TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH KHOA KỸ THUẬT THỰC PHẨM VÀ MÔI TRƯỜNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH KHOA KỸ THUẬT THỰC PHẨM VÀ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THÍCH ỨNG CỦA
NGÀNH NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Ngọc Thanh Lam Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên Môi Trường
Tp.HCM, tháng 10 năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH KHOA KỸ THUẬT THỰC PHẨM VÀ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THÍCH ỨNG CỦA
NGÀNH NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Ngọc Thanh Lam
Trang 3TRƯỜNG ĐH NGUYỄN TẤT THÀNH
KHOA KỸ THUẬT THỰC PHẨM & MÔI TRƯỜNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Tp Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 10 năm 2019
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Ngọc Thanh Lam Mã số sinh viên: 1511538360 Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Lớp: 15DTNMT1A
1 Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU TẠI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
2 Nhiệm vụ luận văn
Điều tra các yếu tố phục vụ cho việc đánh giá năng lực thích ứng của ngành nông nghiệp tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Đánh giá năng lực thích ứng của biến đổi khí hậu theo các lĩnh vực đã được điều tra là trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản và tài nguyên đất
Xây dựng các đề xuất để thích ứng để giảm thiểu các tác động của BĐKH đến ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
3 Ngày giao nhiệm vụ luận văn: 01/04/2019
4 Ngày hoàn thành nhiệm vụ luận văn: 04/10/2109
5 Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Hồng Nhung
Họ và tên Học hàm, học vị Đơn vị Phần hướng dẫn Nguyễn Thị Hồng Nhung Thạc sĩ NTT 100%
Nội dung và yêu cầu của luận văn đã được thông qua bộ môn
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
TS Nguyễn Thành Nho ThS Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 4Em xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nguyễn Tất Thành và các thầy cô trong Khoa Kỹ thuật Thực Phẩm và Môi Trường đã tạo điều kiện cho em thực hiện tốt luận văn tốt nghiệp
Bên cạnh đó, em cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ em để em có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin cảm ơn bạn Phạm Thị Mỹ Hương và bạn Đặng Minh Chiến đã đồng hành cùng em, giúp đỡ em trong quá trình thu thập phỏng vấn
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Thanh Lam
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài “Đánh giá năng lực thích ứng của ngành
nông nghiệp đối với những tác động của biến đổi khí hậu tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi đã được thực hiện dưới sự hướng dẫn
của Th.S Nguyễn Thị Hồng Nhung Các số liệu và kết quả được trình bày trong luận
văn là hoàn toàn trung thực, không sao chép của bất cứ ai, và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học của nhóm nghiên cứu nào khác cho đến thời điểm hiện tại
Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình và chấp nhận những hình thức xử lý theo đúng quy trình
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Thanh Lam
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Luận văn “Đánh giá năng lực thích ứng của ngành nông nghiệp đối với những tác động của biến đổi khí hậu tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến năng lực thích ứng của trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản và tài nguyên đất của người dân từ quá trình khảo sát thu thập thông tin của 632 hộ gia đình ở 5 huyện
và 2 thành phố của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Đề tài thực hiện theo các phương pháp điều tra thực địa thu thập thông tin về nông nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản và tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dựa trên danh mục câu hỏi trong phiếu điều tra khảo sát Sau đó tổng hợp và xử lý số liệu trên phần mềm Excel để cho ra các thông số, hình thể hiện các sản lượng, thu nhập và
cơ cấu Tiếp đến là phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu và thừa kế các số liệu để đánh giá khả năng thích ứng của BĐKH trên địa bàn tỉnh và đưa ra các đề xuất thích ứng cho nông nghiệp tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Luận văn cung cấp các thông tin về sản lượng và thu nhập của các hộ gia đình dựa trên phiếu điều tra nông hộ Đối với trồng trọt, sản lựợng giảm đi nhiều qua mỗi năm Chăn nuôi trong thời gian gần đây các dịch bệnh bùng phát dữ dội nhưng người dân cũng có những biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn nên thu nhập cũng tương đối ổn định Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản bị ảnh hưởng nhiều nhất,do phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, các tàu bè đánh bắt xa bờ bỏ ra chi phí đầu tư nhiều nhưng buộc phải quay vào bờ để tránh giông bão gây thất thoát chi phí Với tài nguyên đất, diện tích đất nông nghệp đang có dấu hiệu giảm dần do bị xâm nhập mặn, do giá cả bấp bênh nên người dân đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sạt lở đất ở các khu vực gần biển
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN iv
LỜI CAM ĐOAN v
TÓM TẮT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP vi
MỤC LỤC vii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 3
2.1.1 Định nghĩa 3
2.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng đến lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam 6
2.2 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên Thế giới và ở Việt Nam 8
2.2.1 Nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu trên Thế giới 8
2.2.2 Nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu tại Việt Nam 9
2.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 11
2.3.1 Vị trí địa lý 11
2.3.2 Điều kiện tự nhiên 12
2.3.3 Kinh tế - xã hội 18
2.4.2 Tài nguyên thiên nhiên .22
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Thời gian và đối tượng nghiên cứu 26
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 26
Trang 83.1.2 Đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Nội dung nghiên cứu 26
3.3 Phương pháp nghiên cứu 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN 31
4.1 Diễn biến của các tham số khí hậu, thuỷ văn tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 31
4.1.1 Diễn biến Nhiệt Độ 31
4.1.2 Diễn biến Lượng mưa 32
4.1.3 Diễn biến mực nước biển 33
4.2 Đánh giá các yếu tố phục vụ cho việc đánh giá năng lực thích ứng của nông nghiệp 35
4.2.1 Hiện trạng thích ứng đối với khả năng trồng trọt 38
4.2.2 Hiện trạng thích ứng đối với khả năng chăn nuôi 46
4.2.3 Hiện trạng thích ứng đối với thuỷ sản 48
4.2.4 Hiện trạng thích ứng đối với tài nguyên đất 50
4.3 Đánh giá năng lực thích ứng của biến đổi khí hậu theo các lĩnh vực đã được điều tra 53
4.3.1 Năng lực thích ứng đối với khả năng trồng trọt 53
4.3.2 Năng lực thích ứng đối với khả năng chăn nuôi 54
4.3.3 Năng lực thích ứng đối với khả năng nuôi trồng thuỷ sản 55
4.3.4 Năng lực thích ứng đối với tài nguyên đất 56
4.4 Các đề xuất để thích ứng 59
KẾT LUẬN 61
KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH NƠI THU THẬP PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ DÂN 66
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH KHẢO SÁT THỰC ĐỊA 68
PHỤ LỤC 3: MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA 71
PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH PHIẾU ĐIỀU TRA 72
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp phân loại đất 13 Bảng 2.2: Nhiệt độ tại các trạm Vũng Tàu, Xuân Lộc (đơn vị: oC) 16 Bảng 4.1: Nguy cơ ngập đối với tỉnh BR - VT 35 Bảng 4.2: Biến động diện tích đất tính đến 31/12 qua các năm phân theo loại đất và phân theo cấp huyện 57
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 12
Hình 3.1: Phương pháp nghiên cứu 27
Hình 4.1: Nhiệt độ trung bình năm 31
Hình 4.2: Lượng mưa bình quân từng năm 32
