1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo "Tìm hiểu về Common Law " pptx

7 539 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về common law
Trường học University of Law
Chuyên ngành Law
Thể loại Báo cáo
Thành phố Hanoi
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 8,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bai viét nay, chúng tôi xin giới thiệu vài nét cơ bản về Common Law trên cơ SỞ trình bày tóm tắt sự phát triển của hệ thống pháp luật này, phân biệt Common Law và Civil Law và phâ

Trang 1

Malek Cant LUẬT NƯỚC NGOÀI |

TÌM HIỂU VỀ COMMON LAW

C me Law (luật chung) là hệ thống

pháp luật của các nước Anh, Mi va

những nước theo hệ thống pháp luật của

các nước này như New Zealand, Kenia,

An Độ, Canada, Aixơlen, Malaysia, Israel

Australia Ở nước ta, việc tìm hiểu

Common Law đã và đang được nhiều nhà

nghiên cứu pháp luật quan tâm Hiện nay,

trong các sách báo pháp lí, người ta

thường đề cập Common Law khi so sánh

sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật

cơ bản,:nhất là giữa hệ thống pháp luật

dân sự (Civil Law) với hệ thống pháp luật _

chung (Common Law) Trên thực tế cũng

như về mặt lí luận pháp luật, ở các nước

theo hệ thống Common Law, khái niệm

“Common Law” không chỉ dùng trong

trường hợp so sánh các hệ thống pháp

luật mà còn được dùng để phân biệt luật

chung (Common Law) với luật công lí

(Equity)

Trong bai viét nay, chúng tôi xin giới

thiệu vài nét cơ bản về Common Law trên

cơ SỞ trình bày tóm tắt sự phát triển của

hệ thống pháp luật này, phân biệt

Common Law và Civil Law và phân tích

một số nguyên tắc xây dựng luật từ án lệ

của cơ quan xét xử ở các nước theo hệ

thống Common Law, về tương quan giữa

Commơn Law và Equity

1 Lich su cia Common Law

VỀ mặt lịch sử, Common Law xuất

hiện lần đầu tiên ở Anh?) Từ xa xưa, xã

hội Anh đã sống trong trật tự nhất định

ThS NÔNG QUỐC BÌNH *

mà trật tự đó được điều chỉnh bởi các

“quy tắc xử sự chung” Tuy nhiên, các nguyên tắc xử sự chung của nước Anh đã một thời chịu sự ảnh hưởng của các quy tắc xử sự của các nước khác, thông qua việc xâm lược của ngoại bang

Vào khoảng thế kỉ thứ V, nước Anh

đã bị một số nước xâm chiếm, cụ thể là

sự xâm lược của người La Mã (Romans),

(Saxons) và người Đan Mạch (Danes) Khi chiếm được các phần đất của Anh, những người này đã áp đặt những tập quán và những nguyên tắc pháp lí của mình trên những vùng đất đã chinh phục được Tuy nhiên, những tập quán và luật pháp của những người này không thể thay thế hoàn toàn những tẬp tục và những nguyên tắc pháp lí của địa phương vốn đã ton tại rất lâu trong đời sống xã hội của người dân bản xứ Hơn nữa, do sự khác nhau giữa các tập quán và nguyên tắc pháp lí của những kẻ đi xâm lược với các tập quán và nguyên tắc pháp lí của người

bị xâm lược mà hai loại tập quấn và nguyên tắc pháp lí này không thể dung hòa được

Chính vì lí do trên mà đến đầu thế kí

XI ở Anh cùng một lúc có ba hệ thống pháp luật được áp dụng một cách riêng lẻ cho ba khu vực của lãnh thổ Anh Đó-là Merican Law, West Saxon Law va

Danish Law

* Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế Trường Đại học luật Hà Nội

