng bạc, sự khác biệt giữa loại lao động sản xuất và lao độngkhông sản xuất Sau đó tác giả phân tích sự phát triển kinh tế ở châu Âu từ khi đế quốc La Mã tan rã,phân tích và phê bình chính sách thuộc địa và chính sách thương mại của các quốc gia châu Âu Ôngcũng đề cập đến các vấn đề như lợi tức của đế quốc, phòng thủ và công lý ở các xã hội nguyên thủy,nguồn gốc và sự phát triển binh đội ở châu Âu Smith cũng không bỏ qua các vấn đề lịch sử giáo dụcthời Trung cổ, phê bình nền đại học đương thời, lịch sử thê quyền của Giáo hội, sự tiến triển của côngtrái, và kết luận ông cứu xét về những nguyên tắc đánh thuế và các chế độ lợi tức công cộng
Tiền đề tổng quát mà Adam Smith dùng làm nền tảng cho bộ Quốc phú luận có dáng dấp tư tưởngcủa Niccolò Machiavelli; thí dụ như ông nhận định rằng : người ta ai cũng vì tư lợi, ham giàu chỉ làmột khía cạnh của lòng vị kỷ , và mọi hoạt động của con người đều vì lý do tư lợi cả Điều đặc biệt làSmith không những không lên án những khuynh hướng đó mà ông còn tin rằng chính lòng vị kỷ của cánhân sẽ đưa tới sự trù phú của xã hội Ông cho rằng : Quốc gia sẽ trở nên phồn thịnh "nếu mọi cá nhânkhông ngừng nỗ lực để cải thiện cuộc sinh hoạt của riêng mình Anh hàng thịt, anh làm rượu, anh làmbánh mang đồ ăn đến cho ta chính là vì lợi riêng của cá nhân họ, chúng ta kêu gọi không phải lòng nhân
từ của họ mà kêu gọi đến lòng ích kỷ của họ, chúng ta không bao giờ nói với họ về những nhu cầu củachúng ta mà chỉ nói với họ về mối lợi riêng của họ" Vì sách Quốc phú luận có những đoạn tương tựnên Ruskin đã gọi tác giả là "con người Scotland kém trí, thiếu học, chuyên khuyên điều phi nghĩa :Phải ghét Chúa, ghét Thượng đế, phải từ bỏ luật lệ của Ngài và thèm thuồng tài sản của láng giềng" Adam Smith chủ trương rằng : kỹ nghệ mới chỉ có thể phát triển được bằng các phân công và tíchlũy tư bản Cả hai khía cạnh này đều vì tư lợi và "sự xếp đặt tự nhiên" theo quan niệm của các nhà triếthọc thế kỷ XVIII Như vậy vô hình trung, bàn tay Thượng đế đã dẫn dắt con người, để cùng một lúcphục vụ quyền lợi riêng tư và quyền lợi của tập thể Nhận định đó dĩ nhiên đưa tới kết luận là chínhphủ chỉ nên can thiệp ở mức tối thiểu vào cuộc sinh hoạt kinh tế Ở một bình diện khác Thomas Painecũng có nhận định tương tự khi ông viết : "một Chính phủ tốt đẹp nhất là một Chính phủ cai trị ít nhất"
Để chứng tỏ những điều lợi của sự phân công, Adam Smith đã nêu ra trường hợp chế tạo đinh ghim:"Một công nhân không biết nghề không quen sử dụng máy móc giỏi ra một ngày làm được mộtchiếc đinh ghim, và chắc chắn không thể nào làm được 20 chiếc một ngày "Phân tách sự chế tạo đinhghim" làm mười tám công việc khác nhau, chia cho nhiều người làm trong xưởng máy tôi đã thấy một
Trang 20xưởng máy đinh ghim nhỏ chỉ dùng có mười công nhân mà có thể sản xuất tới bảy mươi tám ngànchiếc đinh ghim một ngày" Đó là "kết quả của sự phân công hợp lý và sự phối hợp những động táckhó khăn"
Theo Adam Smith, sự phân công đã có từ các xã hội nguyên thủy Ông viết:
"Trong một bộ lạc săn bắn hay chăn nuôi, thí dụ như có một người giỏi làm cung tên và thường hayđổi cung tên lấy súc vật, lấy thịt thú Anh thấy rằng trao đổi như vậy anh có nhiều thú, nhiều thịt hơn làchính anh đi rừng, và vì lẽ đó anh mới lấy nghề làm cung tên làm nghề chính của anh
Một người khác giỏi làm sườn, làm mái lều, giỏi làm nhà lưu động…
Cũng vì lý do tư lợi một người thứ ba trở nên thợ rèn, thợ chế đồ đồng; người thứ tư thợ thuộc da
ai cũng biết chắc có thể đổi sản phẩm mình dùng không hết lấy sản phẩm của người khác, và chính điều
đó khuyến khích mọi người chuyên hẳn một việc, và trau dồi tài nghệ đến mực hoàn hảo "
Sau đó nghiên cứu về tiền tệ, và giá cả, Adam Smith đề ra một nguyên tắc, thường bị các nhà phikinh tế học đả kích, nhưng lại được các lý thuyết gia chủ nghĩa xã hội sau này coi như là một khẩulệnh Ông viết :"Chỉ có giá trị lao động là không bao giờ thay đổi Chỉ có lao động là tiêu chuẩn thực
