1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận triết học “ tinh hoa triết học Phật giáo thời Lý ”

12 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tinh Hoa Triết Học Phật Giáo Thời Lý
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận triết học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 69,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A MỞ ĐẦU Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ Phật giáo được ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, có thể nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ trong phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội Ấn.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế

kỷ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ Phật giáo được ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, có thể nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ trong phong trào đòi tự

do tư tưởng và bình đẳng xã hội Ấn Độ đương thời

Có thể nói rằng, trong hơn 20 thế kỷ qua, Phật giáo đã có một vai trò, vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc, nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc Cả hai triều đại Lý–Trần, Phật giáo đã trở thành quốc giáo Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng

Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400) Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ

mà không đánh mất bản sắc dân tộc

Bài tiểu luận triết học “ tinh hoa triết học Phật giáo thời Lý ” sẽ gớp phần làm rõ hơn những nội dung trên

Mặc dù đã rất cố gắng biên soạn và tổng hợp tư liệu, nhưng tiểu luận này chắc chắn vẫn còn nhiều hạn chế Nếu có những điểm nào chưa hoàn chỉnh, kính đề nghị quý thầy cô sửa chữa và chỉ dẫn thêm để tôi có thể hiểu biết một cách sâu sắc hơn những kiến thức mình thu được

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 2

B NỘI DUNG

I Quá trinh du nhập Phật giáo vào Việt Nam

Đạo Phật từ Ấn Độ du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ II Trong những năm đầu của Công nguyên các thương nhân hàng hải ở Ấn

Độ qua miền Viễn Đông để mua hàng hoá, gỗ, trầm hương, vàng Đạo Phật đã theo những đoàn khách buôn bằng đường thuỷ băng qua Srilanka, Java, Indonesia, Ấn Độ và Trung Hoa Ngay từ khi mới du nhập đạo Phật đã được người Việt Nam nhìn nhận và trở thành một nền văn hóa đặc sắc của dân tộc Trong suốt hơn hai mươi ngàn năm đất nước chúng ta chịu biết bao thống khổ vớí bao đổi thay thăng trầm, nhưng đạo Phật không vì vậy mà thay đổi Luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của đất nước, vớí công cuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước và giữ nước, mở mang bờ cõi Trong mọi hoàn cảnh nào Phật giáo luôn luôn có mặt trong sức sống của nền văn hoá cũng như trong công cuộc chống xâm lăng

Về quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ XIV chúng ta có thể khái quát qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn I: Từ giữa thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Có thể nói ở giai đoạn này sự du nhập của Phật giáo như một tôn giáo, mở ra hai con đường là Thiền tông và Tịnh độ tông

Giai đoạn II :Từ thế kỷ thế VI đến thế kỷ thứ X

Đây là thời kỳ Phật giáo đặt nền móng xây dựng và phát triển Với hai thiền phái chính là Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông đã khẳng định sự hiện hữu của Phật giáo như là một tôn giáo không thể thiếu trong lòng dân tộc Phật giáo đưa con người hướng đến một đời sống tâm linh thánh thiền, biết phân biệt thiện, ác

Giai đoạn III : Từ cuối thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷXIV (tức cuối đời Trần)

Đây là thời kỳ Phật giáo phát triển cực thịnh Trong giai đoạn này có thể xem Phật giáo như là một quốc giáo của dân tộc Việt nam Điểm đặc biệt của giai đoạn này là sự thống nhất của các thiền phái và lập nên các phái Thiền ở Trúc Lâm và Yên Tử Với sự nhiệt thành của Trần Thái Tơng và Tuệ Trung Thượng Sỹ, khai sơn đệ nhất tổ là Thiền sư Hiện Quang và tổ thứ hai là Thiền

Trang 3

sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm là vị thầy của vua Trần Nhân Tông được vua tôn xưng là Quốc Sư

Đạo Phật có thể nói là một tôn giáo rất dễ gần gũi, luôn uyển chuyển trong mọi thời đại, mọi tình huống Thế cho nên các Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông dù có mang màu sắc Phật giáo của Ấn Độ hay Trung Hoa nhưng khi vào Việt Nam thì nhanh chóng thể nhập, dung hoà gần gũi với đời sống dân tộc Đó cũng chính là đặc điểm nổi bật của Phật giáo trong suốt quá trình du nhập và phát triển

II Những nội dung cơ bản triết học phật giáo thời Lý

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng Đế, đặc niên hiệu là Thuận Thiên, khởi nghiệp nhà Lý Khoảng thời gian 216 năm trị vì của triều đại nhà