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 49

Trang 2

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI

Merican Law là hệ thống pháp luật

chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của luật Anh

lúc bấy giờ Luật này áp dụng ở khu vực

miền Trung và miền Tây nước Anh

West Saxon Law mang sắc thái hệ

thống pháp luật của người Xắcxông (là

một dân tộc đã từng sống ở Tây - Bắc

nước Đức) Do vậy, hệ thống pháp luật

này chịu sự ảnh hướng lớn của hệ thống

pháp luật Đức Hệ thống West Saxon

Law có hiệu lực trên lãnh thổ thuộc các

vùng miền Nam và một số vùng miền

Tây nước Anh lúc bấy giờ

Danish Law là hệ thống chịu sự ảnh

hưởng lớn của luật Đan Mạch Danish

Law được áp dụng ở một số vùng thuộc

miền Trung và một số vùng thuộc miền

Đông nước Anh

Trong thời gian khoảng từ năm 87l

đến 899, dưới sự trị vì của vua Afred,

hàng loạt cải cách pháp luật được tiến

hành Nhà vua đã cố gắng pháp điển hóa

và thống nhất hóa những nguyên tắc và

tập quán pháp lí nhằm xây dựng một hệ

thống pháp luật thống nhất áp dụng

chung cho mọi vùng lãnh thổ của Anh

Tuy nhiên, mọi cố gắng của vua Afred đã

không đạt được kết quả như mong muốn

vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau

Dén nam 1066, việc chính phục nước

Anh của người Norman (những người có

-nguồn gốc từ xứ Normandy ở Pháp) đã

đánh dấu sự hình thành và phát triển

mạnh mẽ của Common Law Sau khi

thống nhất nước Anh, người Norman đã

áp đặt các quy tắc và tập quán pháp lí của

mình trên toàn cõi lãnh thổ của nước

Anh Giống như những kẻ xâm lược trước

đó, những nguyên tắc và tập quán pháp lí

của người Norman không thể thay thế

50 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

được hoàn toàn tập quán và luật pháp ở mọi vùng lãnh thổ Anh Tuy nhiên, những nguyên tắc và tập quán của người Norman thực sự có sự ảnh hưởng sâu sắc đến tập quán và các nguyên tắc phấp lí của mọi vùng lãnh thổ Anh Hơn thế nữa,

sự ảnh hưởng này còn tác động đến cả _ thu tuc xét xử của các tòa án Anh

Dưới triểu đại vua Wiliam đệ nhất (1066 - 1087), rất nhiều vị thẩm phán được gửi từ Westminster (thủ phủ của Anh) đến tất cả các vùng đất thuộc quyền cai trị của nhà vua Những vị thẩm phán này đến vùng đất mới mang theo một sứ mệnh là thực hiện công việc xét xử có tính chất chuyên môn hoặc là về lĩnh vực dân sự hoặc là về lĩnh vực hình sự Ở các vùng được gửi đến, các vị thẩm phán đã

áp dụng những tập quán và luật pháp của vùng để xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của mình:

Trong thời gian thực thi nhiệm vụ tại các vùng đất khác nhau, những vị thẩm phán này thường trở lại Westminster để thảo luận những vấn đề về tập quán và luật pháp của vùng mà mình đã áp dụng

để xét xử cho từng vụ việc Trong quá trình thảo luận, các vị thẩm phán đã rút ra những kinh nghiệm tốt cho công việc xét

xử sau này của mình Cũng từ việc thảo luận và trao đổi đó, những phán quyết có tính thuyết phục cao của các vị thẩm phán ở các vùng khác nhau đã được lấy ra làm cơ sở để các vị thẩm phán tham khảo

và áp dụng khi xét xử các vụ án có tình tiết tương tự sau này Cách áp dụng tương

tự này dần dần được coi là luật chung và sau đó được cơ quan chuyên trách về pháp luật của nhà vua công nhận như một: nguyên tắc xét xử chung cho toàn thể

Trang 3

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI

mọi vùng thuộc lãnh thổ Anh Vì vậy,

nguyên tắc xét xử này được gọi là luật

chung (Common Law)

