1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

đề cương tâm lý học

112 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 234,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể:+ Ở con người cũng như ở động vật, hành vi được hiểu là tổng số các cử độngbên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại 1 số kích thích n

Trang 1

Ch ươ ng 1 NH NG V N Đ CHUNG C A TÂM LÝ H C Ữ Ấ Ề Ủ Ọ

* Nói 1 cách khái quát thì tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy

ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của conngười; Theo cách hiểu này thì tâm lý con người là nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, tìnhcảm, ý chí, tính cách, ý thức, nhu cầu, năng lực, các hành vi … tất cả các hiện tượngtâm lý đó tạo ra 4 lĩnh vực tâm lý cơ bản của con người là: Nhận thức; Tình cảm – ýchí; Giao tiếp và Nhân cách Các hiện tượng tâm lý đóng vai trò quan trọng trong đờisống của con người, trong quan hệ giữa con người với con người trong xã hội loàingười

* Tâm lý học là khoa học về các hiện tượng tâm lý, nhưng trước khi tâm lý học rađời với tư cách là khoa học độc lập thì nó đã trải qua thời gian rất dài và gắn liền vớilịch sử phát triển của loài người

Tâm lý học nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới tinh thần conngười trong sự vận động tương tác với thực tại khách quan (tâm lý đại cương) vànhững quy luật riêng biệt trong đời sống (tâm lý học chuyên ngành: Tâm lý học bấtthường, Tâm lý học động học, Tâm lý học nhận thức, Tâm lý học so sánh, Tâm lýhọc phát triển, Tâm lý học cá nhân, Tâm lý học xã hội, Tâm lý học nghệ thuật, Tâm

lý học quân sự, Tâm lý học tội phạm, Tâm lý học sáng tạo,Tâm lý học lao động, Tâm

lý học trị liệu,Tâm lý học tư vấn, Tâm lý học kinh tế, Cận tâm lý, và ứng dụngtrong thực tiễn đời sống con người

1.1.1.2 Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại ( 1T)

a Tâm lý học hành vi

Tiếp cận hành vi là một trong những cố gắng rất lớn của tâm lý học thế giới đầuthế kỉ XX, nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu tâm lý người thời đó Kếtquả là đã hình thành trường phái có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lý học

Mĩ và thế giới trong suốt thế kỷ XX: Tâm lý học hành vi, mà đại biểu là các nhà tâm

lý học kiệt xuất: E.L.Thorndike (1874-1949), J.B.J.Watson (1878:1958), E.C.Tolman

(1886-1959), K.L.Hull (1884-1952) và B.F.Skinner (1904-1990) và A Bandura v.v…Các nhà tâm lý học hành vi cho rằng tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng

Trang 2

thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể:

+ Ở con người cũng như ở động vật, hành vi được hiểu là tổng số các cử độngbên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại 1 số kích thích nào đó

+ Toàn bộ hành vi của con người và động vật phản ánh bằng công thức:

S ( Stimulant: Kích thích) – R (Réaction: Phản ứng)

* Ưu điểm: Đã nêu 1 quan điểm tiến bộ trong tâm lý học – coi hành vi là dongoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu được 1 cách kháchquan, từ đó có thể điều khiển hành vi theo phương pháp thử “đúng – sai” Tâm lý họchành vi ra đời là một cuộc cách mạng, làm thay đổi cơ bản hệ thống quan niệm vềtâm lý học đương thời Theo đó, đối tượng của tâm lý học là hành vi chứ không phải

ý thức Phương pháp nghiên cứu là quan sát và thực nghiệm khách quan chứ khôngphải là nội quan

* Nhược điểm:

- Quan niệm 1 cách máy móc, cơ học về hành vi; đánh đồng hành vi của conngười với hành vi của con vật, coi hành vi chỉ là những phản ứng máy móc nhằmkích thích, giúp cho cơ thể thích nghi với môi trường xung quanh

- Đồng nhất phản ứng với nội dung tâm lý bên trong làm mất chủ thể, tính xã hội.Coi tâm lý người chỉ là hành vi, phản ứng trong thế giới 1 cách máy móc - đây làquan điểm tự nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử và thực dụng

Khái quát về tâm lý học hành vi

Chương I: Khái quát về Tâm lý học hành vi.

I Lịch sử hình thành.

Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hình thành hai xu hướng duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan đã tạo nên sự khủng hoảng trong tâm lý học thời kỳ ấy Trước đòi hỏi của cuộc sống và sự vận động của bản thân khoa học, càng ngày ý đồ tiếp tục phát triển tâm lý học trong khuân khổ của tâm lý học duy tâm càng tỏ rõ sự thất bại.

Chính vì thế, cần thiết tìm ra một con đường mới về nguyên tắc để xây dựng khoa học tâm lý Dựa trên quan điểm triết học thực chứng của Comte (1798 - 1857), chủ trương mọi lập luận phải được xây dựng trên cơ sở những chứng cứ khách quan, quan sát được, những thành tựu của các nhà sinh lý học thần kinh và tâm lý học động vật J Watson (1878 – 1958) - một nhà tâm

lý học người Mỹ đã hình thành trường phái tâm lý học hành vi - một khoa học

về hành vi Các nhà nghiên cứu có xu hướng duy vật trong tâm lý học đã đi

Trang 3

theo con đường này Và nhờ có cuộc đấu tranh tích cực của Watson và những nhà hành vi mà hành vi đã trở thành đối tượng chủ yếu và duy nhất của tâm lý học, góp phần xứng đáng xây dựng tâm lý học khách quan.

Tâm lí học hành vi, với những đại biểu xuất sắc là các nhà tâm lí học kiệt xuất: J Watson (1878 – 1958), E.Tolmen (1886 – 1959), E.L.Toocdai (1874 – 1949), B.Ph.Skinnơ (1904 – 1990)… Các nhà tâm lí học theo hướng tiếp cận hành vi phủ nhận việc nghiên cứu ý thứ con người.

II Sự phân hóa trong Tâm lý học hành vi.

Năm 1913, tập san tâm lý học Mỹ in bài báo của Watson “Tâm lý học dưới con mắt nhà hành vi”, là phần đầu bài giảng của ông tại trường Đại học Colombia năm 1912, sự kiện này được coi như mốc hình thành tâm lý học hành vi Về sau các quan điểm trình bày trong bài báo còn được ông đưa ra trong một loạt các công trình từ năm 1913 đến 1930.

Sự phát triển tiếp theo của hướng tiếp cận hành vi sau J Watson đã dẫn đến phân hoá trường phái tâm lí học này thành 3 nhánh:

1 Tâm lí học hành vi bảo thủ, trung thành với các luận điểm ban đầu, có tính cơ giới về hành vi trí tuệ con người của J Watson (thuyết kích thích – phản ứng: S – R), đại biểu là Skinnơ.

2 Tâm lí học hành vi mới, có ý đồ nghiên cứu cả các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ đồ S – R, yếu đố đó chính là quá trình nhận thức (thuyết

S – S), đại biểu là E.Tolmen.

3 Tâm lí học hành vi chủ quan (thuyết “TOTE” – chữ đầu của các từ tiếng Anh T: Test, O: Operate; T: Test, E: Exit, tức là thuyết thử - thao tác - thử - thoát ra) Đại diện thuyết TOTE là O Mille, Galanter, Pribram.