và tối hậu để định giá và so sánh sản phẩm ở bất kỳ ở đâu và thời buổi nào Lao động là giá trị thựccủa sản phẩm; tiền bạc chỉ để nói lên cái giá trị ấy mà thôi"
Trong Quốc phú luận không đoạn nào có giọng văn trực ngôn và đôi khi công phẫn bằng ở nhữngđoạn Adam Smith bình luận về sự chênh lệch quyền lợi giữa giới chủ và thợ, và ông phản đối quanniệm của phái doanh thương cho rằng : lương bổng hạ buộc công nhân phải làm việc nhiều và do đónước Anh được thêm thịnh vượng Về điểm trên Smith nhận định : "Công nhân muốn hưởng lương,càng cao càng hay, chủ nhân muốn trả lương càng hạ càng tốt Công nhân sẵn sàng vận động để đòităng lương, chủ nhân sẵn sàng vận động để hạ lương công nhân" Ông viết tiếp:
"Trong những cuộc tranh chấp về lương bổng luôn luôn xảy ra, rất dễ đoán bên nào được, bên nàothua Giới chủ, có ít người nên dễ vận động Luật pháp nếu không cho phép thì cũng không cấm họ vậnđộng, nhưng luật pháp lại cấm sự vận động của các công nhân Không có một đạo luật nào chống vậnđộng để hạ lương công nhân, nhưng lại có rất nhiều đạo luật cấm vận động đòi tăng lương Trong mộtcuộc tranh chấp về lương bổng, giới chủ có thể cầm cự được lâu dài hơn nhiều Một địa chủ, một trạichủ, một chủ nhà máy hay một thương gia, không có công nhân vẫn có thể sống một hay hai năm dựavào tư bản họ đã tích lũy được Trong khi đó đa số công nhân thất nghiệp không thể nào sống nổi mộttuần lễ, rất ít người sống được một tháng và gần như không thể có người sống được một năm Cuốicùng dù chủ cần công nhân cũng như công nhân cần đến chủ, nhưng sự "cần" của đôi bên không cấpthúc như nhau
Cảm tình của Smith đối với hạng công nhân lương hạ bộc lộ trong những đoạn văn như sau:
"Xã hội chính trị lớn nào cũng gồm có đại đa số gia công, nông dân, và công nhân mọi giới Cảithiện cuộc sinh hoạt của đại đa số nhân dân không thể coi là một trở ngại cho sự thịnh vượng của toànthể xã hội Không một xã hội nào có thể thịnh vượng và hạnh phúc nếu tầng lớp rộng lớn nhất, phảisống trong cảnh bần cùng khổ ải Hơn nữa để cho bọn người cung cấp cái ăn, cái mặc, cái ở cho toànthể xã hội, được hưởng một phần những sản phẩm do chính họ sản xuất ra như được đủ ăn, đủ mặc, đủ
ở, chỉ là chuyện công bình mà thôi Trả công rộng rãi làm tăng tiến sở đắc của giới lao động.Người ta ai cũng thế, đồng lương cao hạ khuyến khích làm việc nhiều hay ít, hay hay dở ở những nơitrả lương cao chúng ta thường thấy công nhân hoạt động, cần mẫn, lanh lợi hơn ở những nơi trả lươnghạ"
Ông viết tiếp:
"Các thương gia, chủ xưởng máy phàn nàn rằng : tăng lương lại phải tăng giá cả và do đó sự tiêu thụ
ở trong nước và nước ngoài bị giảm sút Họ không nói gì cả về việc tiền lời của họ tăng lên Họ im
Trang 21lặng về những hậu quả ác hại do số lợi tức của chính họ gây ra Họ chỉ phàn nàn về đồng tiền công của
kẻ khác" Hai mươi năm trước khi sách "Những nguyên tắc về dân số" của Malthus được xuất bản,Adam Smith đã tiên đoán thuyết của tác giả trên khi ông viết :
"Loài động vật nào cũng chỉ có thể sinh sôi nẩy nở trong phạm vi phương tiện sinh sống cho phép Ở
xã hội văn minh, sự kiện thiếu phương tiện sinh sống đã hạn định sự sinh sản của giai cấp cùng khổ Vì
lẽ đó trong giai cấp này đa số thiếu nhi bị yểu tử"
So sánh với những thắng lợi của lao động ngày nay, chúng ta không thể tưởng tượng được rằngnhững sự trói buộc lao động có tính cách phong kiến vẫn hằng còn tồn tại trong thế kỷ của Adam Smith
mà việc cấm tổ chức mọi hình thức công đoàn chỉ là một Những trói buộc khắc nghiệt hơn cả vẫn làluật lệ về học nghề và định cư lập nghiệp
Qui chế học nghề có từ thời nữ hoàng Elizabeth Theo lời Smith, qui chế đó ấn định rằng "bất kỳngười nào nếu muốn hành một nghề nào đó ở Anh đều phải qua ít nhất là bảy năm học nghề" Trongthời gian đó, người học nghề chỉ có đủ cơm ăn và dĩ nhiên những người chủ vô lương tâm lợi dụng đạoluật để khai thác công nhân học nghề sống ở trong tình cảnh chẳng khác gì nô lệ Smith tố cáo luật lệhọc nghề và vạch trần ra rằng : không làm gì phải mất đến hàng năm để học nghề vì đa số các nghề chỉmất chừng vài tuần lễ là làm được Hơn nữa luật lệ học nghề là một sự xâm phạm bất chính vào quyền
