Lịch sử hình thành và phát triển Mặc dù từ xa xưa khoảng 3500 TCN đến năm 43 SCN có làn sóng người Đức đến định cư ở nước Anh và sau đó phần lớn lãnh thổ Anh bị người La Mã Romans chiếm
Trang 1PGS.TS Th¸i VÜnh Th¾ng *
1 Lịch sử hình thành và phát triển
Mặc dù từ xa xưa khoảng 3500 TCN đến
năm 43 SCN có làn sóng người Đức đến
định cư ở nước Anh và sau đó phần lớn lãnh
thổ Anh bị người La Mã (Romans) chiếm
đóng khoảng 4 thế kỉ (từ năm 43 đến 446
SCN) nhưng nước Anh không phải là thành
viên của hệ thống pháp luật
Romano-Germanic như các nước Tây Âu Nước Anh
phát triển hệ thống pháp luật của riêng mình
Trên lãnh thổ nước Anh, đến thế kỉ thứ V
ngoài người La Mã còn có người Jute, người
Saxons và người Đan Mạch (Danes) Khi
chiếm được các phần lãnh thổ của Anh,
những dân tộc này đã áp đặt những tập quán
và những nguyên tắc pháp lí của mình lên
những vùng đất đã chinh phục được Tuy
nhiên, những tập quán và nguyên tắc pháp lí
của họ không thể thay thế hoàn toàn những
tập quán và nguyên tắc pháp lí địa phương
vốn đã tồn tại lâu đời trong xã hội của người
dân bản xứ Hơn thế nữa còn xảy ra sự xung
đột giữa tập quán pháp luật địa phương và
tập quán pháp luật của kẻ đô hộ Vào thời kì
đó, những xung đột này hầu như không thể
giải quyết được Vì lí do nói trên mà đến đầu
thế kỉ XI ở Anh cùng một lúc có ba hệ thống
pháp luật được áp dụng một cách riêng rẽ
cho ba khu vực lãnh thổ của Anh Đó là
Angles law, West Saxon law và Danish law:
- Angles law là hệ thống pháp luật của
Anh lúc bấy giờ Luật này được hình thành
từ tập quán bản địa và được áp dụng ở khu vực miền Trung và miền Tây nước Anh
- West Saxon law mang sắc thái hệ thống pháp luật của người Saxons - là dân tộc đã từng sống ở Tây Bắc nước Đức Do vậy, hệ thống pháp luật này chịu sự ảnh hưởng của
hệ thống pháp luật Đức Hệ thống West Saxon law có hiệu lực trên lãnh thổ thuộc các vùng miền Nam và một số vùng miền Tây nước Anh lúc bấy giờ
- Danish law (luật Đan Mạch) là hệ thống luật do người Đan Mạch cùng với sự nhập cư đã mang đến đất Anh Nó được áp dụng ở một số vùng thuộc miền Trung và miền Đông nước Anh
Điều đáng chú ý là trong khoảng thời gian từ năm 871 đến 899 dưới thời trị vì của vua Afred, hàng loạt cải cách pháp luật được tiến hành Nhà vua cố gắng pháp điển hoá và thống nhất hoá các tập quán pháp luật và các nguyên tắc pháp luật nhằm áp dụng thống nhất cho mọi vùng lãnh thổ Anh nhưng vẫn không đạt được mục đích của mình
Đến năm 1066, việc chinh phục nước Anh của người Normand (người có nguồn gốc từ xứ Normandy - phía Bắc nước Pháp)
đã đánh dấu sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của Common law Sau khi thống trị được nước Anh, người Normand đã áp đặt
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2các quy tắc và tập quán pháp lí của mình trên
toàn bộ lãnh thổ Anh quốc Những nguyên
tắc và tập quán pháp luật này đã gây sự ảnh
hưởng sâu sắc đến việc hình thành pháp luật
chung cho mọi miền lãnh thổ Anh quốc
Dưới triều đại vua Wiliam đệ nhất (1066 - 1087)
rất nhiều vị thẩm phán được gửi từ Westminster
(thủ phủ của Anh lúc bấy giờ) đến tất cả các
vùng đất thuộc quyền cai trị của nhà vua Ở
các vùng được gửi đến các vị thẩm phán đã
áp dụng những tập quán và luật pháp của
vùng để xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền
của mình Sau một thời gian làm việc nhất
định, các vị thẩm phán thường trở lại
Westminster để thảo luận những vấn đề về
tập quán và luật pháp của vùng mình đã áp
dụng để xét xử trong từng vụ việc Trong
quá trình thảo luận, trao đổi kinh nghiệm xét
xử các vụ án điển hình với những bản án có
tính thuyết phục cao của các vị thẩm phán ở
các vùng khác nhau đã được đúc rút làm