Hình 4.3: Mực nước biển trung bình qua các năm 33
Hình 4.4: Bảng đồ nguy cơ ngập úng với mực nước biển dâng 100cm 34
Hình 4.5: Nguồn gốc dân cư 36
Hình 4.6: Nghề nghiệp của người dân 37
Hình 4.7: Cơ cấu các loại cây trồng chính 38
Hình 4.8: Sản lượng của cà phê 39
Hình 4.9: Thu nhập của cà phê 40
Hình 4.10 : Sản lượng rau màu 41
Hình 4.11 : Thu nhập rau màu 42
Hình 4.12: Sản lượng lúa nước 43
Hình 4.13: Thu nhập về lúa nước 44
Hình 4.14: Sản lượng về cây ăn quả 45
Hình 4.15: Thu nhập cây ăn quả 45
Hình 4.16: Cơ cấu chăn nuôi tại địa bàn nghiên cứu 46
Hình 4.17: Thu nhập bình quân chăn nuôi của các hộ dân 47
Hình 4.18: Thu nhập bình quân chăn nuôi của gia cầm 48
Hình 4.19 : Thu nhập thủy sản 49
Hình 4.20: Diện tích đất vườn 50
Hình 4.21: Diện tích trồng lúa nước 51
Hình 4.22 : Diện tích sử dụng 52
Hình 4.23: Diện tích đất cây công nghiệp 52
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AWD : Alternate Wetting and Drying Irrigation
Kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ BAU : Business As Usual
Kịch bản phát thải thông thường BĐKH : Biến đổi khí hậu
CBA : Community-based adaptation
Bộ công cụ phân tích sự thích ứng dựa vào cộng đồng CCN : Cụm Công nghiệp
CPI : Consumer Price Index
Chỉ số tiêu dùng CRES : Center For Research Resources And The Environment Trung tâm
Nguyên cứu Tài nguyên và Môi trường CSA : Climate Smart Agriculture
Mô hình nông nghiệp cộng đồng CSRD : Centre for Social Research and Development
Trung tâm nghiên cứu và phát triển xã hội DFID : Department for International Development
Bộ Phát triển Quốc tế GDP : Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa HTX : Hợp tác xã
IPCC : The Intergovernmental Panel on Climate Change
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu KHK : Khí nhà kính
MNBD : Mực nước biển dâng
NN – PTNT : Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn
NN : Nông nghiệp
NTTS : Nuôi trồng thuỷ sản
QLĐĐ : Quản lý đất đai
Trang 12SLF : Sustainable Livelihood Framework
Khung sinh kế bền vững SRI : System of Rice Intensification
Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRTM3 : Shuttle Radar Topography Mission
Mô hình số độ cao TN-MT : Tài nguyên môi trường
UBND : Uỷ ban Nhân dân
UNDP : United Nations Development Programme
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNFCCC : United Nations Framework Convention on Climate Change
Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH USAID : United States Agency for International Development
Cơ quan Phát triển Quốc tề Hoa Kỳ WMO : World Meteorological Organization
Tổ chức Khí tượng Thế giới
Trang 13Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một hiện tượng mang tính toàn cầu, hơn 20 năm trở lại đây, hiện tượng toàn cầu này đã và đang gây ra các thiệt hại có tính diệt vong, ảnh hưởng đến hầu hết các khía cạnh liên quan tới con người Nguyên nhân chính là do sự phát triển công nghiệp một cách thần tốc, khí phát thải từ hoạt động công nghiệp hay còn gọi khí nhà kính có lượng phát thải tăng cao kèm theo các bể chứa và hấp thụ khí nhà kính (rừng, hệ sinh thái biển, ven bờ…) bị con người phá hoại và khai thác BĐKH là một trong những thách thức lớn đối với nhân loại và cũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Nhiều kết quả nghiêm cứu cho thấy, những dấu hiệu của BĐKH thể hiện trong những năm gần đây có thể kể đến hiện tượng băng tan ở hai cực, mực nước biển dâng, thời tiết thay đổi khắc nghiệt hơn, trái mùa Các hiện tượng thời tiết cực đoan này làm ảnh hưởng tới các mặt kinh tế, xã hội, sức khoẻ, mất cân bằng sinh thái, thu hẹp môi trường sống của con người cũng như các sinh vật
Ở Việt Nam, lãnh thổ gắn với đường bờ biển kèo dài 3260 km từ Bắc đến Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất đối với việc biến đổi khí hậu Theo chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, Bộ tài nguyên môi trường đề cập Việt Nam nằm trong nhóm các nước đang phát triển dễ bị tổn thương nhất trước các biểu hiện của BĐKH như mực nước biển tăng, sa mạc hoá, xâm nhập mặn Còn theo kịch bản BĐKH, nhiệt độ trung bình năm ở nước ta tăng từ 2 - 3 Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35 tăng từ 15 – 30 ngày trên phần lớn diện tích cả nước Lượng mưa trung bình năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ với mức tăng phổ biến là
2 -7% Thiệt hại lũ lụt dự kiến sẽ trầm trọng hơn do lượng mưa sẽ tăng khoảng
12 – 19% vào năm 2070, tác động đến cả lưu lượng định lũ và tần suất xuất hiện mưa
lũ
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những tỉnh giáp biển, có ngành nông nghiệp đa dạng như trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt- nuôi trồng thuỷ hải sản Những năm gần đây do sự biến đối khí hậu đã hưởng không nhỏ tới cuộc sống cũng như hoạt
Trang 14động kinh tế của người dân trên địa bàn tỉnh Ngành nông nghiệp của địa phương gặp nhiều khó khăn, thu hẹp về loại hình cũng như buộc phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thích nghi với các ảnh hưởng tiêu cực của khí hậu Việc này dẫn đến thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, cơ cấu ngành nông nghiệp giảm cạnh tranh so với các ngành khác
Vì vậy, cuộc chiến chống biến đổi khí hậu đòi hỏi những hành động cần thực
hiện ngay Cho nên, việc “Đánh giá năng lực thích ứng của nông nghiệp đối với
những tác động của biến đổi khí hậu tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” thực sự cần thiết
nhằm đánh giá năng lực thích ứng để đưa ra các biện pháp để hạn chế, khắc phục các tác động của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là điều tra đánh giá năng lực thích ứng của nông nghiệp đối với những tác động của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhằm xây dựng và đề xuất các biện pháp thích ứng nông nghiệp cho dân cư tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trước những thay đổi về thời tiết của biến đổi khí hậu như hiện nay
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu của đề tài cần được thực hiện như sau:
Thu thập kế thừa diễn biến của các tham số khí hậu tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu như nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng;
Điều tra năng lực của ngành nông nghiệp đối với BĐKH của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản và tài nguyên đất;
Đánh giá năng lực thích ứng của các biến đổi khí hậu theo các lĩnh vực đã được điều tra;
Xây dựng các đề xuất thích ứng đối với BĐKH
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1Tổng quan về biến đổi khí hậu
2.1.1 Định nghĩa
Khí hậu - Climate: Tổng hợp của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống kê
dài hạn (trung bình, xác suất các cực trị v.v ) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực địa lý (một số miền, một đất nước, một Châu lục…), được xác định trên cơ sở số liệu thực đo đủ dài của các yếu tố nhiệt độ, mưa, gió, bao gồm các giá trị cực trị (lớn nhất, nhỏ nhất) của chúng Thời kỳ tính trung bình thường là vài thập kỷ [5]
Theo định nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO: “Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi các thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó” [5]
Và còn theo từ điển thuật ngữ của Nhóm hội thảo đa quốc gia về biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) định nghĩa như sau:
Khí hậu trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm [5]
Như vậy, khí hậu là khái niệm để mô tả khái quát khả năng xảy ra của thời tiết trong một khoảng thời gian dài của nơi nào đó
Biến đổi khí hậu - Climate Change: Theo cuốn Encyclopedia of and Climate
Change Global Warming của S.George Philander biên tập, biến đổi khí hậu thường được sử dụng để mô tả bất kỳ sự thay đổi hệ thống hoặc sự thay đổi có ý nghĩa thống
kê nào ở trạng thái trung bình của các yếu tố khí hậu như mưa, nhiệt độ, gió hoặc áp suất; hoặc trong tính biến đổi của nó, được duy trì trong một khoảng thời gian hữu hạn (hàng thập kỷ hoặc lâu hơn) Nó có thể được gọi là sự thay đổi dài hạn trong các kiểu
