1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO

434 845 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những tác động đối với nền kinh tế Việt Nam khi Việt Nam gia nhập WTO
Người hướng dẫn PGS.TS Ngô Quang Minh
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 434
Dung lượng 6,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TỔNG QUAN KHOA HỌC

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ TUYỂN THẦU NĂM 2006

Mã số: B.06-50

NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Cơ quan chủ trì: Viện Quản lý kinh tế Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Ngô Quang Minh Thư ký đề tài: Th.S Bùi Văn Huyền

6711

17/4/2008

Hà Nội – 2007

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TỔNG QUAN KHOA HỌC

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ TUYỂN THẦU NĂM 2006

Mã số: B.06-50

NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Cơ quan chủ trì: Viện Quản lý kinh tế Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Ngô Quang Minh Thư ký đề tài: Th.S Bùi Văn Huyền

Hà Nội, 2007

Trang 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 1.1 Bối cảnh ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - tiền thân của WTO

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (gọi tắt theo tiếng Anh là GATT) là một trong những thành quả của việc tổ chức lại các quan hệ kinh tế quốc tế sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai Ban đầu, với sáng kiến của Mỹ, các chuyên gia kinh tế Mỹ, Anh đã bắt tay soạn thảo những nội dung chính nhằm thiết lập một tổ chức kinh tế quốc tế sau chiến tranh

Tại Hội nghị Bretton Woods (7/1944), cùng với việc thành lập Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Tái thiết và phát triển Quốc tế (IBRD),

44 quốc gia tham dự hội nghị thống nhất tham gia đàm phán thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) và Liên hợp quốc được giao nhiệm vụ xúc tiến thành lập Ngày 18/2/1946, Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc

triệu tập một "Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm" với mục

tiêu dự thảo Hiến chương cho Tổ chức Thương mại Quốc tế Dự thảo Hiến chương thành lập ITO không những chỉ điều chỉnh các quy tắc thương mại thế giới mà còn mở rộng ra cả các quy định về công ăn việc làm, các hành vi hạn chế thương mại, đầu tư quốc tế và dịch vụ

Trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, ba hội nghị quốc tế đã diễn ra vào tháng 10/1946, tháng 8/1947 và tháng 11/1947 nhằm soạn thảo văn kiện thành lập ITO với tên gọi Hiến chương Havana - một công ước quốc tế bao gồm

106 điều và 16 phụ lục Trong quá trình đàm phán nhằm ra đời hiến chương ITO, các nước cũng nhất trí áp dụng ngay lập tức và "tạm thời" một số quy tắc thương mại trong Dự thảo Hiến chương ITO nhằm bảo vệ giá trị của các nhân nhượng liên quan đến thương mại, gồm các quy định thương mại và các nhân nhượng thuế quan được đưa ra trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Theo dự kiến, Hiệp định GATT sẽ là một hiệp định phụ trợ nằm trong Hiến chương ITO Cho đến thời điểm cuối 1947, Hiến chương

Trang 4

DANH SÁCH CÁC CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI

ThS Ngô Thị Ngọc Anh Viện Quản lý kinh tế

ThS Nguyễn Văn Chiến Cục Thống kê Bắc Ninh

PGS.TS Kim Văn Chính Viện Quản lý kinh tế

ThS Nguyễn Anh Dũng Viện Quản lý kinh tế

ThS Nguyễn Thị Kim Đoan Học viện Chính trị khu vực 3

TS Trịnh Thị Ái Hoa Viện Quản lý kinh tế

TS Đặng Ngọc Lợi Viện Quản lý kinh tế

ThS Hồ Thị Hương Mai Viện Quản lý kinh tế

ThS Ngô Đức Minh Viện Quản lý kinh tế

ThS Đinh Thị Nga Viện Quản lý kinh tế

TS Nguyễn Quốc Thái Viện Quản lý kinh tế

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: WTO VÀ VIỆT NAM

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 1

1.4 Các hoạt động đặc biệt 31

Chương 2: KHÁI QUÁT KINH TẾ VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO 36

PHẦN THỨ HAI: TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP

Chương 3: TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP KHI GIA NHẬP WTO 78

Chương 4: TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP KHI GIA NHẬP WTO 108

4.2 Các cam kết chủ yếu của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp 117

4.5 Những tác động trong thực thi Hiệp định nông nghiệp của WTO 130

Chương 5: TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DỊCH VỤ KHI GIA NHẬP WTO 144

Chương 6: GIA NHẬP WTO VÀ LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU 171

6.1 Xuất khẩu Việt Nam trước khi gia nhập WTO: Thành tựu và vấn đề đặt ra 171

6.3 Một số đánh giá ban đầu về tác động sau gia nhập WTO đến xuất nhập

khẩu của Việt Nam

185

Chương 7: GIA NHẬP WTO VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 194

7.5 Cải cách đầu tư và những tác động của gia nhập WTO đối với đầu tư

nước ngoài

211

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tốc độ tăng và đóng góp của các nhóm ngành vào tốc độ tăng trưởng năm 2007 54

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2006 57

Bảng 2.4 Xếp hạng năng lực cạnh tranh tổng hợp của Việt Nam 2005-2006 70

Bảng 3.2 Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong đàm phán gia nhập WTO đối với một số sản phẩm công nghiệp 88

Bảng 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2007 89

Bảng 3.4 Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2007 90

Bảng 3.5 Tỷ lệ tăng trưởng hàng dệt may của một số quốc gia sang thị trường Hoa Kỳ (%) 98

Bảng 4.3 Những cam kết quan trọng nhất trong Hiệp định Nông nghiệp 122

Bảng 4.6 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2007 125

Bảng 5.1 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của các phân ngành dịch vụ 145

Bảng 5.3 Tỷ trọng đóng góp của một số dịch vụ động lực trong GDP giai đoạn 1995-2000 148

Bảng 6.1 Giá trị (triệu USD) và thị trường xuất khẩu (%) của Việt Nam 175

Bảng 6.4 Quy mô và tốc độ tăng của từng khu vực thị trường so với năm 2005 179

Bảng 6.5 Tỷ trọng hàng hoá Việt Nam so với tổng hàng nhập khẩu của Mỹ (%) 180

Bảng 6.6 Một số chỉ tiêu sau 9 tháng gia nhập WTO (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm trước 183

Bảng 6.7 20 nhóm hàng hoá nhập khẩu có lượng và giá trị tăng mạnh trong quý I/2007 188

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.6 Tổng giá trị giao dịch cổ phiếu thị trường niêm yết giai đoạn 2000-2006 61

Hình 4.1 Tốc độ gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2006 (% so với 2005) 109

Hình 5.1 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của GDP và lĩnh vực dịch vụ 144

Hình 6.6 Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ (triệu USD) và tốc độ tăng trưởng hàng năm 176

Hình 6.9 Thay đổi kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng 2007 so với 9 tháng 2006 184 Hình 7.1 Tổng quan đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ 1988 đến 2006 194

Hình 7.3 Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo ngành tính theo giá trị và số lượng dự án, giai đoạn 1988-2007 198

Trang 8

DANH MỤC CÁC HỘP

Hộp 3.3 Ý kiến doanh nghiệp về chính sách phát triển công nghiệp 86

Hộp 4.7 Tăng trưởng xuất khẩu cá phi lê đông lạnh của Việt Nam trong trường hợp Mỹ áp dụng thuế bán phá giá 136

Hộp 5.2 Thời điểm lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam 166

Hộp 6.1 Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú trả lời báo Tuổi trẻ 184 Hộp 6.2 Thứ trưởng Bộ Thương mại Nguyễn Thành Biên: Muốn đạt kế hoạch phải giữ chất lượng 193

Hộp 7.1 Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (TRIMs) 205

Hộp 7.3 Sự khác biệt giữa cam kết gia nhập WTO và pháp luật Việt Nam 210

Trang 9

MỞ ĐẦU

Mục tiêu đề tài nhằm phân tích, đánh giá tác động tới nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO Để thực hiện mục tiêu, ban chủ nhiệm đề tài lựa chọn cách tiếp cận, phân tích theo cơ cấu ngành (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), ngoài ra có phân tích thêm 2 lĩnh vực là xuất nhập khẩu và đầu tư Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp,

sự tách bạch tác động theo cơ cấu nêu trên không rõ ràng, một cam kết có thể tác động lên nhiều lĩnh vực, đồng thời một lĩnh vực chịu tác động từ nhiều hiệp định, cam kết Những tác động đan xen, hoà quyện, rất khó bóc tách gây những khó khăn nhất định trong quá trình nghiên cứu Ngoài ra, thời gian gia nhập WTO của Việt Nam chưa được 1 năm, những tác động chưa bộc lộ hết, nhiều cam kết chưa được thực thi, do đó một số kết luận chủ yếu mang tính dự báo

Sau gần 1 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi nhất định Tuy vậy, ban chủ nhiệm và các cộng tác viên không thể bóc tách những tác động do riêng WTO mang lại với những hiệp định đa phương và song phương khác Nói cách khác, những kết quả đạt được của nền kinh tế sau gia nhập WTO có bao nhiêu phần trăm do kết quả của tổ chức này mang lại đã không được phân tích trong phạm vi đề tài

Một số yếu tố khác, có ảnh hưởng đến những kết quả đạt được của nền kinh tế trong giai đoạn vừa qua như cải cách cơ cấu kinh tế trong nước, hoàn thiện hệ thống luật pháp, nâng cao năng lực điều hành của Chính phủ, cải cách hành chính … là những nội dung đã thực hiện từ trước khi Việt Nam gia nhập WTO và sẽ còn tiếp tục thực hiện trong những năm tới Như vậy, kết quả đạt được của nền kinh tế do nhiều yếu tố, trong đó WTO là một trong số đó

Những cam kết và thực hiện cam kết trong khuôn khổ WTO có những tác động khác biệt trong ngắn hạn và dài hạn Nhiều cam kết sẽ tác động tiêu cực trong ngắn hạn nhưng sẽ mang lại kết quả tích cực trong dài hạn và ngược lại, chẳng hạn như cắt giảm thuế quan sẽ dẫn đến tăng kim ngạch nhập khẩu trong ngắn hạn nhưng nếu điều chỉnh cơ cấu mặt hàng sẽ tạo thêm “lực” cho nền kinh tế trong dài hạn

WTO tác động tới các thành viên đến đâu phụ thuộc vào chính mỗi quốc gia

Sự thành công nhiều hay ít với tư cách thành viên WTO không phải phụ thuộc vào tổ chức này mà ở chính mỗi thành viên và Việt Nam không phải ngoại lệ

Với tất cả những yếu tố trên, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài chỉ là những đánh giá ban đầu và còn nhiều khiếm khuyết, rất mong nhận được sự góp ý và chia sẻ của các nhà khoa học và những người quan tâm đến chủ đề này

