Giáo trình Hà Nội học gồm có 7 chương và được chia thành 2 phần, phần 1 gồm 4 chương với những nội dung chính sau: Chương 1 nhập môn Hà Nội học, chương 2 vị thế địa lí và tài nguyên thiên nhiên Hà Nội, chương 3 dân cư và con người Hà Nội, chương 4 đặc trưng lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
NGUYỄN QUANG NGỌC - LÊ THỊ THU HƯƠNG
(Đồng chủ biên) NGUYEN QUANG ANH - NGUYEN THỊ THANH HOA
NGO THI MINH - BUI VAN TUAN
Trang 2LỡI Giới THIỆU
Chương 1 NHẬP MÔN HÀ NỘI HỌC
1.1 Hà Nội -Không gian hội tụ và lan toả
Chướng 2 VỊ THẾ ĐỊA LÍ VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN HÀ NỘI
1.1 Địa líhành chính suy gi dị ~ co 26
S62
Cau héi thảo luận
(hương 3 DÂN CƯ VÀ C0N NGƯỜI HÀ NỘI
3.1 Quá tỉnh tụ vả sự hình thành cộng đồng cư dân Hà Nội
Chương 4 ĐẶC TRƯNG LỊCH SỬ THANG LONG - HÀ NỘI
.4.1 Hà Nội thời tiền Thăng Long (trước nảm 101)
42 HàNộÍthờikỳ Thắng Long (tứ năm 1010 đến năm 1802)
4.3, Hà Nội thời Nguyễn (từ năm 1802 đến năm 1945)
4.4 Hà Nội từ năm 1945 đến nay
„106
Trang 3
4 GIAOTRINH HA NOI HOC
5,1 Bac trung van hod Thang Long - Hà Nội qua các thời ì 124
53, Bitola thio isn vn os Thing ong H8 Ni phucru hittin dh 151
(hương 6 ĐÔ THỊ VÀ ĐÔ THỊ HÓA NÔNG THÔN HÀ NỘI
64 Đồthịhoá nông thôn ngoại thành H Nội 181
Chutong 7 MOT SO THANH TUU CUA HA NOI TRONG 30 NAM DOI MGI
Trang 4Hà Nội học là môn học sưu tẩm, nghiên cứu, phổ biến những trí thức
về mọi mặt và nhận thức tổng hợp về con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trên địa bàn hàng nghìn năm liên tục là trung tâm
chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoa hang dau của đất nước; phục vụ trực
tiếp cho các chiến lược phát triển Thủ đô, Do vị trí hết sức đặc biệt của Hà Nội học trong nền học thuật nước nhà mà từ rất sớm đã xuất hiện khá nhiều các chuyên gia chuyên tâm nghiên cứu về Hà Nội theo các chuyền ngành, các lĩnh vực chuyên môn cụ thể (tức là Hà Nội học Iruyển thống), trong đó hai lĩnh vực thu được nhiều thành tựu hơn cả là Văn hóa và Lịch
sử Thăng Long - Hà Nội
Bước sang thế kỷ XI, nhu cầu nghiên cứu Hà Nội theo hướng tiếp
cân tổng hợp, liên ngành để xử lý hiệu quả những vấn để mới đang đặt
ra trong chiến lược phát triển bển vững Thủ đô đã trở nên bức thiết và
Hội thảo khoa hoc quốc tế Phát triển bền oững Thủ đô Hà Nội Văn hiến Anh:
hing, vi Hàa bình được tổ chức nhân địp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
~ Hà Nội được xem như một cột mốc đánh dấu sự ra đời của một ngành
Hà Nội học mới - Hà Nội học hiện đại Trên cơ sở kinh nghiệm và thành tựu của Hà Nội học truyên thống, Hà Nộ ì¡ đại thông qua phương pháp tiếp cận Liên ngành gắn với Khu vue hoc va Khoa hoc phát triểi nhằm đạt tới nhận thức tổng hợp hơn và sâu sắc hơn về toàn bộ không gian lịch sử
- văn hóa và con người Hà Nội
học Ì
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao cho xây dựng và phát triển Thủ đô, trong những năm gần đây đã triển khai chương trình nghiên cứu và đào tạo
về Hà Nội học Trên cơ sở những kinh nghiệm bước đầu của tập thể cán
bộ giảng dạy trong Khoa, trong Trường, được sự hợp tác của Trung tâm
Hà Nội học và phát triển Thủ đô, Viện Việt Nam học và Khoa học phát
Trang 56 GIAOTRINH HA NOI HOC
Hà Nội học theo hướng tiếp cận mới phục vụ cho các chương trình đào tạo của nhà trường, Cuốn sách do GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Giám đốc Trung tâm Hà Nội học và phát triển Thủ đô và TS Lê Thị Thu Hương, Trưởng Khoa Văn hóa - Du lịch - Dịch vụ Hà Nội làm Đồng Chủ biên Trên cơ sở bàn bạc nhất trí của chủ biên và tập thể tác giả đã quyết
định tổ chức cuỗ
giả như sau: sách thành 7 chương và phân công cụ thể cho các tác Chương 1: Nhập môn Hà Nội học do G5 Nguyễn Quang Ngọc viết Chương 2: Vị thế địa lý va tai nguyên thiên nhiên Hà Nội do ThS Nguyễn Quang Anh vi
Mặc dù đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, trên cơ sở thừa hướng thành quả của Hà Nị i hye truyyên thống, nhưng Hà Nội học hiện đại là ngành học mới hình thành, có rất nhiều những vấn để còn phải được tiếp tục đi sâu nghiên cứu thảo luận Cuốn sách thật ra mới chỉ là tập hợp bước đầu của một nhóm tác giả phần lớn là cán bộ nghiên cứu
và giảng dạy trẻ, phục vụ nhiệm vụ giảng dạy và học tập về Hà Nội học ở Khoa Văn hóa - Du lịch - Dịch vụ, Trường Đại học Thủ đô, nên chắc chắn không tránh khỏi có những thiếu sót nhất định Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc cả về nội dung, hình thức, phương pháp nghiên cứu và trình bày, để tập thể tác giả có
thêm cơ hội nâng cao và hoàn thiện cuốn sách nhằm phục vụ ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn cho các chương trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu về Hà Nội học
Sách được tổ chức biên soạn và hoàn thành trong khuôn khổ chương
Trang 6tạo mọi điều kiện thuận lợi của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các chuyên gia Hà Nội học và các cán bộ lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn ở Thủ đô Hà Nội Chúng tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc đến tất cả những giúp đỡ quý báu
cho sự ra đời của cuốn sách này và hy vọng sẽ nhận được sự chia sẻ, cam
thông và lượng thứ của bạn đọc
Hà Nội, ngà 22 tháng 3 năm 2017
'Đồng Chủ biên GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc
TS Lê Thị Thu Huong
Trang 7Không gian hội tụ và lan toà
Địa bàn Hà Nội ngày nay mà trung tâm hạt nhân là Đại La - Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Kẻ Chợ, mở rộng ra và tích hợp vào những
bộ phận quan trọng nhất của cả bốn xứ/ trấn Đông - Đoài - Nam - Bắc Đây chính là vùng đất gốc hình thành nên người Việt cổ và nền văn minh Sông Hồng, nơi chứng kiến quá trình hình thành và phát triển của những nhà nước sơ khai với kinh đô đầu tiên của đất nước, nơi tôi luyện
và kết quyên thành các giá trị cốt lõi của truyền thống Việt Nam, chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam
Đây cũng chính là địa ban di dau trong các phong trào đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hoá của các để chế Trung Hoa Trên cơ sở
đó mà Ngô Qu
vị Tổ Trung hưng của dân tộc Việt Nam, kết thúc vĩnh viễn nghìn năm đô
hộ của phương Bắc, mở ra thời kì độc lập lâu dài và phát triển rực rỡ của đất nước: Thời kì Văn hoá Thăng Long, văn minh Đại Việt
„ người anh hùng đất Đường Lâm mới có thể trở thành
Lý Công Uẩn, người tạo lập vương triểu Lý, định đô Thăng Long “ở giữa khu nực trời đất, được thể rổng cuộn hổ ngổi, chính giữa Nam Bắc Đông
Tay, tiện nghỉ núi sau, sông trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế”
q, dân cư không khổ thấp trăng tối tăm, muôn Đật hêt sức tươi
đấi cao mà sắng
tot phân thịnh Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan
yếu của bổn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”' Bằng tầm nhìn và sự nghiệp Thiên niên kỉ, Lý Công Uấn từ đây đã kéo được toàn
Trang 8bộ thiên nhiên, kinh tế, văn hoá và đặc biệt là con người tứ trấn (Đông, Đoài, Nam, Bắc) trở thành nguồn lực, thành nội lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển Thăng Long suốt cả nghìn năm, để đến năm
2010, UNESCO vinh danh Trung tâm Hoàng thành Thăng Long là Di sản văn hoá của nhân loại
Những giá trị mang tính nổi bật toàn cẩu của khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long chính là kết tỉnh lịch sử - văn hoá nghìn năm của cả khu vực thành phố Hà Nội hiện nay Trong quá trình lịch sử lâu dài ấy,
quy mô Hà Nội cũng có khi mở rộng hay thu hẹp; lịch sử Hà Nội cũng
nhiều lúc thăng, tram
Tên Hà Nội thật ra mới chỉ xuất hiện từ năm 1831, khi vua Minh Mệnh quyết định chia đặt các tỉnh, trong đó tỉnh Hà Nội bao gồm 4 phủ (Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hoà, Lí Nhân), 15 huyện (Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm, Thượng Phúc, Thanh Trì, Thanh Oai, Chương Đức, Sơn
Minh, Hoài An, Nam Xang, Duy Tiên, Bình Lục, Phú Xuyên, Kim Bảng,
Thanh Liêm) Hà Nội lúc đó theo đúng nghĩa của chữ là một tỉnh “trong sông”, được bao bọc bởi sông Hồng ở phía Bắc và phía Đông, sông Đáy ở phía Tây và phía Nam, mà hạt nhân là khu đô thị cổ truyền từ Vạn Xuân, Tống Bình, Đại La cho đến Thăng Long, Đông Đô, Đông Kinh, Kẻ Chợ, tương đương với địa bàn hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận từ thời Lê cho đến cuối thế kỉ XIX
Trong thời Pháp thuộc, Hà Nội vừa là thủ đô của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, vừa là thủ phủ của Bắc Kì, từ khu nhượng địa bên
bờ sông Hồng, Hà Nội trở thành thành phố nhượng địa gồm toàn bộ khu đô thị cổ truyền (hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận trước đây) và thêm một phần huyện Từ Liêm ở phía Tây và một phẩn huyện Thanh
Trì ở phía Nam Năm 1903, lần đầu tiên địa bàn Hà Nội mở rộng sang
bờ Bắc sông Hồng gồm đất đai của một số xã thuộc tổng Gia Thụy, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh
Hà Nội ngày đầu tiếp quản chỉ có 36 khu phổ nội thành và 4 quận (46 xã) ngoại thành, với khoảng hơn 40 vạn dân, trong đó tuyệt đại đa số là thị dân buôn bán nhỏ và nông dân nghèo khổ
Từ sau ngày tiếp quản Thủ đô (ngày 10 tháng 10 năm 1954) cho đến
Trang 9Chương 1 Nhập môn Hà Nội học ul
hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhưng trên cơ bản theo hướng lấy khu đô thị
cổ truyền làm trung tâm cốt lõi và toả rộng ra cả hai bên tả ngạn và hữu
ngạn sông Hồng, theo đủ các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc
Năm 1961, thành phố Hà Nội được tích hợp thêm 18 xã, 6 thôn, 1 thị
trấn thuộc tính Hà Đông (một phẩn đất thuộc các huyện Đan Phượng,
Hoài Dức, Thanh Trì); 29 xã, thị trấn thuộc tinh Bắc Ninh (gồm huyện Gia
