Câu 1 Trình bày và cho nhận xét về học thuyết ý niệm của Platon Chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong triết học của Platon là học thuyết về ý niệm Đây được xem là nền tảng của thế giới quan của ông Quan niệm của Platon về ý niệm tồn tại, về vật chất không tồn tại, về sự vật cảm tính, về những con số Các ý niệm theo cách hiểu của Platon đó là các khái niệm, tri thức đã được khách quan hóa Chún.
Trang 1BÀI TẬP TRIẾT HỌC MÔN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁCCâu 1:Trình bày và cho nhận xét về học thuyết ý niệm của Platon.
Chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong triết học của Platon là học thuyết về ý niệm Đây được xem là nền tảng của thế giới quan của ông Quan niệm của Platon về ý niệm tồn tại, về vật chất không tồn tại, về sự vật cảm tính, về những con số… Các ý niệm theo cách hiểu của Platon đó là cáckhái niệm, tri thức đã được khách quan hóa Chúng bị rút ra khỏi ý thức của con người, hòa trộn vào thế giới tư tưởng được coi là tổng thể các ý niệm tương tự Các ý niệm được coi là tồn tại nói chung, bất biến và vĩnh viễn
Coi các ý niệm là tồn tại nói chung, là tồn tại thực sự, Platon vẫn khẳng địnhrằng cái không tồn tại là cái thực Cái không tồn tại là một khía cận của tồn tại, bản thân cái tồn tại cũng bao hàm cả “ cái khác ” với nó tức là cái không tồn tại Dưới con mắt của Platon bản thân vật chất nói chung cũng tồn tại vĩnh viễn và không phải do thế giới ý niệm sản sinh ra, mặc dù nó không phải là cái gì cả nhưng nó vẩn cần thiết Chính các ý niệm về vật chất là cơ
sở tạo nên sự vật trong thế giới chúng ta
Tóm lại, trong quan niệm về thế giới, Platon theo lập trường duy tâm khách quan, coi mọi sự vật chỉ là hiện thân của ý niệm, là cái bóng của ý niệm Vật chất không tồn tại với ý nghĩa là nó không tồn tại chân thực chứ không phải là không có Sự vật cảm tính chỉ có thể có ý niệm tồn tại và vật chất không tồn tại, nó nằm giữa tồn tại và không tồn tại
Platon là nhà triết học duy tâm khách quan Điểm nổi bật trong hệ thống triếthọc duy tâm của Platon là học thuyết về ý niệm Trong học thuyết này ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm Trong đó thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vìcác sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cảm tính phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm Nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảmbiết của thế giới khách quan mà là nhận thức về ý niệm Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết Từ quan niệm trên Platon
đã đưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn tại" "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất Còn "không tồn tại" là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi
Trang 2vật chất Về mặt nhận thức luận Platon cũng mang tính duy tâm Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứ không phải là sự khái quát kinh
nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó Nhận thức con người khôngphản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ Theo Platon tri thức được phân làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn và tri thức mờ nhạt Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có được nhờ hồi tưởng Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, lẫn lộn đúng sai không có chân lí Về xã hội, Platon đưa ra quan niệm về nhà nước lí tưởng trong đó sự tồn tại và pháttriển của nhà nước lí tưởng dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất, sự phân công hài hoà các ngành nghề và giải quyết các mâu thuẫn xã hội
Như
vậyPlatônđặcbiệtnhấnmạnhvaitròcủadạngnhậnthứcýniệmvàđánhgiákhôngđúngvàkhôngthừanhậnnhậnthứccảmtính,chonhậnthứccảmtínhchỉlàdưluận.Ôngchỉthừanhậntrithứcchânlýđạtđượcbằngnhậnthứclýtính,thểhiệntrongkháiniệm.Theoôngmọitrithứcphảicótínhkháiquátcao,tứclàphảiđạtđượcbằngnhậnthứclýtính Ôngchorằngkhoahọclàmộthệthốngtrithứcvềcácýniệm,đốitượngtoánhọc,cònsảnphẩmcủakinhnghiệm,nhậnthứccảmtínhđềuchỉlànhữngkiếngiảitưởngtượngvềcácvậtchấtđơnthuần,chỉthíchứngvớinhữngýthứcthôngthường.Cáctrithứcđem đến cho chóng ta những chânlýtuyệtđối,mớilàcơsởcủakhoahọ
- Thứ nhất, ông phản đối quan niệm của Platon coi các ý niệm như một dạng
tồn tại độc lập, tối cao, còn mọi sự vật cảm tình của thế giới chúng ta đều tồn tại ở
giới ý niệm phải thuộc về thế giới các sự vật