Trang 16thời tiết toàn cầu, đặc biệt liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ, lượng mưa và hoạt động của bão [6]
Còn theo định nghĩa của Công ước khhung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (UNFCCC), sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào
sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ [6]
Đôi khi thuật ngữ biến đổi khí hậu, được sử dụng để bao gồm tất cả các biến đổi khí hậu, có thể dẫn đến sự nhầm lẫn đáng kể Khí hậu có sự thay đổi trên tất cả quy
mô thời gian và không gian và sẽ luôn luôn thay đổi
BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu mà nó có thể được ghi rõ qua những biến đổi trung bình hoặc và những sự biến động của các thuộc tính của nó, và duy trì trong một thời gian dài
Khí nhà kính - Greenhouse Gases (GHGs): là các chất khí hấp phụ mạnh bức
xạ sóng dài của bề mặt trái đất nóng lên Các khí nhà kính (KNK) làm giảm lượng bức
xạ của trái đất thoát ra vũ trụ, do đó làm nóng tầng bên dưới khí quyển và bề mặt trái đất Các chất này có nguồn gốc từ các quá trình tự nhiên cũng như các hoạt động sản xuất, sử dụng năng lượng của con người [5]
Hiệu ứng nhà kính của bầu khí quyển Trái đất là một hiện tượng tự nhiên, nếu không có nhiệt độ Trái đất sẽ thấp hơn nhiều, theo đó, sự kết hợp khí quyển của hơi nước và bức xạ hồng ngoại bẫy carbon dioxide [16]
Trong thế kỷ qua, đã có sự gia tăng nồng độ khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển - carbon dioxide ( ), metan ( ), oxit nitơ ( ), cũng như các hợp chất halogen như CFC, HFC và PFC Trong cùng thời gian, một sự gia tăng đáng kể, về mặt lịch sử, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã được quan sát thấy Ngày càng có nhiều
Trang 17bằng chứng cho thấy khí thải nhà kính từ các hoạt động của con người đang gây ra hiệu ứng nhà kính được tăng cường dưới dạng nóng lên toàn cầu [5]
Hiệu ứng nhà kính - Greenhouse Effect: hiệu ứng nhà kính là do Jean Baptiste
Joseph Fourier (Pháp) đặt tên, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi lượng bức xạ tia sáng mặt trời xuyên qua nhà kính (hoặc vật liệu trong suốt) để trồng cây ở nơi có khí hậu lạnh làm cho bên trong nhà kính nóng lên và giữ được nhiệt Trong khí quyển cũng xảy ra hiện tượng tương tự và ngưởi ta gọi đó là hiệu ứng nhà kính khí quyển Khi các tia bức xạ sóng ngắn từ mặt trời xuyên qua bầu khí quyển chiếu đến mặt đất làm cho
bề mặt trái đất nóng lên phản xạ lại khí quyển[25]
Hiệu quả giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển nhờ sự hấp thụ và phát xạ trở lại bức xạ sóng dài từ mặt đất bởi mây và các khí như hơi nước, cácbon điôxit, nitơ oxit, mêtan và chlorofluorocarbon, làm giảm lượng nhiệt thoát ra không trung từ hệ thống trái đất, giữ nhiệt một cách tự nhiên, duy trì nhiệt độ trái đất cao hơn khoảng 30oC so với khi không có các chất khí đó [6]
Từ thời kỳ tiền công nghiệp (1970) đến nay, con người tác động mạnh vào sự cân bằng nhạy cảm giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và lượng bức xạ nhiệt của mặt đất vào vũ trụ Sự gia tăng nồng độ các chất khí trong thời gian nói trên
đã khiến cho nhiệt độ trái đất tăng lên đáng kể [25]
Ngoài ra, Hiệu ứng nhà kính là một yếu tố hàng đầu trong việc giữ ấm cho Trái đất vì nó giữ một phần nhiệt của hành tinh thoát ra khỏi bầu khí quyển ngoài vũ trụ Báo cáo nghiên cứu về khí nhà kính và tác động của chúng đối với sự nóng lên toàn cầu Nếu không có hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trung bình toàn cầu của Trái đất sẽ lạnh hơn nhiều và sự sống trên Trái đất như chúng ta biết là không thể Khí nhà kính bao gồm hơi nước, , metan, oxit nitơ ( ) và các loại khí khác Carbon dioxide ( )
và các khí nhà kính khác biến thành một tấm chăn, kẹp chặt bức xạ Infra-Red và ngăn không cho nó thoát ra ngoài vũ trụ Ảnh hưởng rõ ràng của khí nhà kính là sự nóng lên
ổn định của khí quyển và bề mặt Trái đất, do đó, sự nóng lên toàn cầu Khả năng của một số loại khí, khí nhà kính, trong suốt đối với ánh sáng nhìn thấy được từ mặt trời, nhưng mờ đục đối với năng lượng tỏa ra từ trái đất là một trong những sự kiện tĩnh
Trang 18nhất trong khoa học khí quyển Sự tồn tại của hiệu ứng nhà kính là những gì làm cho trái đất trở thành một nơi thoải mái cho cuộc sống Nghiên cứu cũng cho thấy tầm quan trọng của khí nhà kính đối với sự nóng lên của trái đất [17]
2.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng đến lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam
2.1.2.1 Tác động của BĐKH đến nông nghiệp ở Việt Nam
Nông nghiệp là một trong những ngành rất dễ tổn thương do BĐKH vì phải phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu, tài nguyên thiên nhiên BÐKH và thiên tai ảnh hưởng lớn đến nguồn nước, bởi vậy việc thích ứng của hệ thống tưới phải được tính toán cẩn thận
và đáp ứng được lượng nước tối ưu cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng Sự biến đổi trong mùa mưa dẫn đến tần suất hạn trong mùa hè và lụt trong mùa thu sẽ tăng lên, hạn hán, bão lũ… sẽ tác động ngày một mạnh hơn Một số cây nguyên chủng trong vĩ
độ cao sẽ mất dần đi (các cây rau màu vụ đông có nguồn gốc ôn đới và á đới) sẽ được thay thế bởi một loạt các cây trồng nhiệt đới điển hình khác Trong khi đó, chúng ta vẫn còn những hạn chế trong thích ứng với nông nghiệp như: việc canh tác không đúng kỹ thuật làm tăng lượng khí CO2, giảm nguồn hữu cơ cho đất, tăng xói mòn, làm tăng sự mất mát ni-tơ trong đất Công tác dự báo, cảnh báo sớm còn hạn chế dẫn đến việc kịp thời ứng phó, thích ứng ngành nông nghiệp nói chung cũng như cây trồng gặp nhiều khó khăn…trực tiếp và gián tiếp khác của BĐKH: hạn hán, lũ lụt, sạt lở, hoang mạc hóa…
BĐKH gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi, khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm đi rõ rệt, mực nước các sông dâng lên, đỉnh lũ tăng thêm, uy hiếp các tuyến
đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao ở các tỉnh phía Nam
Diện tích ngập úng mở rộng, thời gian ngập úng kéo dài, nhu cầu tiêu nước và cấp nước gia tăng vượt khả năng đáp ứng của nhiều hệ thống thủy lợi Mặt khác, dòng chảy lũ gia tăng có khả năng vượt quá các thông số thiết kế hồ, đập, tác động tới an toàn hồ đập và quản lý tài nguyên nước…
2.1.2.2 Khả năng thích ứng của nông nghiệp ở Việt Nam
Do sự đa dạng về địa hình, thổ nhưỡng và đặc điểm khí hậu, ảnh hưởng của BĐKH cũng thay đổi theo từng hệ thống sản xuất và vùng sinh thái nông nghiệp Dưới tác động của BĐKH, mức xuất khẩu ròng của các sản phẩm gạo, cà phê và sắn được
Trang 19dự báo sẽ giảm đi do năng suất các cây trồng này có xu hướng giảm mạnh hơn so với trường hợp không có tác động của BĐKH Để duy trì sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng, nhiều thực hành nông nghiệp đã được xác định
là có khả năng thích ứng tốt với BĐKH Các thực hành này bao gồm: quản lý nguồn nước và thủy lợi thông minh; áp dụng các giống cây trồng cải tiến; sản xuất nông lâm kết hợp; xen canh cây trồng; quản lý đất đai bền vững; xử lý chất thải nông nghiệp (tích hợp công nghệ khí sinh học vào chăn nuôi); và cải tiến các dịch vụ thông tin khí hậu nông nghiệp Tuy nhiên, mức độ áp dụng các công nghệ CSA nhìn chung vẫn ở mức thấp hoặc trung bình Việc nhân rộng các công nghệ CSA còn hạn chế do những khó khăn trong tiếp cận yếu tố đầu vào, chi phí thực hiện cao và thiếu vốn đầu tư Ngoài ra, thiếu thông tin hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện CSA trong các chương trình,
kế hoạch phát triển của địa phương (cấp quận, huyện) cũng là rào cản trong việc triển khai các công nghệ CSA Sản xuất lúa gạo là nguồn phát thải KNK chính trong nông nghiệp Do vậy, cải thiện thực hành sản xuất lúa là chìa khóa để giảm lượng phát thải nông nghiệp từ 8-25% so với kịch bản phát thải thông thường (Business As Usual – BAU) Một số mô hình sản xuất như mô hình thâm canh lúa cải tiến (SRI) trong đó có hợp phần tưới ướt - khô xen kẽ (AWD), mô hình sản xuất xen canh/luân canh lúa - tôm hoặc lúa – cá … được coi là những CSA điển hình trong canh tác lúa Tuy nhiên,