Trang 10

Chúng ta đánh giá quá cao, quá mức sự kiện gia nhập WTO Đánh giá quá cao theo cách lạc quan tếu Nếu như vậy thì rất nguy hiểm Vào WTO

là đất nước "đổi đời", không có chuyện đó đâu

Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển trong cuộc giao lưu với báo vietnamnet

Không ở đâu như Việt Nam, người dân tổ chức đi bộ, míttinh chào mừng

tổ chức thành công APEC và gia nhập WTO Tôi hoàn toàn không phê phán, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chẳng giải quyết được vấn đề gì Các phong trào đó cần khẳng định quyết tâm, tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức … để làm cái gì tốt hơn Nếu đặt không đúng, không phấn đấu được thì lại tạo ra thất vọng, lúc bấy giờ lại đổ tại đàm phán

"Việt Nam được nhiều hay mất nhiều phụ thuộc vào chính Việt Nam"

Pascal Lamy, Tổng giám đốc WTO

Trang 11

ITO vẫn chưa được thông qua Chiến tranh Thế giới II vừa kết thúc, các nước đều muốn sớm thúc đẩy tự do hoá thương mại, và bắt đầu khắc phục những hậu quả của các biện pháp bảo hộ còn sót lại từ đầu những năm 1930 Do vậy, ngày 23/10/1947, 23 nước đã ký "Nghị định thư về việc áp dụng tạm thời" (PPA), có hiệu lực từ 1/1/1948, thông qua nghị định thư này, Hiệp định GATT đã được chấp nhận và thực thi

Trong thời gian đó, Hiến chương ITO vẫn tiếp tục được thảo luận Cuối cùng, tháng 3/1948, Hiến chương ITO đã được thông qua tại Hội nghị về Thương mại và Việc làm của Liên hiệp quốc tại Havana Tuy nhiên, quốc hội của một số nước đã không phê chuẩn Hiến chương này Đặc biệt là Quốc hội

Mỹ phản đối Hiến chương Havana, mặc dù Chính phủ Mỹ đã đóng vai trò tích cực trong việc nỗ lực thiết lập ITO Tháng 12/1950, Chính phủ Mỹ chính thức thông báo sẽ không vận động Quốc hội thông qua Hiến chương Havana,

do vậy trên thực tế, Hiến chương này không còn tác dụng Và mặc dù chỉ là tạm thời, GATT trở thành công cụ đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế từ năm 1948 cho đến tận năm 1995, khi WTO ra đời

Trong 48 năm tồn tại, GATT đã tổ chức 8 vòng đàm phán:

123

Năm vòng đàm phán đầu tiên chủ yếu tập trung vào đàm phán giảm thuế quan Bắt đầu từ Vòng đàm phán Kenedy, nội dung của các vòng đàm phán mở rộng dần sang các lĩnh vực khác Vòng đàm phán cuối cùng - Vòng Uruguay - đã mở rộng nội dung sang hầu hết các lĩnh vực của thương mại bao gồm: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và

Trang 12

cho ra đời một tổ chức mới thay thế cho GATT - đó là WTO

Trong suốt quá trình tồn tại, GATT đã trở thành hệ thống thể chế và pháp lý của nền thương mại quốc tế, hiệp định của GATT cũng là hiệp định

đa phương duy nhất điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế Mặc dù còn những khiếm khuyết nhất định nhưng trong thời gian 48 năm tồn tại, GATT

đã có những đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy và đảm bảo thuận lợi và tự do hoá thương mại thế giới Số lượng các bên tham gia cũng tăng nhanh Tính tới thời điểm trước ngày 1/1/1995 (WTO ra đời), GATT đã có 124 thành viên và đang tiếp nhận 25 đơn xin gia nhập Nội dung của GATT ngày một bao trùm

và quy mô ngày một lớn: bắt đầu từ việc giảm thuế quan cho tới các biện pháp phi thuế, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, và tìm kiếm một cơ chế quốc tế giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các quốc gia Từ mức thuế trung bình 40% của năm 1948, đến năm 1995, mức thuế trung bình của các nước phát triển chỉ còn khoảng 4% và thuế quan trung bình của các nước đang phát triển còn khoảng 15% Qui mô của GATT cũng không ngừng được mở rộng,

từ chỗ chi phối 20% tổng giá trị thương mại thế giới khi thành lập, đến năm

1995, tỷ lệ này lên tới 90%

1.1.2 Sự ra đời của WTO

Mặc dù đã đạt được những thành công lớn, nhưng đến cuối những năm

80, đầu 90, tình hình thương mại quốc tế có nhiều thay đổi, GATT bắt đầu tỏ

ra có những bất cập, không theo kịp tình hình

- Khiếm khuyết lớn nhất của GATT là tính chất “tạm thời” của hiệp

định này với tư cách là một “điều ước quốc tế” GATT không phải là tổ chức

quốc tế nên đã gây ra những tranh cãi về tư cách thành viên Trường hợp của

Trung Quốc là ví dụ: Quốc gia này đã tham gia ký kết ban đầu như “thành viên sáng lập” của GATT Tháng 7/1986, Trung Quốc đệ đơn khôi phục tư cách thành viên ký kết ban đầu nhưng không được các chuyên gia pháp lý của GATT chấp thuận với lý do đây không phải là tổ chức quốc tế, vì vậy không thể áp dụng qui định kế thừa hay khôi phục tư cách thành viên

- Những thành công của GATT trong việc giảm và ràng buộc thuế quan

ở mức thấp cộng với một loạt các cuộc suy thoái kinh tế trong những năm 70

Trang 13

và 80 đã thúc đẩy các nước xây dựng các loại hình bảo hộ phi thuế quan để đối phó với hàng nhập khẩu, đồng thời thực hiện nhiều hình thức hỗ trợ và trợ cấp Những biến đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị mà việc giảm thuế quan mang lại cho thương mại quốc tế Trong khi đó, phạm vi của GATT không cho phép đề cập một cách cụ thể và sâu rộng đến các vấn đề này

- Khi GATT được thành lập năm 1948, Hiệp định này chủ yếu điều tiết thương mại hàng hoá hữu hình Đến những năm 80, GATT đã không còn thích ứng với thực tiễn thương mại thế giới bởi sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực thương mại dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tư vấn Cùng với các loại hình thương mại dịch vụ, các vấn đề thương mại trong đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đã phát triển nhanh chóng và trở thành một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế, đòi hỏi những thay đổi sâu rộng trong các hiệp định cũng như mô hình tổ chức

- Một số khiếm khuyết trong lĩnh vực thương mại hàng hoá dần bộc lộ Chẳng hạn trong nông nghiệp và dệt may, các cố gắng tự do hoá thương mại

đã không đạt được thành công như mong muốn Kết quả là còn rất nhiều ngoại lệ với các quy tắc chung trong hai lĩnh vực thương mại này

- Cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng tỏ ra không thích ứng với tình hình thế giới Thương mại quốc tế ở những năm 80

và 90 đòi hỏi phải có một tổ chức thường trực, có nền tảng pháp lý vững chắc

để đảm bảo thực thi các hiệp định, quy định chung của thương mại quốc tế, trong khi đó GATT chỉ là một hiệp định Về hệ thống giải quyết tranh chấp, GATT chưa có một cơ chế điều tiết thủ tục tố tụng chặt chẽ, không đưa ra một thời gian biểu nhất định, do đó, các vụ việc tranh chấp thường bị kéo dài,

dễ bị bế tắc Để thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế một cách hiệu quả, hệ thống này cần phải được tổ chức lại

Nhận thức rõ những khiếm khuyết đó, các bên tham gia GATT đã nỗ lực để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên Từ năm 1986 đến

1994, Hiệp định GATT và các hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước thảo luận sửa đổi và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường thương mại thế giới Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định

đi kèm và một vài biên bản giải thích khác đã hợp thành GATT 1994 Một số

Trang 14

hiệp định riêng biệt cũng đạt được trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt may, Trợ cấp, Tự vệ và các lĩnh vực khác; cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của các Hiệp định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá Vòng đàm phán Uruguay cũng thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán lần này

là các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh thành lập WTO, bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995

1.2 Cơ cấu tổ chức của WTO

1.2.1 Mục tiêu

Mục tiêu trực tiếp của WTO được nêu trong tuyên bố thành lập nhằm

Xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định và khả thi hơn 1

theo hướng tạo ra những thoả thuận và cam kết tương hỗ của các thành viên nhằm giảm đáng kể thuế, hàng rào cản trở thương mại và loại bỏ sự phân biệt đối xử trong TMQT Mục tiêu gián tiếp của WTO nhằm:

- Nâng cao mức sống;

- Bảo đảm tạo đầy đủ việc làm, đảm bảo tăng trưởng vững chắc thu nhập và nhu cầu thực tế;

- Phát triển việc sử dụng các nguồn lực của thế giới;

- Mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hoá và dịch vụ

Có thể cụ thể hoá mục tiêu của WTO theo ba giác độ: kinh tế, chính trị,

xã hội

Mục tiêu kinh tế của WTO là đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế

theo hướng tự do Thông qua việc thiết lập hệ thống các cam kết đa phương, WTO hướng đến tạo lập và duy trì môi trường thương mại tự do có thể quản

lý được, hướng các quốc gia tới việc thực thi chính sách thương mại ổn định, minh bạch, có thể dự đoán được nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư kinh doanh có thể ra các quyết định đúng, nhờ đó không chỉ các quốc gia tham gia thương mại quốc tế có thể tăng trưởng việc làm, thu nhập và phát triển bền vững, mà nền kinh tế thế giới cũng đạt tới trạng thái hiệu quả

Mục tiêu chính trị của WTO là thiết lập một thể chế pháp lý toàn cầu

1 Vụ Chính sách thương mại đa biên -Bộ Thương mại (2000), Kết quả vòng đàm phán Urugoay về hệ thống thương mại đa biên, NXB Thống kê, Hà Nội

Trang 15

cho phép duy trì môi trường thương mại ổn định, khuyến khích thương mại tự

do, hạn chế các quốc gia đưa ra các chính sách thương mại tuỳ tiện làm tổn hại đến quá trình phát triển thương mại quốc tế

Mục tiêu xã hội của WTO là hướng tới nền kinh tế thế giới hiệu quả,

qua đó phục vụ tốt hơn nhu cầu của dân cư ở tất cả các quốc gia trên thế giới Đặc biệt WTO có giành sự chú ý nhất định đến việc tạo điều kiện cho các quốc gia kém phát triển tham gia thương mại quốc tế