tự do làm ăn của công dân, muốn làm gì tùy ý và đâu trả lương cao thì làm
Đạo luật về định cư cũng ai oán không kém Smith viết :"Tôi dám nói rằng, trong giới cùng khổ ởAnh, hiếm có người nào bốn mươi tuổi mà không có kinh nghiệm bản thân về sự ác độc của đạo luậtđịnh cư" Đạo luật này, cũng như đạo luật về học nghề, được ban hành từ thời Nữ hoàng Elizabeth vànhằm mục đích cứu tế cho những người nghèo Mỗi một khu đều có trách nhiệm cấp dưỡng cho nhữngngười nghèo Để ngăn chặn con số này có thể tăng lên, luật lệ bắt buộc những người mới tới định cưphải có đủ phương tiện sinh sống Áp dụng đối với lao động, đạo luật định cư có tác dụng biến họthành một lớp tù nhân mãn kiếp khó có thể rời bỏ quê hương để tìm đường đi làm ăn ở nơi khác TheoAdam Smith, đạo luật định cư là một thí dụ điển hình nữa về sự can thiệp bất công của nhà nước vàoquyền tự do làm ăn của dân chúng và vào sự điều hành tự nhiên của sự sinh hoạt kinh tế
Adam Smith còn phân biệt thế nào là lao động có sản xuất và lao động không sản xuất, ông viết: "Trái với một vài trường hợp hoang phí công cộng, sự hoang phí cá nhân không thể làm nghèonhững quốc gia lớn Toàn thể hay là gần như toàn thể lợi tức công cộng ở nhiều nước dùng để nuôidưỡng những bàn tay không sản xuất Đó là những người thuộc triều đình đông đảo lộng lẫy, thuộc cơ
sở giáo hội, thuộc hải lục quân trong thời bình và cả trong thời chiến nữa Tất cả lớp người sống vôsản xuất đó đều sống nhờ vào sức lao động của kẻ khác Đến một năm nào đó lớp người sống vô sảnxuất này tăng lên quá con số cần thiết, và họ tiêu thụ quá nhiều làm cho số sản phẩm trong nước còn lạikhông đủ để nuôi dưỡng những kẻ lao động sản xuất"
Adam Smith còn khuyến cáo, nhưng tiếc thay đất Mỹ thuộc Anh không biết nghe, về trường hợpdùng công nhân nô lệ, ông viết:
"Kinh nghiệm của mọi thời và mọi nơi chứng tỏ rằng : dùng công nhân nô lệ tuy chỉ tốn có tiền ăn,nhưng xét cho cùng thì lại là loại công nhân đắt nhất, vì công nhân nô lệ không có quyền tư hữu, do đó
họ càng ăn nhiều và càng làm ít Làm công việc gì thì cũng chỉ làm vừa đủ là thôi, nếu họ làm thêm chỉ
vì bị cưỡng bách chứ không phải vì ích lợi cho chính họ"
Từ những vấn đề lao động, Adam Smith bước qua chủ trương cải cách điền địa Theo ý ông tronglãnh vực này có rất nhiều luật lệ lỗi thời làm cản trở sự tiến hóa của xã hội Ở Anh vào thế kỷ XVIII,
đa số là điền địa thừa kế Một địa chủ có thể đặt định ruộng đất của mình, như chia hay bán hàng baothế kỷ sau và những đặt định này còn ràng buộc những kẻ thừa kế họ Ngoài ra còn có tập quán thừanhận quyền thừa tự của con trưởng, một tập quán phong kiến có mục đích bảo vệ sự toàn vẹn ruộng đất
Trang 22của một dòng họ Theo luật lệ này thì con trưởng là người thừa kế duy nhất Adam Smith nhận định:"Thật không có gì đi ngược lại quyền lợi thực của gia đình đông đúc bằng luật lệ, để làm giàu cho mộtngười đã đưa những người con khác vào tình cảnh ăn mày" Ông chủ trương ruộng đất được mua bán
tự do và chủ trương hủy bỏ luật lệ về ruộng đất thừa kế, luật lệ công nhận quyền thừa tự của con trưởng
và mọi luật lệ khác hạn chế sự tự do trao tặng, chuyển nhượng, hay mua bán ruộng đất
Một chương nổi tiếng trong Quốc phú luận đề cập đến các vấn đề thuộc địa và theo lời một nhân vật
có thẩm quyền thì đây là "bài tóm lược chính sách thuộc địa hay nhất từ xưa đến nay"; chương này chia
ra làm ba phần :
1 "Lý do tìm thuộc địa mới" Trong chương này có tóm lược lại lịch sử bành trướng thuộc địa của
Hy Lạp, La Mã, Venice, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha
2 "Nguyên cớ thịnh vượng của các thuộc địa mới" trong đó kể những yếu tố như là ruộng đất nhiều
và rẻ, lương bổng cao, nhân số tăng mau và sự hiểu biết của dân chúng về canh nông và các nghề khác(chính sách thuộc địa tương đối sáng suốt của Anh được đem ra so sánh với chính sách hẹp hòi của BồĐào Nha và Tây Ban Nha)
3 "Những ích lợi châu Âu thu hoạch được sau khi tìm ra châu Mỹ và đường sang phương Đông quamũi Hảo Vọng" Hai điều này được Adam Smith coi là "hai biến cố trọng đại nhất trong lịch sử nhânloại"