để nhân rộng các thực hành CSA này cần khắc phục thói quen canh tác truyền thống như thâm dụng phân bón, thuốc trừ sâu và tưới tiêu không kiểm soát Ngoài ra cần giải quyết những khó khăn về tài chính và rào cản về đất đai như quy mô đất nông nghiệp nhỏ, manh mún, chính sách quản lý đất nghiêm ngặt Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp thích ứng BĐKH và giảm phát thải là một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam Tuy nhiên, sự xung đột giữa các mục tiêu, mâu thuẫn giữa lợi ích lâu dài của CSA và lợi ích trước mắt về tăng trưởng nông nghiệp là những yếu tố hạn chế phát triển CSA trên quy mô rộng ở Việt Nam Hiện tại, phần lớn ngân sách cho hoạt động ứng phó với BĐKH trong nông nghiệp là nhằm thực hiện mục tiêu thích ứng (90% các khoản chi tiêu), trong khi đó mục tiêu giảm phát thải chưa được đầu tư thích đáng [15]
Trang 202.2 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên Thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu trên Thế giới
Nghiên cứu của World Bank (tháng 2/2007) “Tác động của mực nước biển dâng đến sự phát triển của các quốc gia: Một số phân tích so sánh”
Mực nước biển dâng (MNBD) do BĐKH là một chuỗi đe dọa nguy hiểm toàn cầu Sự tăng trưởng liên tục của phát khí thải nhà kính và sự ấm lên toàn cầu có thể đẩy mạnh việc tăng MNBD 1m~3m tại các quốc gia này, và việc băng tan nhanh đột ngột ở khu Bắc cực và Tây Nam cực có thể làm MNBD 5m Nghiên cứu này nêu lên ảnh hưởng của việc MNBD liên tục đến 84 quốc gia Hệ thống thông tin địa lý (GIS) với các loại dữ liệu như: đường bờ biển và ranh giới quốc gia, mô hình số độ cao (SRTM3), các hoạt động kinh tế (GDP 2000),v.v được sử dụng để xác định các yếu
tố tác động đất đai, dân số, nông nghiệp, phạm vi đô thị, đất ngập nước và GDP) với khu vực ngập lụt được tính toán cho MNBD 5m Kết quả của nghiên cứu này là trên thế giới có khoảng một trăm triệu người bị mất đất do MNBD gây ra trong thế kỷ này;
và những thiệt hại nặng nề về kinh tế, sinh thái Và cũng theo đó thì Việt nam thuộc một trong những quốc gia có khả năng chịu ảnh hưởng rất nặng nề hậu quả của MNBD, và nặng nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng Một tỷ lệ lớn dân số và kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng tại 2 khu vực đồng bằng này Ví dụ: Với kịch bản MNBD 1m thì sự ảnh hưởng là: 5% diện tích quốc gia, 11% dân số, GDP và phạm vi đô thị, và khoảng 7% nông nghiệp; Với kịch bản MNBD 5m thì sự ảnh hưởng là: 16% diện tích quốc gia, 38% dân số, 36% GDP, 41% phạm vi đô thị, và khoảng 24% nông nghiệp
Michael Waibel “Những ảnh hưởng và thách thức của BĐKH đối với Việt Nam” [17]
Các báo cáo đánh giá gần đây của Hội đồng liên chính phủ về BĐKH (IPCC) và các nguồn khoa học khác nhau xác nhận rằng BĐKH đã diễn ra và có tác động xác đáng Việc giảm tổn thương biến đổi khí hậu đã trở thành một vấn đề cấp bách, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nơi dễ bị tổn thương vì họ thiếu nguồn lực tài chính, thể chế và công nghệ hạn chế, chuyên môn của địa phương thấp, và hạn chế năng lực nghiên cứu Mặc dù Việt Nam đã chỉ đóng một phần nhỏ trong việc tạo ra các vấn đề
về thay đổi môi trường toàn cầu và phải đối mặt với nhiều thách thức khác, nhưng không thể tránh những tác động của BĐKH Thực hiện chính sách thích ứng dường như là bắt buộc
Trang 212.2.2 Nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận thích ứng với BĐKH như: Thích ứng dựa trên hệ sinh thái, cộng đồng và quyền lợi….Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về cộng đồng thường sử dụng cách tiếp cận dựa trên cộng đồng để nghiên cứu khả năng thích ứng của cộng đồng dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu
Cách tiếp cận thích ứng với BĐKH dựa trên cộng đồng là một phương pháp luận
để thu thập, tổ chức và phân tích thông tin về khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân Nó cung cấp những hướng dẫn và công cụ cho nghiên cứu, phân tích và học hỏi có sự tham gia Nó cũng tính đến vai trò của các
cơ quan và chính sách quốc gia và địa phương trong thực hiện hoạt động thích ứng (CARE International, 2010)
Dựa trên cách tiếp cận này, Tổ chức CARE International và Viện Phát triển Bền vững Quốc tế đã nghiên cứu Bộ công cụ phân tích sự thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA) Bộ công cụ này hướng dẫn các bước phân tích, đánh giá khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH tại các cộng đồng, từ đó xây dựng, triển khai các dự án nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo tóm tắt kịch bản biến đổi khí hậu năm 2016, trong thời lỳ 1958 – 2014, nhiệt độ có xu thế tăng tại hầu hết các trạm quan trắc tính trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,62 (khoảng 0,10 /10 năm) Lượng mưa năm có xu thế giảm ở các khu vực phía bắc (5,8% đến 12%/57 năm); tăng ở các khu vực phía
nam (6,9% đến 19,8%/57 năm)
Bão và áp thấp nhiệt đới ở khu vực Biển Đông, ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam hoặc đổ bộ vào Việt Nam là ít biến đổi Tuy nhiên trong những năm gần đây, những con bão mạnh với sức gió mạnh nhất từ cấp 12 trở lên có xu hướng tăng nhẹ, mủa bão kết thúc muộn hơn và bão đỗ bộ vào các khu vực phía nam có xu hướng gia tăng
Nhiệt độ ngày cao nhất và thấp nhất có xu thế tăng rõ rệt, với mức tăng cao nhất lên tới 1 / 10 năm Số ngày nóng có xu thế tăng ở hầu hết các khu vực trong cả nước
Số lượng các đợt hạn hán tăng đặc biệt là khắc nghiệt tăng trên phạm vi cả nước số ngày rét, đậm rét hại ở miền Bắc có xu thế giảm, đặc biệt là trong hai thập kỷ gần đây, tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều đợt rét đậm kéo dài kỷ lục, những đợt rét có hại có nhiệt độ khá thấp mưa cực đoan có xu thế biển đổi khác nhau giữa các vùng khí hậu Lượng mưa năm giảm ở phía Bắc và tăng về phía Nam Tuy nhiên nhiệt độ cực trị tăng ở các vùng nhưng nhiệt độ tối cao giảm ở một số trạm ở phía Nam Vào mùa khô
Trang 22hạn hán xảy ra nhiều hơn nhưng đến mùa mưa thì số lượng bão có xu hướng tăng, hiện tượng El Nino và La Nina có xu hướng tăng
Còn trong bối cảnh BĐKH ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, Việt Nam đã và đang tích cực chống lại biến đổi khí hậu với các hoạt động, dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: Nông nghiệp, giao thông, thủy lợi…với nhiều cơ quan chuyên môn cũng như các tổ chức quốc tế nghiên cứu và triển khai trong những năm qua
Đề tài “ Đánh giá tác động của BĐKH đến các ngành KTXH tỉnh Trà Vinh, đề xuất các giải pháp ứng phó” ( Sở Tài Nguyên Môi Trường Trà Vinh, 2011) [8]
Xây dựng kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho tỉnh Trà Vinh.Điều tra đánh giá được hiện trạng, dao động khí hậu và xu thế thay đổi của tài nguyên, môi trường và kinh tế xã hội trong thời gian gần đây.Đánh giá được mức tác động của BĐKH tới các ngành, lĩnh vực KT - XH của tỉnh Trà Vinh Chi tiết hóa được các kịch bản BĐKH và đánh giá được tác động tiềm tàng của BĐKH tới các khu vực, lĩnh vực Xây dựng kế hoạch hành động của tỉnh Trà Vinh ứng phó với BĐKH; tích hợp vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT- XH, bảo vệ môi trường của tỉnh Tổng hợp và lồng ghép được những nội dung quan trọng của kế hoạch giảm nhẹ tác động xấu và thích ứng với BĐKH vào các chương trình quy hoạch, dự án phát triển của địa phương Xây dựng Danh mục các dự án, chương trình ưu tiên thực hiện
Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 – 2015 Hướng dẫn xây dựng
và lựa chọn các giải pháp cụ thể đối với từng lĩnh vực, bao gồm cả các chính sách, chương trình và dự án đầu tư Tạo được sự thống nhất về các giải pháp chủ yếu giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH, góp phần phát triển bền vững ở địa phương