Sau đó, do sự tác động của chính sách

thuộc địa và ảnh hưởng của hoạt động

thương mại mà Common Law được áp

dụng ở rất nhiều nước ở châu MI, Ấn Độ,

Australia, New Zealand, một phần lớn

các nước châu Phi, Canađa, Pakistan ®

2 Phân biệt hệ thong Common

Law va hé thong Civil Law

Ngày nay, trên thế giới đang tồn tại

rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau

Theo Peter De Cruz thì hiện'nay thế giới

có hơn 40 hệ thống pháp luật® Mỗi hệ

thống pháp luật có những đặc điểm và

những nguyên tắc nhất định Nhưng có

hai hệ thống pháp luật co ban © 14 hệ ©

thong luat dan su (Civil Law) và hệ thống

luật chung (Common Law)

Hệ thống Civil Law được hầu hết các

nước châu Âu như Pháp, Đức, Tây Ban

Nha, Italia và các nước trước đây là thuộc

địa và chịu sự ảnh hưởng của những nước

này áp dụng Điểm đáng chú ý nhất là

nguồn luật của hệ thống Civil Law là

hình thức các văn bản trong đó ghi nhận

những quy phạm pháp luật do cơ quan lập

pháp soạn thảo Hay nói cách khác, Civil

Law là luật thành văn Các cơ quan hành

pháp và tư pháp phải dựa vào các quy

phạm trong các văn bản này để thực thi

— VỀ mặt lịch sử, trong quá trình hình

thành, Civil Law đã chịu sự ảnh hưởng

lớn của luật La Mã cổ đại Nhưng có thể

nói Civil Law thực sự phát triển kể từ

năm l810 với sự ra đời của bộ luật

Napoleon của Pháp® Sau đó, bằng sự

chinh phục và sự ảnh hưởng của Pháp đối với các nước thuộc địa ở vùng Nam MI, châu Phi và một số nước châu A ma Civil Law đã được hình thành, tồn tại và phát triển ở những nước này |

Hệ thống Common Law là hệ thống pháp luật được các nước Anh, MI và những nước chịu sự chi phối của hai nước này áp dụng Về các quy phạm pháp luật, khác với Civil Law, Common Law không chỉ bao gồm các quy phạm nằm trong các văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành mà nó còn bao gồm các nguyên tắc pháp lí được thể hiện qua các phán quyết của các cơ quan tư pháp (cơ quan xét xử)” Có thể nói đây là điểm khác nhau cơ bản nhất giữa Common Law và Civil Law

3 Một số nguyên tắc trong việc xây dựng luật từ án lệ của các cợ quan xét xử ở các nước theo hệ

Nhu đã nói ở trên, một trong những đặc điểm nổi bật nhất của Common Law

so với Civil Law là tòa án không chỉ là cở quan xét xử mà còn là cơ quan làm luật® Nói cách khác, những phán quyết của cơ quan xét xử có thể trở thành cơ sở pháp lí cho các cơ quan xét xử sau này áp dụng

để ra phán quyết đối với các vụ án có tình tiết tương tự Việc xây dựng luật từ án lệ

và ấp dụng án lệ đó trong xét xử phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc này được thể hiện trong học thuyết về tiền lệ, nguyên tắc ghi án lệ và thẩm quyền ghi án lệ

* Học thuyết về tiền lệ (The Doctrine

- Precedenf) bao gồm năm nguyên tắc sau):

