1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP MÔN MỘT SỐ TÁC PHẨM TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC XÍT

12 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Môn Một Số Tác Phẩm Triết Học Trước Mác Xít
Trường học Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại bài tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1 Trình bày quan điểm của Khổng Tử về Lễ và tác dụng của Lễ trong việc trị nước trong tác phẩm Luận ngữ Trong Luận Ngữ, Khổng Tử thường nhắc rất nhiều đến chữ lễ Có thể nói, trong mỗi chương đều có nhiều đoạn bàn về lễ, có khi chủ động giảng giải, có khi thụ động trả lời câu hỏi của các học trò liên quan tới lễ Quan điểm của Khổng Tử về Lễ trong Luận Ngữ có nội dung như sau Thứ nhất, lễ là một phương cách biểu tả hòa khí, và như vậy nó có.

Trang 1

BÀI TẬP MÔN MỘT SỐ TÁC PHẨM TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC XÍT

Câu 1: Trình bày quan điểm của Khổng Tử về Lễ và tác dụng của Lễ trong việc trị nước trong tác phẩm Luận ngữ

Trong Luận Ngữ, Khổng Tử thường nhắc rất nhiều đến chữ lễ Có thể nói, trong mỗi chương đều có nhiều đoạn bàn về lễ, có khi chủ động giảng giải, có khi thụ động trả lời câu hỏi của các học trò liên quan tới lễ Quan điểm của Khổng Tử về Lễ trong Luận Ngữ có nội dung như sau:

- Thứ nhất, lễ là một phương cách biểu tả hòa khí, và như vậy nó có thể giúp tề gia, trị quốc Hữu Tử, một đồ đệ của Khổng Tử nói: "Lễ chi dụng, hòa vi quý Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ; tiểu đại do chi Hữu sở bất hành Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành giã"

- Thứ hai, lễ biễu hiện chính nền đạo đức Theo Khổng Tử, căn bản của lễ không có chi khác hơn là chính nền đạo đức Ðạo nhân, đạo nghĩa (như thấy sau này nơi Mạnh Tử), đạo tín (tức chân thành), vân vân, là những đức tính căn bản của lễ Một người thiếu lễ, không thể là người quân tử Trung, hiếu thực ra chỉ

là những quy tắc tất yếu xây dựng trên nhân, nghĩa, và tín, trong khi lễ là một phương thế biểu hiện những đức tính trên

- Thứ ba, lễ là những nghi thức mà ta phải theo, tùy theo nơi chốn, tùy theo địa vị, tùy theo tương quan giữa chúng ta với những người ta gặp Trong chương Thuật Nhi, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ

ta phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên tai, vân vân Chính vì ngài nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ mà đa số nho gia đã hiểu lễ như là nghi lễ, nghi thức, hay quy luật ta phải theo khi cúng tế, khi tổ chức hôn lễ, khi tham gia vào việc công (làm quan, triều yết), khi sinh con đẻ cái, khi có tang, vân vân (quan, hôn, triều, sinh, tang, tế)

- Thứ tư, ngay từ thời Khổng Tử, đã có một số nho gia theo lối nhìn thứ

ba, đặc biệt chú trọng tới lễ, nhạc coi như là nghi lễ, nghi thức và nghi pháp Ngay cả thầy Tử Lộ cũng đã hiểu nhầm Khổng Tử, khi thầy thấy Thầy mình hình như không giữ một số lễ nghi (chuyện Khổng Tử tiếp một phụ nữ) Cho tới thời Tuân Tử, và nhất là tới thời học trò của họ Tuân, nhất là thời Pháp gia, nho gia thường gắn lễ liền với pháp, như chúng ta thấy từ ngữ hay dùng: "lễ pháp" (tiếng Việt gọi trại đi là "lễ phép"), tức quy tắc mà ta bắt buộc phải theo Thực

ra, Khổng Tử không nghĩ như vậy, bởi vì theo ngài lễ là cả một lối sống toàn diện, tức lối sống mà ta phải theo để có thể bảo tồn sự sống và xã hội Thành thử, theo lễ, tức là theo cái lẽ phải, hợp lễ là hợp với bản tính ta vốn có Ngài từng nói: "Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo."