Như vậy, từ các mục tiêu được công bố công khai của WTO có thể thấy đây là một thể chế tích cực, ủng hộ và hướng đến thương mại tự do WTO hướng tới hình thành một môi trường thương mại quốc tế ổn định, minh bạch

và có thể dự đoán được nhằm bảo đảm cho thương mại tự do có thể thực thi được theo những tiêu chuẩn phù hợp với từng thời kỳ lịch sử phát triển kinh

tế thế giới Những mục tiêu nêu trên có sức hấp dẫn rất lớn đối với tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, trong thực tế, quá trình thực hiện mục tiêu có rất nhiều mâu thuẫn giữa các bên tham gia cũng như các vấn đề nảy sinh do xung đột về lợi ích, do trình độ phát triển và lựa chọn chính sách của các thành viên

1.2.2 Chức năng

Theo Hiệp định Marrakesh thành lập WTO, tổ chức này có năm chức năng cơ bản như sau:

Một là: Tạo thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và tiến hành các mục

tiêu của Hiệp định này và các Hiệp định thương mại đa biên khác, cũng như các Hiệp định nhiều bên WTO có trách nhiệm theo dõi chính sách thương mại của các quốc gia thành viên nhằm thúc đẩy việc thực thi chúng theo cách thức mà các nước đã cam kết tập thể với nhau

Hai là: Tạo ra diễn đàn đàm phán giữa các nước thành viên về quan hệ

thương mại giữa các nước này về các vấn đề được đề cập đến trong các Hiệp định WTO và thực thi kết quả của các cuộc đàm phán đó Đàm phán tại WTO dựa trên hai nguyên tắc: (1) Nhân nhượng lẫn nhau: Một quốc gia không thể chỉ “nhận” mà cần có những điều khoản để đổi lại; (2) Đối xử đặc biệt với nước đang phát triển, nhất là các nước kém phát triển

Ba là: Giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên trên cơ sở Quy

Trang 16

định và thủ tục giải quyết tranh chấp WTO nỗ lực xây dựng một cơ chế giải

quyết tranh chấp độc lập và công bằng những vấn đề khúc mắc, tranh chấp nảy sinh giữa các thành viên của WTO thông qua các thủ tục pháp lý khách quan Tuy nhiên, do khả năng gây ảnh hưởng không chính thức cũng như khả năng tham gia vào hoạt động pháp lý thực tế để giải quyết các tranh chấp cụ thể là khác nhau giữa các nước có tiềm lực, có sức mạnh ngoại thương khác nhau, nên thực tế giải quyết tranh chấp hiện nay trong WTO chưa đạt được mức độ khách quan như mong muốn Song, theo đánh giá chung, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã ít nhiều thể hiện được tính độc lập và khách quan của nó

Bốn là: Thực hiện rà soát chính sách thương mại thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại Định kỳ theo quy định của WTO, các quốc gia

phải gửi báo cáo về chế độ thương mại của mình cho WTO và cơ quan giúp việc của WTO có trách nhiệm gửi báo cáo này cho các thành viên quan tâm Thông qua việc giám sát chính sách thương mại quốc gia, WTO thúc đẩy quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa các nước thành viên, qua đó khuyến khích các thành viên tuân thủ các quy định, cam kết và thủ tục mà các nước thoả thuận Các quốc gia có ảnh hưởng lớn đến thương mại quốc tế như Mỹ, EU, Nhật Bản … định kỳ rà soát chính sách là hai năm, các quốc gia khác thường là 4-6 năm tuỳ thuộc mức độ ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu Riêng đối với các nước chậm phát triển, thời gian này có thể dài hơn

Năm là: Nhằm đạt được một sự nhất quán, hài hoà trong việc hoạch

định chính sách thương mại toàn cầu, WTO sẽ phối hợp với IMF, WB hay một số tổ chức quốc tế khác như Trung tâm thương mại Quốc tế (ITC), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) trong những lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như tăng cường năng lực điều hành của Chính phủ đối với các quốc gia chậm phát triển

1.2.3 Nguyên tắc cơ bản

WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc tương đối phức tạp, bao gồm các hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế Tuy vậy, tất cả các văn bản đó

đều được xây dựng trên cơ sở bảy nguyên tắc cơ bản của WTO

Trang 17

Nguyên tắc 1: Không có sự phân biệt đối xử

Nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định về chế độ Đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN) và Đãi ngộ Quốc gia (NT) MFN là một nguyên tắc cơ bản của WTO, được nêu trong Điều I - Hiệp định GATT, điều II - Hiệp định GATS và điều IV - Hiệp định TRIPS Theo nguyên tắc MFN, WTO yêu cầu một nước thành viên phải áp dụng thuế quan và các quy định khác đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên khác nhau (hoặc hàng hoá xuất khẩu tới các nước thành viên khác nhau) một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳ một ưu đãi nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm tương tự của tất

cả các quốc gia thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện WTO cũng cho phép các nước thành viên được duy trì một số ngoại lệ của nguyên tắc này; Nguyên tắc NT: Trong khi nguyên tắc MFN yêu cầu một nước thành viên không được phép áp dụng đối xử phân biệt giữa các nước thành viên thì nguyên tắc NT yêu cầu một nước phải đối xử bình đẳng và công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước Nguyên tắc này quy định rằng, bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới (đã trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ được hưởng sự đối xử không kém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước

Nguyên tắc MFN và NT lúc đầu chỉ được áp dụng trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, sau khi WTO ra đời thì nó được mở rộng cả sang thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các lĩnh vực khác, tuy vậy mức độ áp dụng của quy tắc này trong các lĩnh vực là khác nhau Trong thương mại hàng hoá: MFN và NT được áp dụng tương đối toàn diện và triệt để Trong thương mại dịch vụ: MFN và NT cũng được áp dụng với những lĩnh vực mà một thành viên đã cam kết mở cửa thị trường, với những lĩnh vực dịch vụ còn duy trì hạn chế thì việc dành MFN và NT tuỳ thuộc vào kết quả đàm phán các cam kết cụ thể Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, các NT trên đã được thể chế hoá cụ thể và phổ biến trong các công ước quốc

tế liên quan đến sở hữu trí tuệ

Nguyên tắc 2: Chỉ bảo hộ bằng thuế quan

Trong WTO, việc bảo hộ các ngành công nghiệp nội địa không bị ngăn

Trang 18

cấm Tuy nhiên, WTO đưa ra một nguyên tắc là các nước chỉ được thực hiện bảo hộ chủ yếu thông qua thuế quan, không được sử dụng các biện pháp thương mại khác Mục tiêu của nguyên tắc này để đảm bảo sự minh bạch của việc bảo hộ và giảm thiểu những tác dụng bóp méo thương mại phát sinh

Nguyên tắc 3: Tạo dựng một nền tảng ổn định cho thương mại

Một nguyên tắc cơ bản của WTO là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định cho thương mại quốc tế, thông qua việc các nước ràng buộc thuế quan của mình Các nước chỉ có thể tăng thuế quan sau khi đã tiến hành đàm phán lại và đã đền bù thoả đáng cho lợi ích các bên bị thiệt hại do việc tăng thuế đó

Để đảm bảo nguyên tắc này, các nước thành viên WTO còn có nghĩa vụ phải minh bạch hoá các quy định thương mại của mình, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng và ràng buộc chúng (tức là cam kết sẽ không thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho thương mại, nếu thay đổi phải được thông báo, tham vấn và bù trừ hợp lý) Tính dự báo được nhằm giúp các nhà kinh doanh nắm rõ tình hình hiện tại cũng như xác định được cơ hội của họ trong tương lai Nguyên tắc này giúp cho môi trường kinh doanh có tính ổn định và lành mạnh

Nguyên tắc 4: Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán

WTO đảm bảo thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn thông qua quá trình đàm phán hạ thấp các hàng rào thương mại để thúc đẩy buôn bán Kể từ năm 1948 đến nay, GATT và WTO đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường Để thực hiện nguyên tắc thương mại ngày càng tự do này, WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm phán thương mại đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do hoá thương mại

WTO kiên trì xu hướng hạn chế dần đi tới xoá bỏ các hàng rào cản trở thương mại quốc tế như thuế quan và các biện pháp phi thuế quan nhằm tiến tới một thị trường thống nhất dựa trên các quy tắc cạnh tranh kinh tế Do đó, ngoài việc khuyến khích, duy trì thường xuyên các cuộc đàm phán giảm thuế quan, WTO còn thúc đẩy, mở rộng các đàm phán nhằm đi tới các hiệp định bổ sung về thủ tục hành chính đối với hàng xuất nhập khẩu

Gần đây, WTO mở rộng các vấn đề đàm phán sang lĩnh vực môi trường

Trang 19

và lao động liên quan đến sản xuất sản phẩm Về phương diện xã hội, các quy định của một số nước liên quan đến bảo vệ môi trường và an toàn lao động cho phụ nữ và trẻ em mang tính nhân đạo Nhưng về mặt điều kiện thương mại thì các quy định mới này có thể cản trở hoạt động thương mại và gây bất lợi cho hàng hoá của các nước kém phát triển Do đó, quá trình hoạch định và thực thi chính sách thương mại tự do của WTO trong mối liên hệ đến các vấn

đề công bằng và phát triển còn tiềm ẩn nhiều khía cạnh phức tạp và mâu thuẫn nhau

Nguyên tắc 5: Tạo lập môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng

WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng và không bị bóp méo Tất cả các Hiệp định của WTO như về nông nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ đều nhằm mục tiêu tạo một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các quốc gia

WTO khuyến khích thương mại theo khuynh hướng cạnh tranh kinh tế thuần tuý dựa trên lợi thế cạnh tranh nhằm thiết lập cơ cấu phân công lao động quốc tế hiệu quả Chính vì thế, trong các nội dung đàm phán, cũng như trong các hiệp định đã ký kết của WTO các biện pháp can thiệp của nhà nước làm hạn chế phạm vi hoạt động của cơ chế thị trường cạnh tranh tự do hoặc làm méo mó giá cả thường bị gây áp lực phải hạn chế dần, đi tới xoá bỏ Nguyên tắc này đặc biệt liên quan đến thương mại nhà nước và trợ cấp của nhà nước, nhất là trong các vòng đàm phán gần đây, khi vấn đề trợ cấp nông sản và chi tiêu của Chính phủ được nhiều nước quan tâm đề xuất đưa vào chương trình đàm phán Mục đích của nguyên tắc này là xây dựng một môi trường trong đó hàng hoá và dịch vụ cạnh tranh bình đẳng với nhau, không có

sự hỗ trợ tài chính của nhà nước

Nguyên tắc 6: Nguyên tắc "khước từ" và khả năng áp dụng các hành động khẩn cấp

Khi tình hình kinh tế hay thương mại của một nước gặp khó khăn nhất thời, WTO cho phép các nước thành viên được tạm thời miễn không thực hiện những nghĩa vụ nhất định

WTO cũng cho phép các chính phủ được áp dụng các biện pháp tự vệ khẩn cấp trong những trường hợp quy định Các thành viên có thể áp dụng các hạn chế nhập khẩu hay tạm ngừng các nhân nhượng thuế quan đối với