- Arixtốt nhận thấy học thuyết của Platon có nhiều mâu thuẫn về mặt logic
Một mặt, Platon phân biệt giữa các ý niệm, cho rằng các ý niệm chungnhất là thực
thể, bản chất của các ý niệm mang tính dặc thù hơn Như vậy, sẽ dẫn đến nghịch lí
Trang 3là: các ý niệm vừa là thực thể vừa không là thực thể Điều này, Arixtốtkhông thể
chấp nhận Mặt khác, Platon vừa khẳng định các ý niệm hoàn toàn tách biệt với các
sự vật cảm tính, đồng thời lại cho rằng các sự vật đó là cái bóng của ý niệm là bản
• sao của chúng Như vây là thừa nhận sự vật và khái niệm dù sao cũng có điểm
tương đồng nhất định Từ mâu thuẫn logic trên đây, Platon buộc phải thừa nhận sự
tồn tại của một “thế giới thứ ba”giống với hai thế giới kia và đứng lên trên chúng
Như vậy, mỗi người cụ thể chẳng hạn, để có thể biểu hiện đúng bản chất với khái
niệm con người của mình lại cần đến “con người thứ ba” làm môi giới Điều đó
theo Arixtốt là không thể chấp nhận được
- Các ý niệm của Platon không thể là công cụ nhận thức thế giới vì chúng tách
rời với quá trình vận động, phát triển không ngừng của các sự vật
Câu 2: Phân tích và nêu ý nghĩa của 4 thần tượng
(idola) của Francis Bacon
Là nhà triết học duy vật kiệt xuất của nước Anh Mác đánh giá Bacơn
là “ông tổ thực sự của chủ nghĩa duy vật Anh và của khoa học thực nghiệm hiện đại”
Các tác phẩm chính:
- Khái lược về đạo đức và chính trị
- Đại phục hồi các khoa học
- Công cụ mới
- Lịch sử sự sống và cái chết
Bacơn thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất Khoa họckhông biết một cái gì khác ngoài thế giới vật chất, ngoài giới tự nhiên Ông cho rằng con người cần phải thống trị, phải làm chủ giới tự nhiên Điều đó
có thực hiện được không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết của con người Bacơn cho rằng tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức Do đó cần
có một khoa học mới lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu nhằm biến
tự nhiên thành “giang sơn” của con người
Trang 4Bacơn phê phán gay gắt chủ nghĩa kinh viện vì nó xa rời cuộc sống, chỉ dựa vào những lập luận tuỳ tiện không có nội dung và chẳng đem lại lợi ích gì cho con người Theo Bacơn, triết học phải giúp con người trở nên mạnh hơn Nhiệm vụ của triết học là nhận thức giới tự nhiên và các mối liên
hệ phức tạp của nó
Về nhận thức luận và phương pháp luận
Một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt ở thời cận đại đó là vấn đề nhận thức luận và phương pháp luận Bacơn đã dành một vị trí thích đáng để bàn về những nội dung này
Trước hết để nhận thức đúng bản chất của sự vật thì phải chỉ ra khả năng và giới hạn nhạn thức của con người Một trong những ảnh hưởng đến quá trình nhận thức chân lý, theo Bacơn đó là những sai lầm vốn có trong tư duy, do sai lầm trong lý tính mang lại
Những sai lầm do lý tính tạo ra, Bacơn gọi là những IDOLA (ảo tưởng, ảo ảnh - theo tiếng Hi Lạp cổ Idola là những hình ảnh bị phản ánh một cách lệch lạc) Bacơn đã gom lại các sai lầm và chia thành bốn ảo ảnh sau:
ẢO ẢNH LOÀI (IDOLA TRIBUS) Những nhận thức sai lầm do loài người thường xuyên nhầm lẫn bản chất trí tuệ của mình với bản chất khách quan của sự vật nên dễ dàng gán cho sự vật những ý tưởng của mình, biến chúng thành thước đo chân lý, thước đo giá trị của sự vật Ông cho rằng trí tuệ của con người cũng tương tự như chiếc gương méo, khi pha trộn bản chất của mình với bản chất của sự vật thì nó phản ánh các sự vật dưới dạng
bị xuyên tạc, bị bóp méo
Để loại trừ ảo ảnh này, con người trong nhận thức phải tôn trọng tính khách quan, không được duy ý chí, chủ quan áp đặt tư tưởng của mình cho các đối tượng, thận trọng thăm dò, tăng cường quan sát, thực nghiệm,
thường xuyên kiểm tra các tài liệu do cảm tính mang lại, loại bỏ những sai lầm về mặt logic…
ẢO ẢNH HANG ĐỘNG (IDOLA SPECUS) Thực chất là ảo ảnh loàinhưng nó được biểu hiện ở mỗi con người cụ thể Do có những đặc điểm sinh lý riêng biệt, hoàn cảnh giáo dục, nghề nghiệp khác nhau…làm khúc xạtầm nhìn, đẻ ra những phán đoán về mọi cái theo bản thân mình hay theo bè nhóm cảm tính
Ảo ảnh này được gọi là hang động vì Bacơn xem trí tuệ của con ngườiméo mó như hang động của Platôn, cái ta cảm nhận được không phải là bản
Trang 5chất, chỉ là bản sao giống như ảo ảnh tưởng rằng nhốt được mặt trăng vào trong chậu nước.