Luận án Tiến sĩ nghiên cứu “đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nguy cơ tổn thương và đề xuất định hướng ứng phó tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” ( Hoàng Anh Huy, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2012) [4]
Luận án đã đánh giá được nguy cơ, mức độ tổn thương và các đối tượng dễ bị tổn thương trên địa bàn thành phố Quy Nhơn trong điều kiện BĐKH, đồng thời đã đề xuất định hướng ứng phó với BĐKH tại thành phố Quy Nhơn Đề tài hoàn thành đã đóng góp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh Bình Định Hướng dẫn xây dựng và lựa chọn các giải pháp cụ thể đối với từng lĩnh vực, bao gồm cả các chính sách, chương trình và dự án đầu tư Tạo được
Trang 23sự thống nhất về các giải pháp chủ yếu giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH, góp phần phát triển bền vững ở địa phương
Báo cáo “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” (Viện Khí tượng, thủy văn và Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2011)
Báo cáo đã trình bình bày những dự báo nhiệt độ, mưa cho 7 vùng khí hậu của Việt Nam theo các 3 kịch bản:
- Kịch bản phát thải thấp (B1)
- Kịch bản trung bình của nhóm các kịch bản phát thải vừa (B2)
- Kịch bản trung bình của nhóm các kịch bản phát thải cao (A2)
Kết quả tính toán, đặc biệt từ các kịch bản trung bình được khuyến nghị để các
Bộ, ngành và địa phương làm cơ sở để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xây dựng kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu
2.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
2.3.1 Vị trí địa lý
Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng trọng điểm kinh
tế phía Nam Lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: đất liền và hải đảo Bà Rịa – Vũng Tàu
có địa giới hành chính chung dài 16,33 km với thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, 116,5 km với Đồng Nai ở phía Bắc, 29,26 km với Bình Thuận ở phía Đông, Nam và Tây Nam là biển Đông Chiều dài bờ biển là 305,4 km với trên 100.000 km2 thềm lục địa Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 8 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương gồm
2 thành phố (Bà Rịa, Vũng Tàu) và 6 huyện (Long Điền, Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Châu Đức, Tân Thành, Côn Đảo) [6]
Ngày 09/12/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2003/NĐ – CP về việc thành lập xã, phường thuộc thành phố Vũng Tàu và huyện Tân Thành, chia huyện Long Đất thành huyện Long Điền và huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu [15]
Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, sân bay
và mạng lưới đường sông, đường biển thuận lợi Các đường quốc 51, 55, 56 cùng với
hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu chính gắn kết quan hệ toàn diện của Bà Rịa – Vũng Tàu với các tỉnh khác trong cả nước và Quốc tế [6]
Trang 24độ nghiêng từ tây bắc xuống đông nam, giáp biển Đông Quần đảo Côn Đảo (chiếm 4% diện tích của tỉnh) gồm 16 đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Côn Sơn có diện tích lớn nhất rộng 57,5 km2, cách Vũng Tàu 180 km [6]
Toàn tỉnh có hơn ¾ diện tích đồi núi, thung lũng thấp, có trên 50 ngọn núi cao
100 m trở lên, khi ra biển tạo thành nhiều vũng, vịnh, mũi, bán đảo, đảo Độ cao trên
Trang 25400 – 500 m có núi Ông Trịnh, núi Chúa, núi Thánh Giá Địa hình tập trung vào 4 loại đặc trưng (đồng bằng hẹp, các núi, gò đồi, thềm lục địa) [6]
Thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu , đất đai vùng
dự án (không bao gồm Côn Đảo và mặt nước) có thể phân loại như sau:
9 Đất xói mòn trơ sỏi 5.851 3,3
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp - thu hoạch thuỷ lợi BRVT điều tra đến 2020)
Nhóm đất phù sa:
Nhóm đất phù sa có diện tích 7.515ha chiếm 4,2%, phân bố chủ yếu ở khu vực ven sông Ray và sông Dinh Đất phù sa có độ phì nhiêu tương đối cao, đất ít chua, hàm lượng hữu cơ giàu ở tầng mặt Hàm lượng lân và kali dễ tiêu hóa cao nhất là Kali (K2O: 12,3 mg/100 gam đất) Hiện tại nhóm đất phù sa đang được dùng vào việc
Trang 26trồng lúa, luân phiên lúa màu Hướng sử dụng lâu dài loại đất này có nhiều điều kiện
để phát triển các loại cây trồng như rau, hoa và cây cảnh
Nhóm đất đen:
Nhóm đất đen có diện tích 9.486 ha chiếm 5,3%, phân bố chủ yếu ở các huyện Xuyên Môc, Châu Đức, Tân Thành Đất hình thành chủ yếu trên đá bọt Bazan và các tàn tích của đá Bazan
Đất đen có độ phì nhiêu hơn hẳn các loại đất khác Hạn chế chính của đất đen là tầng đất thường rất mỏng, đá lẫn và đá lộ đầu nhiều, gây trở ngại cho khâu làm đất và
sự phát triển của bộ rễ Vì vậy đất đen chỉ phù hợp cho các cây trồng ngắn ngày có bộ
rễ ăn nông Hiện tại, đất đen được khai thác dùng phát triển cây trồng nông nghiệp chủ yếu là hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày như: bắp, đậu nành, đậu phộng và các cây đậu đỗ khác cho hiệu quả khá
Nhóm đất xám bạc màu:
Nhóm đất này có diện tích 29.577ha chiếm 16,5%, phân bố chủ yếu ở các huyện Xuyên mộc, Đất Đỏ, Long Điền và tân Thành Đất xám trong vùng hình thành chủ yếu trên phù sa cổ và hình thành trên đá Granite Đất phân bố ở địa hình thấp và có gley nhẹ đến trung bình, xuất hiện trong vòng 30 - 70cm; vì vậy, bố trí lúa nước hoặc cây trồng cạn hàng năm, đào ao nuôi thủy sản Đất xám trên phù sa cổ hoặc đất xám trên
đá granit có hàm lượng dinh dưỡng thấp hơn: mùn và đạm nghèo, lân và kali tổng số rất nghèo hoặc trung bình thấp
Do phân bố ở địa hình cao, thoát nước và ít dốc nên đất xám trên phù sa cổ và đất xám trên granit có phạm vi thích nghi với các loại cây trồng rộng hơn, có thể bố trí cây trồng cạn, cây hàng năm hoặc lâu năm tùy thuộc vào độ dày tầng đất hữu hiệu và khả năng tưới (không tưới nên trồng điều hoặc cao su)
Nhóm đất đỏ vàng:
Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 75.938ha, chiếm 42,3%, phân bố hầu khắp ở các
Trang 27huyện, tập trung nhiều ở các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc Đất đỏ vàng được hình thành từ 4 loại đất mẹ và mẫu đất là: Bazan, phù sa cổ, phiến sét và đá Granit Trong
đó đặc biệt là các đất đỏ vàng (Fk, Fu) hình thành trên đá Bazan có chất lượng rất cao
có diện tích đáng kể
- Đất nâu đỏ và nâu vàng trên đá Bazan (Gọi chung là đất đỏ Bazan):
Đất đỏ trên đá Bazan là đất có quá trình feralit mạnh và quá trình tích mùn bề mặt với lớp võ phong hóa dầy Thành phần cơ giới đất đỏ trên Bazan là nặng và rất nặng, hàm lượng sét vật lý luôn đạt > 50% Câu trúc viên hạt khá tơi xốp, khả năng thấm và giữ nước rất tốt Hiện nay đất đỏ Bazan sử dụng chính cho việc trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, cây ăn quả Tuy vậy, khi sử dụng loại đất này cần có biện pháp chống xói mòn và rữa trôi
- Đất đỏ vàng trên phù sa cổ:
Đất hình thành trên mẫu chất phù cổ, ở các bậc thềm khác nhau từ vài mét đến khoảng 150 – 160 mét Thành phần cơ giới nhẹ (cát pha, thịt nhẹ) cấu trúc rời rạc, phân hóa rõ theo màu sắc và độ chặt Mùn đạm có chiều hướng giảm rất nhanh theo chiều sâu phẩu diện Trong sản xuất cần có biện pháp chống xói mòn, rửa trôi, tăng cường bón phân bổ sung cho đất vốn rất nghèo dưỡng chất
- Đất vàng đỏ trên đá Granit:
Đất hình thành trên đá mẹ Granít có cấp hạt rất thô, giàu silic, vì vậy đất có thành phần cơ giới với cấp hạt chiếm ưu thế (60 – 80%) có khi tới 90% cát và tầng đất thường mỏng, nhiều đá lộ đầu Độ phì của đất rất kém và ít có khả năng sử dụng trong nông nghiệp
Nhóm đất dốc tụ:
Nhóm đất dốc tụ có 11.512 ha chiếm 6,4% Phân bố rải rác ở các huyện Có 2 loại đất dốc tụ: Đất dốc tụ vùng bazan và đất dốc tụ Trong đó đất dốc tụ vùng bazan thường có thành phần cơ giới nặng hơn, từ thịt nặng đến sét (40 - 45% sét), ít chua, và
có hàm lượng dinh dưỡng trong đất khá cao: giàu mùn, giàu đạm, lân Trong khi đó, các đất dốc tụ khác thường có thành phần cơ giới nhẹ hơn, đất chua hơn và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất đa số thấp hơn so với đất dốc tụ vùng bazan Các loại đất trong nhóm đất dốc tụ chủ yếu thích nghi với lúa nước và các cây trồng cạn có bộ