Sự khác nhau giữa các thuyết trên tập trung vào 3 điểm sau:

- Thứ nhất: nhân tố phát động 1 hành vi Thuyết hành vi cổ điển cho rằng các phản ứng bên ngoài là nhân tố phát động hành vi của con người và con vật Theo TOTE, nhân tố phát động hành vi của con người và con vật là quá trình ở trung ương thần kinh, trí nhớ, tâm thế, sự mong đợi…

- Thứ hai: kết quả học tập Thuyết (S – R) quan niệm kết quả học tập là

kỹ xảo (trật tự nào đó của các cử động) Còn theo thuyết (S – S), kết quả học tập là “các cấu trúc nhận thức” (hay là sự phản ánh một tình huống nào đó).

- Thứ ba: phương pháp ứng xử Thuyết (S – R) cho rằng phương thức thích ứng là “thử và sai”, còn theo thuyết (S – S), tính chất và thành công của

Trang 4

các hành vi phụ thuộc vào cấu trúc của tình huống khách quan quy định Vì vậy, tổ chức (cấu trúc) tình huống quy định sự hoạt hoá của cá thể, nó quy định sự nắm bắt các quan hệ bản chất của tình huống Ngược lại, thuyết TOTE, đề cao hình ảnh, kế hoạch của các phản ứng Nói các khác, theo TOTE, những kinh nghiệm, tri thức đã có về hành vi, sự chỉ dẫn quá trình tiến hành hành vi đó sẽ quy định chất lượng của hành vi ứng xử.

Chương II: Tâm lý học hành vi cổ điển.

I Những cương lĩnh đầu tiên của thuyết hành vi.

Những cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa hành vi do Watson xây dựng lên, sau đây là nội dung cụ thể của những cương lĩnh ấy:

1 Tâm lý học hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả, giảng giải các trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người, đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi con người Hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài.

2 Theo Watson có 4 loại hành vi: hành vi bên ngoài, hành vi bên trong, hành vi tự động minh nhiên và hành vi tự động mặc nhiên Theo ông, mọi việc con người làm kể cả suy nghĩ đều thuộc một trong bốn loại hành vi này Nghiên cứu dùng các phương pháp khoa học khách quan, sử dụng phương pháp ghi chép các sự kiện kiểm soát được về quá trình cơ thể, thích nghi với môi trường.

3 Trong tâm lý học hành vi cổ điển, hành vi của động vật và người bị giản đơn hóa thành những cử động cơ thể Nhờ những cử động đó với tính cách

là “một cơ quan biết phản ứng” hay “một hệ thống vật lý” thích nghi với môi trường để đảm bảo sự sống còn Quan sát cũng như giảng giải hành vi đều phải tuân theo công thức S - R Trong đó S là kích thích, R là phản ứng Kích thích có thể là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện bên trong nào đó của sinh vật, phản ứng là bất cứ cái gì mà sinh vật làm và

nó bao gồm rất nhiều thứ.

4 Với công thức S - R, Watson đã đặt cho thuyết hành vi mục đích cao

cả là điều khiển hành vi động vật và con người Lấy nguyên tắc "thử - sai" làm nguyên tắc khởi thuỷ điều khiển hành vi Hành vi chỉ là mối liên hệ trực tiếp “cơ thể - môi trường”; theo đó, tâm lý, ý thức chẳng qua chỉ là những hiện tượng thừa Tâm lý học với tư cách là khoa học về khoa học về hành vi

có trách nhiệm vứt bỏ toàn bộ các thuật ngữ của tâm lý học cấu trúc và tâm

Trang 5

lý học chức năng như ý thức, trạng thái và quá trình ý thức, lý trí và hình ảnh…

Do lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu và dùng phương pháp khoa học

tự nhiên, tâm lý học lần đầu tiên có dáng dấp tâm lý học khách quan.

II Hành vi và con người.

Nghiên cứu hành vi của con người, điều ấy có nghĩa là đưa cuộc sống của con người trở thành đối tượng của tâm lý học Chẳng cần phải nói, ai cũng có thể thấy hành vi là cái gì và nó tồn tại trong hiện thực một cách khách quan Nếu như trong tâm lý học truyền thống chỉ tìm hiểu nội quan thì tâm lý học hành vi lại là một bước tiến đáng kể, nghiên cứu nguồn gốc sinh

ra “tâm hồn”, “hồn”, “tâm lý” Khái niệm hành vi được xây dựng trên nền móng của sự chứng thực có thể quan sát từ phía ngoài.

Tâm lý (của cả người và con vật ) chỉ là các dạng hành vi khác nhau Hành vi là tập hợp các phản ứng ® của cơ thể đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài (S) Nhiệm vụ của nhà tâm lí học là mô tả và lượng hoá các hành vi đó, đúng như nó diễn ra trong tình huống xác định Phương pháp của nhà tâm lí học là quan sát khách quan và thực nghiệm các phản ứng của cơ thể khi có tác nhân kích thích, nhằm mục đích xác định tương quan giữa kích thích và phản ứng.

Chính sự quan sát đó chính là lập trường hiện thực của tâm lý học hành

vi và toàn bộ cuộc sống của con người được xem như lịch sử của tính tích cực, từ đó hình thành khái niệm “dòng tính tích cực” Trong tâm lý học hành

vi khái niệm này được ngầm hiểu là “dòng hành vi”, đó là toàn bộ hành vi do các trả lời đơn thuần đối lới các kích thích hợp lại.

Hầu hết các thực nghiệm của trường phái hành vi được thực hiện trên động vật (chuột, chim bồ câu…), sau đó, các kết quả này được ứng dụng trên con người Cơ sở sinh lí thần kinh được quan tâm trong các thực nghiệm

là phản xạ có điều kiện Cơ chế hình thành các hành vi là sự mò mẫm của chủ thể, theo nguyên tắc “thử và sai” qua nhiều lần, cho tới khi xác lập được các phản ứng phù hợp, luyện tập và củng có nó.

Theo Watson, mọi phản ứng, hành vi được phân loại theo hai tiêu chí: đó

là phải ứng tiếp thu hay di truyền; phản ứng bên trong hay phản ứng bên ngoài Kết quả là trong hành vi được chia ra thành các phản ứng:

- Bên ngoài hay tiếp thu nhìn thấy được (chơi quần vợt, mở cửa…).

Trang 6

- Bên trong và tiếp thu nhưng ở dạng dấu kín (tư duy - mà thuyết hành vi gọi là ngôn ngữ bên ngoài).

- Bên ngoài nhìn thấy được và di truyền (vỗ tay, hắt hơi… cũng như các phản ứng yêu thương, cáu giận…).

- Bên trong dấu kín và di truyền, là phản ứng các tuyến nội tiết Ông còn phân biệt giữa phản ứng bản năng (đưa tay ra với bắt…) và phản ứng cảm xúc (các kích thích có đặc điểm nội tâm, liên quan đến cơ thể chủ thể).

Theo các nhà tâm lí học hành vi, hành vi trí tuệ (của cả người và động vật) là các phản ứng có hiệu quả mà cá thể (chủ thể) học được, nhằm đáp lại các kích thích của môi trường sống trong các công trình của J Watson, hành vi trí tuệ được đồng nhất với ngôn ngữ bên trong Từ đó, ông chia tư duy thành 3 dạng:

- Thứ nhất, là các thói quen, kỹ xảo ngôn ngữ đơn giản (đọc 1 đoạn thơ hay đoạn văn mà không làm thay đổi trật tự từ).