Nói tóm lại, lễ trong Luận Ngữ mang hai bản chất: Lễ chi bẩn và lễ chi dụng Lễ chi bẩn nói lên lễ như là bản chất biểu tả một cách trung thực bản tính

Trang 2

con người, trong khi lễ chi dụng nói lên tính chất công cụ của lễ trong công việc giữ gìn trật tự, cũng như giữ được sự cân bằng trong cuộc sống, trong những giao tiếp của con người

*Tác dụng của lễ trong việc trị nước

Khổng Tử cho rằng nếu mọi người trong thiên hạ không giữ đúng đạo của mình sẽ trở nên loạn Trên quan điểm đó ông chủ trương dùng lễ để điều tiết xã hội, khiến con người trở về với đạo nhân Lễ là làm cho quốc gia ổn định, dân chúng có lợi

Công dụng của lễ là để điều chỉnh hành vi của dân, cho nên nhà cầm quyền phải dùng lễ để dạy phép tắc cho dân Khổng Tử cho rằng trong xã hội nếu thiếu lễ sẽ không thể phân biệt được lớn bé, già trẻ Không phân biệt được người trên, kẻ dưới trong một xã hội như vậy tất yếu sẽ sinh ra loạn lạc, tranh quyền, đoạt vị Trên quan điểm đó Khổng Tử cho rằng lẽ sẽ tồn tại với thời gian, sánh ngang cùng trời đất Lễ làm cho cha nhân từ, con hiếu thảo, anh thương yêu

em kính cẩn, chồng hòa hợp vợ nhu thuận

Lễ có công dụng trong các mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ vua tôi Ông cho rằng nếu nhà cầm quyền dùng lễ để cai trị khi hạ lệnh “bề tôi nghe theo, thuyết phục ở chổ có lễ thì xã tắc được bảo vệ giữ gìn vậy” Để bình ổn xã tắc theo ông nhà cầm quyền phải dùng lễ, nếu nhà cầm quyền dùng lễ để trị dân thì

tự nhiên dân sẽ tự cảm hóa và thịnh trị “Lễ sở dĩ gìn giữ được nước là do thi hành chính lệnh, không làm mất dân của nước” Phê phán quan điểm dùng hình

để trị nước của các học phái đương thời Khổng Tử cho rằng “nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp lệnh mà dẫn dắt dân chúng, chuyên dùng hình phạt mà trị dân thì dân sợ mà chẳng phạm pháp đó thôi chứ họ chẳng có lòng hổ thẹn, vậy muốn dẫn dắt dân chúng phải dùng đức, muốn trị dân phải dùng lễ thì chẵng những dân biết hổ thẹn mà còn cảm hóa để trở nên tốt lành”.“Nếu nhà cầm quyền biết dùng lễ nhượng trị đất nước, thì cai trị có khó gì? Còn như không biết dùng lễ nhượng cai trị đất nước thì làm sao mà có lễ được”

Mục đích của lễ là để tu dưỡng đạo đức, con người có đạo đức là người luôn biết tự sửa mình để trở thành một con người lý tưởng Khổng Tử chủ trương là con người nhất định phải biết lễ, như vậy đối với người học trước hết phải học lễ trước, khi đã biết lễ rồi thì sẽ biết cung kính người trên, nhường nhịn người ở dưới Người giàu không ức hiếp kẻ nghèo, người nghèo không vì thấy của cải mà phạm tội Khi con người biết phân biệt lớn nhỏ, biết phân biệt thân

sơ quý tiện thì xã hội sẽ thịnh trị

Một đất nước thịnh trị là một nước dùng lễ để cai trị.Lễ làm bền cái gốc của nước, là uy thế của người cai trị Nhận thức được tầm quan trọng của lễ nên Không Tử chủ trương nếu như con cháu của các bậc thân vương, sĩ, đại phu nếu không biết lễ thì phải làm thứ dân; tuy con cháu của thứ dân mà hiểu lễ nghĩa thì

có thể trở thành khanh tướng, sĩ, đại phu.Nhà vua xem lễ như một chuẩn mực để

Trang 3

kiểm tra những hành vi của quan lại Lễ không chỉ dành cho riêng ai mà nó dành cho tất cả con người trong xã hội được biểu hiện trong các mối quan hệ ngũ luân

Câu 2: Phân tích khái niệm “ Đạo-Đức” của Lão Tử trong tác phẩm “ Đạo Đức kinh” và cho nhận xét

1 Khái niệm Đạo

1.1 Đạo, bản nguyên của Vũ trụ:

Triết thuyết Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên vô hình, phi cảm tính, phi ngôn từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật; vừa để chỉ con đường, quy luật chung của mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong thế giới Đạo là nguyên thủy của trời đất, vạn vật: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật” (chương 42 – Đạo Đức Kinh) Theo Lão Tử, trời đất muôn vật do Đạo