Những hạn chế đối với các xứ thuộc địa để chiếm giữ độc quyền mậu dịch bị Adam Smith lên án làxâm phạm đến "quyền thiên nhiên" thuộc địa Chế độ mậu dịch đối với các xứ thuộc địa là điều vừa vô
lý vừa tốn kém cho cả "mẫu quốc" Ngoài ra các quốc gia thực dân còn phải xuất tiền tài trợ công cuộcphòng vệ cho thuộc địa, vì dân bản xứ không bao giờ sẵn lòng tự động đóng thuế đủ để phòng thủ xứ
họ
Về cuộc khởi nghĩa của dân Mỹ thuộc Anh, Adam Smith có khả năng nhận định khách quan hơnnhiều đồng bào Ông tin rằng giải pháp thỏa đáng hơn cả là để cho dân Mỹ được có đại diện tại Quốchội Anh, liên hiệp đoàn kết hơn là chia rẽ, tỷ lệ đại diện căn cứ vào thuế lợi tức, và mặc dù khôngchắc nhưng nếu vạn nhất thuế lợi tức dân Mỹ trội hơn dân Anh, thì nên dời thủ đô của khối liên hiệpqua Đại Tây Dương lập ở "phần đất của Vương quốc đã đóng góp nhiều hơn cho công cuộc phòng thủ
và sinh hoạt chung" Quan điểm của Adam Smith có thể là một câu trả lời thẳng với Thomas Paine khiông này nhận định rằng :"Thật là phi lý nếu cả một lục địa cứ mãi mãi bị một hòn đảo cai trị"
Adam Smith còn chủ trương để cho các xứ thuộc địa được độc lập nếu không thể hòa giải đượccuộc tranh chấp giữa Anh với các xứ thuộc địa ở châu Mỹ Tuy chủ trương như vậy nhưng không phải
là ông không nhận thấy rằng : "Đề nghị Anh tự ý từ bỏ mọi uy quyền ở các thuộc địa, để cho các thuộcđịa được bầu các cấp cai trị, ban hành luật pháp, tuyên chiến hay nghị hòa nếu xét ra cần, là điềukhông có một quốc gia nào trên thế giới đã và sẽ chấp thuận dù rằng cai trị thuộc địa rắc rối đến đâu,
dù lợi tức thu hoạch được ít mà chi phí thì nhiều"
Khối óc sáng suốt và thông hiểu của Adam Smith đã được biểu lộ trong đoạn văn tiên tri của ông vềtương lai của châu Mỹ:
"Từ chủ tiệm, nhà buôn đến vị thẩm phán dân bản xứ Mỹ sẽ là nhà chính trị, nhà lập pháp Họ sẽthiết lập một nền cai trị mới cho một đế quốc rộng lớn mà theo ý họ, sẽ có triển vọng mạnh nhất vàquan trọng nhất thế giới"
Quyển IV nhan đề là :"bàn về các chế độ kinh tế" của bộ "Quốc phú luận" là phần then chốt và nổitiếng hơn cả Trong phần này tác giả cứu xét hai chế độ kinh tế khác nhau, đó là chế độ thương mại vàchế độ canh nông Trong phần dành khảo luận về thương mại, dài gấp tám lần phần dành cho canhnông, Adam Smith nói về nguyên tắc tự do kinh doanh, mà sau này được gắn liền với tên ông Tất cảnhững kết luận về các vấn đề như lao động điền địa, hàng hóa, tiền tệ, giá cả, canh nông, dự trữ, và
Trang 23thuế khóa đều đưa tới chủ trương để cho thương mại, cả nội thương lẫn ngoại thương được tự do Đó
là đường lối duy nhất đưa một quốc gia tới sự phát triển đầy đủ, tiến tới thịnh vượng Smith tán trợviệc hủy bỏ mọi thứ thuế đảm phụ, trợ cấp, mọi cấm đoán của chế độ mậu dịch, mọi thứ độc quyềnthương mại của những công ty đặc quyền, vì những sự kiện này làm trở ngại sự phát triển tự nhiên của
kỹ nghệ và thương mại, làm trở ngại sự lưu thông tự do của hàng hóa tới tay người tiêu thụ Gạt bỏquan niệm sai lầm về "Cán cân thương mại" được phái doanh thương tôn thờ Tiền chỉ là một dụng cụ
"và không có tiêu chuẩn nào dựa vào đó khiến ta có thể quyết đoán giữa hai quốc gia cán cân nghiêng
về bên nào, hay bên nào xuất cảng được giá hơn Sự trù phú không phải chỉ bằng tiền, hay bằng quíkim mà bằng những gì tiền có thể mua được, và do đó tiền chỉ có giá trị để mua hàng"
Sự phân công giữa các quốc gia cũng là điều đáng mong mỏi và hợp lý như sự phân công giữa các
cá nhân Adam Smith viết:
"Trên thế giới có những quốc gia có đủ điều kiện để sản xuất những thứ hàng đặc biệt, đến nỗingười ta thấy cạnh tranh với những quốc gia đó là điều vô ích Thí dụ như Scotland với những phươngpháp trồng tỉa cầu kỳ [1] có thể sản xuất nho ngon, và với thứ nho này Scotland có thể chế biến rượungon nhưng đắt gấp ba mươi lần thứ rượu tương tự nhập cảng của ngoại quốc Như vậy cấm nhập cảngrượu ngoại quốc để khuyến khích kỹ nghệ rượu ở Scotland có phải là điều hợp lý hay không ?"