- Thứ hai: giải quyết các nhiệm vụ tuy không mới, nhưng ít gặp và phải có hành vi ngôn ngữ kèm theo ( nhớ lại một đoạn thơ hay một sự kiện đã thoảng qua trong kí ức).

- Thứ ba: giải quyết các nhiệm vụ mới; buộc cơ thể lâm vào hoàn cảnh phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết bằng ngôn ngữ trước khi thực hiện một hành động cụ thể.

Watson phân biệt hành vi người không giống với hành vi động vật:

- Một là: khác biệt hoàn toàn bẩm sinh ở trong lĩnh vực sinh vật của con người.

- Hai là: ngoài thế giới vật thể mà động vật cũng có, con người còn có thế giới từ ngữ, cái có thể thay thế cho thế giới đồ vật tạm thời Chính vì thế mà thế giới kích thích của con người rộng lớn hơn nhiều Với Watson, ý nghĩ chẳng qua chỉ là hoạt động của bộ máy ngôn ngữ.

- Thứ ba: đó là con người là “tồn tại xã hội”, vì chỉ trong môi trường xã hội con người mới kích thích lẫn nhau làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển.

Với Watson, chỉ có hành vi của tồn tại con người mới là đối tượng của thuyết hành vi Đối với nhà hành vi, ý thức là cái gì đó vu vơ, vô ích và nhà hành vi không được công nhận ý thức, đây chính là hạn chết lịch sử lớn nhất của thuyết hành vi Bời thực chất hành vi là biểu hiện của hoạt động, và do

đó nó không tách rời ý thức.

Trang 7

Theo tâm lý học hành vi, tâm lý học lấy hành vi, tức là mọi ứng xử và từ ngữ của con người, cả những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu Đây chính là việc nghiên cứu con người từ khi bào thai cho đến khi chết Hành vi được coi là mối liên hệ trực tiếp giữa kích thích và phản ứng đáp lại kích thích ấy Kích thích thuộc về thế giới tác động, còn hành vi là do cơ thể làm ra Watson định nghĩa con người là “tồn tại xã hội”,

đó là cơ thể làm việc và nói năng phải thích nghi với môi trường xung quanh;

từ đó tạo ra một tổ hợp phản ứng phức tạp, tổ hợp lại thành các tập hợp phản ứng, và với các nhà hành vi cổ điển thì các tập hợp ấy được thực hiện chung bởi hệ thống chung của các kỹ xảo Chính vì thế mà Watson coi con người như là “một cơ thể phản ứng” hay là “một cái máy sinh học nghiêm túc”, “một cái máy hữu cơ nghiêm túc, sẵn sàng hoạt động”, đó là những duy vật máy móc về con người.

Các nhà hành vi chủ nghĩa coi nhẹ tính tích cực của chủ thể, đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các phản ứng Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi trí tuệ (cho cả động vật và con người) được quy về việc nghiên cưu tạo ra môi trường các kích thích, được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá trình “điều kiện hoá hành vi”.

Watson phát biểu: “hãy cho tôi một tá trẻ em khỏe mạnh và bình thường

và một ngôi trường chuyên biệt mà ở đó tôi có thể giáo dục chúng, thì tôi bảo đảm bất kỳ một em nào trong đó cũng có thể trở thành bác sĩ, một luật gia, một nghệ sĩ, một cửa hàng trưởng, thậm chí nếu các bạn muốn, một người cục cằn hoặc một tên kẻ cắp không cần kể đến tài năng, xu hướng, chí hướng, nguyện vọng và dòng giống ông cha” Ông muốn thực hiện một trong những nhiệm vụ hàng đầu của tâm lý học là điều khiển hành vi con người sao cho thỏa mãn nhu cầu của xã hội Với Watson, “con người được xây dựng nên, chứ không phải tự sinh ra” “Nhân cách là sự sáng tạo của con người, chứ không phải là so trời phú cho” Ngôn ngữ và tư duy chỉ là các dạng kỹ năng, cơ sở của kỹ năng là những cở động giản đơn hay còn gọi là bẩm sinh Kỹ xảo được giữ gìn trong trí nhớ.

Chương III: Chủ nghĩa hành vi mới.

I Lịch sử xuất hiện.

Vào ngay những năm đầu của thập kỷ thứ ba thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện khủng hoảng tâm lý học kiểu Watson.

Trang 8

Các đại biểu xây dựng lên thuyết hành vi mới là E.Tolman (1886-1959), K.Hull (1884-1952) Thuyết hành vi mới ở chỗ, trong công thức S-R truyền thống, những nhà hành vi mới đưa thêm vào các biến số trung gian làm khâu gián tiếp dẫn đến các kích thích và phản ứng.

Theo chủ nghĩa hành vi mới, năm 1922, trong “Công thức mới của thuyết hành vi” đã cho rằng “tâm lý học hành vi S-R” thuần túy của Watson chỉ là sinh lý học về hành vi, vì thế đã đề ra “thuyết hành vi không sinh lý học” và gọi nó là “thuyết hành vi mới” Năm 1929, báo cáo “giải thích phản xạ có điều kiện theo chức năng” của Hull đưa ra đã tạo thêm điều kiện thúc đẩy thuyết hành vi mới phát triển.

Theo chủ nghĩa hành vi mới, các biến số trung gian hiểu theo tinh thần thuyết tạo tác, cụ thể là các kiến tạo lý luận có khả năng xác lập các quy luật chủ yếu của hành vi Chính nhờ các “kiến tạo lý luận”, “các yếu tố trung gian”, “các biến số can thiệp” và dùng các thuật ngữ của tâm lý học chủ quan

mà có thể phân tích một cách khoa học các sự kiện thu thập được và giải thích chúng một các chính xác, nhờ vậy, theo các nhà hành vi mới đã định,

có thể đưa thuyết hành vi ra khỏi tình trạng khủng hoảng.

II Lý thuyết của Tolman.

Theo Tolman, thuyết hành vi cùng lúc có mấy tên gọi: thuyết hành vi tổng thể, thuyết hành vi có ý định, thuyết hành vi tạo tác Lý thuyết của Tolman là

sự hỗn hợp của thuyết hành vi, thuyết Ghestan, thuyết tạo tác, thuyết ý định Theo ông, hành vi của cơ thể là tổng hòa chứ không phải là từng trả lời của cơ thể Các cử động hành vi có cả các sự kiện vật lý và sinh học, cũng như những thuộc tính cá nhân của bản thân Hành vi là một động tác trọn vẹn có một loạt các thuộc tính: tính định hướng tới mục đích, tính dễ hiểu, tính linh hoạt, tính so sánh Tolman hình thành học thuyết về “các biến số trung gian” với tư cách là khâu trung gian can thiệp vào sơ đồ S-R Trong học thuyết này bao gồm toàn bộ thực chất của tâm lý học khách quan và hành vi chủ nghĩa.