mà sinh thành, Đạo là uyên nguyên, tồn tại trước khi khai thiên lập địa, trước mọi hoạt động tạo tác Có trước sự hiện hữu là khoảng hư vô; khoảng hư vô ấy cũng có Đạo Sự sống hình thành, ấy là cái Đức phát sinh từ Đạo Hư vô theo quan niệm của Đạo gia, không đơn giản chỉ là “trống không”; mà đó là trang thái mà sự vật chưa thành hình, là môi trường của những tiềm năng Hư vô là dạng “không gian mở để vạn vật thành hình Hư không là đặc tính của Đạo, dung chứa vạn vật hữu sanh hữ diệt mà tự thân chẳng sinh chẳng diệt, chẳng tăng chẳng giảm “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sanh, tịch hề liêu hề, độc lập bất cải, châu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo, cượng vi chi danh viết Đại, Đại viết Thệ, Thệ viết Viễn, Viễn viết Phản” Nghĩa là: Có vật hỗn độn mà nên, sinh trước trời đất, lặng lẽ trống không, đứng riêng mà không đổi, đi khắp mà không mỏi, có thể gọi là Mẹ của thiên hạ Ta không biết tên, gọi đó là Đạo, gượng cho là Lớn, Lớn thì lưu hành, lưu hành thì đi xa, đi xa thì lại trở về (chương 25 Đạo Đức Kinh) Vốn là uyên nguyên, Đạo có trước mọi loại hình nhận thức như kinh nghiệm, khái niệm, ngôn từ, Vì vậy không thể dũng các loại hình nhận thức ấy để định nghĩa Đạo

“Đạo khả đạo phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh Vô, danh thiên địa chi thủy; hữu, danh vạn vật chi mẫu…”

1.2 Một số thuộc tính của Đạo

- Đạo bất biến, vĩnh hằng ( thường Đạo ), Lão Tử nhiều lần dùng chữ

“thường” (thường đạo) nghĩa là vĩnh cửu bất biến Một lẽ nữa là ông bảo vạn vật

từ đạo sinh ra, biến hoá rồi lại trở về đạo; “luật vận hành của đạo là trở về lúc đầu” Vậy cơ hồ ông cho rằng không gian thì có thể hữu hạn, nhưng thời gian thì

vô cùng

- Đạo vừa không, vừa có - Nhưng đạo có hình trạng gì không? Có giống cái gì không? Ông chỉ đáp: cơ hồ không có gì giống nó cả, nhưng ông không thể

tả nó được vì nhìn nó không thấy, nghe nó không thấy, nắm nó không được.“Nhìn không thấy gọi là di, nghe không thấy gọi là hi, nắm không được gọi là vi Ba cái đó truy cứu đến cùng cũng không biết gì được, chỉ thấy trộn lộn

Trang 4

làm một thôi.Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt, không thể gọi tên, nó lại trở về cõi vô vật, cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể Nó thấp thoáng, mập mờ Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi”

- Đạo to lớn ( Đạo đại ), Nói về đạo, Lão tử, ngoài chữ “thường” ra, còn dùng thêm chữ đại (lớn) Điều đó rất dễ hiểu: đạo sinh ra vạn vật, nuôi dưỡng vạn vật (coi đoạn sau), vạn vật cuối cùng đều trở về đạo, thì tất nhiên không gì lớn bằng đạo, chúng ta khỏi phải bàn thêm nữa

- Đạo kỳ diệu, huyền bí, nhiệm màu:“Đạo là cái gì chỉ mập mờ, thấp thoáng; thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng; mập mờ, thấp thoáng

mà bên trong có vật; nó thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy; tinh túy

đó rất xác thực, và rất đáng tin”.Hai lần Lão tử gọi đạo, bản nguyên của vũ trụ,

là “vật”: đạo chi vi vật, hữu vật hỗn thành Chữ “vật” đó chúng ta không nên hiểu là một vật như cái bàn là một vật, bông hoa là một vật… mà chỉ nên hiểu là một “cái gì đó” Thật khó giảng Hai lần Lão tử bảo nó “hốt hoảng”, nghĩa là thấp thoáng mập mờ Lần trước ông cho nó là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể (vô trạng chi trạng, vô vật chi tượng) Lần sau ông bảo ở trong nó có hình tượng, có vật; hơn nữa ông tin chắc rằng ở trong nó có cái

“tinh” Chữ tinh đó có người giảng là khí, nhưng cũng có thể hiểu là nguyên lí hay nguyên chất, nguyên tố của vạn vật Có lẽ nhờ cái “tinh” đó mà đạo sinh ra vạn vật Vậy đạo tựa như có, lại tựa như không Bảo là không thì không được vì

nó là “vật hỗn độn mà thành”, nó lại có “tinh”; mà bảo là có thì sắc, thanh, hình của nó ra sao, không biết Chỉ bảo nó “hoảng hốt”, mập mờ, thấp thoáng thôi Mập mờ thấp thoáng tức tựa như có lại tựa như không, ở giữ khoảng có và không Nó thật huyền bí