ẢO ẢNH THỊ TRƯỜNG (IDOLA FORI) Ảo ảnh này xuất hiện do thường xuyên sử dụng những danh từ trống rỗng để giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày (giống như ở chợ) Đó còn do sự ngộ nhận sử dụng các thuậtngữ khoa học chưa thật chính xác Theo ông, nhiều từ ngữ đã trở nên cưỡng bức lý tính, làm đảo lộn tất cả và cuối cùng, thì chỉ dẫn mọi người đến các cuộc cãi vả để diễn giải những cái rỗng tuếch Vì thế phải phải bỏ thói quen dựa vào các quan niệm đang lưu hành và có thái dộ phê phán đối với các thuật ngữ mơ hồ không chính xác Theo Bacơn, điều kiện được gọi là tri thức phải là tính chính xác của khái niệm
ẢO ẢNH SÂN KHẤU (IDOLA THEATRI) Sai lầm bắt nguồn do chúng ta quá tin vào người xưa, diễn ra trước mắt người ta như diễn ra trên sân khấu Quá khứ chỉ là một thời kỳ ấu trĩ của loài người chứ không phải là một thời hoàng kim; để đi đến chân lý không nên giáo điều, hoặc rơi vào chủnghĩa hoài nghi luận
Ý nghĩa tích cực của những ảo ảnh là ở chỗ không chỉ chống lại các suy luận vô căn cứ của thần học, kinh viện mà còn đặt cơ sở xã hội cho quá trình nhận thức Đó là tôn trọng khách quan, phê phán và không giáo điều Một ý nghĩa không chỉ thuộc về thời Cận đại mà cho tất cả các thời đại Ý nghĩa đã trở thành nguyên tắc của nhận thức
Về phương pháp luận, theo Bacơn cần phải rà soát những phương pháp trước đây để từ đó kế thừa và triển khai phương pháp mới
Ông cho rằng từ trước đến nay con người chủ yếu sử dụng hai phươngpháp là phương pháp con nhện và phương pháp con kiến Cả hai phương pháp này đều bộc lộ hạn chế, vì vậy ông đề xuất phương pháp con ong “Conong chọn phương thức hành động trung gian, nó khai thác vật liệu từ hoa ngoài vườn và ruộng đồng nhưng sử dụng và biến đổi nó phù hợp với khả năng và chỉ định của mình Công việc đích thực của triết học cũng không khác gì công việc đó”
Về vai trò của phương pháp, Bacơn cho rằng “người què chạy đúng hướng sẽ nhanh hơn kẻ lành chạy sai đường” hoặc “phương pháp giống như ngọn đèn soi đường cho lữ khách trong đêm đông”
Ông đề xuất phương pháp quy nạp Theo ông đó là phương pháp tối
ưu để nhận thức, khám phá những bí mật của đối tượng nhận thức Bản chất của phương pháp này là xuất phát từ những sự kiện riêng biệt sau đó tiến dần lên những nguyên lý phổ biến, khẳng định bản chất của sự vật
Triết học Bacơn là triết học duy vật không triệt để khi ông không dám công khai xung đột với tôn giáo Điều này thể hiện tính thoả hiệp trong triết học của ông Mặc dù vậy, triết học duy vật của Bacơn đã có tác dụng tích
Trang 6cực đối với sự phát triển của khoa học, nó giáng một đòn rất mạnh vào uy tíncủa nhà thờ và giáo hội.
Các ảo tưởng (Idolas) thực chất là những chướng ngại làm lệch
lạc quá trình nhận thức của con người Những lệch lạc đó một phần do điều kiện bên ngoài, thói
quen ý thức, môi trường giáo dục, một phần do sự thống trị của triết học kinh viện, của hình thức tri
thức trung cổ, hay nói như F.Bacon, của “uy quyền tư
tưởng” Phê phán các ảo tưởng, F.Bacon chủ
trương xây dựng phương pháp nhận thức khoa học nhằm khắc phục thực trạng tri thức của thời đại,
vượt qua chủ nghĩa bảo thủ, giáo điều trong nhận thức, vạch trần quá trình “Arixtốt hóa” tri thức
kinh viện Phương pháp luận của F.Bacon là phương pháp luận thực nghiệm – qui nạp Đó là đóng
tri thức đúng đắn, thứ tri thức hữu dụng biến thành sức
mạnh, giúp con người khẳng định quyền lực
của mình trước tự nhiên
Câu 3:Trình bày lập luận 5 cách của Thomas ở Aquino chứng minh cho sự tồn tại của Thượng đế
Tômat Aquin (Thomas Aquinas),
1225-1274, sinh ở Aquino (Italia), là nhà thần học
nổi tiếng Tây Âu trung cổ Triết học của ông
được Nhà thờ Kitô giáo coi là học thuyết duy
nhất đúng đắn và lấy làm hệ tư tưởng của
mình
Trang 72) Triết học Tômat Aquin
- Về quan hệ giữa niềm tin và lý trí:
+ Tômat điều hòa giữa niềm tin và lý trí, chứng minh cho sự đúng đắn của những tín điều Kitô giáo Tômat kế thừa những yếu tố duy tâm trong học thuyết của Arixtôt như quan niệm về động lực đầu tiên, về mục đích, hình dạng … để chứng minh cho sự tồn tại của Thượng đế