Trang 20

những sản phẩm cụ thể khi nhập khẩu các sản phẩm này tăng mạnh, gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước

Theo quy định của WTO, các nước sẽ loại bỏ tất cả hạn chế số lượng đối với hàng nhập khẩu Tuy nhiên, WTO cũng cho phép các nước thành viên được áp dụng các hạn chế nhập khẩu trong một số trường hợp ngoại lệ như:

- Nước nhập khẩu gặp khó khăn về cán cân thanh toán

- Có căng thẳng về ngoại hối (do nhu cầu nhập khẩu vì mục tiêu phát triển tăng mạnh, hoặc do các nước này thiết lập hay mở rộng hoạt động sản xuất trong nước)

Khi các nước áp dụng các ngoại lệ này, các hạn chế số lượng phải được

áp dụng trên cơ sở không có sự phân biệt đối xử

Nguyên tắc 7: Ưu đãi dành cho các nước đang phát triển

Một trong những mục tiêu hoạt động của WTO là cần phải có nỗ lực tích cực để đảm bảo rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước đó Với khoảng 2/3 số thành viên của mình là các nước đang và kém phát triển, WTO luôn khuyến khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các quốc gia này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thương mại đa phương WTO cũng dành cho các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi những ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nước này

Những ưu đãi được khuyến khích trong WTO khá đa dạng, từ cam kết giảm thuế quan bất tương xứng đến lộ trình thực hiện cam kết dài hơn cho các nước đang phát triển, thậm chí WTO cho phép miễn nghĩa vụ cam kết cho các nước chậm phát triển nhất

Hộp 1.1 WTO thuộc về ai?

WTO được điều khiển bởi chính các chính phủ là thành viên của tổ chức Tất cả các quyết định lớn đều có sự tham gia của toàn thể các thành viên, được đưa ra hoặc ở cấp Hội nghị bộ trưởng (họp ít nhất là 2 năm một lần), hoặc ở cấp các đại sứ và đại biểu (họp thường xuyên ở Geneva) Thông thường các quyết định được đưa ra theo nguyên tắc đồng thuận.

Do nguyên tắc này, WTO khác với một số tổ chức quốc tế khác, ví dụ như Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế Tại WTO không có sự uỷ quyền cho một Uỷ ban

Trang 21

điều hành hoặc một nhân vật đứng đầu tổ chức quốc tế trong quá trình ra quyết định

Các chế tài áp dụng cho các nước thành viên, được quy định trong các quy tắc của WTO, là kết quả của những cuộc thương lượng giữa các thành viên của Tổ chức này Chính bản thân các thành viên này giám sát việc áp dụng các nguyên tắc theo đúng các trình tự đã được họ thoả thuận, bao gồm cả việc dùng đến các biện pháp trừng phạt thương mại Nhưng những biện pháp trừng phạt này do chính các nước đặt ra và được toàn thể các thành viên cho phép áp dụng, điều này thực sự khác với các tổ chức quốc tế khác Ví dụ như, các tổ chức này có thể tác động đến chính sách của một nước bằng cách đe doạ ngừng cấp các khoản tín dụng

Đôi khi khó có thể thông qua các quyết định theo nguyên tắc đồng thuận với khoảng 150 thành viên Lợi ích chính của nguyên tắc đồng thuận là các quyết định có nhiều cơ hội được tất cả các thành viên chấp thuận hơn, và mặc dù khó khăn, nhiều thoả thuận rất quan trọng đã được ký kết Cho đến nay, ý tưởng thành lập một cơ quan điều hành có số thành viên hẹp - có thể dưới hình thức một Uỷ ban điều hành trong đó mỗi thành viên đại diện cho một nhóm nước – thường xuyên được nêu ra Tuy nhiên, hiện giờ WTO vẫn là một tổ chức hoạt động dưới sự điều khiển của các nước thành viên và trung thành với nguyên tắc đồng thuận

Nguồn: Tìm hiểu về WTO, tr.85

1.2.4 Cơ cấu tổ chức của WTO

Bộ máy điều hành của WTO được tổ chức như sau:

- Hội nghị Bộ trưởng WTO: Là cơ quan cao nhất của WTO, bao gồm đại

diện của tất cả các thành viên, định kỳ họp 2 năm một lần Hội nghị Bộ trưởng sẽ thực thi chức năng thông qua hầu hết các quyết định của WTO (các hiệp định, thông báo, chương trình nghị sự của các vòng đàm phán, giải thích ý nghĩa các hiệp định)

- Đại hội đồng WTO: Là cơ quan thường trực giữa hai kỳ họp của Hội

nghị Bộ trưởng Đại hội đồng cũng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên

và thực hiện 3 chức năng: chức năng của Hội nghị Bộ trưởng trong thời gian giữa các khoá họp (giải quyết tất cả các công việc có liên quan đến WTO); chức năng của cơ quan giải quyết tranh chấp khi có vụ việc đưa lên Đại hội đồng; chức năng của cơ quan rà soát chính sách thương mại của các thành viên theo định kỳ Đại hội đồng còn quy định quy chế hoạt động và thủ tục hành chính cho các hội đồng trực thuộc

Dưới Đại Hội đồng, WTO có ba Hội đồng về ba lĩnh vực thương mại

cụ thể là Hội đồng Thương mại Hàng hoá, Hội đồng Thương mại Dịch vụ và Hội đồng về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại Các hội đồng

Trang 22

này có các cơ quan cấp dưới (các uỷ ban và các tiểu ban) để thực thi các công việc cụ thể trong từng lĩnh vực (Ví dụ, Hội đồng Thương mại Hàng hoá có 11

uỷ ban, 2 nhóm công tác và Cơ quan Giám sát Hàng dệt, Hội đồng Thương mại Dịch vụ có 2 uỷ ban, 2 nhóm công tác )

Tương đương với các Hội đồng này, WTO còn có một số uỷ ban với phạm vi chức năng nhỏ hơn, nhưng cũng báo cáo trực tiếp lên Đại Hội đồng,

đó là các Uỷ ban về Thương mại và Phát triển, Thương mại và Môi trường, Hiệp định Thương mại Khu vực, Hạn chế bảo vệ Cán cân Thanh toán, Uỷ ban

về Ngân sách, Tài chính và Quản lý, và Tiểu ban về các nước Chậm phát triển Bên cạnh các uỷ ban đó là các Nhóm công tác về Gia nhập, và Nhóm Công tác về Mối quan hệ giữa Đầu tư và Thương mại, về Tác động qua lại giữa Thương mại và Chính sách cạnh tranh, về Minh bạch hoá và Mua sắm của Chính phủ Ngoài ra còn có hai uỷ ban về các hiệp định nhiều bên

- Ban thư ký WTO: Là một cơ quan quan trọng của WTO đặt tại

Geneva Đứng đầu Ban Thư ký là Tổng Thư ký, dưới đó là các Phó tổng thư

ký, phụ trách từng mảng cụ thể Nhiệm vụ chính của Ban thư ký là:

+ Hỗ trợ về kỹ thuật và quản lý cho các cơ quan chức năng của WTO

(các hội đồng, uỷ ban, tiểu ban, nhóm đàm phán) trong việc đàm phán và thực thi các hiệp định;

+ Trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển;

+ Phân tích các chính sách thương mại và tình hình thương mại;

+ Giúp đỡ trong việc giải quyết tranh chấp thương mại liên quan đến việc diễn giải các quy định, luật lệ của WTO;

+ Xem xét vấn đề gia nhập của các nước và tư vấn cho các quốc gia đó Tất cả các thành viên của WTO có thể tham gia vào tất cả các hội đồng,

uỷ ban, tiểu ban, ngoại trừ Cơ quan phúc thẩm, các nhóm chuyên gia giải quyết tranh chấp, Cơ quan giám sát hàng dệt may và các uỷ ban và hội đồng được thành lập theo các hiệp định đa biên

Trang 23

Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức của WTO

Chú giải sơ đồ:

Đệ trình báo cáo lên Đại hội đồng (hoặc cơ cấu trực thuộc Đại hội đồng)

Các uỷ ban được thành lập theo quy định của các hiệp định nhiều bên có nhiệm vụ thông báo cho Đại hội đồng hoặc Hội đồng về thương mại hàng hóa về các hoạt động của mình, ngay cả khi không phải tất cả các thành viên WTO đều tham gia ký kết các hiệp định nhiều bên này

Uỷ ban về đàm phán thương mại trực thuộc Đại hội đồng Đại hội đồng nhóm họp dưới danh nghĩa là Cơ quan Rà soát chính sách thương mại và Cơ quan Giải quyết tranh chấp

Hội đồng về thương mại dịch vụ

Các uỷ ban nhiều bên

Uỷ ban về thương mại hàng không dân dụng

Uỷ ban về chi tiêu chính phủ

Chương trình phát triển Doha: Uỷ ban đàm phán thương mại và các cơ quan trực thuộc

Các phiên họp đặc biệt của

Uỷ ban dịch vụ/Uỷ ban về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ/ Cơ quan giải quyết tranh chấp/Uỷ ban nông nghiệp/Uỷ ban

về thương mại và phát triển/Uỷ ban về thương mại

Thương mại và phát triển

Tiểu ban về các nước

Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại

Trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Chống bán phá giá Định giá hải quan Quy tắc xuất xứ

‘Giấy phép nhập khẩu Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

Uỷ ban đa biên

Uỷ ban về Hiệp định Công

nghệ thông tin

Đại hội đồng nhóm họp với chức năng là cơ

quan giải quyết tranh chấp

Uỷ ban về đàm phán thương mại

Trang 24

Hộp 1.2: Phương thức biểu quyết có thể được áp dụng

WTO kế thừa truyền thống của GATT là thông qua các quyết định trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận chứ không đưa vấn đề ra biểu quyết Tiến trình này cho phép tất

cả các nước thành viên đảm bảo được rằng lợi ích của họ được một cách đúng đắn, ngay cả khi họ chấp nhận đồng thuận vì lợi ích tối cao của hệ thống thương mại đa phương.

Khi sự đồng thuận là không thể, Hiệp định của WTO cho phép khả năng đưa vấn

đề ra biểu quyết; khi đó quyền quyết định sẽ được thông qua với đa số phiếu, mỗi thành viên có quyền bỏ một phiếu.

Hiệp định về WTO đưa ra bốn trường hợp sau :

* Các thành viên của WTO với ba phần tư số phiếu, có thể thông qua cách giải thích một hiệp định thương mại đa phương.

* Hội nghị bộ trưởng có thể quyết định, cũng với ba phần tư số phiếu, chấp thuận cho một thành viên miễn trừ thực hiện một nghĩa vụ của một hiệp định đa phương.