Hành vi theo Tolman là các cử động hành vi chứ không phải là những trả lời trực tiếp đối với các kích thích Hành vi đáp lại bao giờ cũng nhằm tới các khách thể chuyên biệt có lợi cho cơ thể, các khách thể này là mục đích của

cơ thể Tolman gọi khả năng tiếp thu là khả năng định tính chủ ý, ông cho rằng có thể có tính chủ ý mà không có khả năng tiếp thu đi theo Tính chủ ý

là một hiện tượng trong hành vi và là hiện tượng cơ bản hơn khả năng tiếp

Trang 9

thu, tính chủ ý dường như là vốn tự có trong bản thân cơ thể Tolman phủ nhận tiêu chuẩn chủ quan ý định, tính chất chủ quan thể hiện ở chỗ thấy trước cử động cuối cùng Trong hệ thống của ông, cái gọi là tính tích cực chỉ

là tính kiên trì đạt tới mục đích, và tính tích cực này được xem xét trong mối quan hệ nhân quả với khách thể - mục đích.

Ông đưa ra hai loại biến số để làm cái quy định hành vi:

1 Các biến cố xa hay biến số khởi thủy: bao gồm các kích thích từ ngoại giới vào các trạng thái sinh lý ban đầu: Chế độ sử dụng(M); hình loại và dạng thức các kích thích có dự kiến trước cho phù hợp với khách thể - mục đích(G); Các loại hình của những trả lời vận động cần thiết®; Bản chất tổng hòa và số lần thử cần thiết để đạt tới mục đích đúng(∑OBO) Ngoài S, M và

G cũng đều là kích thích quy định hành vi.

2 Các biến số thường xuyên bao gồm các biến số trung gian và các biến

số can thiệp.

Theo ông, các cử động hành vi bao giờ cũng phải dựa vào ‘những điểm tựa vật thể” Điều đó có nghĩa là mọi cử động hành vi diễn ra dưới dạng vận động đều sẽ vô nghĩa, nếu như đặt chúng ra ngoài các thuộc tính vật lý của một nơi chốn nào đó Quá trình phân biệt và quá trình cầm nắm sự vật được xem như là các quá trình hình thành cử động hành vi chờ đợi hay yêu cầu, quá trình này được hình thành do có học tập trước đó Cả sự chờ đợi lẫn các giả định mà ông quan sát thấy đều dựa vào các vật thể, các vật thể này làm vai trò chỉ dẫn nhằm thỏa mãn nhu cầu cơ thể.

Theo Tolman, hành vi được xem xét trong mối quan hệ nhân quả trực tiếp

“thông số độc lập – thông số phụ thuộc” Điều này phản ánh trong sơ đồ hành vi do dộng vật tạo ra dưới góc độ lựa chọn:

Thông số độc lập – thông số trung gian – thông số phụ thuộc – hành vi Các thông số này được đưa vào với tư cách là các kiến tạo lý luận để giải thích các sự kiện thấy được bằng quan sát trực tiếp Hệ thống của Tomal hạn chế ở chỗ, nó hoàn toàn tập trung chú ý vào ý định và nhận thức, và bỏ qua các quá trình thần kinh diễn ra trong não và không do quan sát mà thấy được.

Tolman sinh vật hóa toàn bộ hoạt động của con người, giải thích tất cả các động cơ của hoạt động này bằng các loại nhu cầu khác nhau, và các loại nhu cầu cuối cùng được quy về nhu cầu cơ thể, bản năng Theo ông, con người có bốn nhu cầu: “cái trung tính”, “cái tôi”, “cái siêu tôi”, “cái tôi mở

Trang 10

III Hệ thống Hull.

Hull đưa các phương pháp diễn dịch – toán học vào tâm lý học hành vi,

hệ thống của Hull là hệ thống bao gồm một loạt định đề và hệ quả Cũng như Tolman, Hull cũng đưa vào các yếu tố trung gian trong sơ đồ S-R truyền thống, ông dùng thao tác để giải thích hành vi; mặt khác, dùng nguyên lý cung phản xạ với tư cách là nguyên lý làm việc của não bộ làm nguyên lý giải thích kinh nghiệm tự tạo trong học tập và kinh nghiệm này nằm trong cơ thể nằm trong hành vi.

Hệ thống của Hull bao gồm những luận điểm cơ bản sau:

1 Hệ thống vẫn giữ nguyên truyền thống của thuyết hành vi cổ điển, nó gạt bỏ thuyết sức sống, thuyết mục đích luận và tất cả các loại lý giải tự biên.

2 Đối tượng vẫn là hành vi, các hiện tượng lớn của hành vi được hiểu là hành vi của một nhóm tế bào thần kinh cơ hay mấu thần kinh, còn kết quả lớn của tính tích cực chung thì nảy sinh khi trả lời các kích lớn tác động vào.

Từ đây xuất hiện công thức S-O-R (O là cơ thể)

3 Trong hệ thống của ông, kỹ xảo là yếu tố trung gian giữ kích thích và phản ứng Kỹ xảo là những tồn tại như là những điều kiện không nhìn thấy trong hệ thống thưấn kinh tựa như các điện tử, proton… trong thế giới vật lý.

Vì không nhìn thấy nên các biến số ấy được coi là các kiến tạo logic tương ứng với các thao tác do cơ thể tạo ra trong các điều kiện Kỹ xảo làm nhẹ gánh cho tư duy, tức là đưa việc giải thích hành vi ra khỏi các kích thích bên ngoài Theo ông, hệ thần kinh có vai trò quyết định trong đời sống cơ thể, nó giữ cho cơ thể thống nhất giữa mối liên hệ qua lại với môi trường.

Nhưng thuyết của Hull cũng có nhiều điều cần phải nói, trước nhất con người trong thuyết của Hull đã bị sinh vật hóa hoàn toàn; ta không thể xác định mối liên hệ một chiều thật rành mạch giữa tác động bên ngoài và phản ứng bên trong cơ thể Tác động bên ngoài chỉ được thực hiện thông qua các điều kiện bên trong Trong học thuyết của Hull, con người hoàn toàn không

có chỗ đứng, hành vi con người chỉ là hành vi xã hội, tức là chức năng của một cơ chế tự vệ hay “một máy liên hợp vật lý”.

IV Thuyết TOTE.

Thuyết hành vi chủ quan - thuyết “TOTE” - chữ đầu của các từ tiếng Anh: T: Test, O: Operate; T: Test, E: Exit, tức là thuyết thử - thao tác - thử - thoát

Trang 11

ra Đại biểu là O.Mille, Galanter, Pribram Thuyết này là tổng hợp của thuyết hành vi với tâm lý học nội quan, giữ hành vi lại làm đối tượng của tâm lý học Công thức trên bắt đầu từ sự tác động là cơ thể; hành vi nói chung tuân thủ

sự kiểm tra của kế hoạch và biểu tượng, tức là của hoạt động tượng trưng Theo thuyết này, bên trong cơ thể là các cơ chế, các quá trình gián tiếp giữa phản ứng với kích thích Cho rằng, hình ảnh và kế hoạch là hai yếu tố liên kết kích thích với phản ứng Hình ảnh là tri giác được tích lũy, được tổ chức trong cơ thể về bản thân về thế giới mà cơ thể đang tồn tại trong đó Còn kế hoạch là quá trình được xây dựng kiểu thứ bậc của cơ thể, có khả năng kiểm tra các trật tự của thao tác Hình ảnh mang tính chất thông tin, còn

kế hoạch đề cập đến các thuật toán của hành vi Hành vi chỉ là một loạt các

cử động, còn con người là một cái máy vi tính phức tạp Chiến lược của kế hoạch được xây dựng trên các lần thử, tiến hành trong các điều kiện đã được định sẵn Thử nghiệm là sơ sở của quá trình hành vi trọn vẹn, từ đó mà các thao tác diễn ra một cách chính xác Như vậy, hệ thống TOTE bao hàm cả tư tưởng liên hệ ngược, vì vậy mỗi một thao tác của cơ thể diễn ra thường xuyên được điều chỉnh bởi kết của của các thử nghiệm khác nhau.