mẫu mực để các vị thẩm phán tham khảo và
áp dụng khi xét xử các vụ án có tình tiết
tương tự về sau Cách áp dụng tiền lệ này
dần dần được coi là luật chung và sau đó
được các cơ quan tư pháp thừa nhận như
những bản án nguyên tắc áp dụng cho mọi
vùng thuộc lãnh thổ Anh Vì vậy, nguyên tắc
xét xử theo án lệ được hình thành và hệ
thống pháp luật hình thành theo án lệ được
gọi là thông luật (Common law) Do nước
Anh có nhiều thuộc địa và phát triển thương
mại với nhiều quốc gia khác mà thông luật
được áp dụng ở rất nhiều nước châu Mĩ, Ấn
Độ, Australia, New Zealand; phần lớn các
nước châu Phi, Canađa, Pakitstan…
Có thể phân chia sự hình thành và phát
triển của Common law thành 4 giai đoạn.(1)
- Giai đoạn 1: Từ khi hình thành pháp
luật đến năm 1066 khi người Normand xâm chiếm nước Anh Giai đoạn này gọi là giai đoạn Anglo-saxon (theo cách gọi của nhà luật học so sánh René David) Điểm đặc biệt của giai đoạn này là sự tồn tại của nhiều đạo luật và tập quán của các bộ lạc có nguồn gốc
từ nước Đức (German) Các luật và tập quán lúc này mang tính địa phương, không có pháp luật cho toàn bộ lãnh thổ nước Anh
- Giai đoạn 2: Từ năm 1066 đến 1485
(triều đại vua Tudors) Đây là giai đoạn khắc phục tính chất địa phương, tản mạn, thiếu thống nhất để xây dựng hệ thống pháp luật chung thống nhất cho toàn bộ lãnh thổ nước Anh - hệ thống common law
- Giai đoạn 3: Từ năm 1485 đến 1832
Đây là giai đoạn phát triển và cạnh tranh giữa thông luật (Common law) và luật công bình (Equity) Điểm đặc biệt của giai đoạn này là thông luật phải thoả hiệp và cạnh tranh với luật công bình
Luật công bình có tên gọi bằng tiếng Anh là Equity hoặc Chancery law; Equitable law Luật công bình xuất phát từ sự khẩn cầu đến công lí khi công lí không đạt được bằng việc xét xử theo luật thành văn và tiền tệ pháp luật Bản chất của luật công bình là khi xét xử theo luật thành văn và án lệ mà công
lí không đạt được thì đương sự có quyền khẩn cầu đến sự sáng suốt của nhà vua Lúc đầu khi các vụ việc còn ít nhà vua đã đích thân xem xét, về sau nhà vua giao cho vị đại pháp quan (Lord Chancellor) xem xét.(2) Quyền tài phán này từ thế kỉ XV do văn phòng Chưởng ấn Hoàng gia tiến hành đã
Trang 3phát triển thành một hệ thống luật gọi là
Equity, tồn tại song song với thông luật
Sự khác nhau trong tổ chức toà án thông
luật (Comm law) và toà công bình (Equity)
là toà án thông luật có bồi thẩm đoàn, còn
toà công bình không có bồi thẩm đoàn Nếu
có sự tranh chấp giữa toà thông luật với toà
công bình thì việc giải quyết luôn có lợi cho
toà công bình
Luật công bình dựa trên một số nguyên tắc,
một số câu châm ngôn sau đây:
1 Equity acts "in personam"(3) - Luật
công bình nhằm vào quyền nhân thân
2 Equity acts on the conscience - Luật công
bình xuất phát từ mệnh lệnh của lương tâm
3 Equity will not suffer a wrong to be
without remedy - Luật công bình không bỏ
qua sự bất công nào
4 Equity follows the law - Luật công
bình tôn trọng luật pháp.(4)
5 Equity looks to the intent rather than
form - Luật công bình chú ý đến mục đích
hơn là hình thức
6 Equity imputes an intent to fulfil an
obligation - Luật công bình suy đoán về ý
định thực hiện xong một nghĩa vụ
7 Equity looks on that as done which
ought to be done - Luật công bình cho rằng
cái gì đã thực hiện có nghĩa là nó cần phải
được thực hiện như thế
8 Equitable remedies are discretionary -
Phương pháp giải quyết của luật công bình là
tuỳ sự định liệu của thẩm phán
9 Delay defeats equities - Chậm trễ làm
tiêu huỷ quyền đòi hỏi ở luật công bình
10 He, who seeks equity must do equity
- Ai tìm kiếm sự công bình phải hành động
công bình
11 He, who comes into equity must come with clean hands - Ai đến với luật công bình phải đến với đôi bàn tay trong sạch