- Đạo tồn tại độc lập, mênh mông, vô cùng, vô tận, ở khắp mọi nơi.Lão

Tử nói: “ Đạo tuy trống rỗng nhưng dùng mãi không hết Sâu xa nhưng là tổ tông của vạn vật”.Cái gì đó (đạo) mênh mông “thâm viễn”, tối tăm, hoặc không sáng, không tối, thấp thoáng, mập mờ.“Nó hỗn độn mà thành” Chữ “hỗn” cũng được dùng hai lần có thể hiểu là hỗn tạp, trộn lộn nữa.Nhưng cái đạo đó vô sắc (di), vô thanh (hi), vô hình (vi) cho nên không thể thấy được Nó là “vật” thì nó

là “hữu” (có) rồi Nhưng nó vô sắc, vô thanh, vô hình, thì nó cơ hồ là “vô” (không) Sự thực nó không hẳn như vậy

- Đạo thì chất phát, đơn giản

2 Khái niệm Đức (những cái làm cho vạn vật phát triển)

Những yếu tố làm nên sự trưởng thành của vạn vật Lão Tử đặt tên là Đức.Nói về

sự sinh ra của vạn vật, Lão tử rất mù mờ, nhưng nói về sự trưởng thành của vạn vật thì lời ông vừa gọn, vừa đầy đủ

Trang 5

Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở mỗi vật ; vật chất khiến cho mỗi vật thành hình; hoàn cảnh [khí hậu, thuỷ thổ] hoàn thành mỗi vật

Đạo có công sinh ra vạn vật thôi; công nuôi dưỡng, che chở mỗi vật cho tới lớn là về “đức”.Chữ “đức” ở đây Lão tử dùng với một nghĩa rất mới, không phải chữ đức mà nhà Nho thường dùng như đức nhân, đức tín, đức trung, đức hiếu.Cứ theo đoạn dẫn ở trên – đức nuôi lớn mỗi vật : những biểu hiện của đức lớn đều tuỳ theo đạo; cứ theo những câu đó thì chúng ta đoán rằng “đức” là một phần của đạo: khi chưa hiển hiện trong mỗi vật thì là đạo, khi đã hiển hiện rồi thì phần hiển hiện trong mỗi vật là “đức” Mỗi vật đều có “đức” mà đức của bất kì vật nào cũng là từ đạo mà ra, là một phần của đạo, cho nên đức mới nuôi lớn mỗi vật mà luôn luôn tuỳ theo đạo.Lão tử không thể giảng rõ hơn được Tuỳ chúng ta muốn hiểu sao thì hiểu

3 Mồi quan hệ giữa Đạo và Đức

Lão Tử nói:Đức lớn nằm trong Đạo, đi theo Đạo” Như vậy Đạo là cơ sở, nội dung, bản chất của Đức Đức là hình thức biểu hiện cụ thể của Đạo Đạo biểu hiện ra Đức, đó là sự sinh ra, nuôi dưỡng, che chở vạn vật

Nhận xét:

* Giá trị:

+Từ quan niệm về Đạo, Lão Tử đã phủ nhận quan điểm: trời sinh ra vạn vật Tuy mơ hồ nhưng ông cũng đưa ra luận điểm về nguồn gốc vạn vật đều xuất phát từ một căn bản nào đó Và dĩ nhiên, ngay cả trời đất cũng không phải là sự xuất hiện đầu tiên Cái nguồn gốc của mọi vật chính là Đạo Lão Tử cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều tác động lẫn nhau, ảnh hưởng qua lại mà nguyên nhân chính là cái bản căn của mọi vật, tức là Đạo Như vậy, Lão Tử đã nhìn nhận sự tác động lẫn nhau của vạn vật dựa trên quan điểm bản thể luận chứ không xuất phát từ quan niệm duy tâm như những trường phái khác Đạo gia đã đưa ra quan điểm về quy luật tự nhiên của vạn vật Tất cả mọi vật hình thành, biến đổi đều tuân theo quy luật tự nhiên chứ không phải do trời đất hay các đấng thần linh tối cao quyết định Và bản chất mọi vật vốn xuất phát từ tự nhiên, tuân theo quy luật tự nhiên mà biến đổi Tôn trọng quy luật tự nhiên và tuân theo quy luật tự nhiên mà tồn tại là một quan điểm lớn nhất của Lão Tử

+ Trong quan niệm về Đức, Lão Tử đã thấy được cái Đức từ ái của đất trời Ông nói: “Đạo trời không tư vị ai, chỉ gia ân cho người có đức”; Lấy từ ái tranh đầu thì thắng, lấy từ ái cố thủ thì vững; Trời muốn cứu ai lấy từ ái mà giúp cho” Thuận theo mệnh trời để sống có đức, tích cực làm điều thiện thì trời sẽ giúp cho Khuyên tất cả mọi người sống bình đẳng, làm điều thiện