Hành vi chủ quan coi hành vi của con người một cách phi xã hội, quan niệm về con người phi lịch sử - đặc trưng đã làm cho hành vi chủ quan không phát hiện ra thực chất về tâm lý con người và chức năng thực sự của tâm lý trong cuộc sống, trong hoạt động của con người

Chương IV: Thuyết hành vi xã hội và Tâm lý học hành vi tạo tác của Skinner

Skinner là một đại biểu tiêu biểu nhất của một trong các xu thế của thuyết hành vi cấp tiến Skinner đổi mới thuyết hành vi cũ của Watson, hình thành thuyết hành vi tạo tác của mình, thực nghiệm trong cái hộp chứ danh đã khiến ông “hành vi hóa” được quan niệm về con người và hành vi người và

xã hội Một phần đó đã tạo nên thuyết hành vi xã hội của Skinner.

Skinner đã hình thành tư tưởng “công nghệ hành vi”, ông đưa ra triết lý

“hãy vứt bỏ tự do và nhân phẩm” và nó đã trở thành cơ sở của toàn bộ thuyết hành vi xã hội của ông.

I Tạo tác.

Skinner vẫn trung thành đi theo chủ nghĩa hành vi cổ điển của Watson, nhưng ông đã có thay đổi đôi chút Trong hệ thống của skinner, hành vi có một đặc điểm mới và một tên gọi mới là “tạo tác” Nó có ba dạng: hành vi vô

Trang 12

điều kiện, có điều kiện và hành vi tạo tác Ba loại này có ba cơ sở tương ứng là: bẩm sinh, phản xạ có điều kiện và quá trình điều kiện tạo tác.

Theo “tạo tác”, nhiều trả lời do cơ thể làm ra không phải do một kích thích không điều kiện nào đó gây ra, mà do từ cơ thể phóng ra, đáp ứng những kích thích kiểu đó, Skinner gọi là S Còn trong trường hợp hành vi tạo tác, thì

cơ thể khi vào một hoàn cảnh nào đó sẽ có những tạo tác (cử động) ngẫu nhiên, trong đó cái đúng sẽ được củng cố, và các phản ứng kiểu đó skinner gọi là R và được gọi là hành vi tạo tác Với loại S, một kích thích này được thay bằng một kích thích khác là ở chỗ tín hiệu hóa, và trong tạo tác cũng thay thế, nhưng không có quá trình tín hiệu hóa, loại kích thích R không chuẩn bị để nhận một kích thích củng cố mà tạo ra kích thích củng cố Và đây là một ý kiến có ý nghĩa Và trong luận điểm của Skinner, cơ sở của hành

vi có cùng một nguyên tắc hoạt động phản xạ của hệ thần kinh Từ đây chính thức đưa phản xạ trong thuyết hành vi thành một đơn vị phân tích để nghiên cứu hành vi một cách trực quan.

Theo Skinner, cơ thể con người luôn nằm trong vòng của kích thích củng

cố và chỉ có thể Đây là một cái nhìn tiêu cực hay nói cách khác là mù quáng trong cách nhìn của ông.

Tạo tác là mối liên hệ chức năng giữa các tác động trực tiếp vào cơ thể

và các cử động trả lời trực tiếp nhằm tránh những củng cố âm và nhận những củng cố dương.

II Các luận điểm chính của Skinner.

1 Cơ thể

Cơ thể theo Skinner được hiểu như là cái tạo ra một hành vi tạo tác nào

đó tương ứng với một hoàn cảnh nào đó Với ông, con người và động vật không có một sự khác biệt nào cả như theo thuyết hành vi cổ điển, vì thế mà mang những kết luận thu được ở động vật áp dụng vào con người Đây là một luận điểm sai lệch hoàn toàn và nó cũng là một trong những nguyên nhân rất lớn đẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa hành vi.

Cơ thể là một con người thực hiện một loại hành vi đồng bộ, trong đó có

cả hành vi ngôn ngữ và các loại hành vi khác Cơ thể vừa đóng vai trò kích thích, vừa là một củng cố Với ông, quan hệ qua lại giữa người với người chỉ

là quan hệ qua lại giữa một cơ thể với một cơ thể khác, và luận điểm này thống trị trong suốt thời kỳ tồn tại của chủ nghĩa hành vi Và đây là một khuyết điểm nữa của Skinner Theo ông, con người chỉ là cơ thể cá thể, kẻ

Trang 13

mang quá trình hành vi được hình thành nhờ có hoàn cảnh tác động, trong

đó có cả môi trường; ông còn phân biệt ra môi trường vật lý và môi trường sinh vật Skinner đã hành vi hóa tất cả quá trình và thuộc tính tâm lý người, kết quả, con người chỉ là một hệ thống tạo ra được hành vi, hệ thống ấy không có lý tưởng, không có mục đích, không có kế hoạch… Tôi thực sự phê phán ý đồ hành vi hóa ấy, và xã hội cũng đã chứng minh những luận điểm sai lầm của Skinner nói riêng và chủ nghĩa hành vi nói chung.

2 Văn hóa

Khái niệm văn hóa là một trong những khái niệm cơ bản tạo dựng nên thuyết hành vi xã hội của Skinnner Trong việc hình thành hành vi người, văn hóa có vai trong quyết định Theo ông, văn hóa không phải là cốt lõi của tri thức, không phải là tổ hợp hay dòng tư tưởng, không phải là chiều hướng suy nghĩ dễ xảy ra nhất, không phải là kết quả của mọi thành tựu hay tư liệu cần thiết cho sự suy nghĩ Văn hóa - ấy là môi trường xã hội, rồi đến với cá thể nó

sẽ quy về hoàn cảnh xã hội, mà đó là một mớ ngẫu nhiên được củng cố mà người này được nhận từ người kia.

Văn hóa nằm ngoài hành vi của cá thể, và cá thể ủng hộ văn hóa bằng thực tiễn của mình, văn hóa bao gồm các hành động của người khác Hành

vi do hoàn cảnh tạo ra, đó là tư tưởng của nền văn hóa, các củng cố xuất hiện trong đó chính là giá trị của văn hóa.

Hành vi tốt, hành vi xấu, đúng hay sai không quy vào lòng tốt hay ác ý, không quy về tính cách tốt hay xấu không quy về những tri thức về cái đúng cái sai Mà nó được quy về các hoàn cảnh bao gồm một số lớn các củng cố bằng lời nói ngôn ngữ khai quá “tốt”, “xấu”, “đúng”, “sai” Điều này khiến con người có thể rũ bỏ mọi trách nhiệm về hành vi của mình, đồng thời vứt bỏ mọi quan niệm về đạo đức ra người thực tế Theo nguyên tắc phản ứng của Skinner, con người trở thành con rối, tất thảy chỉ thực hiện hành vi của môi trưởng mà thôi Cuộc sống thực chỉ cần các hoàn cảnh như: thực phẩm, nước, các kích thích ngôn ngữ… chứa đựng các củng cố đối với hành vi tạo tác của cá thể Skinner còn nói, “đấu tranh giai cấp là một con đường con người kiểm tra con người một cách thô bạo”.

