A MỞ ĐẦU Chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu tư tưởng quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ ở phương Tây và đã có mặt ở Việt Nam hơn nửa thế kỷ nay, nhưng việc nghiên cứu và đánh giá về nó chưa thoả đáng Do đó, cần phải khảo sát lại toàn bộ phong trào hiện sinh để có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về nó, trên cơ sở đó tiếp tiếp thu những giá trị tích cực đồng thời đấu tranh chống những mặt tiêu cực của nó Bài tiểu luận “Ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện s.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu tư tưởng quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ ở phương Tây và đã có mặt ở Việt Nam hơn nửa thế kỷ nay, nhưng việc nghiên cứu và đánh giá về nó chưa thoả đáng Do đó, cần phải khảo sát lại toàn bộ phong trào hiện sinh để có cái nhìn khách quan
và toàn diện hơn về nó, trên cơ sở đó tiếp tiếp thu những giá trị tích cực đồng thời đấu tranh chống những mặt tiêu cực của nó
Bài tiểu luận “Ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh đối với xã hội Việt Nam hiện nay ” sẽ trình bày một cách khách quan và hệ thống những
nội dung tư tưởng triết học cơ bản của Chủ nghĩa hiện sinh Khảo sát ảnh hưởng của những tư tưởng triết học hiện sinh trên một số lĩnh vực đời sống văn hoá xã hội ở Việt Nam trước và sau giải phóng Đề xuất một số hướng tiếp nhận phù hợp đối với Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam thời kỳ hội nhập hiện nay
Mặc dù đã rất cố gắng biên soạn và tổng hợp tư liệu, nhưng tiểu luận này chắc chắn vẫn còn nhiều hạn chế Nếu có những điểm nào chưa hoàn chỉnh, kính đề nghị quý thầy cô sữa chữa và chỉ dẫn thêm để tôi có thể hiểu biết một cách sâu sắc hơn những kiến thức mình thu được
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 2B NỘI DUNG
I MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH
1.Tiền đề lý luận và điều kiện lịch sử ra đời Chủ nghĩa hiện sinh 1.1 Tiền đề lý luận
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trên cơ sở:
Khái quát những tư tưởng hiện sinh đã có từ rất lâu trong lịch sử tư tưởng nhân loại:Socrates, Augustine, Pascal…
Phê phán truyền thống triết học duy lý ở phương Tây từ Hy Lạp cổ đại cho đến hiện đại
Kế thừa những yếu tố phi lý tính trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đặc biệt là các trào lưu phi lý tính hiện đại: Chủ nghĩa duy ý chí củaSchopenhauer, Chủ nghĩa trực giác của Bergson, Phân tâm học của Freud, Hiện tượng học của Husserl
1.2 Điều kiện lịch sử
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trong giai đoạn:
Xã hội phương Tây có những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật nhưng không đem đến sự giải phóng sức lao động mà ngày càng làm trầm trọng thêm tình trạng tha hoá bản chất con người
CNTB chuyển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền (CNĐQ), những mâu thuẫn tiềm tàng trong lòng nó bộc lộ ra rõ nét: Hàng trăm cuộc chiến tranh lớn nhỏ xâm lược thuộc địa và giành giật thị trường giữa các nước
tư bản, đặc biệt là hai cuộc chiến tranh thế giới cướp đi sinh mạng hàng trăm triệu người Giai cấp công nhân vùng dậy đấu tranh ở nhiều nơi với quy mô và tính tổ chức ngày càng cao làm lung lay xã hội tư bản…