+ Tômát coi những tri thức triết học là chân lý của lý trí, tri thức trong các sách thánh là chân lý của lòng tin + Cảm giác, lý trí và lòng tin tôn giáo không mâu thuẫn với nhau Nhận thức bắt nguồn từ cảm giác, nhưng những tư liệu cảm tính chỉ có thể được hiểu bằng
lý tính, và lý tính phải được nâng lên trình độ lòng tin để lĩnh hội được những vấn đề phi vật chất như linh hồn, thiên thần, Thượng đế
+ Theo Tômat, lòng tin tôn giáo cao hơn lý trí nhỏ bé của con người, vì lòng tin có nguồn gốc thần thánh Vì thế, Tômat coi triết học chỉ là “đầy tớ” của tôn giáo
- Lập luận 5 cách: Trong Summa Theologica,
Tômat dùng lập luận với 5 điểm (5 cách) để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế
Một là, Thượng đế là động lực đầu tiên của mọi
vận động
Trang 8Hai là, Thượng đế là nguyên nhân đầu tiên
Nếu mọi vật phải có một nguyên nhân thì Thượng đế cũng phải có một nguyên nhân Nếu vẫn còn có vật nào đó hiện hữu mà không cần một
nguyên nhân, chẳng hạn như thế giới của Thượng đế, thì như vậy lý luận về nguyên nhân đầu tiên (the first-cause argument) không còn giá trị nữa Lý luận này hoàn toàn giống như cách nhìn của người Ấn Độ là thế giới được dựa trên con voi và con voi được dựa trên con rùa, và khi có ai hỏi “vậy con rùa thì sao” thì họ trả lời rằng “hãy giả thiết như chúng ta thay đổi đề tài”
Lý luận về một nguyên nhân đầu tiên không khá gì hơn lối nhìn này Không
có lý gì để thế giới đã không thể hiện hữu nếu không có một nguyên nhân,
và ngược lại, cũng không có lý gì tại sao thế giới đã không luôn luôn hiện hữu Không có một lý do nào cả để giả thiết rằng thế giới đã có một khởi đầu Ý tưởng rằng các vật đều có một khởi đầu rõ ràng là do sự nghèo nàn tưởng tượng của chúng ta Do đó, có lẽ tôi không cần phải tốn thêm thời giờ
về lý luận nguyên nhân đầu tiên này nữa
Ba là, Thượng đế là tính tất nhiên đầu tiên
Bốn là, Thượng đế là cái hoàn thiện nhất trong
các mức độ hoàn thiện khác nhau trong vũ trụ
Năm là, Thượng đế là lý trí tối cao thiết kế và điều
khiển toàn bộ vũ trụ
Trái lại, những chứng cứ về sự hiện hữu của Thượng Đế trong ngũ đạo thánhToma không khởi đi từ những ý niệm hay chỉ là những giả định thuần túy như trong toán học, nhưng khởi đi từ những quan sát thực nghiệm về những thực tại hiện hữu cụ thể trong thế giới khả nghiệm Chẳng hạn, chứng cứ dựavào trật tự vũ trụ khởi đi từ kinh nghiệm về những cơ cấu hài hòa kì diệu của
Trang 9vũ trụ đã được khoa học chứng nghiệm, cái mà vật lý học lượng tử ngày nay gọi là “nguyên lý vị nhân” (anthropic principle).
Lại nữa, kết luận của những chứng cứ trong ngũ đạo cũng không nhằm đưa
ra những khẳng định về một chân lý thuộc lãnh vực tư duy thuần túy, nhưng nhằm khẳng định một thực tại thực hữu độc lập với tư duy con người
Chứng cứ khởi đi từ những kinh nghiệm về những thực thể hiện hữu cụ thể trong vũ trụ và kết thúc với khẳng định nhất thiết phải có một thực thể thực hữu uyên nguyên làm nền tảng hiện hữu cho mọi thực tại khả giác tạo nên mối tương quan hài hòa như khoa học đã quan sát Nếu không có thực tại tốihậu kia thì không làm sao giải thích được cái lý hữu của các sự vật tạo nên tương quan hài hòa đó
Hơn nữa, ngũ đạo thánh Toma đặc biệt đặt nền tảng trên nguyên lý nhân quả Các khoa học thực nghiệm cũng vậy, đặc biệt vật lý học, hóa học, địa chất học, v.v… là những khoa học thâu thái kiến thực các sự vật qua nguyên
lý nhân quả Trong vật lý học, người ta nhận ra trọng lực là lý do hay
nguyên nhân sự rơi của sự vật Nhưng nhận thức này là nhận thức có điều kiện (knowledge THAT) vì trong môi trường vô trọng lực thì kết quả lại khác Trái lại nhận thức của toán học là nhận thức có tính tất yếu: các góc tam giác Euclid nhất thiết là 180 độ Bất chấp mọi khám phá của khoa học trong tương lai Nhận thức này là nhận thức vô điều kiện (knowledge