Lâm, một phẩn huyện Từ Sơn và Thuận Thành); 17 xã và một nửa thôn
của tỉnh Vĩnh Phúc (huyện Dông Anh và một phẩn của huyện Yên Lãng, Kim Anh); 1 xã của huyện Văn Giang, tinh Hưng Yên; quy mô này về cơ
bản được giữ ổn định cho đến năm 1978
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn việc sáp nhập các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch
‘That, Dan Phượng, Hoài Đức, thị xã Sơn Tây và thị xã Hà Đông cùng 17 xã
của các huyện Chương Mĩ, Thanh Oai, Thường Tín, Quốc Oai tính Hà Sơn Bình; toàn bộ huyện Sóc Sơn, 18 xã và 1 thị trấn của huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh
Phú vào thành phố Hà Nội Quy mô thành phố Hà Nội trở nên rất rộng lớn
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội lại có nghị quyết chia tinh Ha Son Binh
thành hai tỉnh Hoà Bình và Hà Tây trong đó chuyển toàn bộ phẩn đât của
tỉnh Hà Sơn Bình mới nhập vào Hà Nội 13 năm trước về cho tính Hà Tay
Huyện Mê Linh địp này cũng được chuyển trả v tỉnh Vĩnh Phú
Ngày 29 tháng 5 năm 2008, theo quyết định điểu chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội thì toàn bộ tỉnh Hà Tây, toàn bộ huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và4 xã (Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung) huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình được sáp nhập vào thành phố Hà Nội Thành phố
Hà Nội có diện tích tự nhiên là 334.470,2 ha và dân số là 6.232.940 người 1.2 Nghiên cứu Hà Nội và Hà Nội học
Hà Nội đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn từ
ít lâu, nhưng những công trình được xếp loại theo tiêu chí học thuật có lẽ chỉ bắt đầu tir thé ki XIX vai hệ thống sách địa chí tổng hợp từ cấp tỉnh, phủ cho đến huyện, xã Truyền thống này được nâng dân lên và được gia
bằng các phương pháp khoa học hiện đại của phương Tây
Trang 10cũng hết sức nhỏ nhoi Chương trình điểu tra sưu tẩm văn hiến Thắng Long - Hà Nội giai đoạn 1 hoàn thành vào năm 2010 cho biết tính đến năm 2008 đã có 9130 cuốn sách, bài báo và các kết quả nghiên cứu về Hà Nội được công bố! gồm 5 lĩnh vực chủ yếu là Lịch sử, Văn hoá, Kinh tế
~ xã hội, Nhân vật (con người) và Địa lí Nếu chia ra theo 3 giai đoạn gắn với lịch sử phát triển của Hà Nội thì giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 chỉ có 284 công trình, giai đoạn từ sau tháng 8 năm 1945 đến tháng 5 năm 1975 cũng chỉ có 370 công trình, nhưng giai đoạn từ sau tháng 5 năm 1975 cho đến 1 thang 8 năm 2008 có đến 8.476 công trình Như thế giai đoạn hơn 30 năm sau ngày đất nước thống nhất, Hà Nội trở thành Thủ đỏ của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, số lượng các công trình nghiên cứu vể Hà Nội đã gấp hơn 13 lần tất cả các giai đoạn trước cộng lại Đó là chưa nói đến các công trình chuyên khảo có giả trị chuyên môn cao cũng chủ yếu được hoàn thành trong những thập kỉ cuối thế kỉ XX va thập kỉ đầu thếki XI Điều này cho phép hình dung trong thực tế Hà Nội học chuyên ngành (hay Hà Nội học truyền thống) đã hình thành trong giai
đoạn 1975 - 2008, lấy Văn hoá và Lịch sử làm hai trụ cột học thuật chủ yếu
Ngay từ năm 2005, trên cơ sở đội ngũ các nhà nghiên cứu Hà Nội học
đã trưởng thành, thành tựu về Hà Nội học đã được khẳng định, GS Tran Quốc Vượng), trước khi qua đời đã khẩn thiết kiến nghị: “Có thể nà nôn
thành lập một Trung tâm Hà Nội học (Centre for Hanoi Studies), phi chính phú
(NGO), tô oụ lợi (non frofit), hodc ban công (đặt dưới sự bảo trợ của Chủ tịch
` Đành rằng cũng có một số công trình cà lên gọi và nội dung bao lấy nhiều lĩnh vục chuyên môn nên trong khi khảo sắt chủng tôi phải có những tính toán rất cụ thể và một số cuốn sách hay công trình nghiên cửu tổng hợp mặc nhiên phải được tính lớn hơn một lĩnh v
môn, nên tổng số các công trình khoa học thống kẽ theo các lĩnh vue và số lượng c
trình khoa học theo danh mục có xê dịch đôi chút Trong 5 lĩnh vục khoa học được nêu ra ở trên, chúng tôi nhận thấy sổ công trình tập trung cao nhất trong các lĩnh vực Văn hoá (3.985 công trình); Lịch sử (2.149 công trình); tiếp đến là Kinh tế - xã hội (1.617 công trình) và cuối cũng là Địa í (698 công trình), Nhân vật (632 công trình)
` ˆ G6, Trấn Quốc Vượng (1931-2005) là người đi tiên phong xây dựng ngành Hà
được truy tặng Giải thưởng Hồ Chỉ Minh về Khoa học Công nghệ năm 2012 cho cụm công trình Lịch sử - Văn hoá chủ yếu về Hà Nội học Năm 2016 Thành phố Hà Nội đã quyết định lấy tên Trần Quốc Vượng đặt cho đường phố cạnh Trường Đại học Sư phạm và Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc địa bàn quận Cầu Giấy, để ghỉ công và vinh danh những đóng góp,
Trang 11
Chương 1 Nhập môn Hà Nội học 13
tà LIBND Thành phố) nhằm mục đích lập hợp các nhà Hà Nội học thuộc đủ các
ngành tự nhiên nà xã hội - nhân năn để tiếu tới khắc hoạ rõ rằng dẫn một chân
đung Thăng Long - Hà Nội trêu làng nên mảnh đãi “ngàn năm tăm tật”, noi
“hội tụ - kêi Hình - giao lưu lan tod” của mội nên oăn hiến Âu Lạc~ Vạn Xuân
- Đại Việt - Việt Nam, nơi lắng hổn múi sông ngần năm"
Trong quá trình chuẩn bị kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, có một sự kiện không ổn ào, không hoành tráng, mà sâu lắng và ghi đậm đấu
ấn, góp phần làm nên tẩm vóc và vị thế của 10 ngày Đại lễ, đó là Hội thảo khoa học quốc tế Phát triển bền nững Thứ đô Hà Nội săn hiến anh hùng tì hoà bình được tổ chúc trong 2 ngày 7 và 8 tháng 10 năm 2010 Đây thực sự là một tổng kết lịch sử các công trình nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội của các học giả trong nước và quốc tế từ trước đến nay, làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình phát triển trước mắt và lâu dài của Thủ đô Hà
Nội GS Sakurai Yumio! đánh giá: “Trong dịp ký niệm một nghìn năm
Thăng Long Hà Nội, tôi nghĩ rằng các lĩnh vực khoa học Hà Nội (Hanoi
Sciences) va Ha Noi hoc cit (Hanoi Studies) da may mắn có được sự thảo
luận và hợp tác với nhau trong những ngày diễn ra Hội thảo kỉ niệm một nghìn năm Thăng Long Hà Nội Mặc dù chưa đi đến hổi kết, song hội thảo đó được coi là một trong những điều kiện tốt để tiến hành xây dụng
Hà Nội học mới (Hanoiology/ Hanoi Study)“2
Đánh giá cao thành công của Hội thảo cả ở tính khoa học và tính
thực tiễn của nó, nhận thức sâu sắc tẩm quan trọng của Hà Nội học,
GS.NGND Phan Huy Lé trong Diễn păn bế mạc Hội thảo khẳng định đây là thời điểm đã chín muối cho việc xây đựng một ngành Hà Nội học hiện đại
Theo ông: “Đội ngñ nghiên cứu tể Hà Nội ở trong nước vi quit lế càng ngà
càng phát triểi
Trên cơ sở đó, lãnh đạo Hà Nội cần sớm thành lập Viện hoặc
GSS, Sakurai Yumio (1945-2012): GS,TS, danh dự Đại học Quốc gia Tokyo (Nhật Bản) và Đại học Quốc gia Hà Nội (Việt Nam), Chủ tịch Hội Nhật Bản nghiên cứu Việt Nam, người
có công đấu trong việc giới thiệu và truyền bả phương pháp Ki mực học và phương pháp Liên ngành tại Việt Nam GS,TS, Sakurai Yumio cũng là người khởi xướng và đành nhiều tâm sức xây dưng ngành học Hà Nội học mới trên nến tảng của Hà Nội bọc cũ hay Hà Nội học truyễn thống
GS.TS, Sakurai Yumio, “Hà Nội học mới là gì"? in trong Hội thảo khoa học Hừ Nội học
Trang 12Trung tâm nghiên cứu nể Hà Nội Nhưng điểu quan trọng, đây phải là Viện
nghiên cứu toàn diện, liên ngành nà đa ngành oể Hà Nội Có thể bộ phận tổchức
của nó không lớn lắm, phải có những người lãnh đạo có tâm cỡ tà phải có một số nhà nghiên citu khoa học chuyên ngành trên những lĩnh tực cẩn thiết Phương
hướng phát triển chủ yến của nó là phải tao lap được sự liên kết nà sự hợp tác
trong nước tà quốc tê; Có thể nói là hợp tác liên ngành, hop tác quốc nội va hợp tác quốc tê là cơ sở có ý nghĩ quyệt định cho sự thành công của tổ chức nghiên cứu này Và nếu đi theo phương tHuức đó thì tổ chức nàu chỉ cẩu thành lập, tôi hụ oọng sau một thời gian không dài sẽ trở thành trung tâm rất mạnh oà sẽ đồng súp phẫu quan trọng cho phát triển hổn vieng của Hà Nội, 0ừa cung cấp các cứ
c Hiếp Hư tiết ch các nhà quản lí, lãnh đạo Hà Nội”",
liệu khon hoc, vita tr
Sau khi hoàn thành vi
bên ving Thi đô Hà Nội wan high anh hing vi hot bình, chúng tôi được giao trách nhiệm biên tập xuất bản chính thức cuốn sách Phát triển bén ving Thủ đô Hà NộP đưa vào Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến và thông qua đó tập hợp các ý kiến, tổng hợp thành các cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc xây dựng một ngành Hà Nội học khoa học và chuyên nghiệp, phục vụ hiệu quả cho các chiến lược phát triển bền vững Thủ đô
tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế Phát triển
Cho đến nay, tuy vẫn có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng trên căn bản các nhà khoa học trong nước và quốc tế đều đã thống nhất xây dựng một ngành học Hà Nội học hiện đạt" như là một lĩnh vục của Khu vực học (Area Study), dưới sự tổng hợp tối thiểu từ hai chuyên ngành khoa học trở lên bằng phương pháp tiếp cận Liên nganh (Inter-disciplinary approach)
Hà Nội học là môn học sưu tâm, tìm hiểu, nghiên cứu pà phổ biến những
trí thức mọi mặt tà nhận thức tổng hop vé con người nà mỗi quan hệ giữa con người oới thiên nhiên trên địa bàn hàng nghìn năm liên tục là trưng tâm chỉnh trụ xã hội, kinh l rà tần hoá hàng đâu của Việt Nam, phục tụ chơ các chiến lược phát triển bên ong Thủ đô tà đất nước,
“Tiến tới một tố chúc nghiên cứu toàn diện và liên ngành ve Ha Ne
trong Phát triển bến rừng Thí độ Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2012, tr 1507-1508, Để xuất này đã được hoàn toàn nhất tr và thông qua thành nghị quyết của Hội thảo
"hút triển bên từng Thủ độ Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2012 gồm 5 phần, 1564 trang.