* Các giai đoạn phát triển và các phái hiện sinh chủ yếu:
Giai đoạn hình thành với hai triết gia tiêu biểu S Kierkegaard và F Nietzche Họ đã đưa ra hầu hết những tư tưởng hiện sinh chủ yếu mà sau này được những người đi sau kế thừa và phát triển
Giai đoạn phát triển với các triết gia tiêu biểu như M Heidegger,
K Jaspers và J.P.Sartre… Dựa trên phương pháp hiện tượng học của Husserl, họ đã phát triển những tư tưởng rời rạc của Kierkegaard và Nietzche thành một hệ thống chặt chẽ và hoàn chỉnh
Trang 3Giai đoạn suy tàn từ những năm 1960 trở đi khi CNTB có những điều chỉnh phù hợp làm cho xã hội dần đi vào ổn định và khi CNXH đang
ở cao trào thì triết lý hiện sinh đã tỏ ra bế tắc Suy tàn về mặt triết lý, tư tưởng hiện sinh đã “tha hóa” vào trong văn học, nghệ thuật, lối
sống… để tiếp tục tồn tại
* Các phái hiện sinh chủ yếu
Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần (S Kierkegaard, K Jaspers, M Buber, Jean Wahl, G.Marcel…): Giả thiết về sự tồn tại của Thượng đế, coi Ngài là cái đích cuối cùng để con người hướng đến
Chủ nghĩa hiện sinh vô thần (F Nietzche, M Heidegger, J.P Sartre, A Camus, Simone de Beauvoir…): Chủ trương gạt bỏ Thượng đế
ra khỏi cuộc sống để con người tự mình vươnlên đến vô cùng
1.3 Lập trường triết học, đối tượng và phương pháp của Chủ nghĩa hiện sinh
1.3.1 Lập trường triết học
Chủ nghĩa hiện sinh không bàn đến những vấn đề thế giới xa xôi không có ý nghĩa thực tế mà chỉ chú tâm tìm hiểu con người và những vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống con người, đó ý nghĩa sự sống
và và cái chết: “Việc quan trọng cho cả đời người là phải biết hồn ta có chết đi hay bất tử Đấy mới chính là điểm cần đào sâu” (Pascal), “Đánh giá cuộc đời đáng sống hoặc không đáng sống chính là trả lời cho vấn đề
cơ bản của triết học” (Camus)
1.3.2 Đối tượng của Chủ nghĩa hiện sinh
Đối tượng mà Chủ nghĩa hiện sinh quan tâm giải quyết là con người, nhưng đó không phải là con người nói chung hay loài người như triết học truyền thống, mà là “sự hiện hữu của từng cá thể đặc thù” (Eller), đó là tôi, anh hay một chị X nào đó…
Toàn bộ quan niệm về con người của Chủ nghĩa hiện sinh được đúc kết cô đọng trong khẩu hiệu của Sartre: ở con người “hiện hữu có trước bản chất”, nghĩa là con người trước khi hiện hữu thì không có sẵn một bản tính người; chỉ sau đó trong quá trình sống, gặp gỡ với những người khác, con người mới tự tạo cho mình là thế nọ, là thế kia, tức là khi
đó mới có bản chất người
1.3.3 Phương pháp của Chủ nghĩa hiện sinh
Trang 4Phương pháp của Chủ nghĩa hiện sinh là phương pháp hiện tượng học do Husserl xâydựng, với tư tưởng cơ bản là sự liên quan hay tương
hỗ không thể tách rời giữa chủ thể và khách thể: Ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì và Đối tượng bao giờ cũng là đối tượng cho một ý thức Từ đó, Husserl đề ra phương pháp nhận thức hiện tượng học, bao gồm ba giảm trừ cơ bản:
Giảm trừ triết học: là xét lại tất cả những học thuyết triết học
Giảm trừ bản chất: là “tạm đặt thế giới vào trong ngoặc”
Giảm trừ hiện tượng luận: làm cho đối tượng hay thế giới chỉ còn
là một hiện tượng cho ý thức thôi Khi đó ý thức và đối tượng gắn chặt với nhau thành một thực tại duy nhất Nhiệm vụ của chúng ta là tiến hành