WHY) Như thế toán học sở hữu nhận thức qua các nguyên nhân nhưng với tính tất yếu Do đó trong lãnh vực của mình, các nhà vật lý, hóa học, địa chấthọc phải sử dụng toán học chừng nào có thể để có được sự chính xác, chắc chắn nhất mặc dầu khi áp dụng như thế, sự chính xác đã bị điều kiện hóa
Trang 10Trái lại ngũ đạo thánh Toma hướng tới một nhận thức tất yếu vì xây dựng trên nguyên lý lý tính (the principle of rationality) “Mọi hiệu hữu đều có lý do” Nguyên lý lý tính là một đòi hỏi căn bản thuộc về bản chất và nằm trong kinh nghiệm của con người, từ bác nông dân thất học đến các triết gia uyên bác đều phải vận dụng nguyên lý này Là yếu tố sống còn của cuộc sống Mặc dù việc nhận thức lý tính của thực tại (rationcality of reality) có tính cách mặc nhiên Tuy nhiên thực tế nguyên lý này lại thể hiện một chức năng tác động cơ bản nhất trong cuộc sống con người Ngũ đạo thánh Toma không chỉ tìm đến lý do hiện hữu giữa các sự kiện, nhưng còn tìm đến chính cái lý hữu các sự kiện đó để đi đến khẳng định phải có một hữu thể mà lý do hiện hữu hệ tại chính mình Một hữu thể như thế luôn luôn là nguyên nhân chứ không bao giờ là hậu quả của bất cứ thực tại nào khác Tự bản chất là hiện hữu, hữu thể này không có nguyên nhân nhưng không phải là không có
lý do hiện hữu Nếu hữu thể này không hiện hữu thì nhất thiết không thể hiểu được tại sao lại có sự hiện hữu của các hữu thể tự mình không hiện hữu được
Do đó, hữu thể này nhất thiết phải hiện hữu vô điều kiện, mặc cho những gútmắc của các khoa học thực nghiệm hay toán học hay bất cứ khoa học nào khác đưa ra phản bác Sẽ không bao giờ có thể khám phá ra điều gì làm cho nguyên lý lý tính này trở thành vô hiệu Cũng tương tự như không bao giờ
có thể khám phá ra điều gì làm cho tam giác Euclid thôi lài 180 độ cũng như
sẽ không có khám phá nào thuộc vũ trụ học, từ vật lý học, thiên văn học, đếnđộng lực học lượng tử (quantum electro dynamics), Vật lý hạt (quarks), di truyền học hay bất cứ ngành khoa học thực nghiệm nào khác có thể ảnh hưởng tới chân lý về thực tại tối hậu, nhất thiết phải hiện hữu, hiện hữu tự thân, tự thể (per se) và làm nền tảng cho mọi hữu thể bất tất khác Tóm lại,
Trang 11cũng như trong toán học có định đề toán học là nguyên lý tối cao hay cơ bản,
là lý do giải thích các điều cần minh chứng trong các khoa học thực nghiệm, đối với thánh Toma cũng có định đề về hiện hữu dùng làm lý do giải thích
sự hiện hữu của muôn vật thuộc thế giới khả giác này
Như vậy ngũ đạo thánh Toma một đàng không dừng lại ở các thực tại khả nghiệm như các khoa học thực nghiệm khác; đàng khác lại có thể đạt tới được thực tại mà khoa toán học nguyên nó không có được
Tuy nhiên, một khúc mắc được nêu lên: tất cả những nguyên tắc tri thức trong ngũ đạo thánh Toma đều thuộc loại tri thức khả nghiệm Vậy làm thế nào đi tới Thượng Đế là hữu thể siêu việt, thực tại tối hậu được Muốn dùng khả nghiệm để vượt qua khả nghiệm tức là muốn dùng những tri thức khả nghiệm để đạt tới Thượng Đế siêu việt là tự mâu thuẫn
Quả thực, truyền thống Toma thường bị mang tiếng là theo khuynh hướng thực nghiệm, khác với truyền thống Âu Tinh với chủ trương “thấy trong Thiên Chúa” Trong khi thánh Toma đề cao giá trị tri thức khả giác, đồng thời chủ trương con người có thể nhờ tri thức khả giác để đạt tới Thượng Đế
Khi bàn về khả năng tri thức các thực tại siêu việt, thánh Toma nhắc đến hai lập trường, một của Platon và một của Aristote Ngài viết: “Theo Platon, không những ta có khả năng tri thức những thực tại siêu việt, nhưng đó còn
là những đối tượng ta tri thức trước tiên và dễ nhất Nhưng theo ý kiến của Aristote mà ta thấy đúng với kinh nghiệm hơn, thì trong hiện trạng hiện nay
ở đời này, trí năng ta có tương quan bản nhiên với những bản tính của những
sự vật vật chất: bởi đó, nó không thể tri thức cái chi mà không phải quay về
Trang 12với giác ảnh (phantasm) Và như thế, tất nhiên theo khả năng tri thức hiện nay của ta, thì những bản thể vô chất, vì không rơi vào những giác quan và trí tưởng tượng (phantasy) của ta, cho nên ta không thể tri thức chúng cách trực tiếp và ngay từ đầu được”) S.T Ia, q.88, a.1).