* Các quyết định liên quan đến việc sửa đổi các điều khoản của các hiệp định đa phương có thể được thông qua nếu được chấp thuận bởi hoặc tất cả các thành viên, hoặc hai phần ba số thành viên, tuỳ theo tính chất của điều khoản được xem xét Tuy nhiên, tất cả các điều chỉnh này chỉ có hiệu lực đối với các thành viên chấp thuận chúng.

* Các quyết định liên quan đến việc gia nhập Tổ chức WTO của một thành viên mới có thể được thông qua tại Hội nghị bộ trưởng, hoặc tại Đại hội đồng (giữa hai kỳ họp của Hội nghị bộ trưởng) với hai phần ba số phiếu.

Các Uỷ ban trực thuộc Hội đồng thương mại hàng hoá: Thâm nhập thị

trường; Nông nghiệp; Các biện pháp kiểm dịch động thực vật; Cơ quan giám sát hàng dệt may; Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại; Trợ cấp và các biện pháp trả đối kháng; Chống bán phá giá; Định giá hải quan; Các quy tắc xuất xứ; Các giấy phép nhập khẩu; Các biện pháp liên quan đến đầu tư; Tự vệ; Các doanh nghiệp thương mại Nhà nước (Nhóm công tác).

Liệu cùng một nhóm người có thể đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau?

Không hoàn toàn như vậy Tuy các Hội đồng và các Uỷ ban bao gồm đại diện của tất cả các thành viên WTO, nhưng điều đó không có nghĩa là các thiết chế này là một hoặc là sự phân biệt giữa các thiết chế này chỉ mang tính hình thức.

Trong thực tiễn, không có chuyện cùng một nhóm người tham gia vào công việc của các hội đồng và ủy ban khác nhau vì cấp bậc của đại biểu và thẩm quyền đòi hỏi là khác nhau.

Trưởng phái đoàn ở Geneva (thông thường là cấp đại sứ) đại diện cho đất nước mình ở Đại hội đồng Do có một vài Uỷ ban rất chuyên môn, các chính phủ đôi khi cử các chuyên gia đương chức trong nước đại diện cho đất nước mình tham dự các cuộc họp của các Uỷ ban này.

Thậm chí ngay ở cấp độ Hội đồng thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, nhiều đoàn đại biểu được đại diện bởi những người khác nhau

Nguồn: Tìm hiểu Tổ chức Thương mại Thế giới, tr 88

Trang 25

1.3 Các hiệp định của WTO

Có thể nói, WTO là tổ chức quốc tế duy nhất điều chỉnh các quy tắc về thương mại giữa các quốc gia Cốt lõi của WTO là các hiệp định do các chính phủ thành viên đàm phán và ký kết Các hiệp định này tạo ra nền tảng pháp lý cho việc tiến hành hoạt động thương mại quốc tế, với mục tiêu thúc đẩy giao lưu thương mại hàng hoá, dịch vụ và hợp tác thương mại ngày càng sâu rộng

và hiệu quả hơn Khuôn khổ thể chế đối với các hoạt động của WTO được xác định trong các hiệp định với 3 trụ cột chính: Thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ Ngoài ra, WTO còn điều hành hệ thống giải quyết tranh chấp chung cho các lĩnh vực trong các hiệp định cụ thể, đồng thời đánh giá thường kỳ về chính sách thương mại của các nước và hợp tác với các tổ chức quốc tế khác nhằm tạo sự hài hoà trong phát triển kinh tế toàn cầu

Hệ thống WTO hiện nay bao gồm những hiệp định độc lập như:

- Các hiệp định đa phương về Thương mại Hàng hoá bao gồm Hiệp định GATT 1994 và các hiệp định đi kèm với nó;

- Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS);

- Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

1.3.1 Thương mại Hàng hoá

Hiệp định chủ chốt điều chỉnh lĩnh vực thương mại hàng hoá của WTO là GATT 1994 Mục tiêu cơ bản của GATT là tạo cơ sở để tiến hành cắt giảm thuế quan Kết thúc vòng đàm phán Uruguay, các nước thành viên đã đưa ra các cam kết ràng buộc thuế đối với hầu hết các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu

GATT đưa ra các nguyên tắc cơ bản để tiến hành thương mại hàng hoá giữa các nước thành viên, đó là nguyên tắc MFN, NT, không hạn chế số lượng, các hiệp định thương mại khu vực, các điều khoản ưu tiên và ưu đãi dành cho các nước đang và chậm phát triển, các quy tắc về đàm phán, ràng buộc thuế quan và đàm phán lại GATT cũng có các điều khoản cơ bản về

Trang 26

các vấn đề chống bán phá giá, xác định trị giá hải quan, trợ cấp, tự vệ khẩn cấp tuy nhiên những điều khoản này còn bộc lộ nhiều bất cập trong thực tế

Tại các nước phát triển, thuế quan đã giảm trung bình 38% sau khi thực hiện đầy đủ những cam kết trong vòng đàm phán Uruguay Mức giảm thuế quan tương ứng của các nước đang phát triển là 25%2 Mức thuế quan ràng buộc trung bình (thuế quan cam kết) cũng được cắt giảm đáng kể và sát với thuế quan thực tế áp dụng, nhất là với các quốc gia phát triển

Cũng tính từ khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, các nước phát triển cam kết tiến hành cắt giảm thuế quan hàng công nghiệp từ 6,3% xuống còn trung bình là 3,8% trong vòng 5 năm, tính từ 1/1/1995; Số lượng các sản phẩm phải chịu thuế suất hải quan cao giảm xuống, số dòng thuế nhập khẩu từ tất cả các nước phải chịu thuế suất trên 15% giảm từ 7% xuống còn 5% (riêng đối với các nước đang phát triển thì mức giảm này là từ 9% xuống 5%) Ngày 26/3/1997, 40 nước chiếm 92% thương mại thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã nhất trí miễn thuế và các loại phí khác cho tất cả các sản phẩm công nghệ thông tin nhập khẩu kể từ năm 2000 Số lượng các dòng thuế được ràng buộc cũng tăng nhanh Các nước phát triển cam kết tăng các ràng buộc dòng thuế từ 77% lên 99%, các nước đang phát triển cũng cam kết tăng dòng thuế này từ 21% lên 73% Riêng đối với các nền kinh tế chuyển đổi, các cam kết tương ứng tăng từ 73% lên 98%

Nội dung chủ yếu của GATT là cắt giảm thuế quan và ràng buộc mức thuế Ngoài ra, GATT còn tạo cơ sở để tiếp tục tiến hành các cuộc đàm phán nhằm cắt giảm thuế quan trong tương lai, đồng thời thúc đẩy các cam kết mở cửa thị trường của các quốc gia Bên cạnh đó, GATT cũng quy định những thủ tục cần thiết như tham vấn, bồi thường khi một nước muốn rút bỏ một ràng buộc thuế quan của mình, trong những trường hợp đặc biệt, cụ thể GATT cũng có các quy định về các vấn đề như định giá tính thuế, hạn chế số lượng, tự vệ khẩn cấp, trợ cấp, bảo vệ cán cân thanh toán, gia nhập, rút lui, miễn trừ Tuy nhiên, trong khuôn khổ của GATT, một số vấn đề chưa được

đề cập chi tiết, chưa nhận được sự nhất trí của tất cả các thành viên Kết thúc Vòng đàm phán Uruguay, các nước thành viên đã nhất trí đưa ra các hiệp định

2 WTO (2001)

Trang 27

cụ thể về các vấn đề này, bao gồm:

1 Hiệp định Nông nghiệp (AoA)

2 Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh Dịch tễ (SPS)

3 Hiệp định Dệt may (ATC)

4 Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật Cản trở Thương mại (TBT)

5 Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMs)

6 Hiệp định Chống Phá giá (Anti-dumping)

7 Hiệp định Trị giá Hải quan (ACV)

8 Hiệp định về Giám định Hàng hoá trước khi xuống tầu (PSI)

9 Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ (Rules of Origin)

10 Hiệp định về Giấy phép Nhập khẩu (Import Licensing)

11 Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng (SCM)

12 Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ (AoS)

Ngoài các hiệp định nêu trên, trong khuôn khổ của GATT còn có các hiệp định chuyên ngành như Hiệp định về Công nghệ thông tin (ITA) Vòng đàm phán Uruguay đạt được kết quả quan trọng là một số quốc gia thống nhất bãi bỏ thuế quan trong một số ngành, qua đó, một số hiệp định đã được ký kết như hiệp định đối với sản phẩm công nghiệp trong một số ngành: dược phẩm,

đồ chơi, hoá chất, giấy và sản phẩm giấy, thiết bị y tế, đồ nội thất, thiết bị nông nghiệp, thiết bị xây dựng, thép Trong ngành nông nghiệp có hiệp định về bia

và rượu mạnh Hầu hết các hiệp định chuyên ngành, thuế suất cam kết ở mức 0% và chủ yếu do các quốc gia phát triển ký kết (trừ một số quốc gia đang phát triển có mức sống cao như Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc) Điểm đặc biệt đáng chú ý là, theo nguyên tắc MFN, các thành viên không tham gia ký kết nhưng vẫn được hưởng miễn thuế đối với hàng xuất khẩu của mình sang các nước khác Điều đó có nghĩa là các quốc gia đang phát triển được hưởng lợi từ các hiệp định chuyên ngành ngay cả khi họ không tham gia ký kết

1.3.2 Thương mại dịch vụ

Hoạt động thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên WTO được điều chỉnh bởi Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) GATS bao gồm:

Trang 28

- Các quy định và nguyên tắc chung được trình bày trong Hiệp định chung

- Các phụ lục của GATS và các quyết định cấp Bộ trưởng

Phụ lục về Miễn trừ MFN Phụ lục về Di chuyển và cư trú của thể nhân Phụ lục về Dịch vụ Vận tải hàng không Phụ lục về Dịch vụ tài chính

Phụ lục về Vận tải biển Phụ lục về Viễn thông cơ bản

- Các cam kết của từng nước về các lĩnh vực dịch vụ cụ thể, về áp dụng MFN, NT và mở cửa thị trường trong các lĩnh vực đó

Thuật ngữ dịch vụ trong GATS không được định nghĩa rõ ràng nhưng chúng được phân nhóm thành 12 ngành:

Dịch vụ nghề nghiệp và dịch vụ kinh doanh;

GATS phân biệt 4 hình thức cung cấp dịch vụ khác nhau:

- Cung cấp dịch vụ qua biên giới: Dịch vụ được một nước thành viên

Trang 29

này cung cấp cho một nước thành viên khác (chỉ có dịch vụ di chuyển, người cung cấp dịch vụ không di chuyển) - ví dụ truyền hình trực tiếp cuộc thi hoa hậu thế giới

- Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài: Người tiêu dùng ở nước này sang

nước khác tiêu dùng dịch vụ - ví dụ đi du lịch, tiêu thụ dịch vụ ở nước ngoài

- Hiện diện thương mại: Dịch vụ được cung cấp bởi một nhà cung ứng

đặt cơ sở hoạt động ở một nước thành viên khác- ví dụ trường hợp mở chi nhánh tại nước ngoài

- Di chuyển tạm thời của người cung cấp dịch vụ: Dịch vụ được thực

hiện bởi cá nhân đi sang nước khác trong một thời gian ngắn- ví dụ như một chuyên gia đi thực hiện hoạt động dịch vụ ở nước ngoài trong thời gian ngắn

Trong bốn phương thức cung cấp dịch vụ kể trên, hiện diện thương mại được coi là phương thức được các thành viên quan tâm nhất và cũng có nhiều cam kết chi tiết nhất

Nhìn chung, Hiệp định GATS mới đạt được kết quả có mức độ về mở cửa thị trường; thành công nhất của GATS là đã mở rộng được diện điều chỉnh của hệ thống thương mại đa biên, đặc biệt là bao trùm cả những lĩnh vực như đầu tư trực tiếp của nước ngoài, trình độ chuyên môn, sự di chuyển của người cung cấp dịch vụ và cung cấp dữ liệu qua biên giới Những tiền đề

đó đã hợp pháp hoá khuôn khổ pháp lý ban đầu chung cho các nước và là xuất phát điểm để các quốc gia tiếp tục đàm phán cụ thể hơn về những lĩnh vực đầy tiềm năng này qua các vòng đàm phán trong tương lai Tầm quan trọng của thương mại dịch vụ ngày càng được khẳng định và các đàm phán về thương mại dịch vụ sẽ càng trở nên quan trọng trên diễn đàn của WTO, diễn đàn khu vực và liên khu vực

1.3.3 Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs)

Tính đến nay, TRIPs là hiệp định đa phương toàn diện nhất liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) Sau vòng đàm phán Uruguay, các quốc gia

đã đạt được kết quả rất khả quan cả về chiều rộng và chiều sâu về quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại Các hiệp định chủ yếu trước đây thuộc

Trang 30

diện quản lý của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) đã được chấp nhận chính thức và ràng buộc trong khuôn khổ WTO, được thực hiện trên cơ sở

NT Các nước tham gia Vòng đàm phán Uruguay đã ký kết Hiệp định TRIPs điều chỉnh quyền tác giả và các quyền có liên quan, nhãn hàng, chỉ dẫn địa lý, thiết kế công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin

bí mật và hạn chế các hoạt động chống cạnh tranh trong các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng (Xem thêm Phụ lục 5) Các bên cũng chấp nhận Cơ chế Giải quyết Tranh chấp của WTO được áp dụng cho tranh chấp phát sinh từ các hiệp định này TRIPs không chỉ dựa trên những hiệp định chủ yếu của hệ thống sở hữu trí tuệ hiện có mà còn xây dựng được những quy định mới chưa được WIPO xây dựng

Phạm vi bảo hộ của TRIPs gồm 7 lĩnh vực, trong mỗi lĩnh vực bao gồm nhiều nội dung cụ thể:

Bản quyền và quyền lợi liên quan;

Thông tin chưa công khai

TRIPs được tiến hành song song và không mâu thuẫn với những công ước quốc tế về quyền SHTT như công ước Berne3, Công ước Roma4, Công ước về quyền sở hữu trí tuệ mạch điện tổng hợp (IPIC), công ước Paris5 … TRIPs cũng qui định những ngoại lệ, đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong từng trường hợp cụ thể Mức độ bảo hộ trong TRIPs được xem là tiêu chuẩn thấp nhất Điều đó có nghĩa là luật pháp của các quốc gia thành viên không được qui định thấp hơn mức qui định bảo hộ trong TRIPs Các qui định

cơ bản của TRIPs có thể chia thành 5 nhóm:

- Nhóm các qui định liên quan đến việc thực hiện bảo hộ theo nguyên

3 Công ước về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật

4 Công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất, chương trình thu thanh và các tổ chức phát thanh truyền hình

5 Công ước về bảo hộ sở hữu công nghiệp

Trang 31

tắc NT và MFN

- Nhóm các qui định tối thiểu về nội dung bảo hộ, thời gian bảo hộ tối thiểu của 7 lĩnh vực SHTT, chẳng hạn như phát minh sáng chế có thời gian bảo hộ tối thiểu 20 năm; nhãn hiệu thương mại (thương hiệu) bảo hộ tối thiểu

7 năm sau mỗi lần đăng ký…

- Nhóm qui định về quyền áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm hạn chế chủ thể SHTT lạm dụng quyền của mình hoặc có những hành vi hạn chế thương mại hay chuyển giao công nghệ không hợp lý

- Nhóm qui định về đảm bảo việc thực thi sự bảo hộ bằng các qui định

về cơ chế, tổ chức, thủ tục và đền bù có liên quan

- Nhóm qui định về thời gian thực hiện các điều chỉnh hệ thống luật pháp quốc gia cho phù hợp với các qui định nêu trên: 1 năm đối với các nước phát triển, 5 năm đối với các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi, 11 năm đối với các nước chậm phát triển

1.3.4 Cơ chế giải quyết tranh chấp

Trong quan hệ thương mại quốc tế, quyền lợi của các quốc gia luôn mâu thuẫn với nhau, và rất dễ xảy ra tranh chấp Do vậy, hệ thống thương mại

đa biên mà các nước thành viên WTO nỗ lực xây dựng sẽ không thể tồn tại và hoạt động hiệu quả nếu như thiếu đi cơ chế giải quyết tranh chấp Vòng đàm phán Uruguay đã đạt được một thành công lớn là đưa ra được một cơ chế giải quyết tranh chấp hoàn chỉnh hơn, cho phép các mối quan hệ trong thương mại quốc tế được giải quyết một cách công bằng hơn, hạn chế rất nhiều những hành động đơn phương, độc đoán của những cường quốc thương mại, góp phần tháo gỡ những bế tắc vốn thường xảy ra và khó giải quyết trước đây Vì thế, hiệu quả của hệ thống thương mại thế giới được nâng cao Các nước đang phát triển, chậm phát triển và ngay cả một số nước phát triển coi đây là một thắng lợi với nhiều lợi ích thu được từ hệ thống thương mại đa biên

Nhìn chung, các tranh chấp thường được giải quyết bằng nhân nhượng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các tranh chấp không thể giải quyết bằng thương lượng thì cần đến một cơ quan đủ quyền lực với cơ chế giải quyết

Trang 32

tranh chấp được các thành viên chấp nhận

Đối tượng của các tranh chấp trong khuôn khổ WTO là chính sách thương mại của các nước thành viên chứ không phải là tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng thương mại Do đó, mục tiêu của cơ chế giải quyết tranh chấp nhằm tạo tính an toàn và khả thi trong việc thực thi các hiệp định

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp: không đi ngược lại mục tiêu của

WTO và thúc đẩy thương mại tự do Do đó, WTO khuyến khích các giải pháp

tự thương lượng giữa các bên tranh chấp hơn là đưa vụ việc ra cơ quan giải quyết tranh chấp Trường hợp các bên không thống nhất được thì cách giải quyết được ưu tiên là rút lại những quy định không phù hợp với Hiệp định đã được ký kết của các bên liên quan Các quy định bồi thường chỉ được đưa ra trong trường hợp không thể thực hiện việc rút lại các biện pháp không phù hợp với quy định của WTO và khi có một biện pháp tạm thời ngăn cản việc thu hồi đó Biện pháp cuối cùng mới là cho phép thành viên khởi kiện đình chỉ áp dụng các nhân nhượng và nghĩa vụ đã cam kết với bên bị kiện Nhìn chung, nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO không hướng vào kết quả thắng thu trong từng vụ việc mà giải quyết theo tinh thần bảo vệ tối đa sự tuân thủ luật lệ của WTO, thúc đẩy môi trường tự do thương mại

- Thủ tục giải quyết tranh chấp: Các tranh chấp đưa ra trước cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO được xem xét và giải quyết theo trình tự sau:

+ Khi xuất hiện tranh chấp, nước khiếu nại cần nêu vấn đề với nước bị khiếu nại để hai bên cùng tham vấn tìm cách giải quyết;

+ Nếu quá trình tham vấn thất bại, WTO sẽ giúp đỡ tìm trung gian, môi giới hoà giải Nếu vấn đề vẫn không tháo gỡ được thì nước khiếu nại có thể yêu cầu Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO lập Ban hội thẩm;

+ Trong những thời hạn quy định, Ban hội thẩm sẽ nghiên cứu vấn đề

và lập báo cáo trình Hội đồng giải quyết tranh chấp

+ Sau một thời gian đủ để các bên xem xét báo cáo của Ban hội thẩm, Hội đồng giải quyết tranh chấp sẽ họp để thông qua báo cáo này Báo cáo sẽ được thông qua nếu không có nước thành viên nào phản đối

Trang 33

+ Nếu có nước thành viên phản đối thì Hội đồng giải quyết tranh chấp

sẽ giao vụ việc cho Cơ quan phúc thẩm xem xét lại Cơ quan này có quyền

thông qua hoặc sửa đổi báo cáo của Ban hội thẩm

+ Dựa trên các báo cáo của Ban hội thẩm hoặc của Cơ quan phúc thẩm,

Hội đồng giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra phán quyết cuối cùng

Một cơ quan phúc thẩm cũng được thể chế hoá với những thành viên

luân phiên đại diện cho các thành viên - đó là Uỷ ban Kháng nghị (Appelate)

Nếu kết quả giải quyết tranh chấp không được thi hành nghiêm túc, bên có

quyền lợi bị vi phạm được quyền áp dụng những biện pháp trả đũa, thậm chí

trả đũa chéo nếu những biện pháp trả đũa áp dụng với cùng một lĩnh vực

(thuộc phạm vi điều chỉnh của cùng một hiệp định) không được coi là đạt kết

quả mong muốn

Thoả thuận về Giải quyết tranh chấp của WTO rất chú trọng giai đoạn

tham vấn, nhằm tạo một cơ hội để các bên liên quan tới vấn đề đang tranh

chấp có thể tìm kiếm được một giải pháp thoả đáng Tham vấn là thủ tục đầu

tiên nhằm tránh khả năng phải đi đến thủ tục bắt buộc Ngoài ra còn có những

bước đi có thể mang tính chất tự nguyện như yêu cầu Tổng Giám đốc WTO

làm trung gian hoà giải hay thống nhất đưa ra trọng tài

Bảng 1.1: Quy trình giải quyết tranh chấp của WTO

(Điều 4)

È Trong kỳ họp thứ hai của

0-20 ngày (thêm 10 ngày

nếu Tổng Giám đốc được

Ban Hội thẩm xem xét

Họp với các bên (điều 12)

và bên thứ 3 có liên quan (điều 10)