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 51

Trang 4

Thứ nhất, mỗi tòa án bị buộc phải

theó những quyết định của tòa án cấp cao

hơn trong cùng hệ thống Ví dụ, ở các

nhà nước liên bạng nhu Mi, Australia,

các tòa án cấp dưới của các tiểu bang khi

xét xử chỉ buộc phải tuân theo những

phán quyết đốt với những bản án của

những vụ án tương tự của các tòa ấn cấp

trên thuộc tiểu bang mình

Thứ hai, những quyết định của tòa án

thuộc hệ thống tòa án khác chỉ có giá trị

tham khảo chứ không có tính bắt buộc

Tuy nhiên, đối với quyết định của tòa ấn

cấp cao hơn của hệ thống tòa án khác sẽ

có giá trị thuyết phục hơn trong việc

tham khảo để tòa án quyết định bản án

Ví du, ở Australia theo học thuyết tiền

lệ thì tòa án sơ thẩm thuộc tiểu bang New

South Wales (NSW) sẽ buộc phải theo

những phán quyết trước đây của tòa án

phúc thẩm thuộc NSW nhưng nó không

buộc phải tuân theo những quyết định

của tòa án tối cao thuộc tiểu bang

Victoria Tuy nhiên, phán quyết của tòa

án tối cao thuộc tiểu bang Victoria sé cé

giá trị thuyết phục hơn so với bản án của

tòa án cấp thấp hơn thuộc tiểu bang

Victoria đối với tòa án thuộc tiểu bang

NSW khi ra một bản án đối với một vụ án

tương tự

Thứ ba, chỉ có những quyết định của

thẩm phán trước đó dựa trên những chứng

cit phap If (ratio decidendi) của vụ án thì

mới có giá trị bắt buộc phải áp dụng để ra

quyết định cho vụ án sau này

Thứ tư, những nhận định hoặc những

quyết định của tòa án trước đó đối với

một vu án không dựa trên cơ sở chứng cứ

(obiter dictum) sé khéng cé gid tri bat

buộc tòa án sau này phải tuân thủ Tuy

52 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

nhiên, những nhận định và phán quyết đó

có thể được tòa án-sau này xem xét, cân nhắc và thậm chí có thể áp dụng trong việc ra quyết định đối với bản ấn tương

Thứ năm, yếu tố thời gian không thể làm mất đi tính hiệu lực của các tiền lệ Theo nguyên tắc này, những phán quyết của các tòa án cách đây hàng trăm năm cũng vẫn có giá trị cho các thẩm phán sau này vận dụng để ra quyết định cho một

vụ an tương tự

Học thuyết về tiền lệ đã đặt ra vấn đề phải lưu giữ lại những quyết định của các thẩm phán đối với các vụ việc để làm cơ

sở pháp lí cho các thẩm phán và luật sư

áp dụng hoặc tham khảo

* Nguyên tắc ghi lại án lệ Một trong những nguyên tắc ghi chép

án lệ là việc ghi chép phải đầy đủ, chi tiết đồng thời phải giúp người tra cứu tìm được án lệ một cách nhanh chóng và

chính xác Vì vậy, trước khi ghi chép tình tiết vụ án, những nhận định và phán xử của tòa án đối với vụ án thì những nội dung chính sau đây phải được thể hiện ở phần đầu của án lệ khi được ghi chép lại: + Tên vụ án: Tên vụ án là tên nguyên đơn và tên bị đơn của vụ án Trên nguÿên tắc tên nguyên đơn viết trước, tên bị đơn viết sau Tên các bên có thể được ghi cụ thể hoặc viết tắt, đôi khi tên của các bên duoc in dam hoặc gạch chân Đối với các

vụ ấn mà luật pháp không cho phép viết tên đầy đủ của các đương sự vì lí do bí mật (đặc biệt đối với các vụ án liên quan đến trẻ em, người tàn tật) thì tên của các bên sẽ được viết tắt

+ Năm tòa án ra phán quyết đối với

vụ ấn.