mô tả hay triển khai nhằm gỡ thế giới hiện tượng ra khỏi ý thức đang gắn chặt lấy nó
Chủ nghĩa hiện sinh dùng mô tả hiện tượng học (bằng các hình thức như nhật ký, kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn ) để lột tả tâm trạng, xúc cảm cá nhân trước những hoàn cảnh cụ thể
1.4 Những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh
1.4.1 Kiện tính và siêu việt
Kiện tính của con người là tất cả những thuộc tính tự nhiên (chiều cao, cân nặng, màu da…), những sự kiện xã hội (chủng tộc, giai cấp, quốc tịch…), những thuộc tính tâm lý (hệ thống niềm tin, ước muốn, tính nết…), những sự kiện lịch sử (những hành động quá khứ, nền tảng gia đình, bối cảnh lịch sử…)
Siêu việt là khả năng vượt qua, vươn lên trên tình trạng hiện thời của bản thân mình thông qua “lựa chọn” và “quyết định”
Con người được tạo dựng nên từ kiện tính và siêu việt Ai mà dừng lại ở kiện tính là con người bị sa lầy vào tình trạng sự vật, là tồn tại ở trạng thái “tự nó”; chỉ ai có khả năng siêu việt, nghĩa là ý thức được về bản thân mình, quyết tâm vươn lên vượt qua tình trạng sự vật để tạo ra những bản tính độc đáo, mới là con người theo đúng nghĩa của nó, mới trở thành tồn tại “cho nó”
Đối với các triết gia hiện sinh hữu thần, siêu việt có nghĩa là vươn lên đạt đến bản chất của Thiên chúa Đối với các triết gia hiện sinh vô thần, siêu việt là hướng đến vô cùng
Trang 5Nietzche đưa ra hình tượng Siêu nhân để thể hiện con người luôn luôn vươn lên ấy Sartre chủ trương con người phải luôn tiến lên và tiến lên mãi, dừng lại ở một trạng thái nào đó là có nguy trở thành sự vật Với ông, con người “là cái nó chưa là và không phải là cái nó là”, cho nên:
“con người phải hành động, và chính nhờ hành động mà tự tác thành lấy mình”
1.4.2 Tha hóa và hiện sinh đích thực
Tha hóa theo nguyên nghĩa là biến thành cái khác Theo quan điểm hiện sinh, tha hóa có nghĩa là sự đánh mất bản sắc, sự hòa tan cái tôi độc đáo của mỗi cá nhân vào trong cái tập thể vô danh, mơ hồ và trừu tượng… Cái khối người chung chung, không bản sắc ấy, Kierkegaard gọi
là đám đông Nietzche gọi là bầy đàn, còn Heidegger gọi là cái người ta
Các triết gia hiện sinh cho tha hoá là một hiện tượng vĩnh viễn của loài người mà nguyên nhân của nó nằm ngay trong bản chất các mối quan
hệ xã hội Do vậy, để khắc phục tha hoá theo họ chỉ có thể là hiện sinh đích thực, nghĩa là mỗi người phải “tìm thấy cái tôi của mình”, rồi sống theo cái tôi ấy “Cái tôi” phải đối lập với “cái người ta”, đó không phải là một bản chất sẵn có mà là một phát minh, một sáng tạo thuần túy của chủ thể thông qua lựa chọn tự do
Đối với các triết gia hiện sinh hữu thần, hiện sinh đích thực là từ bỏ đời sống đạo hạnh, quay trở về với đời sống tôn giáo, giữ trọn niềm tin của mình nơi Thiên Chúa Đối với các triết gia hiện sinh vô thần, hiện sinh đích thực là sống theo “chủ quan tính”, “nội tại tính”, sống mạo hiểm ngoài vòng luân lý thông thường hay quay trở về “bản năng tự nhiên”
1.4.3 Tự do – lựa chọn – lo âu – tham gia
Tự do theo quan điểm hiện sinh là bản chất của con người, gắn liền với con người: “con người bị kết án tự do” (Sartre) Tự do có nghĩa là tự mình muốn, tự mình thể hiện ra Đó là một loại cảm tính hoàn toàn chủ quan, không mục đích, không nguyên cớ, không thể biết được; nó là tuyệt đối, vô điều kiện, vượt ra ngoài mọi con đường, mọi mẫu có sẵn