* Hạn chế:

Trang 6

+ Trong Phép biện chứng sơ khai của Lão Tử về Đạo và Đức thì ông khẳng định càng tách xa đạo, xã hội càng chứa đầy mâu thuẫn Mâu thuẫn là tai họa của xã hội Ông viết: khi đạo lớn bị phá bỏ thì xuất hiện nhân-nghĩa; khi trí tuệ

ra đời thì sinh giả dối, khi nước loạn mới xuất hiện tôi trung…vì vậy để xóa bỏ tai họa cho xã hội thì phải thủ tiêu mâu thuẫn trong xã hội Và theo ông thì mâu thuẫn trong xã hội được thủ tiêu bằng cách đẩy mạnh một trong hai mặt đối lập

để tạo ra sự chuyển hóa theo quy luật phản phục, hay cắt bỏ một trong hai mặt đối lập để làm cho mặt đối lập kia tự mất đi theo quy luật quân bình.Tuy nhiên theo phép biện chứng duy vật thì mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động phát triển, như vậy quan điểm của Lão Tử chủ trương thủ tiêu mâu thuẫn của xã hội là đi ngược với sự vận động khách quan, tất yếu của xã hội, thủ tiêu sự phát triển.Pheosp biện chứng của Lão Tử mang tính chất máy móc

+ Trong quan niệm về Đạo và Đức, Lão Tử chưa thấy hết khía cạnh tiêu cực của Đạo trời, Mệnh trời Ông nói: “Đạo trời không tư vị ai, chỉ gia ân cho người

có đức” Tuy nhiên thực tế cho thấy, Trời không chỉ ban ơn đức bằng cách nuôi dưỡng che chở vạn vật mà còn gây rất nhiều thiệt hại cho vạn vật Do vậy nhắm mắt làm theo mệnh trời, tuân theo quy luật của Đạo liệu đã hợp lý không? Hay

là con người phải bằng nỗ lực chủ quan để cứu mình

Câu 3: Trình bày tư tưởng của Feuerbach về Thượng đế trong tác phẩm “ Bản chất của Kito giáo”

Theo Feuerbach, “ Thượng đế không phải là cái gì khác hơn con người, là hình chiếu ra bên ngoài, nếu có thể nói là như vậy, của cái bản tính bên trong con người ”.“ Cá tính của thượng đế không phải là cái gì khác hơn là sự phản chiếu cá tính của con người ”.“ Tất cả những đặc điểm thuộc bản tính của thần thánh là đặc điểm của bản tính con người ”

Tồn tại Thần thánh là tồn tại của chính con người, hay đúng hơn là sự tồn tại của con người được trừu tượng hóa khỏi những giới hạn của con người cá thể, con người hiện thực hữu hình và bị khách thể hóa,nghĩa là được xem xét và tôn sùng như là một tồn tại khác biệt với chính anh ta”

Ý thức của thượng đế là sự tự ý thức của con người tri thức của thượng

đế là sự tự nhận thức của con người Ý niệm của con người về chính mình cũng

là ý niệm của con người về thượng đế, cũng như ý niệm của con người về thượng đế là ý niệm của con người về chính mình, hai ý niệm đó là đồng nhất với nhau Cái gì là thượng đế đối với con người thì cũng là tâm linh, linh hồn của con người, và tâm linh, linh hồn, trái tim con người cũng là Thượng đế Thượng đế là sự thể hiện bản tính bên trong của con người, sự biểu hiện cái tôi của nó; tôn giáo là sự biểu lộ trang trọng tất cả kho tàng ẩn dấu của con người,

sự thú nhận những tư tưởng thầm kín nhất của nó, sự thú nhận công khai những

bí mật tình yêu của nó”.“Bạn tin vào tình yêu như là một thuộc tính thần thánh bởi vì bạn đang yêu, tin rằng thượng đế là một tồn tại thông thái và nhân ái, bởi

vì bạn biết rằng đối với chính bạn không gì tốt hơn là sự thông thái và lòng nhân

Trang 7

ái Bạn tin rằng Thượng đế tồn tại, là một chủ thể và một bản chất…bởi vì bạn tồn tại và là một bản chất”

Theo Feuerbach, sự đồng nhất giữa con người và Thượng đế , giữa chủ thể và khách thể là một quá trình phát triển cùng với văn hóa con người “ vì con người là một tồn tại tự nhiên nen Thượng đế cũng là một tồn tại tự nhiên Vì con người sống phải có nhà cửa nên con người nhốt Thượng đế trong đền thờ Thượng đế của họ chỉ là một tồn tại tự nhiên ”