Trang 5

| NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ————— IƯỚC NGOÀI |

+ Số tập văn bản của văn bản ghi chép

án lệ

+ Tên viết tắt của văn bản ghi chép

+ Số-thứ tự của trang đầu tiên của văn

bản ghi chép lại vụ án Đôi khi người ta

ghi số thứ tự trang đầu tiên và số thứ tự

trang cuối cùng của văn bản ghi lại án lệ

Vi du: Phan đầu của án lệ được ghi lại

như sau

O’TOOLE v CHARLES DAVID PTY

LTD (1991) 171 CLR 232

O vi du nay, O’TOOLE 14 nguyên,

don, CHARLES DAVID PTY LTD 1a bi

đơn; chữ v nằm giữa tên của nguyên đơn

và bị đơn là chữ viết tắt từ chữ “versus”

có nghĩa là chống lại hay kiện tụng: 1901

là năm tuyên bản án; 171 là số tập văn

bản ghi chép vụ án; CLR (Common

Wealth Law Report) là tên văn bản đã

ghi chép vụ án; số 232 là số trang đầu

tiên của văn bản mà vụ án được ghi chép

* Thám quyền ghỉ lại án lệ

Ở nước Anh, từ đầu thế kỉ XVI đến

giữa thế kỉ XIX, việc ghi chép các vụ án

do các cá nhân thực hiện mà không hề

được cơ quan đã xét xử vụ án kiểm tra lại

trước khi công bố Hơn nữa, chất lượng

của việc ghi chép này hoàn toàn phụ

thuộc vào khả năng và trình độ của từng

người ghi chép Do vậy, một số vụ án đã

không được áp dụng vì tính thiếu khoa

học của chúng Để giải quyết vấn đề này,

năm 1865, nước Anh đã thành lập hội

đồng ghi chép án lệ với mục đích ghi lại

một cách trung thực tình tiết của vụ án và

quan điểm cửa thẩm phán cùng với quyết

định của tòa (đặc biệt là các quyết định

của tòa án cấp cao) Về nguyên tắc, sau

khi ghi chép, những án lệ này phải được

tòa ấn nơi ra phán quyết kiểm tra lại

trước khi xuất bản Trên thực tế, hầu hết những vụ án quan trọng, điển hình đặc biệt là những vụ án do các tòa án cấp cao xét xử sẽ được ghi lại một cách chi tiết Sau đó, những người có thẩm quyền theo luật định sẽ quyết định những vụ án nào

sẽ được lưu lại để làm cơ sở cho VIỆC Xết

XỬ sau này

Theo gương nước Anh, tất cả các nước theo hệ thống Common Law đều lập ra một cơ quan chuyên trách ghi chép

án lệ

Như vậy, khi một vụ án được cơ quan

có thẩm quyền ghi chép lại vào những văn bản một cách hợp pháp thì nó trở thành nguồn luật của các nước theo hệ thong Common Law Nói cách khác, ké

từ khi vụ án được ghi chép một cách hợp pháp thì “nó được coi là một viên gạch trong bức tường pháp luật?00

4 Luật chung (Common Law) và luật công lí (l¿quity) | Common Law có những ưu điểm là giúp các vị thẩm phán giải thích và áp dụng pháp luật một cách khách quan trên

cơ sở những phán quyết của các vị thẩm phán trong các vụ án tương tự trước đó Điều này làm cho phán quyết của các vị thẩm phán có tính công bằng và thuyết phục hơn Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, Common Law đã bộc lộ một số nhược điểm và những nhược điểm này đã được khắc phục thông qua việc kết hợp với Equity

Một trong những nhược điểm cơ bản của Common Law là thủ tục tố tụng cứng nhắc của nó", Trong lịch sử, vẻ nguyên tắc, để mở phiên tòa Common Law, thẩm phán phải dựa trên tờ lệnh (writ) do co