rễ nông khi chủ động hạ thấp mức thủy cấp
Nhóm đất mặn:
Nhóm đất mặn có diện tích 1.133 ha, chiếm 0,6% Nhóm đất này phân bố ở khu vực ven biển và cửa sông Loại đất này thường bị ngập mặn quanh năm thích hợp cho việc làm muối và nuôi thủy sản nước lợ, nước mặn
Trang 28 Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá:
Loại đất này có diện tích 5.851ha, chiếm 3,3%, có tầng đất rất mỏng, lại phân bố
ở địa hình núi dốc, do đó chủ yếu sử dụng cho lâm nghiệp hoặc khai thác làm vật liệu xây dựng
Lượng mưa trung bình hàng năm thấp (khoảng 1.600 mm) và phân bố không đều theo thời gian, tạo thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 90% lượng mưa cả năm; và 10% tổng lượng mưa tập trung vào mùa khô là các tháng còn lại trong năm
Khí hậu Bà Rịa – Vũng Tàu nhìn chung mát mẻ, rất phù hợp với du lịch, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày (như tiêu, điều, cao su, cà phê) và cho phát triển một nền lâm nghiệp đa dạng
Bảng 2.2: Nhiệt độ tại các trạm Vũng Tàu, Xuân Lộc (đơn vị: oC)
Trạm ĐT I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB
25,3 36,4 14,9
26,4 38,1 13,7
27,8 37,4 19,6
27,3 38,0 21,4
26,3 35,7 21,0
25,8 34,7 20,4
25,7 34,2 20,9
25,6 34,3 20,4
25,5 33,7 18,5
24,9 34,0 16,6
24,4 34,6 14,2
25,8 38,1 12,1 Vũng
26,0 32,9 19,4
27,3 33,8 19,3
28,9 36,2 22,9
29,0 36,7 21,9
28,3 34,7 22,5
27,8 34,2 22,1
27,6 35,3 21,8
27,5 34,5 21,6
27,2 33,4 21,0
26,8 33,7 20,2
25,7 33,1 19,0
27,1 36,7 18,1
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp - thu hoạch thuỷ lợi BRVT điều tra đến 2020)
Diễn biến nhiệt độ luôn thay đổi, trong một ngày đêm nhiệt độ cứ ngày nóng đêm mát tuân theo một chu kỳ nhất định Phạm vi dao động của nhiệt độ ngày đêm cũng tăng giảm theo mùa, tăng dần vào mùa khô khi lượng mây giảm và giảm dần vào
Trang 29mùa mưa khi lượng mây tăng Trong ngày nhiệt độ cao nhất thường xuất hiện vào lúc 13,14 giờ và xuống thấp nhất vào lúc 4,5 giờ sáng (trước khi mặt trời mọc) Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất ngày cũng biến đổi theo xu thế giảm dần từ biển vào trong đất liền
Thuỷ văn [6]
Do tiếp giáp với biển Đông nên các con sông và hệ thống sông của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu bị ảnh hưởng của chế độ thủy văn bán nhật triều không đều Hệ thống sông Thị Vải bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, kế đến là hệ thống sông Dinh và nhỏ hơn là Sông Ray
Sông Thị Vải: dòng chảy sông Thị Vãi ra biển theo hướng Nam – Đông Nam, triều cường chảy hướng Bắc – Tây Bắc tần suất xuất hiện chảy vào và chả ra gân xấp
xỉ như nhau Tại khu vực cảng Thị Vải, vận tốc triều rút cực đại là 133cm/s và triều cường là 98cm/s
Mực nước sông trung bình thay đổi từ 39 - 35 cm Mực nước cao nhất đã quan sát được là + 180cm, mực nước thấp nhất là -329cm Giá trị trung bình độ lớn thuỷ triều dài 310cm, độ lớn thủy triều lớn nhất là 465cm và độ lớn thuỷ triều nhỏ nhất là
141 cm Chế độ thì thuỷ triều ra lúc 4-9h sáng và 16-23 đêm; triều xuống lúc 9-16h và 23-4h sáng hơm sau
Sống Dinh: Sông Dinh bắt nguồn từ vùng núi cao Châu Thành , chảy qua thành phố Bà Rịa và đổ ra vịnh Gành Rái thành phố Vũng Tàu Sông Dinh dài khoảng 35km hầu như nằm trọn trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đây là điểm thuận lợi trong việc quản lý nguồn nước, tuy nhiên sống ngắn lại nằm dưới thêm chân núi cao bên sườn đón gió mùa Tây Nam nên về mùa mưa gặp những trận mưa lớn , nước lũ lên nhanh , bất lợi cho việc phòng chống lũ
Sông Ray dài 120km, nhưng chỉ có 40km ở hạ lưu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu , còn 80km nằm trên phần đất của tỉnh Đồng Nai Trên sông Ray có một trạm thủy điện và nhiều hồ chưa đã được xây dựng trên các suối và nhánh sông Nhờ có đập dâng và hồ chứa nên lượng nước tích được trong mùa mưa rất đáng kể Đây là nguồn nước tưới duy nhất trong mùa khô, giữ vai trò quan trọng bậc nhất về cung cấp nước ngọt cho tỉnh
Ngoài ra, do ảnh hưởng của chế độ mưa mùa nên chế độ dòng chảy trong các sông suối trong tinh cũng có tính phân mùa rõ rệt đó là mùa khô và mùa mưa (lũ) Trong mùa lũ lượng nước trong các lưu vực sông tăng dần theo chế độ mưa mùa (từ tháng 5 đến tháng 10) Đỉnh lũ thường rơi vào tháng 10, lưu lương dòng chảy vẫn còn
Trang 30lớn cho đến tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau, mực nước trên các sông suối xuống thấp, gần như khô kiệt Nguyên do là vì sông ngắn, có độ dốc lớn, địa chất thường là dễ thấm mất nước, thảm thực vật đầu nguồn các hồ chứa do tác động của con người đang ngày càng thu hẹp, khả năng giữ nước hạn chế
Do cấu trúc địa hình và phân bố dòng chảy nên vào mùa mưa lũ thường gây ra hiện tượng ngập úng cục bộ tại các khu vực có địa hình thấp ven các sông suối Vào mùa khô lại có nguy co thiếu nước tại mặt số khu vực Các sống trong vùng đều thông
ra biển động nên chịu ảnh hưởng của chế đô bản nhất triệu không đều biên độ triệu
2 – 3,5m, ảnh hưởng của thủy triều sâu vào đất liền 170 km đối với hệ thống sông Đồng Nai
2.3.3 Kinh tế - xã hội
Nông nghiệp
Tình hình thời tiết trong năm 2018 tương đối thuận lợi cho phát triển vật nuôi cây trồng Hệ thống thủy lợi đáp ứng tốt nhu cầu nước tưới phục vụ sản xuất trong mùa khô; đặc biệt công trình thủy lợi Sông Ray phát huy tác dụng tốt Các dịch bệnh thông thường đã được khống chế kịp thời, không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi Công tác an toàn thực phẩm được kiểm soát thường xuyên góp phần bình ổn giá cả thị trường và hạn chế tác hại do chất lượng hàng hóa không đạt chuẩn cho phép gây hại cho sản xuất Cây hàng năm: Diện tích gieo trồng cả năm là 59.540ha, giảm khoảng 1,14% so năm 2017 Tính đến 15/11, toàn tỉnh đã gieo trồng được 25.051,4 ha lúa, tăng 1,24% so cùng kỳ; trong đó, diện tích lúa đông xuân là 7.028,7 ha, với sản lượng thu hoạch 41.523,9 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ; lúa hè thu gieo trồng 8.593,4 ha và lúa mùa là 9.429,3 ha Năng suất lúa trong năm tăng khá cao
do áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến như IPM, 3 giảm 3 tăng, quy trình sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm, áp dụng cơ giới hóa giúp giảm hao hụt thất thoát trong thu hoạch Diện tích lúa hè thu và lúa mùa đều giảm nhẹ so cùng kỳ do có sự chuyển đổi cây trồng trên đất lúa theo Quyết định số 1895/QĐ-UBND ngày 23/7/2018 của UBND tỉnh (dự kiến đến 2020 chuyển đổi khoảng 2.117 ha diện tích canh tác lúa tại địa bàn Đất Đỏ, Châu Đức, Xuyên Mộc, Long Điền, Bà Rịa và Phú Mỹ sang trồng cây hàng năm khác và lâu năm) Đã gieo trồng được 13.673,3 ha bắp, bằng 99,88% so cùng kỳ năm trước; 1.220,3 ha đậu phộng tăng 9,13%; 6.691,5 ha rau, tăng 2,54%; khoai mỳ 7.251,8 ha và chỉ bằng 85,24% so cùng kỳ [6]
Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm ước năm 2018 là 57.558 ha, tăng 1,12%
so với năm 2017; trong đó, diện tích chuối ước 1.466 ha tăng 12,63%; diện tích xoài
Trang 31ước đạt 630 ha tăng 5,61%; diện tích nhãn 1.505 ha tăng 2,55% Một số cây lâu năm
có diện tích giảm như tiêu, điều, chôm chôm, Điều kiện thời tiết năm 2018 bất lợi cho sự phát triển cây tiêu đồng thời giá tiêu cũng giảm sâu dẫn đến người nông dân giảm đầu tư, năng suất giảm so với năm 2017 Diện tích tiêu năm 2018 khoảng 13.227
ha, tăng 4,23% so với năm trước, năng suất đạt 17,49 tạ/ha chỉ bằng 91,09% Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã phối hợp với công ty Vina Harris xây dựng chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ hồ tiêu tại huyện Châu Đức và huyện Xuyên Mộc đạt chứng nhận tiêu chuẩn sản xuất bền vững Diện tích điều hiện có khoảng 8.923 ha chỉ bằng 97,25% so với năm 2017, năng suất ước đạt 13,25 tạ/ha và sản lượng 11.640 tấn, giảm 1,64% là do đợt mưa trái mùa trước và sau tết Nguyên đán đúng vào dịp cây điều trổ bông Diện tích cây ăn quả ngày càng được mở rộng do điều kiện thổ nhưỡng khí hậu thích hợp và chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao Tổng diện tích cây ăn quả hiện có là 7.448 ha, tăng 3,68% so với năm 2017 Một số cây ăn quả của tỉnh đã được xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu và có chỗ đứng khá vững trên thị trường trong và ngoài tỉnh như: Bưởi da xanh Sông Xoài, Nhãn Xuồng Cơm Vàng, Nhãn Xuồng Cơm Ráo, Mãng cầu Ta,