12 Equity regards the balance of convenience - Luật công bình tính đến sự cân bằng lợi ích
13.Where there are equal equities, the law prevails - Ở đâu có công bình, ở đó luật pháp ưu thắng
14.Where there are equal equities the first in time prevails - Khi nào quyền lợi hiện tại dựa trên sự công bình, quyền nào có trước được ưu thắng
15 Equity like nature, does not thing in vain - Luật công bình giống như thiên nhiên, không làm điều gì không có mục đích
16 Equity never wants a trustee - Luật công bình không bao giờ muốn người được
uỷ thác (bao giờ cũng muốn người uỷ thác)
17 Equity aids the vigilant - Luật công bình giúp đỡ người cẩn trọng
18 Equaility is equity - Bình đẳng là công bình
- Giai đoạn 4: Từ năm 1832 cho đến
ngày nay
Đây là giai đoạn chuyển đổi bộ máy nhà nước cũng như hệ thống pháp luật Anh Bắt đầu giai đoạn này là các cuộc cải cách về pháp luật và hệ thống toà án Các luật gia (các nhà lí luận cũng như thực tiễn) thay đổi quan điểm đánh giá tầm quan trọng của luật vật chất và luật hình thức Trước đây các luật gia Anh coi trọng luật hình thức (luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự) hơn luật vật chất nhưng nay chuyển sang coi trọng cả luật hình thức lẫn luật vật chất Nhà nước đã tiến
Trang 4hành huỷ bỏ một khối lượng lớn các văn bản
luật đã lạc hậu không phù hợp với thực tiễn
và tiến hành hệ thống hoá, pháp điển hoá
pháp luật trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Cuộc cải cách hệ thống toà án trong giai
đoạn này làm cho các hệ thống toà án bình
đẳng với nhau hơn Các hệ thống toà án
trước đây (giữa toà xử theo Common law và
toà xử theo Equity) thiếu sự bình đẳng cần
thiết Luật toà án năm 1873 (Judicature act
1873) đã xoá bỏ sự cách biệt này Luật này
đã hợp nhất cả hai toà Court of Chancery (xử
theo luật công bình) và Court of Common
law (xử theo thông pháp) vào trong khuôn
khổ của Toà án tối cao và các nguyên tắc của
hai toà này cũng được xem xét và tôn trọng
Cuộc cải cách này được một luật gia Anh ví
von như đã "làm cho hai dòng nước đã gặp
nhau và giờ đây cùng chảy chung dòng song
nước không trộn lẫn" Theo Rene David
"cuộc cải cách này không tước bỏ được tính
chất truyền thống của pháp luật Anh quốc"
Cùng với sự tăng cường vai trò của nghị
viện và các cơ quan hành chính nhà nước, số
lượng các văn bản pháp luật của nghị viện và
các cơ quan hành pháp tăng lên theo xu
hướng ảnh hưởng của hệ thống pháp luật lục
địa châu Âu
Trong thế kỉ XX vai trò lập pháp uỷ
quyền tăng lên Số lượng các văn bản của
Chính phủ, của Hội đồng cơ mật, của nhà
vua tăng lên
Tuy nhiên, cho đến ngày nay án lệ (tiền
lệ pháp luật) vẫn là nguồn quan trọng của hệ
thống pháp luật Anglo - Saxon
Một điểm đặc biệt khác của giai đoạn 4
này là pháp luật Mĩ phát triển gần như tách
ra thành hệ thống pháp luật riêng Sự xuất hiện Hiến pháp 1787 là cơ sở xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật Mĩ, tạo ra sự khác biệt giữa Mĩ và Anh Trong lĩnh vực luật nhà nước (luật hiến pháp), nước Anh theo chính thể quân chủ lập hiến, còn Mĩ xây dựng chính thể cộng hoà tổng thống, nước Anh không có hiến pháp thành văn, còn Mĩ
có hiến pháp thành văn Hoa Kì xây dựng bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân quyền rạch ròi, còn Anh quốc không có sự phân quyền rạch ròi vì Thượng nghị viện Anh (House of Lords) lại là Toà phúc thẩm tối cao Quan chưởng ấn (Lord Chancellor) lại
là chủ tịch Thượng viện
2 Các nguyên tắc cơ bản trong việc áp dụng án lệ trong hệ thống Common law
Việc áp dụng án lệ phải tuân theo 3 nguyên tắc cơ bản sau đây:
1 Các quyết định của Thượng nghị viện (House of Lords) là án lệ bắt buộc đối với tất