Lý, nền quân chủ Đại Việt dần hàon thiện và phát triển nhà Lý đã thực hiện hàng loạt các chủ trương, chính sách và biện pháp tích cực nhằm thự chiện nhiệm vụ Độc lập dân tộc và Thống nhất quốc gia, phát triển nền văn minh Đại Việt Xã hội Đại Việt dưới triều Lý phát triển về mọi mặt: cơ cấu nhà nước được thiết lập theo lối chính quy với mô hình nhà nước trung ương tập quyền, pháp luật được coi trọng, giáo dục văn hoá được mở mang, quân đội được củng cố, tư tưởng triết học và tôn giáo đặc biệt là Phật giáo

Phật giáo thời Lý có vị trí, vai trò trong cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội Phật giáo tham gia vào nhiều công việc tổ chức của xã hội: hoạt động tôn giáo tính ngưỡng trong làng xã, xây chùa, dựng tháp, tô tượng, đúc chuông; tham gia và giữ vị trí chủ đạo trong hoạt động chính trị, giáo dục, xây dựng các chuẩn mực đạo đức xã hội Các chùa, tháp, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh, phát triển đội ngũ sư tăng… để tỏ lòng sùng kính Phật

Phật giáo thời Lý phát triển mạnh các dòng thiền Hai phái thiền Lưu Chi

và Vô Ngôn Thông từ thời Bắc thuộc, tiếp tục được phát triển Thời Lý hình thành dòng thiền Thảo Đường

Thiền Lưu Chi phát triển ở thời Lý từ thế hệ 11 đến thế hệ 19 với các thiền sư lưu danh sử sách: Vạn Hạnh (938-1025), Đạo Hạnh (?-1115), Viên Thông (?-1151)…

Thiền Vô Ngôn Thông thời Lý từ thê 1hệ thứ 5 đến thế hệ thứ 17 Các thiền sư nổi tiếng của dòng thiền này: Khuông Việt (933-1011), Đa Bảo, Viên Chiếu, Lý Thái Tông (1000-1054)…

Trang 4

Thiền Thảo Đường thời Lý phát triển được 6 thế hệ Trong sách Thiền Uyển Tập Anh có ghi tên 19 người, trong số đó: Lý Thánh Tông, Không Lộ, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông…

Tư tưởng của các phái thiền có một chiều sâu triết lý, tâm linh, đạo đức Thiền Lưu Chi ảnh hưởng tư tưởng Bát Nhã Khi thiền định hành giả phải làm cho trí huệ bát nhã bừng sáng mới có thể nhập được các pháp Để đạt được mụch đích đó, kinh dạy về pháp thiền quán trong ngoài để phá trừ kiến chấp, Kinh mang tính văn hệ Bát Nhã nên bản chất của giác ngộ vượt ngoài phạm vi ngôn ngữ, văn tự, siêu việt hữu vô Tư tưởng của phái thiền này còn tiếp thu cả

tư tưởng sẫm vĩ, phong thuỷ Thiền Vô Ngôn Thông nhấn mạnh thuey61t đốn ngộ tâm địa, chù trương con người có thể trong một giấy lát đạt được quả vị giác ngộ, không cần phải tiệm tiến Sự giác ngộ là do tự tính thực hành, do sử dụng phương pháp thoại đầu để phát khởi sự đạt ngộ nơi tâm tư Thiền Vô Ngôn Thông còn chịu ảnh hưởng của Mật Tông sử dụng các thế lực siêu nhiên để mau chóng gáic ngộ, ảnh hưởng của Tịnh Độ tông chủ trương niệm Phật để đạt tới nhứt tâm bất loạn, vãng sinh vào thế giới cực lạc của phật A Di Đà Chủ trương của thiền Thảo Đường là thống nhất tư tưởng và tông phái phật giáo cùng với Nho và Đạo, thiên về chú trọng tri thức và văn chương, nên không lan toả được trong đại chúng mà chỉ ảnh hưởng được trong giới quý tộc, trí thức Tư tưởng triết lý của các phái thiền và hoạt động truyền giáo, hoạt động xã hội của các thiền sư ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị, văn hoá xã hội thời Lý Để có được những thành tựu đáng kể, tư tưởng Phật giáo thời Lý đã có những đặc trưng như khả năng dung thông linh hoạt, tính nhập thế sâu sắc Tuy nhiê, sức sống, sức mạnh của Phật giáo là ở triết lý Phật giáo thời Lý đóng góp vào văn hiến Đại Việt không chỉ ở vai trò với thức tiễn xã hội mà còn ở vai trò xây dựng nền triết học Phật giáo