Kết quả chăn nuôi 1/10/2018: Đàn gia súc phát triển tương đối ổn định, tổng đàn trâu ước khoảng 503 con; tổng đàn bò 47.440 con, tăng 15,74% so với cùng kỳ Giá heo và gia cầm tăng trong những tháng gần đây tác động tới việc tăng đàn, mở rộng quy mô chuồng trại, cụ thể: Tổng đàn heo ước 394.704 con, tăng 4,09% so với năm trước; tổng đàn gia cầm khoảng 4.285 ngàn con, tăng 3,48% Sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước 74.454 tấn, tăng 5,45% Sản lượng thịt gia cầm ước 22.290 tấn, tăng 3,39% Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2018 theo giá so sánh 2010 ước đạt 8.248 tỷ đồng, tăng 4,32% so năm 2017 trong đó trồng trọt tăng 3,15% và chăn nuôi tăng 5,9% [6]
số năng lực mới được đưa vào hoạt động trong những tháng cuối năm 2018 đã tác động làm tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến chế tạo như: Công ty
Trang 32TNHH Deajoo Vina; Vông ty TNHH SungJin; Công ty TNHH Zitec; Công ty TNHH YongNam - KCN B1-Conac; Công ty TNHH CJ Food, Công ty TNHH bột mì CJ mở rộng, Đặc biệt giá thép năm 2018 tăng cao so cùng kỳ đã tác động làm gia tăng sản xuất thép trên địa bàn trong khi thép chiếm khoảng 35% tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành nên sản xuất thép trên địa bàn năm 2018 đã đóng góp lớn vào tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Có 19 dự án công nghiệp đưa vào hoạt động trong năm 2018 như Nhà máy Sản xuất Phụ gia xi măng, bột từ và vật liệu xây dựng từ tái chế xi thép của công ty Cổ phần Thành Đại Phú Mỹ; Kho bãi tổng hợp, nhà xưởng cho thuê và dịch vụ logistics của công ty TNHH Green HC; Nhà máy ống thép mạ kẽm, Các dự án này hoạt động sản xuất xi măng, tấm tường bê tông, giàn giáo, cốp pha, kết cấu thép, rơ mooc, may mặc, hạt nhựa, dầu nhớt, sản xuất mạch nha, thép, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi [6]
Giao thông
Đường bộ: Tỉnh có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh nối các huyện thị với nhau Quốc lộ 51A (8 làn xe) chạy qua tỉnh dài gần 50 km Trong những năm tới sẽ có Đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu 6 làn xe song song với Quốc lộ 51A
Đường sông: Hệ thống các cảng biển như nêu trên Từ Vũng Tàu có thể đi Thành phố Hồ Chí Minh bằng tàu cánh ngầm
Hàng không: Sân bay Vũng Tàu chủ yếu phục vụ cho máy bay trực thăng thăm
dò khai thác dầu khí Trong tương lai, Sân bay quốc tế Long Thành được xây dựng cách Vũng Tàu 70 km, ranh giới tỉnh khoảng 20 km
Tỉnh cũng đang triển khai di dời sân bay Vũng Tàu sang đảo Gò Găng thuộc ngoại thành Vũng Tàu và xây dựng sân bay Gò Găng thành sân bay Quốc tế kết hợp với phục vụ hoạt động bay thăm dò và khai thác dầu khí
Đường sắt: hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh Theo quy hoạch đến năm 2015 của ngành đường sắt, một đường sắt đôi cao tốc khổ rộng 1.435 m sẽ được xây dựng nối Tp HCM và Vũng Tàu
Dân số và lao động
Dân số trung bình năm 2017 trên địa bàn tỉnh là 1.101.641 người; bao gồm dân
số thành thị 567.736 người, chiếm 51,54%; dân số nông thôn 5133.905 người, chiếm 48,46%; dân số nam 551.976 người, chiếm 50,1%; dân số nữ 549.665 người; chiếm 49,9% Tổng số lao động đang làm việc năm 2017 là 598.838 người [6]
Trang 33 Kinh tế[6]
Tăng trưởng và đóng góp chung: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP)
Bà Rịa – Vũng Tàu ước năm 2018 bằng 99,39% so năm trước, giảm 0,61% do tác động của giá dầu tăng Trong đó, khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,08% đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 1,71% làm giảm 1,39 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,59%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm
Khu vực công nghiệp và xây dựng: Sản xuất công nghiệp giảm 1,78% so năm
trước, là giảm 1,42 điểm phần trăm chủ yếu là do tác động của công nghiệp khai thác dầu thô và khí đốt giảm Điểm sáng của khu vực này là sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng trên 11%, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung với 1,95 điểm phần trăm Tăng trưởng âm của công nghiệp điện đã làm giảm 0,08 điểm phần trăm trong tốc độ tăng chung của nền kinh tế
Khu vực dịch vụ: Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 6,59% so với năm 2017
Một số ngành có đóng góp lớn vào mức tăng trưởng chung; đóng góp cao nhất là ngành vận tải, kho bãi với mức tăng 6,62%; ngành buôn bán và bán lẻ tăng 7,37%; dịch vụ lưu trú và ăn uống có mức tăng trưởng khá cao 10,21% Toàn bộ khu vực dịch
vụ tăng 6,59%, cao hơn nhiều so với 6 tháng đầu năm và đã đóng góp 0,7 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP trên địa bàn
Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng
4,53% giảm 0,11 điểm phần trăm so năm 2017; khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng 78,48%, tăng 0,5 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 11,68%, giảm 0,42 điểm phần trăm
GRDP bình quân đầu người: Tổng GRDP theo giá hiện hành năm 2018 ước tính
đạt 328.678,5 tỷ đồng, tương đương 14.400 triệu USD; GRDP bình quân đầu người
2018 trên địa bàn tỉnh đạt 295,3 triệu đồng, trương đương 12.939 USD
Trang 34 Giáo dục và đào tạo
Tính đến cuối năm 2018, toàn tỉnh có 437 trường học, trong đó có 170 trường mầm non; 267 trường phổ thông, bao gồm: 141 trường tiểu học; 89 trường trung học
cơ sở; 32 trường trung học phổ thông; 1 trường phổ thông cơ sở; 4 trường trung học
Số trẻ nhà trẻ (3 tháng đến 03 tuổi) là 11.029, giảm 2,24% so với năm 2017 Trẻ mẫu giáo (3 tuổi đến 6 tuổi) là 54.700, tăng 0,5% Số học sinh phổ thông toàn tỉnh là 213.132, trong đó: Tiểu học: 108.754; Trung học cơ sở: 70.931; Trung học phổ thông: 33.447 [6]
2.4.2 Tài nguyên thiên nhiên [6]
Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt của Bà Rịa – Vũng Tàu chủ yếu do ba con sông lớn cung cấp,
đó là sông Thị Vải, đoạn chảy qua tỉnh dài 25 km, sông Dinh đoạn chảy qua tỉnh dài
30 km, sông Ray dài 120 km Trên các con sông này có 3 hồ chứa lớn là hồ Đá Đen,
hồ sông Ray, hồ Châu Pha
Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm của tỉnh cũng khá phong phú, tổng trữ lượng có thể khai thác là 70.000 m3/ngày đêm, tập trung vào ba khu vực chính là: Bà Rịa – Long Điền 20.000 m3/ngày đêm; Phú Mỹ – Mỹ Xuân 25.000 m3/ngày đêm; Long Đất – Long Điền 15.000 m3
/ngày đêm Ngoài ba vùng trên, khả năng khai thác nước ngầm rải rác khoảng 10.000 m3/ngày đêm Nước ngầm trong tỉnh nằm ở độ sâu 60 – 90 m,
có dung lượng dòng chảy trung bình từ 10 – 20 m3/s nên khai thác tương đối dễ dàng Các nguồn nước ngầm có thể cho phép khai thác tối đa 500.000 m3/ngày đêm, bảo đảm cung cấp đủ nước cho nông nghiệp, công nghiệp và cho sinh hoạt
Tài nguyên đất
Với diện tích 197.514 ha, chia thành 4 loại: đất rất tốt là loại đất có độ phì rất cao, chiếm 19.60% diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất phù sa và đất xám; đất tốt chiếm 26,40%; đất trung bình chiếm 14,4%; còn lại 39,60% là đất nhiễm phèn, mặn, đất xói mòn
Đánh giá các loại đất của Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy: nhóm đất có ý nghĩa lớn cho sản xuất nông – lâm nghiệp chiếm 60%, tỷ trọng này tương đối lớn so với nhiều tỉnh trong cả nước Nhóm đất này bao gồm đất phù sa, đất xám, đất đen và đất đỏ vàng Điều này cho phép tỉnh có thể phát triển một nền nông nghiệp đủ mạnh Ngoài ra, còn một tỷ trọng lớn đất không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp bao gồm đất cát, đất nhiễm phèn, mặn, đất xói mòn…
Trang 35Rừng của Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ có tầm quan trọng trong tạo cảnh quan, môi trường, phòng hộ và phát triển du lịch, còn việc khai thác rừng lấy gỗ, nguyên liệu không lớn