Nhóm chuyên gia thực hiện rà soát (Điều 13; Phụ lục 4) È

Giai đoạn rà soát giữa kỳ

Phần báo cáo mô tả được gửi cho các bên để đánh giá (Điều 15.1) Báo cáo giữa kỳ được gủi cho tất cả các bên xem xét (Điều 15.2)

Họp rà soát với Ban hội thẩm theo yêu cầu (Điều 15.2) È

Trang 34

6 tháng kể từ khi thành lập

Ban Hội thẩm, 3 tháng

trong trường hợp khẩn

cấp

Báo cáo của Ban Hội thẩm

gửi cho tất cả các bên (điều 12.8; Phụ lục 3 đoạn 12 (j))

60 ngày dàng cho báo cáo

của BHT, trừ khi có kháng

nghị

DSB chấp nhận báo cáo của Ban Hội thẩm

bao gồm bất cứ thay đổi báo cáo của Ban Hội thẩm nào do UBKN thực hiện

(Đ.16.1,16.4 và 17.14)

30 ngày dành cho

Uỷ Ban Kháng nghị

rà soát È

thành viên đề xuất, hoặc

các bên tranh chấp thoả

thuận hoặc trọng tài phán

quyết (khoảng 15 tháng

nếu trọng tài phán quyết) Trong trường hợp không thực thi các bên đàm phán việc đền bù vì ngừng thực

thi đầy đủ (Đ22.2)

Tranh chấp về việc thực thi:

Có thể kiện, bao gồm cả tham khảo với Ban Hội thẩm đầu tiên về việc thực thi (Đ21.5)

(90 ngày) È

30 ngày sau khi "thời hạn

hợp lý kết thúc" Biện pháp Trả đũa Nếu không nhất trí được về việc bồi thường,

DSB cho phép trả đũa việc không thực thi đầy

đủ (Đ22)

Trả đũa chéo:

Trong cùng ngành hàng, các ngành hàng khác, hiệp định khác (Đ22.3)

Có thể đưa ra trọng tài về mức độ đình chỉ và các nguyên tắc trả đũa

(Đ.22.6 và 22.7)

Các qui định của WTO trong một số lĩnh vực cụ thể

a/ Lĩnh vực nông nghiệp

Hiệp định Nông nghiệp (AoA) đánh dấu bước phát triển đáng kể,

hướng tới lập lại trật tự và cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp

Hàng nông sản, do tính chất đặc biệt nhạy cảm, từ trước đến nay vẫn được

hưởng nhiều ngoại lệ Mặc dù chỉ chiếm không quá 10% thương mại thế giới

và không quá 5% GDP của rất nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển,

nhưng thương mại nông sản luôn là đối tượng đàm phán rất nhạy cảm trong

các cuộc đàm phán, thương mại quốc tế

Thương mại nông sản là lĩnh vực được bảo hộ cao nhất trong chính

sách thương mại của các nước thành viên Trong kỷ nguyên của GATT,

thương mại nông nghiệp hầu như vẫn chịu những quy chế riêng và chưa được

đưa vào khuôn khổ của hệ thống đa biên Nông nghiệp thường là lĩnh vực

Trang 35

tranh chấp và thách thức giữa các nước thành viên

Nhằm tạo ra một khuôn khổ cho thương mại hàng nông sản thế giới và tăng cường trao đổi mặt hàng này, cuối vòng đàm phán Uruguay, các nước đã

cùng nhau ký Hiệp định Nông nghiệp Hiệp định Nông nghiệp đã đạt được

những thoả thuận về mở cửa thị trường nông sản, thuế hoá các biện pháp phi thuế, giảm trợ cấp và các mức hỗ trợ trong nước của các nước thành viên Nội dung chính của Hiệp định nông nghiệp thể hiện trên 3 mặt: (1) Tiếp cận thị trường; (2) Hỗ trợ trong nước và (3) Trợ cấp xuất khẩu

- Tiếp cận thị trường: Bao gồm các biện pháp loại bỏ hàng rào phi thuế bằng thuế hoá Hiệp định yêu cầu các nước phát triển phải giảm bình quân 36% mức thuế nhập khẩu trong 6 năm (1995-2000), các nước đang phát triển phải giảm 24% trong vòng 10 năm (1995-2004), các nước chậm phát triển được miễn trừ nhưng phải thuế hoá các biện pháp phi thuế và xây dựng mức trần để đảm bảo trong tương lai, các quốc gia này không tăng thuế quá mức trần cam kết

Nguyên tắc của hiệp định là chỉ bảo hộ bằng thuế quan để đảm bảo tính minh bạch, dễ dự đoán Yêu cầu các nước thuế hoá các biện pháp phi thuế 100% số dòng thuế hàng nông sản Hiệp định cũng cung cấp 2 biện pháp quan trọng nhằm hỗ trợ các quốc gia trong quá trình thuế hoá, đó là quyền tự vệ đặc biệt và hạn ngạch thuế quan Quyền tự vệ đặc biệt (SSG) là quyền được tạm thời áp dụng mức thuế cao hơn mức cam kết đối với một sản phẩm nào

đó khi lượng nhập khẩu tăng đột ngột làm tổn hại đến sản xuất trong nước Tuy nhiên, chỉ một số mặt hàng được áp dụng biện pháp này, đó là những sản phẩm đã thuế hoá các biện pháp phi thuế và đạt được thoả thuận với các nước khác trong quá trình đàm phán Hạn ngạch thuế quan (TRQ) nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nước xuất khẩu để đảm bảo việc xuất khẩu không bị gián đoạn khi tiến hành thuế hoá các biện pháp phi thuế Cũng như SSG, chỉ có số

ít các mặt hàng được áp dụng TRQ do phải đàm phán với các nước thành viên trên nhiều lĩnh vực như số mặt hàng áp dụng, mức hạn ngạch ban đầu…

- Hỗ trợ trong nước: Là những hỗ trợ của Chính phủ giành cho các đối tượng không trực tiếp gắn với hoạt động hay kết quả xuất khẩu của chính đối

Trang 36

tượng đó Hỗ trợ trong nước được phân nhóm thành 3 nhóm: Nhóm không hoặc rất ít bóp méo thương mại nông sản; nhóm có thể bóp méo các quan hệ thương mại nông sản và nhóm hỗ trợ bóp méo thương mại Trong hai nhóm đầu, các qui định cho phép các Chính phủ tiến hành hỗ trợ với những điều kiện nhất định Riêng nhóm hỗ trợ bóp méo thương mại (còn gọi là tổng hỗ trợ gộp - AMS), Hiệp định qui định sẽ cắt giảm trong các giai đoạn khác nhau với tỷ lệ với thời gian theo nhóm nước

- Trợ cấp xuất khẩu: Là những lợi ích gắn với hoạt động hoặc kết quả xuất khẩu Hiệp định AoA qui định các nước phát triển sẽ cắt giảm 36% nguồn ngân sách để trợ cấp dành cho xuất khẩu nông phẩm trong vòng 6 năm tính từ 1995; khối lượng hàng hoá được hưởng trợ cấp giảm 21% cũng trong thời gian trên Trong giai đoạn thực thi 6 năm đó, các nước phát triển được phép sử dụng trợ cấp để giảm giá tiếp thị và vận chuyển hàng hoá xuất khẩu trong những trường hợp nhất định Các nước đang phát triển sẽ cắt giảm 24% nguồn ngân sách để trợ cấp dành cho xuất khẩu nông phẩm, khối lượng hàng hoá được hưởng trợ cấp sẽ được giảm 14% trong vòng 10 năm tính từ năm

1995 Tỷ lệ trên được tính trên mức trung bình hàng năm của thời kỳ cơ sở 1986-1990 và bắt đầu từ năm 1995 Các nước không được phép áp dụng thêm bất kỳ biện pháp trợ cấp xuất khẩu nào trước đây chưa tồn tại Riêng đối với các nước chậm phát triển, các cam kết cắt giảm được miễn trừ

Ngoài ra, AoA còn qui định các nước được phép tự mình đặt ra tiêu chuẩn vệ sinh nhưng chúng phải dựa trên cơ sở khoa học (khuyến khích sử dụng những tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi trên thế giới).Tuy nhiên, các nước đang phát triển cho rằng trên thực tế, quyền lợi của họ không được đảm bảo vì AoA còn nhiều bất bình đẳng và nhiều nước đã không tuân thủ đầy đủ hiệp định này

b/Lĩnh vực công nghiệp

Hiệp định chủ chốt điều chỉnh lĩnh vực thương mại hàng công nghiệp của WTO là GATT 1994 GATT đưa ra các nguyên tắc cơ bản để tiến hành hoạt động thương mại hàng hoá giữa các nước thành viên như MFN, NT, không hạn chế số lượng, hiệp định khu vực, ưu đãi giành cho các nước chậm phát triển …

Trang 37

Nội dung chủ yếu của GATT là cắt giảm và ràng buộc thuế quan hàng công nghiệp Ngoài việc xây dựng danh mục ràng buộc thuế quan, GATT còn tạo những cơ sở cho việc đàm phán giảm thuế trong tương lai Bên cạnh đó, GATT cũng qui định những thủ tục cần thiết như tham vấn, bồi thường khi một quốc gia rút khỏi các ràng buộc thuế quan của mình GATT cũng có những qui định về các vấn đề như định giá tính thuế, hạn chế số lượng, tự vệ khẩn cấp, trợ cấp … nhưng các nội dung này chưa thật chi tiết và chưa bám sát tình hình thương mại quốc tế Một số điều khoản về chống bán phá giá, định giá hải quan, tự vệ khẩn cấp … trong GATT chưa đầy đủ và chi tiết, sau này chúng đã được cụ thể hoá bằng các hiệp định riêng biệt

c/ Hàng dệt và may

Hầu hết các nước có trình độ công nghệ phát triển cao đều không chú trọng phát triển ngành này và trở thành những nước nhập khẩu lớn Hầu hết các nước đang phát triển đều lựa chọn ngành dệt và may để đầu tư phát triển

vì đòi hỏi công nghệ không cao, giải quyết được nhiều lao động Với những

lý do đó, trong khi các quốc gia phát triển kêu gọi tự do hoá thương mại thông qua dỡ bỏ rào cản đối với hầu hết các sản phẩm thì họ lại dựng lên các rào cản đối với hàng dệt may nhằm hạn chế nhập khẩu mặt hàng này Vì vậy, giống như nông sản, hàng dệt may cũng là một vấn đề hóc búa trong WTO Trước Vòng đàm phán Uruguay, thương mại hàng dệt may được điều chỉnh bởi Hiệp định Đa sợi (MFA) Hiệp định này cho phép các nước được ký kết các hiệp định song phương hoặc tiến hành các hành động đơn phương để đặt ra hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may Hệ thống này rất bất lợi cho các nước đang phát triển, vốn rất có tiềm năng về mặt hàng này