3 Công nghệ hành vi.

Trong học thuyết tạo tác của mình, Skinner lập ra mộ loại quy trình “công nghệ hành vi” Đây là bước cuối cùng trong việc hành vi hóa con người Quy trình của công nghệ hành vi là do cuộc sống của con người và xã hội quy

Trang 14

định Đây là một lập luận chính xác.

Theo lý thuyết của Skinner, công nghệ hành vi là:

a Quan niệm con người trước hết là cơ thể cá thể hay một hệ thống vật

lý với nghĩa là một hệ thống phức tạp, hệ thống này tiến hành hành vi theo một cách nhất định.

b Công cụ trung tâm là khái niệm tạo tác.

c Phân tích chức năng là phương pháp xây dựng và vận hành của công nghệ hành vi Cái tôi là một chương trình hành vi phù hợp với hoàn cảnh mà

“tôi” có Sơ đồ của nguyên tắc này vẫn là S-R

d Cơ chế của tất cả các quá trình công nghệ hành vi người nằm trong sự kiểm tra chế độ củng cố.

e Về mặt đạo đức, công nghệ hành vi mang tính trung lập, tức toàn bộ thực chất của tất cả các hoạt động có thể quan sát thấy ở con người là ở trong củng cố.

f Trong công nghệ hành vi có sáu loại kiểm soát: kinh tế, giáo dục, đạo đức, nhà nước, tôn giáo và tâm lý liệu pháp.

Tư tưởng điều khiển hành vi đạt đến đỉnh cao trong việc vận vận dụng thuyết hành vi xã hội vào thực tiễn dưới dạng công nghệ hành vi trở thành đoạn kết bi thảm cho thuyết hành vi cấp tiến

Chương V: Đánh giá tâm lý học hành vi.

I Nguyên nhân tan rã của thuyết hành vi.

Thứ nhất, tâm lý học hành vi đã đồng hóa hành vi người và hành vi động vật Phương pháp tiếp cận chỉ là quan sát được từ bên ngoài làm dữ liệu duy nhất Bên cạnh đó lại vứt bỏ ý thức ra ngoài phạm vi tâm lý và tác biệt một cách máy móc ý thức ra khỏi hành vi.

Thứ hai, thuyết hành vi đã coi con người như một cơ thể phản ứng, “một cái máy liên hợp vật lý”, họ xóa mọi ranh giới có tính nguyên tắc giữa hành vi con vật và con người Đây là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tan rã của thuyết hành vi.

Với ý đồ phát triển khoa học hành vi trên nền tảng khách quan và tiến bộ

đã sụp đổ với việc quan niệm con người chỉ có phản ứng thụ động, và vì vậy phụ thuộc vào các kích thích tác động.

Phương pháp luận của thuyết hành vi không lưu ý nhà nghiên cứu tới mặt

Trang 15

đạo đức, luân lý của con người mà chỉ xem xét con người có thích hợp với việc này việc kia hay không, biến con người không còn là người chủ nữa mà thành người thực hiện.

Chủ nghĩa hành vi chỉ để ý đến hành vi chứ không để ý tìm hiểu nguyên nhân, nguồn gốc của các hình thái hành vi ấy Thuyết này loại trừ hoàn toàn hành vi cấp cao như ý thức, và sự phát triển ý thức.

Trong quá trình xây dựng tâm lý học hành vi, hầu hết các nhà hành vi đều đánh mất phạm trù hành vi, mà chuyển nó thành phạm trù phản ứng Trong thuyết hành vi không có phạm trù hoạt động mà chỉ có phạm trù phản ứng

mà thôi.

Tâm lý học hành vi vẫn không giải quyết được hai vấn đề cơ bản mà trong suốt giai đoạn đó tâm lý học bế tắc:

- Không tìm ra những khác biệt chất lượng giữa động vật và con người.

- Và chính vì thế mà không có cách nghiên cứu ý thức.

Nói chung, tâm lý học hành vi đã không khắc phục được chủ nghĩa nhị nguyên, chủ nghĩa duy linh, chủ nghĩa cơ giới và chủ nghĩa siêu hình đặc trưng trong tâm lý học nội quan như Watson đã từng mong muốn.

II Những đóng góp của tâm lý học hành vi.

Trong giai đoạn đầu hình thành, tâm lý học hành vi đã mở ra một thời kỳ mới, cứu thoát tâm lý học những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ra khỏi khủng hoảng.

Đưa ra cho tâm lý học đương đại một con đường mới để nghiên cứu tâm

lý học như một khoa học về tâm lý Và đưa tâm lý học đi theo con đường duy vật biện chứng, góp phần rất lớn trong việc xây dựng tâm lý học khách quan Lần đầu tiên trong lịch sử tâm lý, tâm lý học hành vi đưa hành vi con người, đời sống xã hội của con người trở thành đối tượng của tâm lý học Kiên quyết chông lại những trường phái tâm lý học duy tâm trước đó Xây dựng một lý thuyết tâm lý học khách quan hoàn toàn mới.

Bên cạnh đó, chủ nghĩa hành vi đã đưa ra nhiều lập luận có giá trị cho việc giáo dục, đào tạo con người Đưa ra những luận điểm có ý nghĩa trong việc xây dựng tâm lý học xã hội, nghiên cứu hành vi của con người.

Đặc biệt, học thuyết hành vi đã được nghiên cứu và áp dụng rất thành công trong tâm lý học hiện đại khi được chỉnh sửa và kết hợp với những

Trang 16

trường phái khác Đóng góp rất lớn trong tư vấn tâm lý: tiếp cận thân chủ, trị liệu hành vi, trị liệu tâm lý, quản lý nhân sự, điều hành con người, phương pháp giáo dục…Trị liệu hành vi được ứng dụng khá rộng rãi trong trị liệu, tham vấn, đặc biệt với với những người mong muốn thay đổi hành vi không phù hợp Những trường hợp thường được sử dụng trị liệu hành vi có hiệu quả cao như: rối loạn ám sợ; stress, trẻ em với những rối nhiễu tâm lý, cảm giác tuyệt vọng; rối nhiễu tình dục Người ta hay sử dụng nó trong những vấn đề liên quan đến lão khoa, nhi khoa, hoá giải stress, điều chỉnh hành vi Trong một số lĩnh vực khác như kinh doanh quản lý hay giáo dục cũng có thể sử dụng liệu pháp này Thời gian can thiệp bằng liệu pháp này không dài nhưng

có thể đem lại những kết quả mong muốn do vậy nó được ứng dụng rộng rãi.

http://www.tamlyhoc.net/diendan/

b Tâm lý học cấu trúc (Ghestalt)

Trước và trong thời kỳ xuất hiện “Thuyết hành vi”, tâm lý học được hiểu là khoa học về

ý thức và phương pháp nghiên cứu là nội quan (tự quan sát và giải thích) Ngay từ khi ra đời