Trang 13Chương 1 Nhập mơn Hà Nội học 15
Vấn để đặt ra ở đây là các Nghiên cứu Hà Nội (Hanoi Studies) hay các Khoa học Hà Nội (Hanoi Sciences) tức là Hà Nội học truyén thựng' cẩn phải hướng đến và gắn kết với Hà Nội học tổng hợp, Liên ngành, Khu vực học tức là Hà Nội học hiện đại như thế nào, Trái lại Hà Nội học hiệ đại cũng cẩn phải biết “đứng trên vai” của Hà Nội học truyền thống, khai thác và nâng tẩm các thành tựu của Hà Nội học truyền thống ra sao Câu chuyện tưởng như đơn giản, nhưng nếu như khơng cĩ sự đầu tư cơng sức, trí tuệ một cách bài bản, căn cơ thì chưa chắc đã tìm ra được lời giải thoả đáng,
1.3 Đối tượng của Hà Nội học
Hà Nội học hiện đại theo như định nghĩa được nêu ở trên, là bộ mơn nghiên cứu các lĩnh vực hoạt động của con người và mỗi quan hệ giữa con người với thiên nhiên nhằm đạt tỏi nhận thức tổng hợp về khơng gian lịch sử - văn hố và con người Hà Nội
Van dé dat ra 6 đây là hoạt động của con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên khơng bị cắt khúc thời gian (cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai); cĩ những hằng số trong suốt quả trình phát triển nhưng cũng cĩ những biến số của mỗi giai đoạn chuyển đổi Hoạt động, của con người và mổi quan hệ giữa con người với thiên nhiên cĩ thể được phân ra theo các khơng gian cụ thể, trong đĩ quan trọng hon cả và là nhân lõi tạo nên các giá trị đặc trưng của tất cả các khơng gian Hà Nội nĩi chung,
là khu vực Hà Nội cổ truyền
Hà Nội cổ truyền là một đơ thị “trong sơng”, khép mình sau đê sơng Hồng và căng sức hoạt động trên hai nhánh sơng Kim Ngưu, Tơ Lịch, đúng như dân gian mơ tả quy hoạch bất biến của nĩ: “Hổng Hà tây vit qua đồng! Kùm Ngưu Tơ Lịch là sơng bên này” Trong quá trình phát triển và biến đổi, tuy cũng cĩ lúc Hà Nội được mở rộng sang bờ Bắc sơng Hồng,
‘akurai Yumio gọi là “Hà Nội học cũ”
>ˆ GS/TS, Philippe Papin (Trường Cao học Thực hành Paris, Pháp) trong báo cáo Phương phúp tất cân nh nội dưng củn ngành Hà Nội học tại Hội thảo khoa học Hà Nội bọc: Phương phíp tiấp cin sử nội dung nghiên ciu ngày 24 thang 12 năm 2011 lại cho rằng Hà Nội học chủ yếu chỉ nên tập trung vào khu đơ thị cố truyền, vì chính nơi đĩ mới tạo nên các giá trị tiêu biếu và
Trang 14nhưng cho đến trước năm 1961, Hà Nội vẫn là một đô thị “trong sông” hoàn toàn đúng như cải tên Hà Nội (73) được chính thức đặt vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) Vì thể vòng thứ hai của đô thị Hà Nội cần được tính bao gồm cả đô thị cổ truyển ở trung tâm và vùng nông thôn ven đô (hay các làng xã thôn trại ở ngoại thành đang trong quá trình đô thị hoá thuộc các tỉnh Hà Nội, Hà Đông cũ), tức là cả vùng thành thị và nông, thôn nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đáy tính từ khu vực trung tâm
và ngược lên phía Bắc Hà Nội vòng thứ ba theo chúng tôi nên được tính
từ quy mô thành phố lần Hà Nội mở rộng năm 1961 ra cả 4 hướng Đông, 'Tây, Nam, Bắc, đặc biệt là sự mở rộng sang phía bên kia sông Hồng, phá
vỡ cái quy hoạch bất biến của một thành phổ “trong sông” Địa bàn Hà Nội có giai đoạn (1978-1991) được mở rộng đến cực đại, lại có giai đoạn (1991-2008) bị thu hẹp lại giống như 13 năm trước đó; rồi lại được mở rộng ra gần tương đương với giai đoạn mở rộng cực đại trước đây (tính
từ năm 2008 đến nay) Trong giai đoạn hiện nay, khu đô thị trung tâm của
Hà Nội không chỉ mở rộng trong phạm vi “truyền thống” ở “trong sông”
mà đang có hướng chuyển mạnh sang phía Bắc và phía Đông, hình thành
đại đô thị hai bên sông, giống như các đại đô thị hay các siêu đô thị hàng đầu trên thế giới
Vấn để được đặt ra là có hay không có một Hà Nội thống nhất, thuần nhất hay Hà Nội bao gồm vùng đô thị trung tâm và các tiểu vùng phụ cân; có những giá trị chung của toàn vùng Hà Nội và cũng có những đặc trưng riêng của mỗi tiểu vùng Chúng tôi nghiêng về quan niệm Hà Nội
có 3 vùng như 3 vòng tròn đồng tâm với các bán kính khác nhau, trong
đó vòng tròn nhỏ nhất ở trong cùng là vùng đồ thị cổ truyền, đô thị nhân
lõi, một Hà Nội nguyên gốc - trung tâm hội tụ và lan toa cdc gid tri cốt lõi của Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội “nơi lắng hồn núi
sông ngàn năm” Hà Nội vòng thứ hai ở giữa bao gồm các quận nội thành
Hà Nội, các đô thị vệ tinh và các làng xã ven đô đã đô thị hoá thuẩn thục nhưng vẫn còn nằm trong cơ cấu của các huyện ngoại thành và Hà Nội vòng thứ ba tương đương với phạm vi của thành phố Hà Nội được mở rộng từ năm 2008, bao gồm nhũng vùng đô thị lõi, đô thị thuẩn thục và
Trang 15Chương 1 Nhập môn Hà Nội học 17
rất mạnh, rất nhanh vào vòng xoáy của quá trình đô thị hoá của thành phổ - đồ thị trực thuộc trung ương đứng đầu đất nước và đứng vào hàng thứ 17 trên thế giới về diện tích và dân số
Như thế đổi tượng của Hà Nội học là tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trên toàn
bộ địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, trong đó chủ yếu dựa theo lịch sử phát triển đô thị mà phân ra thành địa bàn đô thị Thăng Long - Hà Nội cổ truyền, địa bàn đô thị Hà Nội thuần thục và địa bàn đô thị Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá
1.4 Phương pháp tiếp cận
Hà Nội học hiện đại đòi hỏi đứt khoát phải triển khai nghiên cứu tổng hợp, liên ngành, gắn với Khu vực học, nhưng vẫn triệt để khai thác lợi thế và sử dụng hiệu quả phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành (theo phương pháp của Hà Nội học truyền thống) Ở đây có vấn
để đặt ra là các phương pháp Liên ngành và Khu vực học và Khoa học phát triển chỉ có thể phát huy được lợi thế nếu như nó biết triệt để khai
` Năm 2015, kỉ niệm 70 năm Cách mang thang Tấm và Hà Nội trở thành Thủ đô nước Việt Nam Dan chủ Cộng hoà (nay là nước Công hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Thành phố Hà Nội phôi hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo Thú đổ Hà Nội: Thuyển ng, nguôn lực tĩ định hướng phát tiểu, có 48 báo cáo khoa học của 71 tắc giả lập trung nghiên cứu lrình bày các nguồn lực phát riển đô thị và định hướng phát triển Thủ đô Hà Nội, Hội nghĩ cũng nhất trí xác định nội dung trọng lâm và quan trọng nhât của Hà Nội học chính là nghiền cứu
và đào tao về đô thị Hà Nội Xem Nguyễn Quang Ngọc: Báo cáo để dẫn Hội thảo “Thủ đồ Hà Nội: Truyền thống, nguồn lực và định hướng phát triển” trong Thủ đồ Hà Nội: Truyển thống,
"tguôn lực, định hướng phút triểt, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015, tr 1822
đây có một số tác giả cũng chia đôi tượng nghiền cứu của Hà Nội học thành 3 lớp là
op khong giai lịch sử - săn hoá Thăng Long - Hà Nội tường ứng với địa giới hành chính của
Hà Nội trước tháng 8 năm 2008; lớp thứ hai là khổng giam bẩn oững cứu Thủ đó Hà Nội với địa giới hành chính được mở rộng vào năm 2008 và lớp thứ ba là không gian mừng Thủ đổ đang
có chủ trương xây dựng, nhưng chưa trở thành hiện thực Khi xác định phạm vi không gian, chúng tôi chú yếu dựa vào tiêu chí phát triển đô thị và đô thị hoá, tuy có tham khảo ở mức độ nhất định các đơn vị hành chính, nhưng hoàn toàn không có ý định đóng cứng vào pham vị của Thành phổ Hà Nội trước và sau tháng 8 năm 2008 Do đó, giữa chúng tôi và tác giả nêu trên tuy cùng chia 3 lớp không gian và cũng có lớp xét vẽ hình thức bể ngoài có về trùng nhau, nhưng trong thực tế có sự sai khác đáng kế Chúng tôi xin được nêu ra để cũng