Lại nữa “Vì các bản thể vô chất thuộc một trật tự khác hẳn với các niệm tính(quiddity) của sự vật vật chất, cho nên dầu trí tuệ ta có trừu xuất những niệmtính đó cách hoàn hảo thế nào đi nữa, thì chúng cũng không bao giờ đạt tới trình độ giống với bản chất vô chất Thành thử chúng ta không thể nhờ các bản chất vật chất để tri thức các bản thể vô chất một các đích thực” (S.T Ia, q.88, a.2)
Quyết liệt hơn, ngài viết: “Các bản thể vô chất không thuộc về cùng một loạithực tại như những bản thể vật chất… Tuy nhiên, chúng cùng ở trong một loại luận lý với nhau, vì chúng cùng ở trong phạm trù bản thể, sở dĩ thế vì bản tính của chúng không phải là sự hiện hữu của chúng (thụ tạo) Còn như Thượng Đế thì không có chi chung với các sự vật vật chất, dù xét theo loại thực tại, dù xét theo luận lý, bởi vì… Thượng Đế không có ở trong một loại Cho nên nhờ tính chất tương tự của sự vật vật chất, ta có thể tri thức một cái chi tích cực về các thiên thần, xét như cùng chung một loại, nếu không cùng chung một thứ, còn về Thượng Đế thì không có cách nào để tri thức Ngài” (S.T Ia, q.88, a.2 ad.4)
Tất nhiên chúng ta đừng tưởng thánh Toma rơi vào chủ nghĩa bất khả thi Theo ngài, chúng ta không có đường đi trực tiếp đến với Thượng Đế, nhưngchúng ta có lối đi gián tiếp và đó là “nhờ hiệu quả mà tri thức nguyên nhân”
Hễ có hậu quả tất nhiên phải có nguyên nhân Sự hiện hữu của nguyên nhân
Trang 13có thể minh chứng bởi bất cứ công hiệu nào Về phương diện này, thánh Toma viết: “Từ những hiệu quả không cân xứng với nguyên nhân, chúng ta không thể biết thấu triệt về nguyên nhân Tuy nhiên từ bất cứ hiệu quả nào, chúng ta cũng có thể minh chứng là có nguyên nhân Như vậy có thể nhờ hiệu quả mà minh chứng Thượng Đế hiện hữu, mặc dầu từ những hiệu quả
ấy, chúng ta không thể biết Thượng Đế cách hoàn hảo như Thượng Đế hiện thực nơi yếu tính của Ngài” (S.T Ia, q.2, a.2, ad.3) Ngài nhấn mạnh về sự cần phân biệt: biết có Thượng Đế và biết bản tính Ngài Thành thử sự thiếu cân đối giữa tri thức hữu hạn của ta về Thượng Đế và bản thể vô cùng của Ngài cũng không làm mất giá trị của những minh chứng của ta Thánh Tomavừa ý thức về tính chất vô cùng siêu việt của Thượng Đế, vừa nắm chặt mối tương quan giữa Thiên Chúa với con người
Ở một nơi khác, thánh Toma còn khúc chiết hơn: “trong những lập luận đế minh chứng sự hiện hữu của Thượng Đế, chúng ta không nên lấy bản tính tức niệm tính Thượng Đế làm phương tiện… ta phải lấy hậu quả làm
phương tiện, như ta thấy trong các kiểu luận chứng ‘bởi vì’ (hậu nghiệm):
“Do những hậu quả như thế mà ta nhận ra ý nghĩa của danh từ Thượng Đế Bởi vì các danh từ của Thượng Đế (Hóa Công) đều đã được đặt cho Ngài, xét theo những hiệu quả Ngài thực hiện…” (Cont Gent I, c12)
Thomas Aquinas (1225-1274) có lẽ là triết qua quan trọng nhất của thời kỳ triết học trung cổ, và chắc chắn ông có ảnh hưởng nhất về mặt triết lý tôn giáo Ông tìm cách hòa hợp đức tin Kitô giáo với triết học Aristotle vốn được "phát hiện trở lại" trong thế kỷ 13, và đem ra giảng dạy tại các đại học thế tục ở châu Âu
Trang 14Aquinas trình bày "Năm con đường" mà ông tin rằng qua đó có thể chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế.