Trong tác phẩm “ Bản chất của Kito giáo” Feuerbach dùng hai quan niệm vong thân và phóng ngoại để giải thích vì sao người ta tin có Thiên Chúa Thoạt tiên con người có ý thức mình cũng có những phẩm chất tốt đẹp: có trí khôn và

sự khôn ngoan, có tình yêu Nhưng tất cả đều có giới hạn vì thế ta “phóng ngoại” những cái ta có đó ra bên ngoài, đưa chúng lên tầm vóc vô biên, rồi đặt chúng vào trong một vị Thiên Chúa Siêu Việt vô biên, do mình tưởng tượng ra Nhưng làm như thế là ta đánh mất bản thân tức vong thân Sau đó ta tự nhủ: bây giờ mình là không, không có gì hết và cầu xin Thiên Chúa ban cho mình những cái mình thiếu

Feuerbach cho rằng đường lối đó quanh co phiền phức quá nên ông chủ trương rằng thay vì bỏ mất mình đi, rồi xin Thiên Chúa cho lại, thì bây giờ ta cần phục hồi những cái đã mất đó cho con người Nhưng không phải trả lại cho

cá nhân vì nó nhỏ bé ti tiện, có giới hạn, mà trả cho nhân loại Nói cách khác Thiên Chúa chỉ là nhân loại mà thôi, có thờ thì thờ nhân loại mới phải.Từ đó ông giản lược thần học vào khoa nhân học, chủ thể hay hữu thể Thượng Đế hay chủ thể hay hữu thể con người chỉ là một Đối tượng của con người không có gì khác hơn là chính hữu thể của mình được khánh thể hóa Ý thức về Thượng Đế không

là gì khác hơn là ý thức về loài người Tóm lại, tôn giáo chỉ là sự tha hóa Con người bị tha hóa khi chuyển sang kẻ khác những gì đáng lý thuộc về mình Con người phải giành lại những gì họ đã bị tước đoạt một cách vô lý

Feuerbach còn cho rằng những ta thờ thần minh hay Thiên Chúa chẳng qua là để cho mình tránh được bệnh hoạn tai ương, được hưởng mọi phước lộc Như thế con người là mục đích tối cao của tôn giáo, còn các vị thần mình thờ chỉ

là phương tiện mà thôi

"Thượng Đế không phải là thực thể sinh lý hay thực thể vũ trụ- Feuerbach viết- mà là thực thể tâm lý" Chính sự xúc cảm mạnh, sự chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ của con người là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo Nhưng sự chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ, trạng thái xúc cảm không phải là hiện tượng có tính chủ quan như chủ nghĩa duy tâm chủ quan quan niệm , mà chúng

có tính khách quan, nghĩa là gắn liền với các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội Feuerbach viết "Tôn giáo là giấc mơ của tinh thần con người nhưng trong giấc mơ đó chúng ta không phải ở trên bầu trời mà ở trên mặt đất trong vương quốc của hiện thực, chúng ta nhìn thấy các đối tượng của hiện thực không phải trong thế giới thực tế của tính tất yếu mà là trong thế giới say mê của trí tưởng

Trang 8

tượng và sự kỳ quặc Nhiệm vụ của tôi là bóc trần bản chất đích thực của tôn giáo và triết học tư biện hay thần học, chuyển thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài, nghĩa là biến đối tượng tưởng tượng thành đối tượng hiện thực" Trên tinh thần như vậy, ông phê phán các quan điểm cho rằng, tôn giáo là hiện tượng có tính ngẫu nhiên hoặc có tính bẩm sinh

Phân tích một cách toàn điện về nguồn gốc phát sinh của tôn giáo, Feuerbach có cơ sở khoa học để đi đến kết luận: "Không phải Thượng đế đã sáng tạo nên con người theo hình đáng của mình như đã miêu tả trong Kinh thánh, mà chính con người đã sáng tạo nên Thượng đế theo hình dáng của mình mọi Thượng đế đều là tồn tại được sáng tạo nên bằng tư tưởng tượng chính sức mạnh của tư tưởng tượng đã hướng vào những tính chất cơ bản của con người Con người u sầu, ốm yếu phản ánh tâm trạng của mình trong hình ảnh một Thượng đế tương tư, con người vui vẻ thì ngược lại, họ miêu tả Thượng

đế với bộ mặt tươi tỉnh, sáng ngời Tính đa dạng của con người quy định tính đa dạng của Thượng đế" Như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn rằng, Feuerbach

đã truy tìm bản chất của tôn giáo trong bản chất của con người, ông viết "Bản chất thần thánh không là cái gì khác như là bản chất con người, bản chất đó đã được gột rửa, được giải phóng khỏi những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lý hiện thực, được khách quan hoá, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ Bởi vậy, mọi sự xác đinh về bản chất thần thánh đều có liên quan đến việc xác định bản chất con người