Trang 16
thác tính cụ thể, chỉ tiết, khách quan và xác thực của đổi tượng nghiên
cứu chuyên ngành và khắc phục một cách hiệu quả những vách ngăn, rào chắn hạn chế tầm nhìn, cách nghĩ khi đang chìm sâu dưới “đáy giếng” hay len lỏi trong “ngõ ngách” quá hẹp của chuyên môn Trong nghiên cứu Hà Nội học, trước sau và bao giờ cũng rất cần “có tẩm nhìn hệ thống
và phương pháp biện chứng”
Các phương pháp cụ thể, tùy theo mỗi để tài, có thể bao gồm phương pháp tiếp cận Khu vực học; phương pháp tiếp cận Lịch sử; phương pháp tiếp cận Không gian di sản văn hoá; phương pháp tiếp cận Mỗi quan hệ giữa bảo tổn và phát triển; phương pháp tiếp cận Thông tin khu vực học; phương pháp Điều tra điển dã và phương pháp tổ chúc các hội thảo khoa học liên ngành
Từ chỗ quan niệm Hà Nội học là khoa học thuộc lĩnh vực Khu vực
học nên phương pháp tiếp cận chủ yếu phải là phương pháp chuyên ngành trong quan hệ tương hỗ đa ngành, liên ngành Có thể hình dung,
các khoa học được vận dụng nghiên cứu Hà Nội là Địa lí, Địa chất, Khí hau, Thuỷ văn, Môi trường sinh thái, Chính trị học, Luật học, Kinh tế học,
Lịch sử, Văn hoá học, Ngôn ngữ học, Văn học, Nghệ thuật, Giáo dục học,
Xã hội học, Tâm lí học, Dân số học, Nhân học, Tôn giáo học và ứng dung
Công nghệ thông tin
Những khoa học nêu trên vừa cung cấp các phương pháp tiếp cận
trong hoạt động nghiên cứu chung, vừa có tư cách chủ thể nghiên cứu
riêng biệt Hà Nội học có nhiệm vụ tổng hợp, tổng hoà các kết quả nghiên cứu, khái quát thành những nguồn lực tự nhiên, nguồn lục lịch sử, văn hoá truyền thống để phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo,
xây dựng con người, đảm bảo quốc phòng, an ninh, mở rộng hoạt động đổi ngoại, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị”
rần Ngọc Hiên, Nội dung từ phương pháp phân tích tác động củu bit enh trong mước
tử quất lỡ đãi tới quả lrình phát triển của Thú đã Hà Nội, trang Hội thảo khoa học Hã Nội học: Phương pháp tiếp cân từ nội dưng nghiền cứu, Hà Nội ngày 24 thang 12 năm 2011
PGS.TS Phạm Xuân Hằng, Một số tgp cin Ha Nội lọc, trong Hội tháo khoa học Hà Nội
Trang 17Chương 1 Nhập môn Hà Nội học 19
1.5.0 sở dữ liệu
“Có bột mới gột nên hổ”, “bột” là chất liệu quyết định “hổ” có thực
là “hổ” hay không Nếu xem Hà Nội học như là “hổ” thi cơ sở dữ liệu chính là hay có vai trò như là “bột” vậy:
PGS.TS, Nguyễn Thừa Hỷ để xuất: “Muối đi tới những luận điểm khái quát mang tính kho học tà thuyệt phục cao, nhà nghiên cứu Hà Nội học cẩn trang bị cho riêng mình một kho tàng tư liệu nhiều nguân, liên ngành, phong phú đu dạng tà tốt nhất là những tư liệu gốc điương thời, chưa c
lí cà phân tích tư liệu cũng nên theo một quy trình khoa học Trong một đống
lận xôn những tư liệu nhiều khi là mâu thuẫn, tương phản nhau, câu tìm được đâu là xu thể chi dạo, phổ quát, tí
không phải là tuỳ tiện nhặt ra rỗi phóng đại lên một số chỉ tiệt có lợi cho tiệc chứng mình những kết luận sẵn có chủ ý trong tr duy nhận thức của mình",
biến Việc xứ
đổi tiệc phản ánh bản chất thực
Có thể hình dung tư liệu về Hà Nội là vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó quý giá hơn cả và đặc biệt nhất là những tư liệu nguyên gốc phản ánh từ hoạt động của các Vương triểu, các Nhà nước, các thể chế chính trị, cho đến đời sống dân sự của người dân Thăng Long - Hà Nội từ thuở định đô Thăng Long cho đến nay Đó là các loại thư tịch cố (mà một phần đã được tập hợp trong bộ Tự liệu Vấn hiếï: Thăng Long); các
tu liệu văn kiện của Nhà nước, bộ Châu bản triểu Nguyễn, các công văn, giấy tờ, văn bản hành chính của các triểu đại, thể chế chính trị tại Hà Nội Nguồn tư liệu lưu trữ trong các kho lưu trữ trung ương, Hà Nội, trong, nước và nhiều nước trên thế giới; nguồn tư liệu trong các thư viện, trong, các tủ sách, các bộ sưu tập ở Hà Nội, ở trong nước và nước ngoài, Nguồn
chất, hiện vật đã được sưu tập trong các bảo tàng hay được lưu giữ tại các di tích lịch sử - văn hoá tại Hà Nội, trong các phố phường, thôn xóm và các gia đình, dòng họ Tư liệu trong dân gian, văn hoá, văn học, nghệ thuật dân gian, tư liệu đặc chủng của các ngành Địa lí, Môi trường
'PGSTS Nguyễn Thừa Hý, “Suy nghĩ về kinh tế - xã hội Thăng Long - Hà Nội hôm qua, hôm nay và ngày mai” trong Hội thảo khoa học Hà Nội học: Phương pháp tiếp côn tả nội dưng nghiên cứu ngày 24 tháng 12 nam 2011 Tác giả là chuyên gia Lịch sử - Văn hoá - Xã hội, chuyên tâm nghiên cứu về Hà Nội và đã được tặng Giải thưởng Nhà nước cho công trình
Trang 18sinh thái, Khảo cổ học, Lịch sử, Văn hoá, Kinh tế, Xã hội vể Hà Nội hay
có liên quan đến Hà Nội
Có thể kể ra dưới đây một số bộ tư liệu đã được phân tích, tổng hợp, đánh giá, phân loại và trình bày một cách hệ thống theo các nội dung/ vấn
để thuộc Hà Nội học hay có liên quan đến Hà Nội học
Trong thập kỉ đầu thé ki XI, Hà Nội đã xuất bản bộ Bách khoa thie
Hà Nội (trên địa bàn Hà Nội trước năm 2008) 18 tập với trên 7.000 trang
in, gồm Lịch sử (tập 1), Địa lí (tập 1D), Chính trị (tập HD, Luật pháp (tập 1V),
Kinh tế (tập V), Khoa hoc va Công nghệ (tập VI), Khoa học xã hội nà nhân păn
(tập VID, Giáo đục (tập VID), Y !ế (tập IX), Văn học (tập X), Tiếng Hà Nội (tập XD), Nghệ thuật (tập XU), Thong tin xuất bản (tập XI), Di tích - Bảo tùng
(tập XIV), Du lịch (tập XV), Tín ngưỡng - Tôn giáo (tập XVI), Phong tục -
Lễ hội (tập XVID, Thể đục - Thể thao (tập XVI) Bước vào thập kỉ thứ hai của thế kỉ XXI, Hà Nội lại triển khai Bách khoa thie Hà Nội phẩn mở rộng 14 tập đến nay Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã hoàn thành khâu biên tập xuất bản: Địa lí (tập D), Lịch sử - Chính trị~ Pháp luật (tập II), Kinh tế (tập II), Khoa học oà Công nghệ (tập 1V), Khoa học xã hội tà nhân ăn (tập V), Giáo dực
(tập VD), Văn học (tập VID, Nghệ thuật (tap VIM), Du lịch (tập IX), Tín ngưỡng
~ Tôn giáo (tập X), Phong tục - Lễ hội (tập XD), Di tích - Bảo ting (tap XI), t£(tập XID, Thể dục - Thể thao (tập XIV)
Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX09 Phát huự tiềm lực tự nhiên,
kinh tế, xã hội nà giá trị lịch sử - ăn hoá, phát triển bên oững Thủ đô Hà Nội đốn năm 2020 đã hoàn thành các để tài nghiên cứu và tổng kết một thiên niên kí xây dựng và bảo vệ Thăng Long - Hà Nội Nhà xuất bản Hà Nội năm 2010 đã xuất bản 11 tập sách của Chương trình bao gồm: “Tập thú: nhất giới thiệu tổng quan môi trường địa lí tự nhiên - một không gian oật chất,
nơi người Thăng Long - Hà Nội, thế hệ tiếp nổi thế hộ, lao động tranh đấu không
một mỗi để sắng tạo nên một kinh đô - thủ đô ngần năm Chín tập tiếp theo, lập trung phân tích đánh gid, tong kết những nét đặc sắc, những giá trị lịch sử - năn
hoá nổi bật trên những tink owe hoạt động chủ yếu, chung đúc thành trí tué,
ich,
khí phách của Thăng Long - Ha Noi van hiển, anh hùng Tập cuôi của
Trang 19Chương 1 Nhập môn Hà Nội học 21
ới phân tích tình hình hiện nay, dye báo chặng đường sắp tới, để xuất phương
hướng phát triển bền oững Thủ đô trong một tài thập niền đâu thế kỉ XXT"!