Adam Smith đã tóm tắt những lợi điểm của chế độ tự do thương mại như sau:
"Bất kỳ người chủ gia đình khôn ngoan nào cũng nghĩ rằng nếu làm lấy mà đắt thì thà mua còn hơn
ở một đại vương quốc cũng vậy Nếu ngoại quốc có thể cung cấp loại hàng giá rẽ hơn giá hàng màchúng ta có thể sản xuất, thì chỉ nên mua thứ hàng đó mà chúng ta vẫn có lợi hơn
Adam Smith vạch rõ những lợi ích của ngoại thương như sau:
"Ngoại thương có hai điều lợi : một là bán ra được những sản phẩm trong nước tiêu thụ không hết,hai là mua vào được những sản phẩm cần thiết Với sự phát triển ngoại thương, thị trường trong nước
đã nhỏ hẹp, người ta vẫn có thể tiến xa trong sự phân công, và đưa sự sản xuất tới mức hoàn thiện Mởđược những thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm dư thừa ở trong nước, người ta có thểkhuyến khích các ngành công kỹ nghệ tăng cường khả năng sản xuất đến mức tối đa và do đó tăngcường lợi tức và sự trù phú của quốc gia"
Tuy nhiên, người ta thấy lời Smith khuyến cáo nên áp dụng chính sách giao thương tự do không cótính cách giáo điều tuyệt đối Qua một số ngoại lệ và giới hạn ông đã có ý muốn thừa nhận khi áp dụngnguyên tắc trên Ông cho biết trong vài trường hợp, là nếu cần phải khuyến khích kỹ nghệ trong nướcthì đánh thuế nặng hàng hóa sẽ có lợi Trước hết là khi một ngành kỹ nghệ nào đó cần thiết cho côngcuộc phòng thủ quốc gia, thì ngay cả trên những căn bản hoàn toàn kinh tế người ta cũng không thể thihành bình thường chính sách ngoại thương vì ở đây "phòng thủ quan hệ hơn trù phú" Smith nhìn nhậnrằng : Sống trong một thế giới luôn luôn có chiến tranh, một quốc gia trù phú, thời bình giao thương rất
có lợi nhưng đến thời chiến lại có thể trở nên kẻ thù nguy hiểm hơn những quốc gia nghèo nàn Smithcòn đồng ý rằng đối với những ngành kỹ nghệ mới phôi thai, một chế độ quan thuế đặc biệt sẽ khuyếnkhích những ngành kỹ nghệ đó có thể phát triển mau lẹ tới mức độ không cần sự bảo trợ nữa Tuy vậy,mọi thay đổi trong chế độ quan thuế cần phải thi hành "từ từ và sau khi đã được một thời gian dài", cốtnhằm bảo vệ mọi đầu tư vào các nhà máy trong những ngành kỹ nghệ không thể cạnh tranh được vớingoại quốc và cốt để giúp các thợ thuyền có thì giờ tìm được công việc mới Đó là những nhượng bộ
có tính cách thực tế trước những lý lẽ của phái chống đối chính sách thương mại tự do
Một câu hỏi : nếu chính phủ đứng ở ngoài mọi hoạt động thương mại, kỹ nghệ, canh nông và phầnlớn hoạt động hàng ngày khác, như Smith đã chủ trương thì chính phủ còn có những nhiệm vụ gì làthích hợp ? Adam Smith trả lời : Nhà nước có rất ít trách nhiệm và trước hết là trách nhiệm phòng thủquốc gia và thi hành công lý Smith còn chủ trương nhiệm vụ của nhà nước là "xây dựng và duy trì
Trang 24những công tác công ích, những công tác này không có lợi gì cho bất cứ một cá nhân hay một nhóm cánhân nào để họ đứng ra thi hành, vì cái lợi thu về không bù được lại với số chi cá nhân hay nhóm cánhân ấy phải bỏ ra, mặc dầu thường thường nó có thể làm hơn được là chỉ đền đáp lại cho cái xã hộilớn lao kia"
Smith liệt kê những công tác do quốc gia đảm nhiệm gồm có :mở mang và sửa sang công lộ cùng locho dân chúng có đủ nước dùng, đủ hơi, đủ điện đốt sáng Như vậy Smith thấy rằng "Kẻ thường đượcngười ta gọi là chính khách hay chính trị gia" không có lý do tồn tại nào khác ngoài việc lo bảo vệ hòabình ở hải ngoại và duy trì trật tự ở nội bộ
Adam Smith đã vượt xa thời đại, khi ông chủ trương nhà nước phải gánh vác công cuộc giáo dụcquần chúng Để bênh vực lập trường của mình, ông lý luận như sau :
"Một người không sử dụng thỏa đáng những khả năng trí óc của mình có thể nói là một người đángkhinh hơn ngay cả một người hèn nhát, họ hình như bị tàn tật, bị méo mó về nhân tính Giáo dục quầnchúng có thể không có lợi gì cho nhà nước, nhưng dù sao, nhà nước cũng không thể để cho quần chúngchịu cảnh thất học và xét cho cùng, thì giáo dục quần chúng không phải là không đem lại lợi ích chonhà nước Càng được học hỏi, quần chúng càng khỏi bị lừa bịp, càng bớt dị đoan mê tín mà ở nhữngquốc gia dốt nát thường thường vì những tệ đoan ấy mà bị những rối loạn khủng khiếp Lớp quần chúngthông minh và có học thức bao giờ cũng lịch sự, nhã nhặn, và có trật tự hơn là lớp quần chúng vô học,dốt nát Mỗi cá nhân đều biết tự trọng hơn, và có thể được những người trên coi trọng và ngược lại sẽtrọng người trên hơn Ở những quốc gia tự do, sự bền vững của chính phủ tùy thuộc phần lớn ở sựphán xét quần chúng, vì lẽ đó nên việc quan trọng hơn hết là quần chúng cần phải được giáo dục để họđừng phán xét chính phủ một cách bừa bãi hay thất thường"