1 Quan niệm về thế giới của các thiền sư thời Lý

Thiền tông chủ trương vạn vật nhất thể nhưng biến hoá khôn lường dưới các dạng khác nhau Những dạng này luôn luôn thay đồi gọi là pháp tướng vô thường Thế giới, con người cũng như muôn loài luôn thay đổi, không dễ gì nắm bắt được Vạn vật tuy sắc thân, sắc tướng không còn nhưng bản thể qua pháp tướng vô thường vẫn còn, không hề mất, có thể tìm thấy ở khắp nơi Một

đã thành Vạn trong trời đất núi non Khoảng cách không gian, thời gian gần mà

xa, xa mà gần

Vòng tuần hoàn của vũ trụ: xuân, hạ, thu, đông được các thiền sư thể hiện như nguồn sốngbất diệt; xuân sinh, hạ trưởng, thu liễn, đồng tàn, vạn vật

Trang 5

sinh-trụ-dị-diệt vô thỷ vô chung Lý vô thỷ vô chung là lý để từ đó có thể đồng nhất thể vũ trụ

1.1 Vô ngã, vô thường

Triết lý vô thường, vô ngã cũa Phật giáo từ thời nguyên thuỷ được các thiền sư thời Lý biểu đạt bằng những hình ảnh của tự nhiên và con người Thiền

sư Mãn Giác (1052-1096):

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”

Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, đêm qua một

nhành mai đã nở trước sân) Thiền sư đã giác ngộ được cảnh vô thường của vạn vật, thân người như bóng chớp, vô ngã và vô thường như vạn vật Từ đó, các thiền sư chủ trương an nhiên tự tại sống, thoát khỏi sắc dục, sống “mình vì mọi người”, xả hỷ lợi tha cao thượng

1.2 Sắc – Không

Giáo sắc không của các thiền sư thời Lý được thể hiện qua các phạm trù

“có – không”, “còn – mất”, “sống – chết” Lịch sử đã ghi danh các thiền sư cống hiến trí tuệ và cuộc đời mình cho đạo pháp, dân tộc Trước tác các vị để lại

đã phần nào giải thích cho chúng sinh quá trình gíc ngộ của mình, giải thích lý sắc – không theo phong cách nghệ thuật độc đáo:

Thiền sư Đạo Hạnh (1072-1116) đã viết:

“Tác hữu trần sa hữu

Vị không nhất thiết không Hữu, không như thuỷ nguyệt Vật trước hữu không không”

Trong thế giới nếu có thì trời đất cho đến hạt cát đều là có Nhưng con mắt trí tuệ soi chân tướng các pháp, nhận thấy có chỉ là ảo giả, hợp rồi tan

sư Huệ Sinh (?-1063) trả lời Lý Thái Tông về tâm nguyện:

“Pháp bản như vô pháp, Phi hữu diệc phi không

Trang 6

Nhược nhân tri thử pháp, Chúng sanh dữ Phật đồng Tịch tịch lăng già nguyệt Không không độ hải chu

Tri không, không giác hữu Tam muội nhậm thông chu”

Thực tướng có và không của các pháp giống nhau Người nào không rõ cũng như người mơ màng không nhận ra được thế nào là có và thế nào là không Người giác ngộ nhận ra thì được coi là đồng với Phật

Linh Nhân hoàng thái hậu (Lê Thị Ỷ Lan, 1044-1117) có bài kệ bàn về sắc – không:

“Sắc thị không, không tức sắc, Không thị sắc, sắc tức không Sắc, không câu bất quản, Phương đắc kế chân tông”

(Sắc là không, không tức sắc Không là sắc, sắc tức không Sắc không đều chẳng quản Mới khế hợp chân tông)

Các thiền sư thời Lý coi bản thể của thế giới thường còn bất sinh, bất diệt, như như bất động nhưng nó lại tuỳ duyên mà biến ra mọi nơi, mọi vật

Sự vật thiên hình vạn trạng, các pháp, là một dạng của thế giới bản thể Các thiền sư thường ca ngợi cảnh trăm hoa đua nở, chim hót chào xuân, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, cành mai nở trong đêm xuân, trăng lặng soi bóng thuyền,… vừa là những cảnh vật của đời thường, mà cũng là hình tượng thể hiện bản thể Các thiền sư đồng thời là thi sĩ đã hoà tan cảm xúc của mình với thiên nhiên, đất nước và con người Họ đã diễn tả được những khái niệ, phạm trù triết họcrất trừu tượng chỉ trong những câu thơ, câu kệ rất ngắn