Tự do gắn liền với sự lựa chọn Lựa chọn là chọn cái mình muốn, cái con ngời mình sẽ là Cũng như tự do, lựa chọn không có mục đích, không có điểm tựa, không theo một mẫu có sẵn nào đó; nó gắn liền với việc tự làm ra, tự phát minh ra, tự lập ra
Từ sự tự do lựa chọn nhất định dẫn đến cảm tính lo âu Lo âu là lo
về một cái gì đó xa xăm, mơ hồ, không rõ rệt, không trực tiếp uy hiếp cuộc sống của Hiện sinh thể, nó mờ mờ ảo ảo, bâng khuâng nhưng day
Trang 6dứt, bồn chồn, làm cho tâm hồn ở trạng thái căng thẳng, vò xé mà không
có nguyên nhân gì rõ rệt Cơ sở của lo âu bắt nguồn từ lựa chọn Bởi vì lựa chọn không theo một mẫu có sẵn, một giá trị có sẵn, cho nên nó không có điểm tựa, không biết được đúng sai, không lường hết được hậu quả… Lo âu có một cảm tính hết sức bi thiết, nhưng mặt khác lại rất cao
cả, bởi vì nó đặt con người ta vào trong cuộc sống đích thực
Sự lựa chọn với tâm trạng lo âu của Hiện sinh thể không phải để lựa chọn mà để tham gia Tham gia là hành động thực sự Chỉ có qua hành động con người mới tự định nghĩa được mình là thế này, là thế kia Nhưng đối với các triết gia hiện sinh, hành động là để hành động không nhằm đến một mục đích nào, nên nó chẳng là gì và cũng chẳng biết được
nó thế nào: “Mọi hành động nhất thiết là không thể dò xét được” (Nietzche)
1.4.4 Tha nhân và cái nhìn
Tha nhân đơn giản là những người khác Con người sống trong thế giới là sống trong quan hệ với những sự vật và với những người khác Tôi
là một chủ thể có ý thức nên tôi có tự do sáng tạo ra vũ trụ của tôi bao gồm cả những người khác Nhưng những người khác không phải là sự vật
mà là những chủ thể cũng có ý thức như tôi, nên họ cũng có quyền sáng tạo ravũ trụ của riêng họ bao gồm cả tôi
Cái nhìn thể hiện mối quan hệ giữa những con người có chủ thể tính Cái nhìn của người khác làm tôi “xấu hổ” Bởi vì khi tôi bị người khác nhìn, tôi từ địa vị chủ thể rơi xuống hàng khách thể: đối với người khác tôi trở thành đồ vật, thành “nô lệ” của kẻ khác Hơn nữa, cái vũ trụ
do tôi sáng tạo ra cũng bị người khác thu hút mất Bản thân tôi trải qua một sự đảo lộn và cả cái vũ trụ của tôi bị đảo lộn: người khác đánh cắp vũ trụ của tôi; người ấy có tự do và đã biến vũ trụ của tôi thành vũ trụ của người ấy, người ấy sáng tạo ra vũ trụ của riêng mình
Có hai cách giải quyết cơ bản cho vấn đề tha nhân Các triết gia hiện sinh hữu thần đề cao sự thông cảm với tha nhân, coi tính liên chủ thể, tức là sự công nhận lẫn nhau vai trò chủ thể của tôi và tha nhân, là cách thể hiện hoàn hảo và thăng tiến cao nhất của hiện sinh Các triết gia hiện sinh vô thần đề cao sự đấu tranh chống lại tha nhân để khỏi bị tha nhân biến thành vật sở hữu của họ Lập trường đó được thể hiện trong câu nói nổi tiếng của Sartre: “Địa ngục là tha nhân”
1.4.5 Phi lý và buồn nôn
Phi lý được hiểu là cái phản lý tính, cái không thể lý giải, nhận thức được bằng tư duy, lý trí…