Tủ sách Thăng Long ngàn năm tăn hiển đã xuất bản trên 100 đầu sách thuộc các mảng Địa lí, Lịch sử, Kinh tế, Văn hoá - xã hội, Văn học - nghệ thuật,
Tự liệu - tổng hợp
Chương trình điểu tra su lầm van hich Thang Long giai đoạn ï (tính cho đến năm 2010) đã tập hợp được hơn 40/000 trang tư liệu và 6.014 công, trình nghiên cúu của 2.962 tác giả, tổ chúc dịch, nghiên cứu, hệ thống và giới thiệu trong 3 bộ thư mục để yếu và 26 tuyển tập tư liệu văn hiến về Thăng Long - Hà Nội Trên cơ sở những thành quả này, Hà Nội quyết định triển khai giai đoạn II (bắt đầu từ năm 2014) mở rộng điểu tra tap hợp tư liệu, xây dựng,
triển khai biên soạn các bộ sách công cụ, từ điển, xây dựng thư viện điện
tử tổng thể về Hà Nội
dữ liệu chung cho toàn bộ khu vực Hà Nội và
Trong quả trình chuẩn bị tiến tới ki niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Nhà xuất bán Văn hoá Thông tin và Thời báo Kinh tế năm 2007 đã xuất bản bộ Tổng tập nghìn năm ăn hiển Thăng Long gồm 4 tập được chia ra thành 28 phẩn, với trên 8000 trang in cỡ lớn, không chỉ là bộ sách lớn nhật
trong toàn bộ lịch s
một nguồn thông tin tư liệu đặc biệt phong phú và đổ sộ thuộc hẩu hết các lĩnh vục giúp cho người quan tâm tiếp cận tư liệu Hà Nội học một cách toàn diện để có thể làm cơ sở triển khai nghiên cúu liên ngành
xuất bản sách Việt Nam mà còn là bộ sách cung cấp
1.6 Về nội dung nghiên cứu, đào tạo
Hà lên đại không chỉ tập trung vào các chương trình nghiên cứu đây đủ và tổng thể toàn bộ không gian lịch sử - văn hoá Thăng Long -
Hà Nội, mà còn đặt ra yêu cầu rất cao cho những nghiên cứu về từng lĩnh
vực, từng địa phương cụ thể, với một yêu cẩu dứt khoát các để tài khoa học này phải đặt trong các mối tương quan chung với yêu cẩu rất chặt chẽ của phương pháp liên ngành Có thể nêu lên một số nội dung chủ yếu của
học
Hà Nội học trong một vài thập ki tới:
'_ Lời giới thiệu bộ sách của GS.TS Phùng Hữu Phú, Chủ nhiệm chương trình khoa học cấp;
Trang 20- VỊ Hhế địa lí sà tài nguyên thiên nhiên Hà Nội: Giới thiệu khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái; địa lí hành chính và có để cập đến ở mức độ nhất định địa lí các ngành
phân hoá lãnh thổ kinh tế, Trên cơ sở đó đưa ra nhận xét và đánh giá về tổng quát nguồn tài nguyên vị thế - một nguồn tài nguyên
đặc nổi bật, “làm cho các tài nguyên von có khác của Hà Nội, cả oỂ tự
nhiên, kinh
đều có thêm giá trị gia tăng"! - cắt nghĩa vì sao Thang
Long - Hà Nội lại trở thành kinh đô “mãi muôn đời” của đất nước
~ Dân cứ pà người Hà Nội: Nói đến người Hà Nội không thể không nói đến quá trình tụ cư, hình thành cộng đồng cư dân với những phẩm chât
và tính cách đặc trưng của người Thăng Long - Hà Nội Lâu nay các công trình nghiên cứu thường quan tâm đến nét đẹp thanh lịch, văn minh và
đó như phẩm chất vốn có của người Hà Nội, mà bỏ qua những hạn chế, những œ yếu khó tránh khỏi của khối cộng đồng cư dân nông nghiệp trồng lứa nước từ bốn phương tụ hội Hà Nội học, xét
cho cùng, là môn học nghiên cứu vể người Hà Nội trong môi trường tự
nhiên, xã hội, trong cuộc sống làm ăn và đánh giặc của cộng đồng dân
cu luôn ở vị trí đầu não nắm giữ vận mệnh của đất nước, nên nội dung này cẩn được đặc biệt quan tâm, trình bày một cách đẩy đủ các mặt của vấn để
- Đặc trưng lịch sử Thăng Long - Hà Nội: Lịch sử Thăng Long - Hà Nội có thể được hình dung giống như nhân lõi của toàn bộ lịch sử đất nước Có sự kiện lịch sử trọng đại nào của đất nước hơn nghìn năm qua
lại không được quyết
tới đây Vì thế để tránh trở thành một cuốn lịch sử Việt Nam giản lược, chúng tôi chỉ trình bày những dấu ẩn lịch sử tiêu biểu và những giá trị lịch sử đặc trưng nhất chia ra theo 4 thời kì: Tiển Thăng Long (trước thế
ki XD); Thăng Long (từ thế ki XI đến giữa thế kỉ XIX); Hà Nội thời Nguyễn (từ giữa thế ki XIX đến năm 1945) và Thủ đô Hà Nội từ 1945 đến nay
khai mở ở đây và tác động mạnh mẽ
- Di sin van hoá Thăng Long - Hà Nội: Văn hoá Thăng Long - Hà Nội
có giá trị hội tụ, kết tinh, lan toa rat mạnh Vấn để giao lưu, giao thoa,
Nguyễn Viết Thịnh, “Vị trí địa ỉ và ài nguyên vị thế của Thủ đô Hà Nội”, trong Thủ đồ
Trang 21Chương 1 Nhập mơn Hà Nội học 23
tiếp biển và phục hưng các giá trị văn hố truyền thống Thăng Long -
Hà Nội trong thời cận - hiện đại Đặc biệt, các nội dung chính yếu này được kết tính lại trong các di san văn hố (vật thể, phi vật thê) của Thăng Long - Hà Nội Trên khắp đất nước Việt Nam khơng cĩ địa phương nào hội được một khối lượng rất lớn với các di sản văn hố tiêu biểu đại diện
chung của nhân loại, của quốc gia như ở Hà Nội Dĩ sản văn hố Thăng Long - Hà Nội là nguổn tài nguyên du lịch quan trọng nhất và nguồn lực hàng đầu cho phát triển bền vững Thủ đơ, cần phải được nghiên cứu
và khai thác một cách khoa học và hiệu quả Vì thế, trách nhiệm bảo tổn
và phát huy giá trị di sản văn hố Thăng Long - Hà Nội càng ngày càng đặt ra cho Hà Nội trách nhiệm nặng nể và khĩ khăn hơn bất cứ một địa phương nào của Việt Nam
- Dé thj va dé thj hod nơng thơn Hà Nội: Hà Nội vốn là đơ thị trung đại
đặc trưng nhất của Việt Nam nên trình bày của chúng tơi bắt đầu từ đơ thị Thăng Long - Hà Nội cổ truyền, rồi chuyển sang đơ thị Hà Nội thỏi
cận đại và hiện đại Làng xã ở đây cũng mang những nét tiêu biểu của
¡ diện chung của
cả nước Đây cũng là vùng nơng thơn cĩ quan hệ đối thoại thường xuyên
và trực tiếp với đơ thị trung tâm, nên quá trình đơ thị hố điễn ra sớm và
liên tục hơn nhiều vùng nơng thơn khác Quy hoạch đơ thị, nơng thơn và
mơ hình tổ chức, quản lí Thành phố Hà Nội với tư cách là thành phố trực thuộc trung ương cũng cĩ rất nhiều nét đặc thù Định hướng phát triển Thủ đơ Hà Nội, mơ hình phát triển bển vững Thành phố Hà Nội cũng như các nguồn lực phát triển Thủ đơ Hà Nội cũng sẽ được để cập đến và bàn thảo trong phẩn giới thiệu này
~ Những thành tựu tiêu biểu của Hà Nội: Chúng tơi sẽ cố gắng trình bày một cách khai quát nhất những thành tựu cơ bản của Hà Nội trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hố, giáo dục, đối ngoại tính từ sau năm 1986 cho đến nay Cĩ thể coi đây là bước nhảy vọt về chất để “phát triển Thủ đơ
Hà Nội xứng đáng véi oai trị là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn tổ oăn hoú, khoa học giáo dục, kinh tế tà giao dich quốc tế; một động hực
phát triển của óng đồng bằng sơng Hồng tà cả nước ”'
Trang 22Ngoài ra còn cỏ thể tổ hợp triển khai các dé tài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực kinh tế- xã hội; văn hoá, di sản văn hoả và các tiểu vùng văn hoá; nghiên cứu thiên nhiên và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên; nghiên cứu địa lí tự nhiên và môi trường sinh thái; nghiên cứu Hà Nội cổi truyền và các vùng mở rộng; nghiên cứu đặc trưng đô thị, quá trình đô
thị hoá, các vùng nông thôn ven đô, ngoại thành; nghiên cứu các nguồn
lực tự nhiên, chính sách, khoa học công nghệ và con người phục vụ phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội
1.7.Họcliệu
Hà Nội học là một bộ phận của Khu oực học thuộc phạm trù Khoa học
xã hội nà nhân zăn nên người quan tâm đến Hà Nội học không thể không
trang bị cho mình những hiểu biết chung hết súc cẩn thiết về không gian lịch sử - văn hoá đặc biệt có một không hai này Dưới đây chúng tôi
chỉ xin giới thiệu 10 cuốn sách làm tài liệu tham khảo ban đầu để người đọc có cơ sở đĩ sâu tìm hiểu những nội dung cụ thể và chuyên sâu của
Hà Nội học:
1 LêXuânTùng (Tổng Chủ
2010
n), Bách khoa thu Hà Nội (18 tập), Nxb Thời đại,
2 Nguyễn Quang Ngọc (Chủ trì), Phát triển bổn oững Thủ đồ Hà Nội, Nxb
Hà Nội, 2012
3 Nguyễn Viết Thịnh (Chủ biên), Địa lí Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2018
4 Pham Tất Dong, Những phẩu chất nhân cách đặc trưng của người Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2010
5 Phan Huy Lê (Chủ biên), Lịch sử Thăng Long - Hà
Hà Nội, 2011
6 Phùng Hữu Phú (Chủ biên), Phát huy tiêm lực tự nhiên, kinh tớ; xã hội ot
- năm hoá phát triển bên ong Thủ đô Hà Nội đến năm 2020,
2010
7 Thành uỷ - HĐND - UBND - UBMTTOVN thành phố Hà Nội, 60 năm: giải phóng Thủ đô: Thành tựu, thời cơ, thách thức tà phát triển, Nxb Chính trị
ï, TI&T2, Nxb
Trang 23Chương 1 Nhập môn Hà Nội học 25
8 Thanh uy - HĐND - UBND - ƯBMTTOVN Thành phố Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Thủ đô Hà Nội Truyền thổng, nguồn lực, định hướng phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, 2015
9 - Trấn Quốc Vượng, Đấi thiêng ngàn nam van vét, Nxb Ha N6i, 2010
10 Vũ Văn Quân, Đỗ Thị Hương Thảo (Đồng Chủ biên), Thăng Long - Hà Nị Thư mục công trình nghiền cứu, Nxb Hà Nội, 2010
2 Đối tượng và nội dung chính yếu của Hà Nội học?