Chúng sinh bị vô minh che lấp không nhận thức được bản thể nên coi thế giới hiện tượng là có thật, do nghiệp nên nhìn thế giới thành một thế giới đầy phiền não Do vậy, chúng sanh cần được giác ngộ Chính trong đời sống hiện tại, con người tu dưỡng đạt được cảnh giới Chân như, cảnh giới Niết bàn, con người tự giải thoát mà không rời sinh tử Giác ngộ không phải do ai trao truyền

mà phải tự mình thực hành lấy

Trang 7

2 Nhân sinh quan của các thiền sư thời Lý

Phật giáo là học thuyết mang tinh thần nhân văn, gí trị nhân đạo cao cả Phật giáo đề cao yếu tố con người Xã hội là do con người tạo nên, tốt hay xấu

là do con người Tư tưởng triết học thiền tông thời Lý đề cập tới con người trong lẽ vô thường của thế giới Con người là một phần của vũ trụ, hoà đồng với

vũ trụ nhưng con người vì không hhiểu lẽ đó nên muốn có sự trường sinh vĩnh hằng, từ đó lo sợ đau khổ, sợ hãi Thế giới là ảo ảnh, con người cũng như bóng chớp có rồi lại không

Thiền sư Viên Chiếu (999-1090), thiền sư Vạn Hạnh đã khẳng định điều này trong các bại kệ:

“Thân như tường bích dĩ đồi thì,

Cử thể thông thông thục bất bi

Nhược đạt tâm không vô sắc tướng, Sắc không ẩn hiện nhậm thôi di”

(Thân thể người ta như vách đến lúc đỗ nát, Tất cả người đời đều vội vả, ai mà chẳng buồn Nhận thức được rằng tâm là không, vô sắc tướng

Sắc không ẩn hiện mặc nó đổi dời)

“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.”

(Người đời như bóng chớp, có rồi lại không

Như cây cối mùa xuân tươi tốt, mùa thu khô héo

Mặc cho vận đời dù thịnh hay suy, đừng sợ hãi

Thịnh suy cũng mong manh như giọt sương đầu ngọn cỏ)

Các vị thiền giả tu luyện bản lĩnh, vượt lên trên sự phân biệt, không còn cái ta và không ta, hoà đồng nội tâm và ngoiạ giới, không lo ngại sự thay đổi khôn lường của vũ trụ Thiền sư phải là tấm gương cho chúng sinh, là người giác ngộ, là người đốt ngọn đuốc để soi tỏ con đường giải thoát khỏi sự mê lầm

Từ đó, lý lẽ chung của thiền tông là không câu nệ vào con đường tu tập mà Như lai đã từng đi Thiền sư Quảng Nghiêm (1121-1190) đã từng lập luận:

“Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ, Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh

Trang 8

Nam nhi tự hữu xung thiên khí, Hưuu hướng Như lai hành xứ hành”

(Thoát ly được lòng ham muốn niết bàn mới có thể bàn tới niết bàn,

Sinh vào cõi vô sinh mới nói vô sinh Nam nhi tự có chí tung trời Đừng đi theo bước chân của Như Lai)

Tư tưởng của Ni sư Diệu Nhân (1041-1113) đạt đến đỉnh cao của phương pháp tu tập giải thoát của thiền tông thời Lý Ni sư khẳng định tinh thần độc lập,

tự lực giải thoát, không lệ thuộc vào ngoại cảnh:

“Sinh lão bệnh tử

Tự cổ thường nhiên

Dục cầu xuất ly, Giải phọc thiệm triền

Mê chi cầu Phật Hoặc chi cầu Thiền Thiền, Phật bất cầu,

Đỗ khẩu vô nghiêm.”

(Sinh lão bệnh tử

Lẽ thường xưa nay Muốn cầu siêu thoát, Nhưng cỡi trói cũng chính là buộc chặt thêm

Mê muội thì mới cầu Phật Nhầm lẫn thì mới cầu Thiền

Chẳng cầu Phật chẳng cầu Thiền,

Mím môi, Vô ngôn) Phật giáo thời Lý đã tôn vinh giá trị con người lên tới địa vị Phật Tôn vinh con người, phục vụ con người, đáp ứng những nhu cầu tâm linh cao đẹp nhất của con người để giải thoát mọi khổ đau, nghiệp chướng là tôn chỉ, mụch đích trong suy nghĩ và hành động của các thiền sư thời Lý

2.1 Từ bi

Lòng từ bi của các Thiền sư, vua quan nhà Lý qua các suy nghĩ và hành động rất đa dạng phong phú Do hoàn cảnh lịch sử đặc thù của dân tộc lúc bấy giờ, nhà nước độc lập non trẻ, thù trong, giặc ngoài, đệ tử Phật không thể thủ tiêu đấu tranh mà phải giác ngộ rằng quyền lợi của mình hoà đồng vào quyền lợi của dân tộc