cả các toà án ngoại trừ bản thân Thượng nghị viện (trước năm 1966 án lệ của Thượng nghị viện có giá trị bắt buộc ngay cả đối với Thượng nghị viện)
2 Các quyết định của Toà phúc thẩm (Court of appeal) khi đã tạo nên án lệ thì có giá trị bắt buộc đối với tất cả các toà án cấp dưới thuộc quyền phúc thẩm của toà án này Trừ các bản án hình sự còn các án lệ khác của Toà phúc thẩm cũng có giá trị bắt buộc ngay cả với bản thân nó
3 Các quyết định của toà án cấp cao (Hight Court of Justice) không mang tính án
lệ bắt buộc đối với toà án cấp dưới, nó chỉ có giá trị thuyết phục và ảnh hưởng đến các quyết định của toà án cấp dưới
Trang 5Ngoài nguyên tắc cơ bản nói trên còn có
một số nguyên tắc khác liên quan đến việc
áp dụng án lệ:
- Khi áp dụng án lệ đòi hỏi các thẩm
phán phải phân tích kĩ các bản án Trong các
lí do lập luận cho quyết định của toà án cần
phải phân biệt những lí do nào là cần thiết
không thể thiếu và lí do nào là không nhất
thiết cần phải có Chỉ những lí do, căn cứ cơ
bản nhất thiết phải có gọi là ratio decidendi
mới là phần bắt buộc áp dụng, còn phần phụ,
phần không nhất thiết phải có gọi là obiter
dictum thì không bắt buộc phải áp dụng Giá
trị của phần obiter dictum chỉ là mang tính
thuyết phục, còn áp dụng hay không phụ
thuộc vào mức độ uy tín và ảnh hưởng của
thẩm phán đã tạo ra án lệ đó
3 Các đặc điểm cơ bản
Từ sự phân tích ở các phần trên đây,
chúng ta có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của
hệ thống pháp luật Anglo-Saxon như sau:
- Đây là hệ thống coi trọng tiền lệ pháp luật;
- Đề cao vai trò của toà án trong sáng tạo
pháp luật;
- Coi trọng đời sống thực tiễn của pháp luật;
- Bao gồm ba bộ phận là văn bản quy phạm pháp luật (do cơ quan lập pháp làm ra), án lệ (Common law) và Equity (luật công bình);
- Việc sử dụng án lệ và việc đăng tải công khai các bản án xét xử công bằng là một trong những yếu tố đảm bảo tính minh bạch của pháp luật và hoạt động tư pháp;
- Hệ thống pháp luật này gắn liền với chế
độ xét xử tranh tụng (khác với hệ thống pháp luật lục địa châu Âu là xét xử thẩm vấn)./
(1).Xem: Les grands systèmes de droit contemporains - par René David & Camille Jauffret - Spinosi - DALLOZ - Paris 1992, P.255
(2) Lord Chancellor là chức vụ quan trọng tương đương với quan chưởng ấn, bộ trưởng Bộ tư pháp (3) Tiếng la tinh in personam: đối nhân, in rem: đối vật Quyền nhân thân là những quyền dân sự gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác như quyền có họ, tên, quốc tịch, quyền tự do kết hôn, li hôn, quyền được đảm bảo an toàn tính mạng, sức khoẻ, thân thể, danh dự, nhân phẩm
(4) Nguyên tắc này được hiểu là luật công bằng tôn trọng các quy định của thông luật, trừ khi có lí do chính đáng để chứng tỏ điều ngược lại
Nh÷ng biÓu hiÖn…
(Tiếptheo trang 63)
hiệu quả các tội phạm do các tổ chức phạm
tội thực hiện ngay từ khi mới có hành vi
thành lập hoặc tham gia tổ chức với mục đích
thực hiện các tội phạm đó.(8)
Tóm lại, qua việc đánh giá các đòi hỏi
của nguyên tắc phân hóa TNHS đối với chế
định đồng phạm và nghiên cứu các quy định
của pháp luật hình sự hiện hành của nước ta,
có thể khẳng định rằng mặc dù BLHS đã thể
hiện được những nội dung cơ bản của
nguyên tắc này nhưng vấn đề phân hoá TNHS chưa được giải quyết triệt để Các quy định liên quan đến đồng phạm vẫn cần được tiếp tục phát triển theo cả hai hướng: Phân hoá cụ thể hơn trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm dựa trên tính chất hành vi của họ và phân hóa TNHS đối với trường hợp đồng phạm có tính nguy hiểm cao - tổ chức phạm tội./
(8).Xem: TS Lê Thị Sơn - "Về tội phạm có dấu hiệu
“có tổ chức” trong luật hình sự Việt Nam", Tạp chí luật học, số 1/2003, tr 45 - 47, 48.