Trang 24VỊ THẾ ĐỊA LÍ VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN HÀ NỘI
2.1 Địa lí hành chính
2.1.1 Vtrí địa lí
Thanh phé Ha Nội nằm ở toạ độ địa lí từ 21°23'9” (xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn) đến 20'33/56” (xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức); từ 105°16'58” (xã 'Thuẩn Mĩ, huyện Ba Vì) đến 10816” (xã Lệ Chỉ, huyện Gia Lâm), có diện tích tự nhiên' 3324 km? Lãnh thổ Hà Nội trải dài theo chiều Bắc - Nam khoảng 91 km, theo chiểu Tây - Đông khoảng 77 km Phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Thái Nguyên Phía Tây - Bắc giáp tỉnh Phú Thọ Phía Tây - Nam giáp tỉnh Hoà Bình Phía Đông - Bắc giáp hai tỉnh Bắc Giang
và Bắc Ninh Phía Đông Nam giáp tính Hưng Yên và phía Nam giáp tỉnh
Hà Nam
Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, có 2 khối núi trung bình
là núi Sóc ở phía Bắc và núi Ba Vì ở phía Tây Sông Hồng là con sông chính chảy qua thành phố Hà Nội từ đỉnh phía Tây Bắc qua phía Đông Nam
đi vòng qua phía Bắc sang phía Đông khu vục trung tâm nội thành Một phẩn sông Đà trước khi đổ vào sông Hồng là ranh giới tự nhiên giữa Hà Nội và Phú Thọ Sông Hồng có những đoạn là ranh giới tự nhiên giữa Hà Nội với các tinh Phú Thọ, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hưng Yên ở phía Đông
Trang 25Chương 2 \ịthế đa (vẻ tài nguyên thiên nhiên Hà Nội 27
Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương,
Hà Nam và Hoà Bình) là các đô thị vệ tỉnh, thì vùng Thủ đồ Hà Nội thực
sự là một chùm đô thị có sức mạnh vượt trội cả về vị thế địa chính trị, địa kinh tế Thành phố Hà Nội là một “đỉnh” của tam giác trọng điểm phía
Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, sau này phát triển thành vùng,
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh
2.1.2 (ác đơn vị hành chính
Tính đến 2014, thành phố Hà Nội có 30 quận/ huyện/ thị xã, trong
đó nội thành gồm 12 quận, ngoại thành gồm thị xã Sơn Tây và 17 huyện 'Toàn thành phố gồm 584 đơn vị hành chính cấp xã/ phường/ thị trấn (bao gồm 177 phường, 386 xã và 21 thị trấn)
Bang 2.1: Danh sách các đơn vị hành chính cấp quận/ huyện thuộc Hà Nội
4 [Quin Lona Bien phường 37190
5 [avin cu cay 03 phường 260643
6 — |thửnĐốngba 21 phường 41017
7 [Quin a Ba Tung 20phường 37006
$ — [Quin Hoang Mai 14phường 380509
9 [in thant Xuan TIphường 223.694
10 [Quin Ding 17phường 260.136
Trang 27Chương 3 Vịthế địa ívà tài nguyên thiên nhiên Hà Nội 29
Lần mở rộng địa giới hành chính Thành phố Hà Nội năm 2008 trả lại cho Hà Nội gần như toàn bộ diện tích tự nhiên của Hà Nội thời kì 1979-1990 (trừ một phẩn huyện Mê Linh trước đây được tách ra để thành
lập Thị xã Phúc Yên, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc; xã Tân Đức huyện Ba
Vì chuyển về Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ), cộng thêm diện tích tự nhiên của các huyện, thị nửa phía Nam tính Hà Tây lúc bấy giờ (thành phố Hà Đông, các huyện Quốc Oai, Chương Mĩ, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hoà và Mĩ Đức) và 4 xã của huyện Lương Sơn Sự mỡ rộng này, đã thay đổi căn bản vị trí địa lí và tài nguyên của Hà Nội sơ với thời kì trước đó,
2.1.3 Sự thay đổi địa lí hành chính của Hà Nội trong lịch sử
Để có được diện mạo thành phố Hà Nội ngày nay, trong lịch sử đặc biệt là trong thế kỉ XX và đấu thế ki XI đã có rất nhiều lần Hà Nội thay đổi địa giới hành chính
Giai đoạn trước 1954:
Theo sách Đ↠mước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, thì vào
thời Hán, vùng Hà Nội mở rộng thuộc các huyện Mê Linh, Chu Diên và một phẩn huyện Liên Lâu
Kinh thành Thăng Long vào thời phong kiến trước năm 1831 có phạm vi tương đương với 4 quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa ngày nay Từ sau cải cách hành chính của Minh Mệnh với việc chia cả nước thành 29 tỉnh, tỉnh Hà Nội được giới hạn bởi sông Hồng (ở phía Bắc và phía Đông) và sông Đáy (ở phía Tây và phía Nam) Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đúc của trấn Sơn Tây, và ba phủ
Ứng Hoà, Thường Tín, Lí Nhân của trấn Sơn Nam Phủ Hoài Đức gồm 3
huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm Phủ Thường Tín gồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên Phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện: Sơn Minh, Hoài An, Chương Đức Phủ Lí Nhân gồm 5 huyện: Nam Xang, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục
Năm 1888, vua Đồng Khánh ra chỉ dụ cắt phẩn lớn đất huyện Thọ Xương và huyện Vĩnh Thuận cho Pháp làm nhượng địa Ngày 18-7-1888,
Trang 28địa của hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận được sáp nhập làm huyện Ham Long Nam 1889, thành lập ngoại thành Hà Nội gồm một số xã của các huyện Vĩnh Thuận, Thọ Xương, Từ Liêm và Thanh Trì
Năm 1890 tách phủ Lí Nhân thành lập tỉnh Hà Nam và đến năm
1902 thành lập tỉnh Cầu Đơ bao gồm phần còn lại của tỉnh Hà Nội trước
đó, Lúc này thành phố Hà Nội là địa danh duy nhất mang tên Hà Nị Nam 1904, tỉnh Cầu Đơ được đổi thành tỉnh Hà Đông Tỉnh Hà Đông thời thuộc Pháp gồm thị xã Hà Đông, các phủ Hoài Đức, Mĩ Đúc, Ứng Hoà; các huyện Chương Mĩ, Đan Phượng, Thanh Trì, Thường Tin, Phú Xuyên, Thanh Oai
Cho đến năm 1954, Hà Nội có phẩn nội thành không mở rộng sơ với nội thành cuối thếki XIX, khi vua Đồng Khánh ra chỉ dụ cắt thành Hà Nội làm nhượng địa cho Pháp (1888) Phần ngoại thành (Đại lí Hoàn Long) chỉ bao quanh phía Bắc đến hết Hồ Tây, phía Tây đọc theo sông Tô Lịch, phía Nam đến Hoàng Mai, Vĩnh Tuy (nay thuộc quận Hoàng Mai)
Trang 29Chương 3 (thế đa ÌÍvà tài nguyên thiên nhiên Hà Hồi 31
Hình 2.3: Bản đồ Hà Nội năm 1955 Hình 2.4: Bản đổ Hà Nội thời kì 1961-1978
Nguồn: Trương Quang Hải, Atlat Thông Long Hà Nội 2010
1979-1990 và 1990-1995
Trang 30Từ năm 1961 đốn năm 1978:
Năm 1961, theo Nghị quyết của Quốc hội khoá II ngày 20-4-1961,
Hà Nội mở rộng lần thứ nhất, với việc sáp nhập 18 xã, 6 thôn và 1 thị trấn thuộc tỉnh Hà Đông, 29 xã và thị trấn thuộc tỉnh Bắc Ninh, 17 xã và một nửa thôn của tỉnh Vĩnh Phúc và 1 xã thuộc tỉnh Hưng Yên Sau đó,
theo Quyết định số 78/QÐ ngày 31-5-1961 của Hội đồng Chính phủ chia
thành phố Hà Nội thành lập 4 khu phố nội thành là khu phố Ba Đình, khu phổ Hoàn Kiếm, khu phố Hai Bà, khu phố Đống Đa;4 huyện ngoại thành là huyện Tù
Đông Anh iêm, huyện Thanh Trì, huyện Gia Lâm và huyện
Từ 1979 đến 1991:
Quốc hội khoá 6, kì họp thứ 4 (29-12-1978) đã ra Nghị quyết phê chuẩn việc sắp nhập một số huyện, thị xã, xã và thị trấn sau đây của tỉnh
Hà Sơn Bình và Vĩnh Phú vào thành phố Hà Nội
Tỉnh Hà Sơn Bình gồm các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức, thị xã Sơn Tây và thị xã Hà Đông, xã Tiến Phương, xã Phụng Châu, phần bắc đường số 6 thuộc xã Ngọc Hoà và xã Ngọc Sơn của
huyện Chương Mĩ, xã Hữu Hoà và phẩn bắc đường số 6 thuộc xã Phú Lâm
của huyện Thanh Oai, các xã Liên Minh, Việt Hưng, Thanh Hưng, Đại Thanh của huyện Thường Tín, các xã Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp, Công Hoà, Tân Hoà, Tân Phúc va Đại Thành của huyện Quốc Oai
Tỉnh Vĩnh Phú gồm huyện Sóc Sơn, các xã Chu Phan, Đại Thịnh, Liên Mạc, Mê Linh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiển Châu, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tự Lập, Tráng Việt, Hoàng Kim, Văn Khê, Vạn Yên, Quang Minh, Kim Hoa, và thị trấn Phúc Yên thuộc huyện Mê Linh Thị xã Hà Đông vẫn được giữ lại là tỉnh Ij cua tinh Ha Son Binh, Ngày 17-2-1979, Hội đồng Chính phủ có Quyết định sỡ 49-CP về việc điểu chỉnh địa giới một số xã, thị trấn của các huyện Sóc Sơn, Mê Linh, Hoài Đức, Phúc Thọ, Thanh Trì thuộc thành phố Hà Nội
Về tổ chức địa lí hành chính, vào năm 1981, các khu phố nội thành chính thức đổi thành quận, đơn vị hành chính cơ sở là phường (tương,
Trang 31Chương 2 \ịthế đa (vẻ tài nguyên thiên nhiên Hà Nội 33
Từ tháng 9-1992 đến tháng 7-2008:
Cuộc điều chỉnh địa giới tháng 12-1978 mở rộng Hà Nội gấp 14 lần
so với năm 1955, gấp 3,6 lần năm 1961 Trong điều kiện kinh tế - xã hội
có nhiều khó khăn ở thập niên 1980, một vùng ngoại thành rộng lớn làm phân tán đầu tư (cho cả vùng thành thị và vùng nông thôn), giảm hiệu
quả quản lí, Chính vì thế, theo Nghị quyết của Quốc hội ngày 12-8-1991,
Hà Nội lại được điều chỉnh địa giới, với việc chuyển huyện Mê Linh của thành phố Hà Nội về tinh Vĩnh Phú; chuyển thị xã Sơn Tây và 5 huyện: Hoài Dức, Phúc Thọ, Dan Phượng, Ba Vì, Thạch Thất của thành phố Hà Nội về tỉnh Hà Tây Như vậy là từ cuối năm 1991, Hà Nội có 5 huyện ngoại thành là Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh và Sóc Sơn
Trong thời gian từ 1991 đến trước 1-8-2008, có một số điểu chỉnh địa giới hành chính, liên quan chủ yếu đếu việc thành lập các quận mới, mở rộng nội thành
Quận Tây Hồ được thành lập theo Nghị định sỡ 69/CP ngày 28-10-1995
Quận Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định số 74-CP ngày 22-11-1996
Quận Cẩu Giấy được thành lập theo Nghị định số74-CP ngày 22-11-1996 Quận Long Biên được thành lập theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 6-11-2003
Quận Hoàng Mai được thành lập theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 6-11-2003
Hà Nội mở rộng từ 1-8-2009:
Ngày 29-5-2008, Quốc hội khoá 12, kì họp thứ 3 đã ra Nghị quyết số
14/2008/QH12, theo đó, chuyển xã Tân Dúc thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây
về thành phố
Củng ngày, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 15/2008/NQ-QHI2 điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan, theo dé:
- Hop nhat toan bộ diện tích tự nhiên là và dan ủa tỉnh Hà Tây vào.