Trang 9

Thiền sư Viên Thông (1080-1151) đã trình bày với vua Lý Nhân Tông:

“Thiên hạ cũng giống như đồ dùng, đặt yên thì được yên, đặt chỗ nguy ắt gặp nguy; cốt yếu là hành vi của bậc nhân chủ như thế nào mà thôi Nếu đức hiếu sinh hợp với lòng dân thì dân yêu như cha mẹ, ngữa trông như mặt trời mặt trăng: đó là đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy”

Đức tính thương người như thể thương thân của các minh quân, thiền sư thời Lý đã được sử sách ghi chép, ca ngợi nhiều Chúng tôi muốn kiến giải suy nghĩ và hành động của các vị minh quân và thiền sư từ góc độ triết lý nhân sinh của triết học Phật giáo Phật giáo không bàn đến phạm trù bình đẳng một cách độc lập như các thuyết khác, nhưng trong triết lý nhân sinh Phật giáo, không có

sự phân biệt giữa những con người, Phật giáo chủ trương mọi người đều được giải thoát khỏi mê lầm Từ bi và bình đẳng không có ranh giới Từ bi là đem lại

an lạc, hạnh phúc cho mọi loài, cho mọi người, cứu khổ cưu 1nạn không phân biệt Phật là hiện thân của từ bi, người tu theo Phật là hực hành từ bi suốt đời, không gây đau khổ cho người khác và đương nhiên không thờ ơ trước sự đau khổ của người khác, tự giúp mình và giúp người thoát khỏi đau khổ, không câu

nệ, cố chấp

Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo thời Lý nói riêng không chỉ

đề cao triết lý từ bi bình đẳng trong nhận thức mà trong thực tế, Phật giáo Việt Nam là một trong số ít quốc gia Phật giáo có sự bình đẳng trong tu tập, trong vị trí của các thiền sư, cư sĩ nữ đối với xã hội

2.2 Giải thoát

Phật giáo thời Lý không chủ trương xuất thế để cầu giác ngộ các thiền sư chủ trương giải thoát ngay trong chính cuộc đời, lấy nhân quần xã hội làm thử thách, từng trãi mà giải thoát Phật gaió thời Lý kết hợp nhiều phương thức giải thoát trong các tông phái, chủ trương “tuỳ duyên” rất uyển chuyền nhưng cũng hàm chứa triết lý sâu sắc

Phật không phải là đối tượng cho ý thức cầu tìm bên ngoài Phật là tự tính chân như, một trình độ của ý thức, là biết giác ngộ, thường trụ bất biến tiềm tàng nơi chúng sinh Chúng sinh phát hiện được tự tính chân như là ngộ đạo Như vậy, con người muốn giải thoát không có gì bí ẩn, chỉ cần thay đổi suy nghĩ

và hành động của mình từ chỗ mê lầm sang trong sáng, an nhiên tự tại đó là sự ngộ đạo được thực hiện ngay khi con người đang hiệns inh trong cuộc đời, đang gắn mình trong hằng hà sa số các mối quan hệ Con người sẽ không phải tách

Trang 10

rời cõi sinh tử, mà sống trong cõi sinh tử nhưng khôngc ần sợ sự sinh tử, không

bi quan, yếm thế mà lại nhập thế hành đạo, yêu đời, ung dung, tự tại Kiều Bản Tịnh (1100-1176), tinh thông cả Nho - Phật - Đạo, đã từng theo học thiền sư Mãn Giác, cùng với Bảo Giám và Không Lộ làm thành thế hệ thứ chín dòng thiền Quan Bích, trong bài kệ đã nêu đường lối tự giác, giác tha:

“Thế thế sinh sinh Bất muội Phật chỉ

Tự giác giác tha,

Vô gian bỉ thử

Phương tiện đề huề, Nhập ư nhất quỹ.”

(Đời đời kiếp kiếp Chẳng bao giờ làm mờ tối ý chí của Phật Mình tự giác ngộ để giác ngộ cho người, Không phân biệt kẻ này, người khác

Sẵn sàng dìu dắt, cùng đi vào một lối chung) Triết lý giải thoát uyển chuyển của các thiền sư đã đưa họ đến với phương thức hoạt động tích cực trong cuộc sống xã hội Các thiền sư là hiện thân cho chủ trương đã ngộ đạo khi gắn mình vào cuộc đời bình thường cũng phải hành động và suy nghĩ theo những đạo lý của cuộc sống; giải thoát trước hết là làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với con người Điều này thật có giá trị lý luận và thực tiễn đối với chúng ta

Ngày đăng: 30/05/2022, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w