Dựa trên những khảo cứu lịch sử hiện thực của nhân loại, Feuerbach thấy rằng trong thực tế thường diễn ra sự thù địch giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, sự thù địch giữa người theo đạo và kẻ dị giáo Hơn nữa có những người có chức sắc tôn giáo cao trong giáo hội, song họ vẫn có nhũng hành vi phi đạo đức

Từ đó ông lên tiếng phản đối quan điểm của các nhà thần học cho rằng dường như phủ định thương đế là một bước dẫn tới sự tiêu diệt quan hệ đạo đức

Có thể nói Feuerbach là cha đẻ của chủ nghĩa vô thần hiện đại, dọn đường cho Marx, Nielzsche và Freud xuất hiện Sigmund Freud cũng đề xuất quan điểm tương tự: khi chưa vượt qua được giai đoạn thơ ấu, chưa trưởng thành thì người ta cần một người cha bảo vệ Người cha đó được phóng ta thành Thiên Chúa, Cha trên trời

Câu 4:Phân tích tư tưởng của Holbach về vật chất trong tác phẩm “ hệ thống của tự nhiên”

Trong tác phẩm “ hệ thống của tự nhiên” Hônbách đã xây dựng hệ thống triết học duy vật và chủ nghĩa vô thần của mình dựa trên những tri thức của khoa học tự nhiên

Vấn đề cơ bản của triết học, mà cụ thể là vật chất và vận động được ông giải quyết trên lập trường của chủ nghĩa duy vật và dựa vào những tài liệu của khoa học tự nhiên Hôn bách khảng định một cách dứt khoát rằng, tự nhiên là

Trang 9

nguyên nhân đầu tiên của vạn vật Vật chất là thực tại khách quan tác động lên giác quan của con người Những đặc tính của vật chất là :phổ biến (quảng tính), vận động, tính có thể phân chia, tính chắc chắn trọng lực Theo Hôn bách, tự nhiêntồn tại vĩnh viễn, không ai sáng tạo ra nó và cũng không thể bị tiêu diệt Vật chất hoạt động là do lực của bản thân nó mà không cần có sức thúc đẩy ở bên ngoài

Công lao của Hôn bách thể hiện ở chỗ, ông thừa nhận vận động là thuộc tính của vật chất,nhưng là nhà duy vật siêu hình cộng với sự hạn chế của các điều kiện lịch sử, ông hiểu vận độngchỉ là sự đổi chỗ giản đơn của các vật thể trong không gian.- Lý luận nhận thức của Hôn bách được thể hiện trong tác phẩm "Hệ thống của tự nhiên" Ông khảng định ý thức là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao và phê phán tính chất vô lý của các học thuyết về linh hồn, phi vật thể, về con người được tạo ra theo hình ảnh của Thượngđế: "Con người là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại trong tự nhiên, phục tùng qui luật của tự nhiên,không thể thoát khỏi tự nhiên, thậm chí cả về mặt tư tưởng cũng không thể vượt khỏi tự nhiên được"

Hôn bách cho rằng, trí lực của con người phụ thuộc vào cơ cấu của toàn thể con người.Năng lực cảm giác của con người giúp cho nó nhận thức được thế giới và các qui luật của nó.Không có linh hồn bất tử, không có tư tưởng bẩm sinh Con người phải rút ra những quan niệmvà tư tưởng từ thế giới bên ngoài chứ không phải từ linh hồn Hạn chế của Hôn bách thể hiện ở chỗ, ông chưa hiểu được tính khách quan của hiện tượng ngẫu nhiên, cho rằng những hiện tượng ngẫu nhiên đều là mọi hiện tượng mà con người chưa nhận thức được

Quan điểm xã hội của Hôn bách mang nhiều tính duy tâm Ông coi sự phát triển của xã hội như một quá trình do định mệnh chi phối Là nhà triết học của Phái Khai sáng, ông quả quyết rằng,loài người có thể thoát khỏi ách phong kiến bằng việc phổ cập giáo dục, làm cho lý trí thắng chủnghĩa ngu dân thời trung cổ và mong muốn có sự quá độ từ chế độ phong kiến sang xã hội tư bảnbằng con đường hoà bình

Câu 5:Tại sao nói cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa thực dụng là chủ nghĩa kinh nghiệm Trình bày quan điểm của William James về mối quan

hệ giữa chủ nghĩa kinh nghiệm của chủ nghĩa duy lý trong tác phẩm: “Chủ nghĩa thực dụng – một cái tên mới cho một cách tư duy cũ”

Trước hết ta tìm hiểu chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm,chủ nghĩa duy lý trong triết học là gì?