Tại Vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định về hàng Dệt - May (ATC) đã được ký kết Hiệp định cũng quy định rõ chương trình nhất thể hoá các sản phẩm dệt và may vào hệ thống thương mại đa biên Tuy nhiên, hiệp định ATC không xoá bỏ hạn chế đối với hàng dệt may ngay lập tức mà được chuyển tiếp trong vòng 10 năm (1995-2005), chia làm 4 giai đoạn Tỷ lệ tối thiểu các sản phẩm được nhất thể hoá của từng giai đoạn sẽ là 16, 17 và 18% và trước ngày 1/12005, toàn bộ sản phẩm hàng dệt và may sẽ hoàn toàn được hoà nhập vào

Trang 38

hệ thống chính sách thương mại đa phương của WTO

Việc thực thi Hiệp định Dệt - May được thực hiện thành hai tuyến:

- Đưa những sản phẩm vào chịu sự điều chỉnh của cơ chế thương mại

đa biên và một khi những sản phẩm đó được nhất thể hoá (integrated) thì không được áp dụng hạn chế số lượng nữa

- Nới lỏng các hạn chế số lượng với các sản phẩm còn lại, từ hạn mức

cơ sở được xác định (với mức tối thiểu quy định) và áp dụng cơ chế linh hoạt cho nước xuất khẩu sử dụng hạn chế đó Nước áp dụng hạn ngạch cần thông báo rõ các tiêu thức trên Trong thời gian chuyển tiếp, dần dần tự do hoá thương mại đối với những mặt hàng trước đây thuộc diện áp dụng hạn ngạch

Hiệp định cũng cho phép trong thời kỳ chuyển tiếp được áp dụng những biện pháp tự vệ Chỉ những thành viên đã tiến hành những chương trình “nhất thể hoá” được áp dụng những biện pháp này Việc áp dụng chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở đã thực hiện hai bước liên tiếp: (1) chứng minh được có sự tổn hại hay đe doạ gây tổn hại do nhập khẩu tăng lên đột ngột và (2) có mối liên hệ trực tiếp giữa sự tổn hại đó với sự tăng vọt số lượng nhập khẩu

Bảng 1.2: Thực thi Hiệp định Dệt - May

Giai đoạn % sản phẩm được đưa vào GATT (bao gồm cả việc dỡ

bỏ hạn ngạch)

Tốc độ nới lỏng hạn ngạch hiện nay (nếu mức năm

Giai đoạn IV: từ 1/1/2005

Nhất thể hoá hoàn toàn vào

GATT (và xoá bỏ mọi hạn

Trước đây, khi bắt đầu Vòng đàm phán Uruguay, các bên có tham vọng

đi dến một hiệp định đầu tư đa phương tương đối toàn diện, đề cập đến cả các vấn đề chính sách có tác động tới lưu chuyển đầu tư trực tiếp nước ngoài, vấn

Trang 39

đề áp dụng các nguyên tắc của GATT là NT (cho các công ty nước ngoài được hưởng các quyền lợi tương tự như các công ty trong nước về đầu tư, thành lập và hoạt động trong nội địa) và nguyên tắc MFN (không cho phép các nước phân biệt đối xử giữa các nguồn đầu tư khác nhau) trong đầu tư Tuy nhiên, những đề xuất, mặc dù được các nước phát triển rất ủng hộ, đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía các nước đang phát triển, với lý do là khuôn khổ GATT không cho phép đàm phán các vấn đề đầu tư và nếu tiến hành đàm phán thì phải đưa cả vấn đề buôn bán giữa các công ty xuyên quốc gia như giá chuyển nhượng, các biện pháp hạn chế kinh doanh và các hành vi khác vào phạm vi đàm phán Kết quả là trong vòng đàm phán này, các nước chỉ đề cập đến đầu tư trong một phạm vi hẹp - các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

Hiệp định Đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) điều chỉnh các biện pháp được áp dụng trong lĩnh vực đầu tư nhưng đồng thời liên quan đến thương mại hàng hoá (không điều chỉnh các lĩnh vực nằm ngoài thương mại hàng hoá) Trong số rất nhiều các biện pháp đầu tư có tác động bóp méo thương mại, Hiệp định TRIMs không cho phép các nước thành viên áp dụng 5 biện pháp được coi

là vi phạm nguyên tắc NT và không hạn chế số lượng sau đây:

- Yêu cầu các doanh nghiệp phải mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất xứ trong nước hoặc từ một nguồn cung cấp trong nước, hoặc

- Yêu cầu doanh nghiệp chỉ được mua hoặc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu được giới hạn trong một tổng số tính theo số lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất khẩu

- Hạn chế việc doanh nghiệp nhập khẩu dưới hình thức hạn chế chung hoặc hạn chế trong một tổng số liên quan đến số lượng hoặc giá trị sản xuất trong nước mà doanh nghiệp đó xuất khẩu;

- Yêu cầu doanh nghiệp thu ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhhu cầu nhập khẩu của mình;

- Yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc bán một mặt hàng nhất định, hoặc chỉ được xuất khẩu hàng hoá tương ứng với số lượng và giá trị

Trang 40

hàng hoá sản xuất trong nước của doanh nghiệp

Có 3 điều khoản trong Hiệp định TRIMs qui định sự đối xử đặc biệt và khác biệt giành cho các nước đang phát triển và kém phát triển Những điều khoản này bao gồm 2 loại: (1) Sự linh hoạt trong cam kết, thực hiện và sử dụng các công cụ chính sách; (2) Thời gian ân hạn

1.4 Các hoạt động đặc biệt

Chức năng chủ yếu của WTO là tạo một khuôn khổ quy định cho các cuộc đàm phán thương mại và bắt buộc các nước thành viên phải tôn trọng luật chơi thương mại đa phương đã được chính những quốc gia này thống nhất (ngay cả trong quá trình giải quyết tranh chấp) Trong việc thực thi những chức năng trên, WTO đặc biệt chú trọng bốn hoạt động: (1) Hỗ trợ các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi; (2) Trợ giúp đặc biệt cho việc thúc đẩy xuất khẩu; (3) Hợp tác để soạn thảo các chính sách kinh tế trên quy mô toàn cầu; (4) Thường xuyên thông báo những biện pháp thương mại mới được các quốc gia thành viên thông qua và những thay đổi liên quan đến những biện pháp hiện hành

1.4.1 Hỗ trợ các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi

Các nước đang phát triển chiếm tới 3/4 số lượng thành viên của WTO Cùng với các nước đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các nước đang phát triển có thể sẽ đóng một vai trò ngày càng quan trọng tại WTO một khi số lượng thành viên thuộc hai nhóm nước này càng ngày càng tăng

Chính vì vậy, WTO dành một sự quan tâm lớn đối với những nhu cầu cũng như những vấn đề riêng của các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi Viện đào tạo và hợp tác kỹ thuật trực thuộc Ban thư ký của WTO tổ chức một số chương trình hỗ trợ để giải thích quá trình hoạt động của WTO và đào tạo các chuyên gia và các nhà thương thuyết cho các quốc gia Một số hoạt động này diễn ra ở Geneva, đa số còn lại được tổ chức tại các quốc gia có liên quan Nhiều chương trình hỗ trợ, tổ chức dưới

Ngày đăng: 06/04/2014, 22:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Bùi Thị Lý, Trường Đại học Ngoại thương - Tìm hiểu quy định của WTO về những đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang và chậm phát triển 2. Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế - Tác động của các hiệp định WTO vớicác n−ớc đang phát triển, Hà nội - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quy định của WTO về những đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang và chậm phát triển
Tác giả: TS. Bùi Thị Lý
Nhà XB: Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế
Năm: 2005
3. David H. Feldman - Trấn an mối quan ngại của người lao động về tự do hoá thương mại, Thông tin t− liệu, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trấn an mối quan ngại của ng−ời lao động về tự do hoá th−ơng "mại
4. Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi gia nhập WTO – Tài liệu tham khảo đặc biệt – TTXVN, 15/11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi gia nhập WTO
5. Đoàn Tất Thắng – Chống bán phá giá “hậu WTO” – Tạp chí Th−ơng mại số 3/ 2007 6. Việt Nam gia nhập WTO: Người lao động sẽ ra sao,http://vietnamnet.vn/wto/2004/03/57046/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống bán phá giá “hậu WTO”
Tác giả: Đoàn Tất Thắng
Nhà XB: Tạp chí Th−ơng mại
Năm: 2007
9. Trang web của Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế http://www.nciec.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức của WTO - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức của WTO (Trang 23)
Hình 2.2: Qui mô GDP và tỷ lệ GDP/người - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 2.2 Qui mô GDP và tỷ lệ GDP/người (Trang 63)
Hình 2.4: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành (%) - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành (%) (Trang 67)
Hình 2.5: Những sản phẩm xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 2.5 Những sản phẩm xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD (Trang 68)
Hình 4.2: Biến đổi cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 4.2 Biến đổi cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp (Trang 120)
Hình 4.3: Kim ngạch xuất khẩu một số nông sản chủ yếu - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 4.3 Kim ngạch xuất khẩu một số nông sản chủ yếu (Trang 122)
Hình 6.6: Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ (triệu USD) và tốc - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 6.6 Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ (triệu USD) và tốc (Trang 185)
Bảng 6.5: Tỷ trọng hàng hoá Việt Nam so với tổng hàng nhập khẩu - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Bảng 6.5 Tỷ trọng hàng hoá Việt Nam so với tổng hàng nhập khẩu (Trang 189)
Hình 6.9: Thay đổi kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng 2007 so với 9 - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 6.9 Thay đổi kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng 2007 so với 9 (Trang 193)
Bảng 6.7: 20 nhóm hàng hoá nhập khẩu có lượng và giá trị tăng mạnh - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Bảng 6.7 20 nhóm hàng hoá nhập khẩu có lượng và giá trị tăng mạnh (Trang 197)
Hình 7.5: Chỉ số Vnindex trong 2 năm 10/2005- 10/2007 - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 7.5 Chỉ số Vnindex trong 2 năm 10/2005- 10/2007 (Trang 225)
Hình 7.7: So sánh cơ sở hạ tầng của các nước trong ASEAN - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 7.7 So sánh cơ sở hạ tầng của các nước trong ASEAN (Trang 228)
Sơ đồ xử lý tranh chấp phá giá do các doanh nghiệp mới ngoài khởi kiện - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Sơ đồ x ử lý tranh chấp phá giá do các doanh nghiệp mới ngoài khởi kiện (Trang 311)
Hình 1: Mức tăng trưởng trung bình của tổng kim ngạch xuất khẩu hàng - Những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập WTO
Hình 1 Mức tăng trưởng trung bình của tổng kim ngạch xuất khẩu hàng (Trang 429)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w