Trang 7Các triết gia hiện sinh cho rằng thế giới là phi lý bởi vì nó là một khối hỗn độn, không có tính nhân quả, mọi sự đều diễn ra ngẫu nhiên Vì tất cả chỉ là ngẫu nhiên, cho nên thế giới này về bản chất là phi luân lý Quan niệm kiểu “nghiệp báo” truyền thống: “Điều xấu không xảy ra với người tốt” là không có căn cứ Mọi thứ đều có thể xảy ra, và nó có thể xảy ra như nhau đối với người tốt cũng như đối với kẻ xấu; bi kịch đều có thể ập xuống đầu bất cứ lúc nào đối với bất kỳ ai… Cuộc sống mỗi cá nhân, hay nói chung là toàn bộ lịch sử loài người, cũng chỉ là một chuỗi
sự kiện ngẫu nhiên, tự động diễn ra một cách mù quáng không tuân theo quy luật nào hết, không ai đoán định trước được điều gì
Chính cái phi lý là nguồn gốc gây ra buồn nôn Buồn nôn biểu hiện cảm tính của con người trước cái phi lý Khi người ta thấy buồn nôn, một thế giới bị tiêu vong, “mọi hàng rào sụp đổ” và người ta phát hiện ra một thế giới khác Những sự vật mất cái dáng vẻ thường ngày của nó: nó có thể là bất cứ cái gì, không ổn định; nó hiện ra trước mắt ta to lớn, kỳ dị, đáng sợ với tính chất phi lý của nó Những ai thấy buồn nôn sẽ phá hoại mọi thành trì kiên cố của tập quán, của thiết chế xã hội – những cái ngăn trở sự nảy sinh tự nhiên của hiện sinh; và hiện sinh sẽ bộc lộ thế giới sự vật này là thế giới của tôi, tôi sáng tạo ra nó
1.4.6 Hư vô và cái chết
Hư vô có nghĩa là không-tồn tại Theo quan điểm hiện sinh, hư vô
là đặc điểm riêng của hiện sinh Chỉ có con người mới mang hư vô trong bản thân mình Bởi vì, con người là một tồn tại có ý thức Ý thức về bản chất là hư vô vì bản thân nó không là gì cả, nó luôn gắn vào một sự vật cụ thể Khi con người chết đi, ý thức không còn gắn vào cái gì cả thì tất nhiên nó sẽ là hư vô Con người cảm nhận được hư vô qua cái chết
Các triết gia hiện sinh coi cái chết có một ý nghĩa đặc biệt đối với
sự sống Theo Heidegger, cái chết làm tiêu tan mọi hy vọng, phá huỷ mọi
nỗ lực của con người, nhưng đồng thời nó thức tỉnh mỗi người phải sống như thế nào cho ra sống chứ không nên lẩn tránh mãi trong cái người ta
vô danh, mơ hồ, trừu tượng…, nghĩa là cái chết mở cánh cửa cho ta bước vào hiện sinh đích thực Những ai chưa ý thức được về cái chết của mình, chỉ nghĩ đến “người ta” chết, thì vẫn còn ở trong tình trạng tha hóa Đối với Sartre, cái chết là một hiện tượng hoàn toàn phi lý, bởi nó mù quáng
và đột nhập vào ta bất cứ lúc nào Cái chết là chỗ chấm hết đời ta, chấm hết những khả năng của ta, nó phá hủy tất cả dự phóng của ta Cái chết là
sự thất bại lớn nhất của con người và cũng là sự thắng lợi hoàn toàn của cái phi lý
Trang 8II ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TIẾP NHẬN NÓ HIỆN NAY
1 Ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam
1.1 Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam (trước năm 1975) Trên bình diện lý luận, đây là giai đoạn Chủ nghĩa hiện sinh được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất ở Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau Những công trình tiêu biểu có ảnh hưởng lớn là: Chuyên khảo Triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh; Các công trình chuyên sâu của Lê Tôn Nghiêm về Heidegger như: Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương, Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger và một chương khảo sát về phong trào hiện sinh trong Những vấn đề triết học hiện đại; chuyên khảo Hiện tượng luận về hiện sinh của