Năm con đường của Aquinas gồm:
1 Luận cứ rút từ một động cơ không bị chuyển động;
2 Luận cứ rút từ một nguyên nhân không bị tác động;
3 Luận cứ rút từ tính chất khả thi và tất yếu;
4 Luận cứ rút từ các cấp độ khác nhau của phẩm tính;
5 Luận cứ rút từ thiết kế – hoặc dự kiến (design)
Ở phần trên, chúng ta đã xem xét con đường thứ tư với một lối trình bày nó theo một cách khác, xuất hiện trong cuốn Monologion của Anselm Con đường thứ năm sẽ được xem xét ở phần kế tiếp phần này Vì thế, lúc này, chúng ta chỉ cần nhìn vào ba con đường đầu, vốn được đặt tên một cách kháiquát là "các luận cứ mang tính vũ trụ luận"
Chúng ta đã thấy luận cứ bản thể luận dựa trên luận lý – trên tính chất bất khả thi hiển nhiên trong việc am hiểu thật sự ý nghĩa của "cái không cái lớn hơn có thể quan niệm được" trong khi cùng lúc ấy tin rằng một hữu thể như thế đã không hiện hữu
Ngược lại, các luận cứ có tính vũ trụ luận của Aquinas lại dựa trên sự quan sát thế giới, và phát sinh từ tư duy của Aristotle, kẻ được Aquinas đánh giá
là "Vị triết gia ấy"
– Con đường Aquinas thứ nhất:
Ta có thể trình bày luận cứ con đường thứ nhất một cách cụ thể như thế này:
Trang 15a Mọi cái đang chuyển động đều bị một cái gì đó làm cho chuyển động;
b Tới lượt cái làm cho chuyển động ấy lại bị một cái khác nữa làm cho chuyển động;
c Thế nhưng dây chuyền của các động cơ ấy không thể vô tận, hoặc chuyển động hẳn không bắt đầu ở chỗ đầu tiên;
d Do đó, phải có một động cơ không bị làm cho chuyển động; chính nó đang gây ra sự chuyển động trong mọi cái, trong khi bản thân nó thật sự không bị chuyển động
e Động cơ bất động này được người ta hiểu qua từ ngữ "Thượng đế"
– Con đường Aquinas thứ hai:
Luận cứ con đường thứ hai có cấu trúc tương tự như trên:
a Mọi cái đều có nguyên nhân;
b Mỗi nguyên nhân tự nó có một nguyên nhân;
c Nhưng ta không thể nào có số lượng vô tận các nguyên nhân;
d Do đó phải có một nguyên nhân không bị tác động, trong khi nó tác động cho mọi sự xảy ra mà bản thân nó không bị tác động bởi cái gì khác
đ Nguyên nhân không bị tác động ấy là cái được người ta hiểu qua từ ngữ
"Thượng đế"
– Con đường Aquinas thứ ba:
Luận cứ con đường thứ ba tiếp liền theo hai con đường đầu:
a Các sự vật cá thể có thể thành hiện hữu và về sau, chúng thôi hiện hữu;
b Do đó, tới một thời điểm nào đó, tất cả chúng đều không hiện hữu;
c Nhưng có cái thành hiện hữu chỉ là kết quả của cái khác hiện hữu sẵn
d Do đó phải có một hữu thể mà sự hiện hữu của nó là tất yếu – đó là
"Thượng đế"
Trang 16Phê bình các luận cứ của Aquinas
Có một lập luận có khả năng phản bác các luận cứ vừa nêu của Aquinas, với lời nói rằng bạn thật sự có thể có một số lượng vô tận các nguyên nhân hoặc các động cơ Thay vì kéo chúng ngược trở lại quá khứ bằng một đường thẳng, các chuỗi nguyên nhân ấy có thể theo đường tròn, hoặc đường xoắn dây thừng như hình số 8, khiến bạn không bao giờ có được nguyên nhân đầutiên, và mọi sự được giải thích hoàn toàn thích đáng bởi các nguyên nhân gần nhất của nó, hoặc bên cạnh nó
Tuy thế, hình ảnh vòng tròn hoặc vòng xoắn ấy không thật sự giúp cho chúng ta hiểu hết sức mạnh của luận cứ Aquinas, vì không có khả năng ông nghĩ tới một chuỗi các nguyên nhân – hoặc các động cơ – kéo thẳng một đường vào quá khứ Luận cứ của Aquinas quả thật gợi ra một hệ thống thứ bậc các nguyên nhân tại chỗ và hiện thời Mỗi sự vật cá thể đều có nguyên nhân của nó, thế thì tại sao thế giới như một toàn bộ này lại không có một nguyên nhân ở quá bên kia nó?
Do đó, bạn có thể lập luận rằng bên trong chuỗi hình tròn của các nguyên nhân, một nguyên nhân cá thể bị tác động bởi cái bên cạnh nó, nhưng thế thì cái nào là nguyên nhân của toàn thể vòng tròn các nguyên nhân ấy? Nếu thế giới tự nó có một nguyên nhân như thế thì nguyên nhân ấy cũng đòi hỏi phải
có một nguyên nhân khác, để nó trở thành thành phần của thế giới như chúng ta đang biết
Trang 17Triết gia Kant lập luận rằng quan hệ nhân quả là một trong các phương cách qua đó tâm trí của chúng ta xếp loại thế giới này – chúng ta áp đặt quan hệ nhân quả lên trên kinh nghiệm của mình Nếu Kant có lý, lúc đó nguyên nhân không bị tác động là một sự bất khả thi tinh thần.