ở Đức năm 1879, với tư cách là khoa học độc lập, tâm lý học đã được mệnh danh là Tâm lý học nội quan W.Wundt - người sáng lập ra Tâm lý học này, đã xác định đối tượng của tâm

lý học là "tổ hợp các trạng thái mà ta nghiệm thấy - các trạng thái được trực tiếp thể nghiệm trong vòng ý thức khép kín" Sự phát triển tiếp theo của Tâm lý học nội quan đã hình thành nên Tâm lý học cấu trúc ở Mĩ Mặt khác, do nhu cầu khắc phục sự bế tắc của Tâm lý học nội quan, cũng ở Mĩ những năm này đã xuất hiện Tâm lý học chức năng Tuy nhiên, trên thực tế, cả hai dòng phái đều không tạo lập được khoa học khách quan về ý thức Lý luận của chúng gắn liền với phương pháp chủ quan, điều này gây sự thất vọng ở khắp mọi nơi Tâm lý học cấu trúc do các nhà tâm lý học Đức sáng lập, gắn liền với tên tuổi các nhà tâm lí học: Vecthaimơ (1880 – 1943), Côlơ (1887 – 1967), Côpca (1886 – 1947) Họ đi sâu nghiên cứu các quy luật về tính ổn định và tính trọn vẹn của tri giác, quy luật “bừng sáng” của tư duy Trên cơ sở thực nghiệm, các nhà tâm lí học Gestalt khẳng định các quy luật của tri giác, tư duy và tâm lí con người do cấu trúc tiềm định của não quyết định Các nhà tâm lí học Gestalt ít chú ý đến vai trò của vốn kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử.

c Phân tâm học

Thuyết phân tâm học do Sigmund Freud (1859 – 1939) bác sĩ người Áo xây dựnglên Luận điểm cơ bản của S Freud tách con người thành 3 khối: Cái ấy (cái vô thức),cái tôi và cái siêu tôi:

+ Cái ấy bao gồm các bản năng vô thức: Ăn uống, tình dục, tự vệ, trong đó bản

năng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ, đời sống tâm lí và hành vi của

Trang 17

con người, cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thoả mãn và đòi hỏi.

+ Cái tôi là con người thường ngày, con người ý thức, tồn tại theo nguyên tắc thực hiện Cái tôi có ý thức theo S Freud là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề ngoài của cáinhân lõi bên trong là “cái ấy”;

+ Cái siêu tôi là cái siêu phàm, “cái tôi lí tưởng” không bao giờ vươn tới được và

tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép

Như vậy, phân tâm học đã đề cao cái quá đáng cái bản năng vô ý thức, dẫn đếnphủ nhận ý thức, phủ nhận bản chất xã hội lịch sử và tâm lí con người, đồng nhất tâm

lí của con người với tâm lí của loài vật Học thuyết S Freud là cơ sở ban đầu của chủnghĩa hiện sinh, thể hiện quan điểm sinh vật hoá tâm lí con người

Tóm lại 3 dòng phái tâm lí học nói trên ra đời ở cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XXgóp phần tấn công vào dòng phái chủ quan trong tâm lí học, đưa tâm lí học đi theohướng khách quan Nhưng do giới hạn lịch sử, ở họ có những hạn chế nhất định nhưthể hiện xu thế cơ học hoá, sinh vật hoá tâm lí con người, bỏ qua bản chất xã hội lịch

sử và tính chủ thể của đời sống tâm lí con người

Phân tâm học của S.Freud có số phận đặc biệt Ngay từ khi mới ra dời, nó và cha đẻ của nó đã được đón tiếp với các thái độ ngược nhau Sự ghẻ lạnh của giới y học và của xã hội Đức - Áo đương thời Các bác sĩ thần kinh - đồng nghiệp của Freud xa lánh và phản bác ông Nhiều người doạ bỏ tù ông, lên án ông là kẻ phạm tội lớn nhất đối với nền văn hoá châu Âu Khi A.Hitler lên cầm quyền ở nước Đức và chiếm được nước áo, đã ra lệnh giết người thân và đốt sách của ông Trong khi đó, ở phía bên kia, ngay từ những năm 1905, tại Hoa kỳ, nhà tâm lý học lừng danh W.James đã khẳng định với S Freud "Tương lai tâm lý học thuộc về công trình của ông", còn ở Pháp, E.Clapared (1873-1940) nhận định: Phân tâm học của S.Freud là một trong những biến cố quan trọng nhất mà lịch sử các khoa học của trí tuệ loài người có được" Theo dòng thời gian, đã hơn 100 năm qua, vẫn liên tục diễn

ra những cuộc tranh luận gay gắt về toàn bộ hoặc một số luận điểm trong học thuyết của S.Freud Điều kỳ lạ là cùng với các luồng thái độ đó, phân tâm học ngày càng phát triển và thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội Thậm chí, vài thập niên gần đây, nhiều trào lưu tư tưởng cực đoan đã lợi dụng danh nghĩa của Phân tâm học, để kêu gọi "tự

do tính dục", "Giải phóng tính dục", "Cách mạng tính dục"… Những trào lưu này, thực chất

là lợi dụng và xuyên tạc S Freud.

Trên bình diện tâm lý học, ở nước ta Phân tâm học được nghiên cứu ít hơn các học thuyết khác Nguyên do là việc tìm hiểu thuyết này thường gặp khó khăn từ ba phía Trước hết, hướng tiếp cận của Phân tâm học không giống các học thuyết tâm lý truyền thống Những khái niệm và phương pháp của các trường phái tâm lý học đương thời đều được sinh

ra trong phòng thí nghiệm, trong thư viện và trong các bài giảng ở giảng đường đại học Ngược lại, Phân tâm học hầu như không có quan hệ với các giảng đường đại học và với lý

Trang 18

tưởng của khoa học đơn thuần Nó được sinh ra trong lòng của tâm thần học truyền thống,

có nhiệm vụ giúp đỡ những người mà xã hội cho là "bệnh nhân tâm lý" Chính vì thế sự thâm nhập của Phân tâm học vào làng tâm lý học không phải bằng cửa trước, mà bằng cửa bên Chính xác hơn, không thể so sánh nó với các trường phái khác Nó có lãnh địa riêng trong sự khám phá thế giới tâm hồn con người Phân tâm học, ngay từ cội nguồn đã không cùng dòng chảy với các tư tưởng tâm lý học chính thống Đối tượng của nó không phải là hành vi bình thường mà là hành vi bất thường, điều mà các trường phái tâm lý học khác ít quan tâm Phương pháp chủ yếu của nó là quan sát lâm sàng, chứ không phải là những thí nghiệm được kiểm soát trong phòng thí nghiệm Ngoài ra, Phân tâm học còn quan tâm nhiều đến vô thức - một đề tài mà hầu như bị loại bỏ bởi các trường phái tâm lý học đương thời Thứ hai: các nội dung nghiên cứu, các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong Phân tâm học thường bị "cấm kị", dễ gây "dị ứng" đối với sinh hoạt văn hoá đời thường của xã hội, đặc biệt là trong xã hội tôn giáo phương Tây và phong kiến phương Đông Thứ ba, các luận giải của S.Freud rất tinh tế, phần nhiều được rút ra từ kỹ thuật lâm sàng, hầu như không có sự lượng hoá, thống kê, những nội dung tâm lý được trình bày ở điểm giáp ranh giữa khoa học và suy diễn tư biện, nếu được chứng minh, chúng sẽ là phát hiện lớn lao về những điều sâu thẳm trong thế giới đời sống tâm lý con người, nhưng nếu thái quá chúng rất dễ trở thành tín điều phi khoa học Vì vậy, để có cái nhìn khách quan về Phân tâm học,

về sự kế thừa, sáng tạo và cống hiến của S.Freud, cũng như giá trị khoa học của các lý luận, phương pháp và kỹ thuật phân tâm của ông, cần phải nhìn nhận học thuyết này theo góc độ lịch sử.