Lê Thành Trị; Các công trình nghiên cứu triết học, văn học và các bài báo thấm đẫm tư tưởng hiện sinh của Nguyễn Văn Trung như: Triết học tổng quát, Đưa vào triết học,Lược khảo văn học, Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết…
Trên bình diện sáng tạo nghệ thuật, người ta thấy sự lặp lại khá rõ nét những chủ đề quen thuộc của Chủ nghĩa hiện sinh như:Sự phi lý, hư
vô, cái chết, với những tác phẩm tiêu biểu như Con yêu, con ghét của Nguyễn Mạnh Côn, Cát lầy của Thanh Tâm, Thành luỹ hư vô của Nguyễn Thị Hoàng Lo âu, xao xuyến, cô đơn, với những tác phẩm tiêu biểu như Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền, Bóng đêm của Ngô Thế Vinh Nổi loạn, với nhiều mầu sắc khác nhau như: chống lại những luân
lý có sẵn (Cô giáo Trâm trong Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng); lao vào cuộc sống ăn chơi phá phách (Sa mạc tuổi trẻ của Duyên Anh); phản ứng lại bộ máy đàn áp xâm lược: bỏ ngũ, hủy hoại thân thể để khỏi
ra mặt trận, kể cả tự sát (trong những truyện ngắn của Ngụy Ngữ, Nguyễn Trung Hà); đi vào con đường trụy lạc (những tiểu thuyết về tính dục của Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long,Túy Hồng, Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng )
Trên bình diện lối sống, ở miền Nam Việt Nam thời kỳ này người
ta cũng thấy bóng dáng của Phản văn hóa: Xuất hiện những cuộc săn đuổi tình yêu đồng giới tính, những cuộc làm tình trần truồng tập thể, những băng nhóm mang màu sắc hippi
1.2 Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay
Thời kỳ trước Đổi mới do đường lối xây dựng và phát triển văn hóa quá nhấn mạnh vào đấu tranh giai cấp, Chủ nghĩa hiện sinh và các trào lưu tư tưởng phương Tây hiện đại khác hầu như vắng bóng.Sau Đại
Trang 9hội VI, với đường lối đổi mới toàn diện, đã tạo điều kiện thuận lợi cho Chủ nghĩa hiện sinh và các trào lưu tư tưởng phương Tây hiện đại du nhập và lan tỏa ảnh hưởng ở nước ta.Thời kỳ này, ảnh hưởng Chủ nghĩa hiện sinh trên bình diện lý luận là chưa đáng kể; trên bình diện sáng tạo nghệ thuật đậm nét hơn, dù đó là một quá trình tự phát từ một số văn nghệ sĩ Trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài có bóng dáng khá rõ nét từ nội dung tư tưởng đến thủ pháp nghệ thuật của Kafka và Camus Dấu ấn hiện sinh nổi bật trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là viết về các nhân vật lịch sử như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Quang Trung, Gia Long gần như đối lập lại với những nhận định về họ trong “chính sử”
Trên bình diện lối sống ở Việt Nam hiện nay dấu ấn hiện sinh ngày càng đậm nét hơn: Nhiều người hiện nay, nhất là giới trẻ đang có những biểu hiện của lối sống gấp, sống thờ ơ, sống cô đơn, sống không mục đích, không lý tưởng
2 Một số định hướng tiếp nhận Chủ nghĩa hiện sinh ở nước ta hiện nay
2.1 Đứng trên lập trường Mácxít, vận dụng đúng phương pháp biện chứng khi tiếp nhận Chủ nghĩa hiện sinh
Sự hiện diện của Chủ nghĩa hiện sinh ở nước ta đã có một lịch sử nhất định, và dù thừa nhận hay không thì tư tưởng hiện sinh đã trở thành một bộ phận cấu thành trong đời sống văn hóa – tư tưởng của xã hội Việt Nam hiện đại Trong thời gian tới ảnh hưởng Chủ nghĩa hiện sinh ở nước