Cho đến nay nghĩa là gần hai trăm năm sau, vấn đề xác định giá trị Adam Smith và tác phẩm của ôngmột cách vô tư vẫn còn phức tạp Thí dụ như trong bộ "Lịch sử văn minh" Buekel viết : "Quốc phúluận có thể là bộ sách quan trọng nhất từ xưa đến nay, dù đứng về phương diện giá trị nội dung của
bộ sách hay đứng về phương điện tác dụng thực tế" Max Lerner, một nhà văn vốn không mấy tánthưởng tư tưởng của Adam Smith cũng phải nhìn nhận rằng bộ Quốc phú luận "là một trong những bộsách đã tạo nên cuộc sống như chúng ta thấy ngày nay" Lerner nhận xét một cách thích đáng rằng :
"Độc giả bộ Quốc phú luận đa số là những người chiếm được nhiều quyền lợi theo cái quan niệm về
sự sinh hoạt được trình bày trong bộ sách Những người đó thuộc giai cấp đang lên gồm có những nhàkinh doanh, những ủy ban chấp hành ở các nghị viện trên thế giới, và những ủy ban chấp hành của cáchọc viện Qua trung gian những nhân vật thuộc giai cấp này, bộ Quốc phú luận đã ảnh hưởng sâu rộngtrong nhân dân toàn thế giới, dù họ không biết gì về bộ sách đó, và cũng nhờ giai cấp này mà đã gây ramột ảnh hưởng sâu rộng đến quan niệm kinh tế và chính sách quốc gia"
Lập luận của hai nhân vật có thẩm quyền đó đã được một nhà kinh tế học nổi tiếng AnhJ.AR.Marriott xác nhận khi ông viết : "Có lẽ không có bộ sách nào lại có ảnh hưởng lớn lao đối với tưtưởng khoa học kinh tế và đường lối cai trị bằng bộ Quốc phú luận Có nhiều lý do cắt nghĩa tại sao bộsách này vẫn còn có ảnh hưởng cho đến tận ngày nay" Một nhà kinh tế học khác W.R.Scott viết : "Vềmặt tri thức, Adam Smith quả là một bậc thầy đã quan niệm vững chắc được toàn diện cuộc sinh hoạtkinh tế"
Mặt khác có nhiều nhà tư tưởng khoáng đạt và cấp tiến đã cho rằng khó mà tha thứ cho Adam Smith
vì sự tự do quá trớn mà các nhà kinh doanh, các nhà kỹ nghệ đã áp dụng qua chủ thuyết trong tác phẩmcủa Smith được họ coi như là Thánh Kinh Những lý thuyết đề cao bảo vệ quyền lợi của công nhân,nông dân, bảo vệ quyền lợi của giới tiêu thụ và nói rộng ra là bảo vệ xã hội, đã bị bóp méo vì nhữngquyền lợi không chính đáng, có nghĩa là tự do thao túng vô tổ chức, vượt qua ngoài mọi sự kiểm soát
và can thiệp của chính phủ
Trang 25Ngoài ra người ta còn đặt thành vấn đề : Phải chăng nếu không có bộ Quốc phú luận thì thương mại
và kỹ nghệ cũng phát triển theo những nguyên tắc Adam Smith đã vạch ra, hay là sau khi phát hành bộQuốc phú luận với cả một lý thuyết và một kế hoạch, đã là đầu mối thúc đẩy những sự thay đổi lớn laotrong cuộc sinh hoạt mới này ? Có lẽ sự thật tiềm ẩn đâu đây trong đó
Ai cũng đều công nhận : Adam Smith sinh đúng lúc Đứng ở ngưỡng cửa hai giai đoạn lịch sử, ông
đã nêu lên lý thuyết mới về tự do kinh doanh, và thế giới đã nghe và sử dụng lý thuyết của ông để thựchiện một sự chuyển mình lớn lao về kinh tế Với sự phát triển của cuộc cách mạng kỹ nghệ, các nhàkinh doanh nước Anh thời đó thừa nhận giá trị lý thuyết của Adam Smith Họ hủy bỏ những sự tróibuộc, những đặc quyền doanh thương, và đã mở mang nước Anh thành một quốc gia trù phú nhất thếgiới trong thế kỷ XIX Ảnh hưởng tư tưởng của Adam Smith đối với các cường quốc thương mại khácthời đó cũng không kém phần sâu rộng Có lẽ không có mấy ai không thừa nhận cho Adam Smith cáidanh hiệu là "cha đẻ của nền kinh tế hiên đại"
ta sẽ tạo được một thiên đường ở hạ giới
Trong số các nhà mơ mộng thời đó, có hai vị đã có nhiều đồ đệ tín thành đã nói lên những nguyệnvọng và mơ tưởng của quần chúng Đó là William Godwin ở Anh và Nam tước Condorcet ở Pháp.Điển hình của những cái lạc quan bất trị ấy đã được Godwin diễn tả trong tập "Công bằng chính trị".Godwin tin tưởng rằng : rồi đây nhân loại sẽ tới giai đoạn thừa sức sống đến mức không cần phải ngủ,thừa sinh lực để cùng sống mãi mãi, nhu cầu hôn nhân sẽ được thay thế bởi nhu cầu phát triển tinh thần.Tóm lại nhân loại sẽ là thiên thần cả Godwin viết : "Những sự cải thiện khác sẽ đi song song vớinhững cải thiện về sức khỏe và tuổi thọ Chiến tranh, tội ác, tòa án, chính phủ sẽ không còn có nữa.Ngoài ra, con người sẽ không còn có tật bệnh, không còn phải đau đớn, ưu uất hay sầu hận Người nàocũng hết lòng làm việc thiện chung"