(chancery office) tống đạt theo sự ủy

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 53

Trang 6

| NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI |

quyền của nhà vua Tờ lệnh đó ghi nhận

những điều khiếu nại của nguyên đơn và

nó là cơ sở pháp lí để tòa ấn xem xét

Nếu tòa án xét thấy những điều khiếu nại

ghi trong lệnh thực sự có cơ sở pháp lí thì

nguyên đơn sẽ thắng kiện và được bồi

thường thiệt hại Nói cách khác, nội dung

tờ lệnh là cơ sở pháp lí để tòa án xem xét

một vụ kiện _

Như vậy, nếu tờ lệnh không đề cập

những khiếu nại của nguyên đơn thì

đương nhiên nguyên đơn sẽ mất quyền

được bồi thường thiệt hại Hơn nữa, ngày

càng có nhiều vụ án phức tạp liên quan

đến việc bồi thường thiệt hại (Ví dụ như

tiền bạc, đất đai .), trong khi đó thủ tục

tố tụng của Common Law lại ngày càng

chặt chế hơn về mặt kĩ thuật Điều đó đã

làm cho việc xét xử của tòa án thuộc hệ

thống Common Law dần dần mất đi tính

năng động” Vì vậy, nguyên tắc công

bằng trong xét xử của Common Law đã

bị ảnh hưởng

Nhằm khắc phục những nhược điểm

_ của Common Law, một số nguyên tắc

mới công bằng và khách quan hơn đã ra

“đời với tên gọi là luật công If (Equity)

Để thực hiện các nguyên tắc này, loại tòa

án mới đã ra đời và được gọi là tòa công

lf (court of chancery)”

Toa cong If (court of chancery) 1A toa

tối cao chuyên xét xử các vụ án mà nếu

đem xét xử tại Tòa Common Law sẽ ảnh

hưởng tới nguyên tắc công bằng Sự ảnh

hưởng tới nguyên tắc công bằng ở đây

bao gồm cả việc vi phạm nguyên tắc đạo

đức được xã hội thừa nhận Lúc đầu,

những nguyên tắc thể hiện sự công lí và

công bằng được tòa công lí xây dựng nên

để xét xử các vụ án nhằm loại trừ những

khiém khuyét cua Toa Common Law

54 - TAP CHi LUAT HOC

Sau đó, những nguyên tắc công lí và công bằng của tòa công lí đần dần được hoàn thiện và trở thành hệ thống các nguyên tắc độc lập với Common Law Sự ra đời của hệ thống những nguyên tắc Equity thực sự đóng vai trò quan trọng trong pháp luật hiện tại và tương lai của các nước theo hệ thống Common Law") Như vậy, xét về mặt lịch sử, bên cạnh

hệ thống Common Law còn tồn tại hệ thống Equity, cả hai hệ thống luật này song song phát triển Việc thực hiện những nguyên tắc của hai hệ thống này

do hai hệ thống tòa án đảm nhiệm: Hệ thống Common Law Court và The Court

of Chancery Hai hệ thống tòa án này đã

hoạt động một cách độc lập theo những nguyên tắc riêng của mình Trong lịch sử,

có thời kì đã có sự mâu thuẫn gay gắt về mặt quan điểm giữa hai hệ thống tòa án

nầy

Ở nước Anh, sự ra đời của đạo Luật

về tòa án (Judicature Act) năm 1873 đã đánh dấu bước chuyển biến mới trong quan hệ giữa Common Law Court và The Court of Chancery Theo quy định của luật trên thì chức năng của hai tòa này sẽ được Tòa án tối cao (Supreme Court of Judicature) đảm nhận và những nguyền tac cua Common Law va Equity cing được tòa án tối cao xem xét áp dụng khi xét xử Ngày nay, những nguyên tắc của Common Law và của Equity vẫn tồn tại độc lập””; và tòa án áp dụng độc lập khi xét xử tùy theo từng trường hợp”” Tuy nhiên, nếu có sự khác nhau giữa hai hệ thống nguyên tắc này thì những nguyên tắc của Equity sé duoc uu tién áp dụng®?),

(Xem tiếp trang 62)

Trang 7

| THONG TIN L

thương mại quốc tế theo giải pháp trọng

tài còn được thực hiện thông qua hình

thức thứ ba là "trọng tài xúc tiến”