Chủ nghĩa thực dụng (gốc từ tiếng Hy Lạp cổ πραγμα, tiếng Anh: pragmatism), tên dịch đúng hơn là chủ nghĩa hành động, là một trường phái triết học chủ trương rằng một chủ thuyết hay luận đề chỉ đúng khi nào nó đưa tới kết quả tốt đẹp và những chủ thuyết nào không đưa tới kết quả tốt đẹp thì phải nên

bị loại bỏ và lợi ích về vật chất đóng vai trò chủ chốt Theo một trong những người phát triển ra chủ nghĩa này là triết gia William James thì muốn biết một ý

Trang 10

tưởng đúng hay sai thì phải dựa trên kết quả thực nghiệm chứ không phải chỉ dựa trên luận lý viễn vông

Chủ nghĩa kinh nghiệm hay chủ nghĩa duy nghiệm (Empiricism) là một khuynh hướng lý thuyết về tri thức triết học với đặc điểm nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm Trải nghiệm có thể được hiểu là bao gồm tất cả các nội dung của ý thức hoặc nó có thể được giới hạn trong dữ liệu của các giác quan mà thôi

Chủ nghĩa duy lý (Rationalism) là một học thuyết trong lĩnh vực nhận thức luận Theo nghĩa rộng nhất, đó là quan điểm rằng lý tính là nguồn gốc của tri thức hay sự minh giải Theo nghĩa kỹ thuật hơn, chủ nghĩa duy lý là một phương pháp hoặc học thuyết mà trong đó tiêu chuẩn về chân lý không có tính giác quan mà có tính trí tuệ và suy diễn logic

Những nhà triết học thực dụng là những nhà kinh nghiệm chủ nghĩa Tất

cả những gì tồn tại đều là những yếu tố của kinh nghiệm CNTD coi kinh nghiệm như là cái bao hàm trong nó cả vật chất và ý thức, cả khách quan và chủ quan Bằng cách tuyên bố kinh nghiệm là cái duy nhất, CNTD cho rằng họ đã khắc phục được sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm và đã giải quyết triệt để vấn đề đã được tranh cãi hàng nghìn năm nay CNTD coi triết học của họ chỉ là phương pháp.CNTD coi tư duy nói chung, triết học nói riêng chỉ là phương tiện, công cụ để vạch kế hoạch và phương sách cho hành động Giêm nói “Lý luận trở thành phương tiện, không còn là sự giải đáp cho những điều bí ẩn” Tư duy chỉ có giá trị khi nó tiên đoán, giải quyết được những vấn đề thực tiễn Quan niệm như vậy, một mặt có tác dụng tích cực trong việc khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa kinh viện, chủ nghĩa giáo điều, xa rời thực tế; nhưng mặt khác dẫn đến phủ nhận một chức năng cơ bản của triết học – chức năng thế giới quan Triết học chỉ còn chức năng phương pháp luận; tư duy chỉ là công cụ, kế hoạch hành động, chứ không phải là hình ảnh, là phản ánh của sự vật khách quan CNTD nhấn mạnh vai trò của thực tiễn như là mục đích của triết học, như là tiêu chuẩn của chân lý Thế nhưng họ lại xuyên tạc bản chất của hoạt động thực tiễn Theo họ, con người trong tiến trình hoạt động của mình chỉ xuất phát từ lợi ích, từ mong muốn chủ quan của mình, họ không bị hạn chế bởi bất

kỳ tính tất yếu, quy luật khách quan nào cả Tất cả những cái được coi là quy luật khách quan, hiện thực khách quan đều là sản phẩm của hoạt động sáng tạo của con người Do đó, họ rút ra kết luận: con người tuyệt đối tự do trong hoạt động của mình, họ có thể làm bất cứ việc gì họ muốn, bất cứ cái gì có lợi cho

họ Giá trị của tư tưởng hay lý luận không phải ở chỗ nó có phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan hay không, mà là ở chỗ nó có đem lại hiệu quả thực tế hay không Chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm, khoa học hay tôn giáo nếu đem lại lợi ích, hiệu quả thực tế thì đều có giá trị như nhau, vì chúng đều là những công cụ để đạt đến mục đích của đời sống con người mà thôi

Chủ nghĩa kinh nghiệm nhấn mạnh đến các khía cạnh của tri thức khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải nghiệm, đặc biệt khi được tạo ra qua các sắp đặt thử nghiệm có chủ ý Một yêu cầu căn bản của phương pháp khoa học là tất cả các giả thuyết và lý thuyết đều phải được kiểm nghiệm bằng các quan sát về thế

Ngày đăng: 30/05/2022, 10:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w