Để đánh tan sự lo lắng về tình trạng người nhiều mà thực phẩm ít, Godwin viết :"Cho dù có hàngtriệu thế kỷ sinh sôi nẩy nở qua đi, trái đất vẫn có thể có đủ thực phẩm để cung cấp cho sự sống củanhân loại" Godwin còn tin rằng : với thời gian sự đam mê tình dục có thể sẽ dịu bớt Condorcet thìnghĩ rằng : mức độ sinh sản nếu giảm bớt thì càng hay
Những quả bóng tươi đẹp đó thường hay làm cho người ta muốn chọc thủng chơi, và người cầm kimchâm ở đây là một giáo sĩ chưa vợ ngang ngược tên là Thomas Robert Malthus, một sinh viên ba mươihai tuổi ở học viện Chúa Jésus ở Cambridge Câu trả lời của ông đối với những nhà toàn thiện xã hội
là tập "Luận về nguyên tắc dân số", 1798, một tập sách đã thuộc loại sách giáo khoa trong bộ môn kinh
tế học
Malthus là con trai thứ của Daniel Malthus và là nhân vật đồng thời với Adam Smith và ThomasPaine, tuy ông ít tuổi hơn nhiều Thân phụ ông, một phú nông bạn của Rousseau, lại là một người nhiệtthành hâm mộ Godwin Cả hai cha con đều ham tranh luận : Thomas đả kích, còn Daniel thì bênh vực
Trang 26những lý thuyết không tưởng Cuối cùng theo lời khuyến khích của thân phụ, Thomas quyết định viếtthành sách những ý kiến của ông mà kết quả là tập tiểu luận nổi tiếng từ hơn hai trăm năm qua đã cóảnh hưởng sâu đậm đến tư tưởng và hành động của nhân loại, và có lẽ nhất là trong giai đoạn hiện tại.Malthus đã bổ túc công trình Quốc phú luận của Adam Smith xuất bản hai mươi hai năm về trước,bằng một công trình "Quốc bần luận"
Sách "Luận về nguyên tắc dân số trong phạm vi có ảnh hưởng đến công cuộc cải thiện xã hội tươnglai, với những nhận xét về lập luận của Godwin, Condorcet và các tác giả khác" là một tập sách mỏng(50 ngàn chữ) xuất bản vô danh vào năm 1798, và đương nhiên số ấn bản rất ít vì ngày nay rất hiếm.Sau này Malthus kể lại :"Sách được viết ra vì sự thúc đẩy của hoàn cảnh, đưa vào một số tài liệunghèo nàn, vì khi đó tôi ở nhà quê" Đề tài tập tiểu luận không có gì mới lạ; nhiều tác giả thế kỷ XVIII,trong số đó có cả Benjamin Franklin đã đề cập đến vấn đề nhân số gia tăng, nhưng chưa có ai trìnhbày vấn đề được sâu sắc, sáng tỏ và tha thiết bằng Malthus
Mở đầu Malthus nêu lên hai nhận định căn bản:
"Thứ nhất, thực phẩm cần thiết cho sự sống của con người Thứ hai, tình dục là điều cần thiết, vàmãi mãi sẽ không thay đổi"
Ngay cả những nhà không tưởng cũng không cho rằng sau này người ta có thể sống không cần đếnthực phẩm
"Tuy vậy ông Godwin lại lập luận rằng với thời gian tình dục có thể tuyệt diệt Lý luận vững chắcnhất về sự thiện hóa của con người là quan sát những tiến bộ của con người từ tình trạng man rợ Nhưng, đi đến sự tuyệt diệt tình dục thì nhân loại cho đến nay chưa bước được bước nào Rõ ràng thứtình dục này vẫn tồn tại nguyên vẹn bây giờ cũng như hai ngàn, hay bốn ngàn năm trước đây"
Tự cho rằng định đề này của mình không chối cãi được, Malthus mới đặt ra nguyên tắc nổi tiếng sauđây:
"Sức con người sinh sản mạnh hơn sức mặt đất sản xuất thực phẩm để nuôi người Nếu không gặptrở lực, dân số tăng theo tỷ lệ cấp số nhân, còn thực phẩm tăng theo tỷ lệ cấp số cộng Biết sơ qua vềtoán học, người ta sẽ thấy con số trước lớn hơn con số sau biết là chừng nào"
Bàn rộng nguyên tắc đó Malthus lập luận vững chắc rằng :
"Trong lãnh vực loài vật và thảo mộc, Tạo hóa gieo rắc mầm sống một cách vô cùng rộng rãi,nhưng lại dè xẻn trong phạm vi cung cấp thức ăn để nuôi sống sinh vật Cây cỏ và loài vật đều bị tróibuộc trong định luật khắt khe này Con người cũng không sao tránh được định luật đó, dù có cố gắngdùng lý trí để tìm lối thoát Đối với cây cỏ và loài vật, ảnh hưởng định luật đó là sự phí phạm mầmsống, bệnh tật, chết yểu, đối với người là sự nghèo đói và tội lỗi"
Sự kiện não nề và thực tế đó, theo Malthus, đã tạo ra những trở ngại không thể vượt qua được, trêncon đường tiến đến sự kiện toàn tốt đẹp một xã hội Không cải cách nào có thể giải được áp lực củađịnh luật thiên nhiên, những trở ngại đã cản con người xây dựng "một xã hội, trong đó mọi cá nhân đềuđược sống dư giả, hạnh phúc, nhàn hạ, không phải lo lắng đến vấn đề kiếm sống cho bản thân và giađình"
Malthus lấy trường hợp Hoa Kỳ làm điển hình để dẫn giải lập luận sinh sản gia tăng theo cấp sốnhân, đã viết :"Nơi mà phương tiện nuôi sống người rất phong phú, lề lối sinh hoạt của dân chúngtương đối trong sạch hơn, và vì thế việc lập gia đình sớm ít bị cấm cản hơn" Malthus thấy rằng, không