Từ David Hume, xuất phát một phản bác tương đối khác với Kant Triết gia người Anh theo chủ nghĩa
duy nghiệm ấy đặt toàn bộ tri thức trên cơ sở quan sát thế giới Cái gì đó gọi
là nguyên nhân vì được coi là nó xảy ra ngay trước cái gọi là kết quả Điều
đó tùy thuộc vào sự quan sát nguyên nhân và kết quả như hai cái riêng biệt nhau
Nhưng – chính chữ nhưng này mới quan trọng – trong trường hợp thế giới như một toàn bộ, bạn chỉ có một kết quả độc nhất, và vì thế, bạn không thể quan sát nguyên nhân của nó Bạn không thể "ra bên ngoài" thế giới này mà nhìn vào thế giới cùng với nguyên nhân của nó để nhờ đó thiết lập mối tương quan của chúng
Với Hume, nếu xem các ấn tượng giác quan là cơ sở của toàn bộ tri thức, lúc
đó bạn không thể chấp nhận các bằng chứng có tính vũ trụ luận như là các bằng chứng được đưa ra nhằm chứng minh cho sự hiện hữu của Thượng đế
ở bên ngoài thế giới của quan sát
Có lẽ luận cứ vừa kể của Hume cung cấp đầu mối cho một lối tiếp cận khác vào các luận cứ vũ trụ luận Nếu chúng ta dõi theo chúng bằng con đường luận lý và theo nghĩa đen, chúng ta sẽ thấy chúng không chứng minh rằng cómột nguyên nhân không bị tác động hoặc một động cơ không bị chuyển
Trang 18động Chúng chỉ cho thấy làm thế nào người theo tôn giáo có thể dùng ý tưởng về chuyển động hoặc nguyên nhân để chỉ tới cách thức người ấy có thể thấy Thượng đế như một hữu thể mà bằng cách nào đó đứng đằng sau mọi cái, nhưng có thể gây ra chúng và làm chúng chuyển động; một cái gì
đó ở quá bên kia mọi sự nhưng có thể liên quan tới mọi sự
Ngang đây, có một điểm cần ghi nhận Dù quan điểm của Aquinas được dùng như một cách giải thích nổi tiếng nhất luận cứ vũ trụ luận, không phải tới thời điểm của ông mới có nó lần đầu tiên Trước đó, đã xuất hiện một luận cứ trình bày mối tương quan từ sự hiện hữu cho tới nguyên nhân đệ nhất của vũ trụ, được gọi là Luận cứ Karlam Người đề xuất luận cứ ấy là hai học giả Hồi giáo: al-Kindi, sống vào khoảng thế kỷ 9, và al-Ghazali (1058-1111)
NGŨ ĐẠO CỦA THÁNH TÔMA AQUINÔ
Năm con đường (ngũ đạo) của thánh Toma được cấu trúc theo cùng một kiểu, rõ rệt nhất nơi 3 con đường đầu tiên Con đường nào cũng khởi đi từ một kinh nghiệm về những thực tại khả giác: Các sự vật trong vũ trụ có sự biến dịch (đ.1); chúng tác động lên nhau, tạo nên một chuỗi nguyên nhân lệ thuộc (đ.2); Chúng có sinh có diệt, nghĩa là có khởi đầu và kết thúc (đ.3) Chúng có sự hoàn hảo hơn kém, nghĩa là có những cấp độ thiện hảo khác nhau (đ.4); Nhìn tổng thể, người ta thấy chúng có trật tự và hướng đích ngay
cả nơi những vật vô tri (đ.5)
Trang 19Sau đó Ngài áp dụng nguyên lý nhân quả vào từng sự kiện đã quan sát và thấy rằng bất cứ vật gì chuyển động, đều có nguyên nhân chuyển động (đ.1).Không có sự vật nào trong vũ trụ khả giác là nguyên nhân tác thành cho chính mình (đ.2) Chúng có sinh có diệt nhưng không sự vật nào tự bắt đầu hiện hữu (đ.3) Sự thiện hảo hơn kém nơi chúng luôn qui chiếu về hữu thể tối hảo là cùng đích và nguồn mạch của chúng (đ.4) Ngay các sự vật vô tri cũng hành động theo trật tự và có hướng đích tính như thể có sự hướng dẫn của hữu thể toàn tri hay toàn thức (đ.5).
Qua đó, ngũ đão muốn nói lên những giới hạn nơi vạn vật: chúng chịu sự thay đổi khi biến dịch và tác động lên nhau theo tầm mức giới hạn của mình (đ.1+2) Chúng không thể tự sinh, phải nhờ một hữu thể khác mới hiện hữu được (đ.3) Chúng chỉ có một số thiện hảo nào đó thôi, nghĩa là còn bất toàn (đ.4) Mặc dù trật tự trong vũ trụ nói lên một sự thiện hảo nào đó, nhưng cũng nói lên sự liên kết lệ thuộc nhau trong hành động cũng như nơi hữu thể của chúng (đ.5) Nói cách khác, chúng hữu hạn cả ở thể năng động cũng nhưtrong trạng thái tĩnh tại
Với tính chất bất toàn, hữu hạn đó, chúng không thể giải thích thỏa mãn cái
lý hữu của mình, nên nhất thiết phải nại đến một động cơ bất bị động (đ.1) Một nguyên nhân tác thành đệ nhất (đ.2) Một hữu thể tất hữu tự tại (đ.3) Một hữu thể hoàn hảo tuyệt đối, là nguồn mạch cho sự thiện hảo tương đối (đ.4) Một Đấng toàn tri, toàn thức vì trật tự và hướng đích tính là hoa trái của trí tuệ (đ.5)
Một hữu thể như thế, phải ở một bình diện hoàn toàn khác biệt và một bản chất khác hẳn với những sự vật trong thế giới khả nghiệm này