(expedited arbitration) Loại này thường

hoạt động dưới những quy tắc đã được

sửa đổi cho phù hợp để đảm bảo có thể

rút ngắn thời gian giải quyết và thanh

toán nhanh gọn vụ tranh chấp Hình thức

"trọng tài xúc tiến” có thể phù hợp trong

trường hợp ở đó các bên muốn vụ tranh

chấp được giải quyết thông qua giai phap

trong tai nhung đã được chuẩn bị để chấp

nhận những rủi ro liên quan đến quá trình

giải quyết Đổi lại, trong mỗi lần giải

quyết, người ta có thể giảm được ở mức

thấp nhất những chi phí và thời gian, nên

nó rất thích hợp với những tranh chấp

không liên quan đến những vấn đề phức

tạp hoặc đối với những tranh chấp có giá

trị không lớn

6 Tuy nhiên, lựa chọn hình thức nào

để giải quyết tranh chấp là vấn đề quan

trọng vì một mặt nó phụ thuộc vào khả

năng tiến triển cũng như tính đảm bảo

của các hình thức được lựa chọn Mặt

khác, các bên tranh chấp phải có sự thống

nhất trong việc lựa chọn các giải pháp

cho việc giải quyết các tranh chấp của họ

Diéu quan trọng nữa cũng cần được

cân nhắc đó là sự đàm phán thỏa thuận

của các đương sự (các bên tranh chấp)

trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp

đó Vì ngay cả khi đã lựa chọn hình thức

giải quyết tranh chấp chính thức, tức là

khi đã có sự tham gia của bên thứ ba thì

các bên tranh chấp cũng vẫn không bị

mất đi quyền tự định đoạt Điều đó là yếu

tố cần thiết trong quá trình giải quyết các

tranh chấp thương mại nói chung và tranh

chấp thương mại quốc tế nói riêng./

62 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

(Tiếp trang 54)

- Tóm lại, mặc dù ra đời ở nước Ảnh nhưng Common Law đã nhanh chóng được truyền bá, phổ biến rộng rãi ở nhiều nước và nó đã trở thành hệ thống pháp luật của các nước này Việc tuân thủ học thuyết tiền lệ kết hợp với Equtty đã duy trì được tính công bằng trong xét xử của các tòa án của các nước theo hệ thống Common Law Điều này đã giup cho

Common Law tén tại và phat triển Mặc

dù ra đời muộn hơn hệ thống Civil Law

nhưng Common Law cùng với Civil Law

đã thực sự trở thành hai hệ thống pháp luật cơ bản nhất trên thế giới hiện nay./

(1) Xem: Michael K.Meek, 1994, The Australian Legal System, The Law Book Company Limited, tr.09

(2) Kem: Rene’ David and John E.C Brierley, 1985, Major Legal Systems in the world today, (3rd edition), Stevens and Sons, tr.307

(3) Xem: K.Zweigert and H.Kotx, 1992, An Inproduction To Comparative Law (2nd edition), tr.226

(4) Xem: Peter De Cruz, 1993, A Modern Approach

To Comparative Law, Kluwer, tr.3

(5) Xem: Peter De Cruz, sdd, tr.89

(6) Xem: Morris Cook, 1996, Laying Down The Law (4th edition), Butterworth, tr.3

(7) Xem: Michael K.Meek, sdd, tr.25

(8) Xem: Rene’ David and John E.C hay, sdd, _ur.24

(9) Xem: Morris Cook, sdd, tr.63

(10) Xem: Morris Cook, sdd, tr.49

(11) Xem: Morris Cook, sdd, tr.31

(12) Xem: Michael K.Meek, sdd, tr.72

(13) Xem: Clive Turner, 1997, Australian Commercial Law, 21st edition, Law Book Company Limited, tr.25

(14),(15) Xem: Morris Cook, sdd, tr.14

(16) Xem: Rene’ David and John E.C

tr.345

(17) Xem: Rene’ David and John E.C Brierley, sdd,

tr.346

Brierley, sdd,

(18) Xem: Clive Turner, sdd, tr.26.

Ngày đăng: 21/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w