kể con số nhập cư, dân số Hoa Kỳ đã tăng gấp đôi trong vòng hai mươi lăm năm Từ sự kiện hiểnnhiên đó, Malthus kết luận rằng : nếu không gặp trở ngại hay bị hạn chế, dân số của bất cứ quốc gianào cũng có thể tăng gấp đôi trong vòng một thế hệ Các nhà phê bình thường hay nêu những cơ sởtrong định luật này của Malthus Giai đoạn lịch sử Hoa Kỳ được Malthus đem ra làm dẫn chứng là mộtgiai đoạn đặc biệt không thể có lần thứ hai trong lịch sử Hoa Kỳ, hay lịch sử quốc gia nào khác
Trang 27Áp dụng thước đo với sự gia tăng tự nhiên về nhân số cho nước Anh, Malthus luận đến vấn đề thựcphẩm Ông thấy rằng : Với một "chính sách rất hay, khai phá đất hoang nhiều hơn, khuyến khích mạnh
mẽ canh nông, sự sản xuất của Đảo này có thể tăng gấp đôi trong vòng hai mươi lăm năm đầu" Dù saobước qua thế hệ sau, những khó khăn rắc rối cũng sẽ bắt đầu dồn dập đến Nhân số sẽ tăng gấp đôi ở
25 năm sau và vẫn theo định luật đó thì trong vòng 50 năm, dân số sẽ tăng gấp bốn lần Nhưng chúng ta
"không thể tin rằng cũng trong thời gian đó, thực phẩm có thể tăng gấp bốn lần", nhiều lắm, cũng chỉ cóthể tăng gấp ba là cùng Diễn tả bằng con số, định luật của Malthus như sau :Dân số tăng theo cấp số 1,
2, 4, 8, 16, 32, 64 v v.; thực phẩm tăng theo cấp số l, 2, 3, 4, 5, 6, 7 v.v
Theo đường lối lý luận đó Malthus đi đến nhận định : sự gia tăng dân số luôn luôn vấp phải nhữngtrở ngại, mạnh mẽ hơn hết là tình trạng khan hiếm thực phẩm Malthus còn chia ra những trở ngại "tíchcực" như :việc làm thiếu vệ sinh, công việc nặng nhọc, quá nghèo đói, bệnh tật, nuôi dưỡng cẩu thả trẻ
em, thành phố lớn, bệnh dịch, và nạn đói; và những trở ngại "tiêu cực" như :những tật xấu, những luận
lý khắt khe Nhận định đó dẫn Malthus đến kết luận thực tế là : người ta nếu muốn hưởng hạnh phúc tối
đa thì không nên lãnh những trách nhiệm gia đình nếu tự xét không đủ khả năng, và nên sống độc thânthì hơn Luật pháp cũng nên tránh sự khuyến khích giới nghèo đói cho ra đời những đứa trẻ mà họkhông thể nuôi dưỡng nổi Malthus viết :
"Sinh ra trong một thế giới đã bị chiếm hữu hết cả rồi, con người nếu không được cha mẹ cung cấpcho cái ăn, một quyền chính đáng, và nếu xã hội không cần đến sức lao động của mình thì không cóquyền đòi phần ăn, và đương nhiên là không việc gì phải sống trên mặt đất này"
Đó là những dòng viết ra để trả lời cuốn Rights of Man (Nhân quyền) của Paine
"Sự từ thiện, của tư nhân hay chính phủ, là việc không nên làm vì cho tiền người nghèo, mà khôngtăng thêm được số lượng thực phẩm chỉ khiến cho vật giá lên cao và thực phẩm thêm khan hiếm.Chương trình xây dựng nhà cửa cũng là việc không nên thi hành vì sẽ khuyến khích người ta sớm lậpgia đình, rồi dân số lại chóng gia tăng Lương bổng cao hơn cũng có những hậu quả tai hại như vậy.Đường lối độc nhất để thoát ra khỏi tình trạng đen tối này là hôn nhân muộn và tiết dục nghĩa là sốngkhắc kỷ
Theo quan điểm của Malthus, mọi dự án cải thiện xã hội và cứu trợ rồi cũng sẽ đưa đến kết quả làlàm trầm trọng thêm những ác hại muốn sửa chữa Thái độ cứng rắn có vẻ như phản lại xã hội đó củamột giáo sĩ trẻ tuổi là Malthus đã gây ác cảm với những nhà từ thiện đương thời, và ở cả những thế hệsau này Tuy nhiên giai cấp hữu sản và hữu quyền thời đó lại hoan nghênh nhiệt liệt thuyết củaMalthus Theo đó tình trạng nghèo đói và những rối loạn khác trong xã hội này đều được qui chonhững vụ tảo hôn, và số trẻ con quá đông, hơn là lỗi ở tình trạng phân phối bất công tài sản
Thái độ của Malthus đối với các chương trình cứu trợ của chính phủ được trình bày rõ ràng trongđoạn trích sau đây :
"Luật chẩn tế ở Anh có thể làm nguy hại đến tình trạng chung của giới nghèo bằng hai cách Trướchết luật đó có tác dụng gia tăng dân số mà không gia tăng thực phẩm Một người nghèo lập gia đình ít
có hy vọng hay không có hy vọng gì tự lực nuôi dưỡng được gia đình mình Vì vậy nên có thể nói rằngtrong phạm vi nào đó luật chẩn tế đã tạo ra dân nghèo để rồi lại phải cấp dưỡng Trong một xã hội dân
số gia tăng thì số lượng thực phẩm chia cho mỗi người sẽ phải ít đi mà hậu quả là dân lao động khôngđược trợ giúp sẽ mua được một số lượng thực phẩm ít hơn trước, và rồi nhiều người trong số đó phảinhờ đến sự chẩn tế Sau nữa số lượng thực phẩm được đem cấp phát cho dân ở trại tế bần, số dânthường bị coi là ít có giá trị, đã làm giảm sút những phần đáng lẽ ra thì được dành cho đám dân có giátrị hơn Tình trạng này cũng khiến cho thêm nhiều người nữa phải sống nhờ ở sự chẩn tế
Thuyết của Malthus gần như được tóm tắt ở đoạn này, trong phần cuối tập sách:
"Nếu những trường hợp khác cũng vậy, thì có thể nói chắc rằng trong các xứ dân số nhiều hay ít tùy