Trang 32~ Chuyển toàn bộ huyện Mê Linh tinh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội;
~ Chuyển toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số hiện tại của 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình về thành phố Hà Nội
Đây là lần mở rộng dia giới hành chính thành phố Hà Nội lớn nhất từ trước đến nay
Theo Nghị quyết 15/2008/NQ-QH12, sau khi điểu chỉnh địa giới
hành chính, thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên là 334.470,02 ha và dân số hiện tại là 6.232.940 người, bao gồm diện tích tự nhiên và dân số hiện tại của các quận Hoàn Kiểm, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Tây
Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên, Thanh Xuân, các huyện Đông
Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn, Gia Lâm, Thanh Trì, Ba Vì, Chương Mĩ, Dan
Phượng, Hoài Đức, Mĩ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hoà, Mê Linh, các thành phố Hà Đông, Sơn Tây và các xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung Ngày 8-5-2009, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 19/NQ-CP chuyển
4 xã thuộc huyện Lương Sơn về Hà Nội, trong đỏ xã Đông Xuân thuộc huyện Quốc Oai; các xã Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Thạch Thất Thành phố Hà Đông trở thành quận Hà Đông Thị xã Sơn Tây sau một thời gian ngắn được nâng cấp lên thành phố, nay được xếp trở lại thị xã Sơn Tây như trước đây
Ngày 27-12-2013, Chính phủ ra Nghị quyết s6'132/NQ-CP vé việc diéu chỉnh địa giới hành chính huy
thuộc thành phố Hà Nội
'Từ Liêm để thành lập 2 quận và 23 phường
- Quận Bắc Từ Liêm được thành lập, gồm Thượng Cát, Liên Mạc,
‘Thuy Phương, Minh Khai, Tây Tưu, Đông Ngạc, Đức Thắng, Xuân Dinh,
Xuân Tảo, Cổ Nhuế 1, Cổ Nhuế2, Phúc Diễn, Phú Diễn
~ Quận Nam Từ Liêm được thành lập, gồm Trung Văn, Dại Mỗ, Tây
Mỗ, Mễ Trì, Phú Đô, Mĩ Đình 1, Mĩ Đình 2, Cẩu Diễn, Phương Canh,
Trang 33hương 2 \ thế địa lí và tài nguyên thiên nhiên Hà Nội 35
Hình 2.6: Bản đồ Hà Nội từ năm 2008
Ngudn: Atlat Thing Long - Hà Nội
2.2 Tai nguyén thién nhiên
2.2.1 Tài nguyên khoáng sản
Khoảng sản của thành phố Hà Nội tương đối phong phú về chủng loại Tuy có một sổ khoảng sản kim loại, nhưng hạn chế về trữ lượng ít có giá trị thực tế để khai thác Phong phú nhất là vật liệu xây dựng, như cát,
Trang 34Nhiên liệu:
Than đá: Khoáng sản nhiên liệu của thành phố Hà Nội có than đá với điểm khoáng sản Ninh Sơn, tuổi Permi muộn Nhìn chung, than có chất lượng thấp, ít giá tri công nghiệp Trước đây, dân địa phương đã khai thác than bằng phương pháp thủ công, hiện nay điểm than đá Ninh Sơn
Khoáng sản công nghiệp:
Pyrit: Pyrit gặp ở 2 mỏ khoáng: Ba Trại, Minh Quang, cùng các biểu
hiện khoáng sản đổng (Cu) ở nông trường Phú Mãn và Ba Vi
Kaolin: Kaolin là sản phẩm phong hoá từ các ổ mạch pegmatit và đá trầm tích phun trào acit Các mỏ kaolin đều có quy mô nhỏ, có chất lượng tốt đến trung bình, dùng để sản xuất gốm sứ Đến nay, ở Hà Nội đã phát hiện, tìm kiểm và đánh giá 12 mỏ và điểm khoáng sản kaolin điển hình là
Ba Trại, Thủ Trung, Mĩ Khê, Vị Nhuế và Thái Học
Asbest: Asbest phân bố xung quanh núi Ba Vì Hiện nay đã tìm kiếm đánh giá 3 mỏ: Khu Mon (57.000 tẩn), Khu Quýt (31.944 tấn), Đồng Chang (855 tấn) và 1 điểm khoáng sản: Lố Ngố Tổng trữ lượng khoảng 76.830 tấn
Vật liệu xây dựng:
Cuội sỏi: Thuộc loại khoáng sản này có 2 điểm không lón là cuội sỏi Xóm Ban (567.500m!) và Trung Hà (750.000m)) Các tài liệu cho thay cuội sỏi có thể sử dụng cho xây dựng nhà cửa, cầu cống Cuội sỏi trong,
hệ tầng Hà Nội có chất lượng tốt, điểu kiện khai thác dễ dàng và giao
Trang 35Chương 2 Vịthể địa lívà tài nguyên thiên nhiên Hà Nội 37
Hình 2.7: Bản đồ địa chất và khoáng sản thành phố Hà Nội
Nguồn: Ngô Quang Toàn
Cắt xây dựng: Cát xây dựng qui mô nhỏ có các điểm Nhật Tân, Phù Đống và Phù Lỗ, Cát xây dựng phân bố trên bãi bổi các sông lớn như sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lổ Nguồn cát xây dựng ở các bãi bổi khoảng 75 triệu mở chỉ đáp ứng được một số năm trước mắt, nên trong khai thác cẩn phải có quy hoạch và quy định chặt để bảo vệ môi trường
Sét gạch ngói: Sét gạch ngói là khoáng sản khá phổ biển trên địa bàn
Trang 36Chúng được phân bổ chủ yếu ở phía Đông Bắc, Đông và Đông Nam thành phố thuộc địa hình đồng bằng Hiện đã khảo sắt đánh giá 5 mỏ gồm: Sơn Tây,
Mĩ Đúc, Chúc Sơn, Đa Sỹ, Vân Đình Nhìn chung, các mỏ đều có chất lượng, đạt yêu cầu làm gạch ngói, chủ yếu phục vụ như cầu xây dựng của Thủ đồ Bột màu: Bột màu tự nhiên màu vàng có điểm Ninh Sơn, xã Phụng Chau, huyện Chương Mĩ, với trữ lượng khoảng 1,3 triệu tấn
Puzlan: Puzlan là loại phụ gia phục vụ sản xuất xi măng Hiện nay
đã đăng kí có mỏ puzlan Sơn Tây (trữ lượng 27/7 triệu tấn) và điểm
khoáng sản Thanh Thắc (500.000 tấn)
Đá bazan: hiện mới đăng kí được 2 mỏ đá Núi Voi và Đồng Vỡ đều
ở xã Phú Mãn, thuộc huyện Quốc Oai, trữ lượng trên 25,8 triệu m° Chất
lượng đá đảm bảo các chỉ tiêu làm đá xây dựng cao cấp
Đá ryolit: đã được khai thác từ lâu, qua điều tra sơ bộ cho thấy đá
ryolit thuộc hệ tầng Tam Đảo, diện lộ dài 2000 m, rộng từ vài trăm đến
1.500m; đá có độ bển cơ học tốt
Đá vôi xi măng: đã có 1 mỏ và 1 điểm khoáng, trong đó có mỏ đá Mĩ Đức đã được đánh giá khoảng 100 triệu tấn, điểm khoáng sản Làng Rỹ khoảng 4 triệu tấn
Đá vôi xây dựng: cũng là khoáng sản tiểm năng của thành phố
Hiện đã đăng kí 1 mỏ đá vôi Núi Chẹ khoảng 59,287 triệu m° và điểm
đá vôi xây dựng Miếu Môn khoảng 7,2 triệu m°, Ngoài các mỏ và điểm quặng vừa nêu, ở các dải đá vôi khu vực phía Tây huyện Chương Mĩ
và huyện Mĩ Đức còn chưa được đánh giá đẩy đú Hiện nay đá vôi xây dựng là nguồn vật liệu quan trọng cho thành phố Hà Nội
Đá ong (Laterit): gặp khá phổ biến trên các bể mặt gò đổi thấp tiếp giáp giữa đồng bằng với các vùng núi, phân bố chủ yếu ở phía Bắc, Đông-Bắc, thuộc địa bàn thị xã Sơn Tây, các huyện Thạch Thất, Quốc Oai và Chương Mĩ Các mỏ Phương Hài khoảng 18 triệu m3, Thạch Thất khoảng 15 triệu mð Có thể khai thác loại đá này ở dạng khối để xây nhà hoặc rải đường,
Nhúc khoảng:
Hiện Hà Nội phát hiện 3 điểm nước khoáng là Mĩ Khê, xã Tản
Trang 37Chương 3 Vịthế địa ívà tài nguyên thiên nhiên Hà Nội 39
huyện Sóc Sơn, trong đỏ mỏ Mĩ Khê có kết quả phân tích cho thấy nguồn nước này thuộc loại nước khoáng sulphat, có giá trị chữa bệnh cao
2.2.2 Tàinguyên địa hình
Các đặc điểm địa mạo vùng Hà Nội mớ rộng đã được trình bày chỉ tiết ở trên cho thấy, địa hình Hà Nội rất đa đạng về nguồn gốc Trong mỗi loại lại có những thành tạo địa hình vào các thời kì khác nhau và nằm trên các mực độ cao khác nhau Mỗi thành tạo địa hình trên địa bàn thành phố Hà Nội mở rộng đều có giá trị riêng