ta sẽ còn đậm nét hơn do quá trình giao lưu văn hoá diễn ra mạnh mẽ và
do các điều kiện xã hội Việt Nam hiện nay rất thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của Chủ nghĩa hiện sinh Do vậy để tránh thụ động trong quá trình tiếp nhận Chủ nghĩa hiện sinh, chúng ta cần phải vận dụng đúng đắn phương pháp biện chứng: đấu tranh chống lại mặt tiêu cực, lạc hậu, đồng thời biết kế thừa những hạt nhân “hợp lý”, những yếu tố tích cực của nó
để làm phong phú thêm đời sống văn hoá tư tưởng ở nước ta hiện nay, để
bổ sung và phát triển chủ nghĩa Marx – Lenin nhất là về vấn đề con người
2.2 Xoá bỏ thiên kiến, nghiên cứu toàn toàn diện, vạch đúng bản chất để có cách tiếp nhận Chủ nghĩa hiện sinh phù hợp Chủ nghĩa hiện sinh đã bị mang rất nhiều tai tiếng và hiểu nhầm do những người sử dụng
nó để biện hộ cho lối sống buông thả, phá phách, ăn chơi, sa đoạ Do vậy, đến với Chủ nghĩa hiện sinh trước hết chúng ta phải xoá bỏ thiên kiến về nó bấy lâu nay Muốn tiếp thu đượcnhững giá trị tích cực và có cơ
sở đấu tranh chống lại những mặt tiêu cực của nó, chúng ta cần phải nghiên cứu một cách toàn diện để hiểu đúng bản chất của nó Với những
Trang 10hiểu biết của mình, tác giả xin đưa ra một số đánh giá cá nhân về Chủ nghĩa hiện sinh, trên cơ sở đó đề xuất một số hướng tiếp nhận nó ở Việt Nam hiện nay.Theo tác giả, Giá trị của Chủ nghĩa hiện sinh thể hiện trước hết ở chỗ nó đề cao tính độc đáo, tính tự do, tự chủ và sáng tạo ở mỗi con người.Triết lý này được thể hiện nổi bật trong sáng tạo nghệ thuật, và được áp dụng rất nhiều trong giáo dục học Chúng ta cần phải học tập tinh thần sáng tạo này để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật mới mẻ, độc đáo, để thay đổi triết lý giáo dục mang nặng tính khoa cử nhồi nhét kiến thức của chúng ta hiện nay Chủ nghĩa hiện sinh cũng như các trào lưu phi lý tính hiện đại đã đi sâu tìm hiểu thế giới nội tâm con người và có những khám phá mới về bản chất con người Những khám phá này đã được một số nhà liệu pháp tâm lý sử dụng để điều trị những căn bệnh chấn thương tinh thần.Chúng ta cần tiếp thu những khám phá mới đó kết hợp với quan điểm Marxist để hiểu toàn diện và sâu sắc hơn về con người, trên cơ sở đó có những chính sách phát triển con người phù hợp.Bên cạnh đó, Chủ nghĩa hiện sinh chứa đựng nhiều mặt bi quan, tiêu cực Nó cho rằngcuộc đời là vô nghĩa, mọi nỗ lực của con người là vô ích
vì con người thực sự sẽ chết, từ đó nó kích động người ta đến với lối sống hiện sinh hết sức tai hại: sống gấp, sống thờ ơ, sống không mục đích không lý tưởng, sống vô trách nhiệm Cơ sở của những tư tưởng hiện sinh tiêu cực là những mâu thuẫn, khủng hoảng niềm tin lý tưởng trong đời sống xã hội Vì vậy ở nước tahiện nay, muốn khắc phục được ảnh hưởng của những tư tưởng hiện sinh tiêu cực, Đảng và Nhà nước phải có những chủ trương, chính sách đúng đắn để từng bước hiện thực hoá mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; thực hiện có hiệu quả công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng; nâng cao trình độ nhận thức, trang bị thế giới quan khoa họcMarx – Lenin, bồi dưỡng niềm tin vào lý tưởng cộng sản cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