Tài nguyên khoáng sản
Bà Rịa – Vũng Tàu có nhiều loại khoáng sản, nhưng đáng kể nhất là dầu mỏ, khí thiên nhiên và khoáng sản làm vật liệu xây dựng, Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng
có tiềm năng lớn về dầu mỏ và khí thiên nhiên của Việt Nam Tổng trữ lượng tiềm năng dầu khí theo xác minh năm 2000 vào khoảng 2.500 – 3.500 triệu m3
(bao gồm dầu 957 triệu m3, khí 1.500 tỷ m3) Trong tổng trữ lượng dầu khí đã xác minh, vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu có trữ lượng là 400 triệu m3 dầu, chiếm 93,29% trữ lượng cả nước; trữ lượng dầu khí khoảng trên 100 tỷ m3, chiếm 16,2% trữ lượng khí cả nước Dầu mỏ và khí đốt của Bà Rịa – Vũng Tàu phân bố chủ yếu ở bể Cửu Long và bể Nam Côn Sơn Bể Cửu Long trữ lượng khai thác khoảng 170 triệu tấn dầu và 28 – 41
tỷ m3 khí Trong đó, mỏ Bạch Hổ trữ lượng 100 triệu tấn dầu và 25 – 27 tỷ m3 khí, mỏ Rồng trữ lượng 10 triệu tấn dầu và 2 tỷ m3 khí, mỏ Hồng Ngọc và Rạng Đông trữ lượng 50 – 70 triệu tấn dầu và 10 – 15 tỷ m3
khí Bể Cửu Long có điều kiện khai thác tốt nhất do nằm không xa bờ, trong vùng biển nông (độ sâu đáy <50 m), thuộc khu vực không có bão lớn Bể Nam Côn Sơn: trong 60 cấu tạo phát hiện, có nhiều cấu tạo đã khoan thăm dò và có dấu hiệu như Dừa, Mùa (lô 8), Đại Hùng, Thanh Long (các lô 05,
11, 12, 06, 04); các mỏ có triển vọng là Đại Hùng, Thanh Long, Lan Tây, Lan Đỏ, Mộc Tinh, Rồng Bay, Mỏ Đại Hùng đã đi vào khai thác từ tháng 10 – 1994, trữ lượng khai thác dao động trong khoảng 30 – 50 triệu tấn dầu và 6 – 10 tỷ m3 khí Trữ lượng
Trang 36mỏ Lan Tây là 42 tỷ m3 khí, Lan Đỏ 14 tỷ m3 khí, sau đó có thể đưa lên 80 tỷ m3 cho
cả 2 mỏ
Tài nguyên dầu khí với tổng trữ lượng tiềm năng và tổng trữ lượng đã xác minh,
đủ điều kiện để tỉnh phát triển công nghiệp dầu khí thành ngành công nghiệp mũi nhọn trong chiến lược phát triển công nghiệp cả nước và đưa Bà Rịa – Vũng Tàu thành một trung tâm khai thác và chế biến dầu khí lớn nhất Việt Nam
Khoáng sản làm vật liệu xây dựng của Bà Rịa – Vũng Tàu rất đa dạng, bao gồm:
đá xây dựng, đá ốp lát, phụ gia xi măng, cát thuỷ tinh, bentonit, sét gạch ngói, cao lanh, cát xây dựng, than bùn, immenit… Hiện nay, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã xây dựng 19
mỏ với tổng trữ lượng 32 tỷ tấn, phân bố ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, nhưng chủ yếu ở các huyện Tân Thành, Long Đất, thị xã Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu Chất lượng đá khá tốt, có thể dùng làm đá dăm, đá hộc cho xây dựng; giao thông, thuỷ lợi,
đá khối cho xuất khẩu Nhìn chung các mỏ nằm gần đường giao thông nên khai thác thuận lợi
Đá ốp lát có 8 mỏ lớn với tổng trữ lượng 1.324 triệu m3
, chủ yếu nằm ở huyện Côn Đảo Chất lượng đá tốt, màu sắc đẹp, nguyên khối lớn; phụ gia xi măng có 6 mỏ thuộc 3 huyện Long Đất, Xuyên Mộc và thị xã Bà Rịa, tổng trữ lượng 44 triệu tấn Các
mỏ đều có điều kiện khai thác thuận lợi, có thể khai thác làm chất kết dính, phụ gia xi măng Tuy nhiên do xa nơi tiêu thụ nên giá thành cao, ít có ý nghĩa kinh tế; cát thuỷ tinh, có 3 mỏ thuộc hai huyện Xuyên Mộc và Tân Thành, tổng trữ lượng 41 triệu tấn, chủ yếu là cát trắng thạch anh và cát thuỷ tinh Điều kiện khai thác thuận lợi nhưng chất lượng cát chỉ ở mức trung bình có thể sử dụng làm thuỷ tinh cấp thấp như bao bì
và hàng dân dụng
Ngoài ra, Bà Rịa – Vũng Tàu còn có một trữ lượng đáng kể các loại khoáng sản vật liệu xây dựng khác như sét gạch ngói, cao lanh, cát xây dựng, bentonit… nằm rải rác ở nhiều nơi, cho phép hình thành ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng rộng khắp trong tỉnh
Tài nguyên biển
Bà Rịa – Vũng Tàu có bờ biển dài 305,4 km, trong đó khoảng 70 km có bãi cái thoai thoải, nước xanh, có thể dùng làm bãi tắm quanh năm Vịnh Giành Rái rộng khoảng 50 km2 có thể xây dựng một hệ thống cảng hàng hải
Với diện tích thềm lục địa trên 100.000 km2 đã tạo cho tỉnh không những có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, mà còn tạo ra một tiềm năng to lớn để phát triển các ngành kinh tế biển
Trang 37Thềm lục địa của Bà Rịa – Vũng Tàu có 661 loài cá, 35 loài tôm, 23 loài mực, hàng ngàn loài tảo, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao Trữ lượng hải sản có thể khai thác tối đa hàng năm từ 150.000 – 170.000 tấn
Tài nguyên biển của Bà Rịa – Vũng Tàu rất thuận lợi cho phát triển vận tải biển,
hệ thống cảng, du lịch và công nghiệp khai thác, chế biến hải sản
Trang 38CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Ngày thực hiện nhiệm vụ luận văn: 01/04/2019
Ngày hoàn thành nhiệm vụ luận văn: 05/10/2019
3.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài khoanh vùng các đối tượng nghiên cứu là:
Năng lực thích ứng đối với khả năng trồng trọt
Năng lực thích ứng đối với khả năng chăn nuôi
Năng lực thích ứng đối với khả năng nuôi trồng thuỷ sản
Năng lực thích ứng đối với tài nguyên đất
3.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung đề tài đã thực hiện những nôi dung sau đây:
Nội dung 1: Thu thập diễn biến của các tham số khí hậu, thuỷ văn tại tỉnh Bà Vũng Tàu
Rịa- Diễn biến Nhiệt Độ
Diễn biến Lựơng mưa
Diễn biến Mực nước biển
Điều tra diễn biến Thuỷ văn
Nội dung 2: Đánh giá năng lực của của các loại hình nông nghiệp đối với BĐKH của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Thực hiện điều tra phỏng vấn qua phiếu về hiện trạng nông nghiêp: thu nhập người nông dân, sản lượng, diện tích, mục đích sử dụng của các loại hình: cà phê, tiêu, lúa… tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Nhận xét năng lực của người dân đối với ngành nông nghiệp
Trang 39Nội dung 3: Đánh giá năng lực thích ứng của biến đổi khí hậu theo các lĩnh vực đã được điều tra
Năng lực thích ứng đối với khả năng trồng trọt
Năng lực thích ứng đối với khả năng chăn nuôi
Năng lực thích ứng đối với khả năng nuôi trồng thuỷ sản
Năng lực thích ứng đối với tài nguyên đất
Nội dung 4: Xây dựng các đề xuất thích ứng với BĐKH
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Hình 3.1: Phương pháp nghiên cứu
Trang 40Đề tài thực hiện theo các phương pháp điều tra khảo sát thực địa; điều tra về trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản và tài nguyên đất Trong các đối tượng trên điều tra về loại hình, thu nhập và các tác động của BĐKH có ảnh hưởng như thế nào đến các đối tượng đã điều tra Sau khi có các dữ liệu, sử dụng phương pháp sử lý số liệu là nhập vào phần mền Excel đồng thời sử dụng phương pháp thừa kế số liệu và phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu để phân tích hiện trạng Dựa vào các tác động của BĐKH đã thu thập và thừa kế đánh giá các tác động để đưa ra các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
3.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát, phỏng vấn thực địa
Đây là hình thức phỏng vấn có chủ đích, khoanh vùng người dân, sử dụng danh mục các câu hỏi trong phiếu điều tra nông hộ Để thực hiện phương pháp chia theo 2 bước thực hiện, bước 1 là đi khảo sát khu vực thực địa sau đó khoanh vùng khu vực có trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản ở 2 thành phố và 5 huyện trên 6 huyện của tĩnh Bà Rịa – Vũng Tàu là thành phố Bà Rịa, thành phố Vũng Tàu, huyện Châu Đức, huyện Xuyên Mộc, Huyện Tân Thành, huyện Long Điền, huyện Đất Đỏ trước khi thực hiện phỏng vấn Bước 2 là tiến hành thực hiện phỏng vấn thu thập thông tin trong khoảng 8 tuần Trong quá trình điều tra, nếu thấy có câu hỏi nào không phù hợp thì có thể bỏ qua câu hỏi đó Mục đích sử dụng phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thông tin mang tính đại diện, các thông tin các kiến thức hay hiểu biết, kinh nghiệm của các hộ dân về BĐKH
Để có được thông tin về các loại hình nông nghiệp, thu nhập, nhu cầu,…của các
hộ dân đặc biệt là nhận thức của họ về BĐKH, sử dụng danh mục câu hỏi và phỏng vấn 21 hộ gia đình ở một xã/thị trấn của một huyện/thành phố, số phiếu thu thập là 632 phiếu