Địa hình đối múi:
Địa hình đổi núi tập trung chủ yếu ở khu vực Ba Vì và lân cận Về giá trị khoa học, Ba Vì là một khối núi cao nhất và nằm ở phía Tây-Bắc Hà Nội Khối núi này được hình thành từ một sản phẩm phun trào của núi lửa với thành phần là bazan được phun lên trong 2 pha hình thành vào đầu kí Trias (khoảng 240 triệu năm trước) Với độ cao trên 1200 m, khối núi Ba Vì đã trở thành một “bộ điểu hoà” thời tiết cho Hà Nội
Về tính đa dạng địa học: Xét về các thành tạo địa chất lộ ra trên bể mặt, thì vùng Hà Nội mở rộng có nhiều loại nhất so với các địa phương khác trên cả nước, Tại đây, có tới 17 thành tạo địa chất với thành phẩn đất đá (từ gắn kết rắn chắc đến bở rời), nguồn gốc (biển chất, trầm tích, magma) và tuổi khác nhau (Proterozoi, Paleozoi, Mezozoi va Kainozoi);
cổ nhất là hệ tầng núi Con Voi lộ ra ở khu vực Vị Thuỷ, Yên Mĩ (Sơn Tây)
có tuổi Paleoproterozoi (cách ngày nay trên một tỉ năm) và trẻ nhất là hệ tang Thai Binh (chỉ vài ba ngàn năm trở lại day)
rõ 3 đinh Khi lên đỉnh núi Ba Vì, có thể nhìn thấy rõ phong cảnh xung, quanh Một trong những vị trí có giá trị thẩm mĩ đáng kể trên núi Ba Vì nằm ở độ cao 400 m (code 400) Đây chính là một trong những mực san bằng có diện tích đáng kể và đứng ở đây cũng có thể nhìn vẽ phía Bắc có các cảnh quan từ đổi núi chuyển tiếp sang đồng bằng và tới Sông Hồng Giá trị thẩm mĩ của núi Ba Vì đã trở thành chủ để cho các sáng tác thơ, ca Cảnh đẹp của núi Ba Vì cũng là một trong các tiêu chí để được khắc vào
Trang 38Ngoài ra, trên sườn khối núi Ba Vì còn nhiều suối - thác nhỏ có giá trị thẩm mữ, như Thác Bạc - Suối Sao, Suối Tiên - Thác Đa, Suối Ngà
có nước chảy quanh năm Ngày nay, một số đoạn suối đã ngược ngăn lại thành hồ, ao, như Ao Vua, hổ Tiên Sa
Về giá trị văn hoá: Truyền thuyết Sơn Tỉnh - Thuỷ Tỉnh về núi Ba Vì đã
đi vào văn hoá tâm linh của người Việt Nam: Son Tinh hay Thanh Tan da làm cho núi này được nâng cao lên để giành chiến thắng trong cuộc chiến đấu với Thuỷ Tinh Để ghi nhớ công ơn đó, trên đỉnh núi Vua Bà, người Việt đã xây dựng Đến Thượng thờ Đức Thánh Tản (tức Sơn Tỉnh) - một trong “Tứ Bất Tử” của tiểm thức tâm linh Việt Nam
iv DAN ĐỒ DIA MAO THANH PHO HA NOE
Trang 39Chương 3 Vịthế địa ívà tài nguyên thiên nhiên Hà Nội 41
Vùng núi Ba Vì cũng là căn cứ quan trọng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ Do địa thế hiểm yếu, thuận lợi cả về đường sông và đường bộ và gần Thủ đô Hà Nội nên vùng núi Ba Vì, cụ thể là địa điểm Đá Chông đã được lựa chọn là nơi hội họp của Bộ Chính trị trong thời kì chiến tranh phá hoại ác liệt của Mĩ Sau đó trở thành nơi gìn gid thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Gần đây, Đảng và Nhà nước đã cho xây dựng đến thờ Bác Hồ
trên đỉnh Núi Vua - đỉnh cao nhất của núi Ba Vì 1.296 m
Về giá trị chức năng: Chức năng tự nhiên, địa hình cũng là trụ cột của
hệ sinh thái Theo đai cao, núi Ba Vì là trụ cột của các hệ sinh thái đổi và núi thấp (gồm cả hệ sinh thái dưới nước và trên cạn) Cũng chính từ đa dạng địa học như đã để cập ở trên, các hệ sinh thái ở khu vực núi Ba Vì và lân cận cũng có tính đa dạng sinh học cao Đây cũng là một trong những,
lí do để khu vục núi Ba Vì được công nhận là Vườn Quốc gia
Về giá trị kinh tế, thì giá trị kinh tế đễ dàng nhận thấy của vùng đổi núi Ba Vì là phát triển du lịch với nhiều loại hình khác nhau: nghiên cứu khoa học, tham quan ngoại khoá cho học sinh phổ thông và sinh viên một
số ngành liên quan, du lịch sinh thái, văn hoá tâm linh Hiện nay khu vực vùng núi Ba Vì và phụ cận cũng được qui hoạch để phát triển vùng du lich sinh thái của Hà Nội
Địa hình đá tôi (RarsÐ):
Dia hinh trên đá vôi được các nhà khoa học trên thế giới gọi la karst, địa hình đá vôi có những đặc điểm bên ngoài khác hẳn với địa hình phát triển trên các loại đá khác, rất đễ nhận ra Địa hình đá vôi ở vùng
Hà Nội mở rộng được phân bố chủ yếu ở huyện Mĩ Đức, Chương Mĩ
và một vài khối nhỏ ở Quốc Oai Bản thân đá vôi là một loại tài nguyên địa chất thuộc nhóm vật liệu xây dựng (sản xuất vôi, đá xây dựng, rải đường) hoặc nguyên liệu (trong sản xuất xi măng) Về giá trị khoa học:
Đá vôi là loại đá có khả năng bị hoà tan đưới tác động của nước chảy, đặc biệt là nước tự nhiên, như nước mưa, nước sông, suối Tác động hoà tan của nước lên đá vôi đã tạo ra cả các dạng địa hình trên mặt
(từ các dạng đá tai mèo đến các khối đá vôi dang tháp hay dạng nón,
Trang 40có đẩy đủ các thành tạo địa hình nêu trên Điển hình cho địa hình trên mặt là các đỉnh karst dạng nón và thung lũng karst - suối Yến được phát triển trên một đứt gãy cắt qua khối đá vôi theo phương Tây Bac - Đông Nam, động Hương Tích ở Mĩ Đức, động Hoàng Xá và hang Cắc
Có ở huyện Quốc Oai là các hang động có thạch nhũ - một sản phẩm được hình thành từ đá vôi
Về giá trị thẩm mĩ: Bản thân các khối đá vôi là một cảnh quan vô cùng độc đáo trên bể mặt Trái đất Hau hết các khối đá vôi đều rất hùng
vĩ và hiểm trở, đồng thời cũng có nhiều hình dạng kì dị Đó là phong cảnh
sơn thuỷ hữu tình của suối Yến - núi Hương Tích ở huyện Mĩ Đúc, hay
tự nhô cao nổi bật trên nền đồng bằng bằng phẳng của khôi núi Sài Sơn (núi Thày) và Hoàng Xá ở huyện Quốc Oai Cảnh quan núi đá vôi càng được tôn thêm vẻ đẹp nhờ xây dựng các hổ nhân tạo kéo dài từ hổ Quan
Sơn đến hổ Tuy Lai ở phía Tây - Bắc huyện Mĩ Đúc Ngoài vẻ đẹp và sự
hùng vĩ của địa hình trên mặt, các hang động trong khối đá vôi cũng có những nét đẹp riêng Động Hương Tích đã được chúa Trịnh Sâm thế kỉ XVIII phong là “Nam Thiên Đệ Nhất Động” (Đông đẹp nhất Trời Nam) Trong động có nhiều thạch nhũ có hình dạng và kích thước khác nhau tạo nên sự kì lạ của động,
Về giá trị văn hoá: Như một quy luật, hau như tất cả các khối đá vôi
ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều chứa đựng các dấu ấn văn hoá có giá trị bao gồm cả văn hoá tâm linh lẫn lịch sử, khảo cổ Các vùng núi đá vôi ở Hà Nội cũng không nằm ngoài quy luật đó Tại khu vực núi Hương Tích, còn có di chỉ khảo cổ Lũng Sàm với nền Văn hoá Hoà Bình có niên
đại khoảng từ 11.000 - 8.000 năm trước, còn được gọi là Văn hoá hang
động Dấu ấn để lại rõ rệt nhất của nến văn hoá này là các hoá thạch vỏ
ốc núi quan sát được ở cửa động Hoàng Xá giống như ở cửa động Người Xưa trong Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
Địa hình sông, hỗ:
Ranh giới của vùng Hà Nội mở rộng được bao quanh bởi Sông Đà ở
phía Tây và Sông Hổng ở phía Bắc Còn trong phạm vi của nó có các sông,
Tích, Đáy, Nhuệ, Bùi và rất nhiều hổ Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cả