Mặt khác, giống nhiều thuyết tâm lý học khác, trong quá trình phát triển, Phân tâm học thường xuyên chịu sức ép từ hai phía: sự phát triển và phân hoá từ bên trong và sự phản bác từ bên ngoài Ngay sau khi ra đời, học thuyết này đã phân hoá thành nhiều "nhánh": Tâm lý học bề sâu của J.Jung (nhà tâm lý học Thụy Sĩ 1875-1961); Tâm lý học cá nhân của Alfred Adler (nhà tâm lý học Áo gốc Australia 1870- 1937); Lý thuyết về sự phát triển tâm

lý xã hội của Eric Ericson (nhà tâm lý học Mĩ gốc Đức 1902-1994); Phân tâm học trẻ em của Anna Freud (1895-1982) và Mélanie Klein (1882-1960) v.v… Như vậy, nhiệm vụ của chương là vừa phải phân tích các nội dung chủ yếu của Phân tâm học S Freud về sự phát triển người vừa phải đề cập tới một số lý thuyết phát triển sau đó Cấu trúc của chương gồm 4 phần: Bối cảnh xã hội và những yếu tố tiền thân của Học thuyết phân tâm; S Freud

và sự hình thành Phân tâm học cổ điển; Những lý thuyết phát triển và cuối cùng là những người chống đối từ bên trong.

d Tâm lí học nhân văn

Chủ nghĩa nhân văn trong những năm 1950 và năm 1960 tăng lên ở Hoa Kỳ,

70-80 năm phát triển nhanh chóng, cả hai trái ngược với behaviorism là tương đương vớiđộng vật của con người, chỉ có các nghiên cứu về hành vi con người, người ta khônghiểu được bản chất vốn có, cũng chỉ trích Freud nghiên cứu của Đức chỉ chứng loạn

Trang 19

thần kinh và bệnh tâm thần, nghiên cứu tâm lý không bình thường, được gọi là tâm lýcủa phong trào thứ ba.

Trường phái này nhấn mạnh đến nhân, các giá trị, sáng tạo và tự thực hiện, bảnchất con người của tự thực hiện đi xuống đến tiềm năng của vở kịch, nhưng tiềmnăng là một tính chất bản năng tương tự Chủ nghĩa nhân văn đóng góp tối đa là thấytâm lý con người và nhất quán bản chất con người, ủng hộ tâm lý phải xuất phát từcác nghiên cứu về tâm lý con người của bản chất con người

Dòng phái tâm lí học nhân văn do C Rôgic (1902 – 1987) và Abraham HaroldMaslow (1908-1970) sáng lập Các nhà tâm lí học nhân văn quan niệm rằng: Bảnchất của con người vốn tốt đẹp, con người có lòng vị tha, có tiềm năng kỳ diệu

Điểm chính của Maslow: Nhu cầu con người cơ bản được nghiên cứu và phânloại, sự phân biệt giữa bản năng động vật, nhu cầu của người lớn lên của những cấp

độ khác nhau của sự phát triển; ông phù hợp với việc theo đuổi các mục tiêu và đápứng các đối tượng khác nhau để mỗi người các loại nhu cầu từ thấp đến cao được sắpxếp theo một trình tự thứ bậc của hệ thống, các nhu cầu cấp thấp nhất là nhu cầu sinh

lý, mà là cảm thấy là một ưu tiên để đáp ứng nhu cầu của người dân Điểm chính củaRogers: sự phát triển của thực hành tâm lý trị liệu và nghiên cứu lý thuyết trong tâm

lý của nhân cách "tự lý thuyết", và chủ trương "điều trị bệnh nhân làm trung tâm"điều trị tâm lý Con người có bẩm sinh "tự thực hiện" động lực, cụ thể là một ngườiphát triển, mở rộng và sức mạnh xu hướng trưởng thành, đó là nhiều người để tối đahóa xu hướng tiềm năng của họ

Maslow đã nêu lên 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người xếp từ thứ tự từthấp đến cao

- Nhu cầu sinh lí cơ bản;

- Nhu cầu an toàn;

- Nhu cầu quan hệ xã hội;

- Nhu cầu được tôn trọng, kính nể, ngưỡng mộ…

- Nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt (sáng tạo)

C Rôgiơ cho rằng người ta phải đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở, biếtlắng nghe và chờ đợi, thông cảm với nhau Tâm lí học cần phải giúp cho con ngườitìm được bản ngã đích thực của mình để có thể sống một cách thoả mái, cởi mở, hồinhiên và sáng tạo Tuy nhiên tâm lí học nhân văn đề cao những điều cảm nghiệm, thểnghiệm chủ quan của bản thân mỗi người, tách con người ra khỏi mối quan hệ xã hội,chú ý tới mặt nhân văn trừu tượng trong con người vì thế thiếu vắng con người tronghoạt động thực tiễn

Trang 20

e Tâm lí học nhận thức

Hai đại biểu nổi tiếng của tâm lí học nhận thức là G Piagiê (Thuỵ Sĩ) và Brunơ(trước ở Mỹ, sau đó ở Anh) Tâm lí học nhận thức coi hoạt động nhận thức là đốitượng nhiên cứu của mình Đặc điểm nổi bật của dòng phái tâm lí học này là nghiêncứu tâm lí con người, nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với

cơ thể với bộ não Vì thế họ đã phát hiện ra nhiều sự kiện khoa học có giá trị trongcác vấn đề tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ… làm cho các lĩnh vực nghiên cứu nóitrên đạt tới trình độ mới Đồng thời họ cũng đã xây dựng được nhiều phương phápnghiên cứu cụ thể đóng góp cho khoa học tâm lí ở những năm 50 – 60 của thế kỉ XX.Tuy nhiên dòng phái này cũng có những hạn chế: Coi nhận thức của con người như là

sự nỗ lực của ý trí để đưa đến sự thay đổi vốn kinh nghiệm, vốn tri thức của chủ thể,nhằm thích nghi, cân bằng với thế giới mà chưa thấy hết ý nghĩa tích cực, ý nghĩathực tiễn của hoạt động nhận thức

Tất cả những dòng phái tâm lí học nói trên đều có những đóng góp nhất định cho

sự hình thành và phát triển của khoa học tâm lí Song do những hạn chế về lịch sử,

do thiếu 1 cơ sở phương pháp luận khoa học biện chứng, họ vẫn chưa có quan điểmđầy đủ và đúng đắn về con người Sự ra đời của tâm lí học Macxit hay còn gọi là tâm

lí học hoạt động đã góp phần đáng kể vào việc khắc phục những hạn chế nói trên vàtiếp tục đưa tâm lí học lên đến đỉnh cao của sự phát triển

f Tâm lí học hoạt động

Dòng phái tâm lí học này do nhà tâm lí học Xôviết sáng lập như L.X Vưgôtxki(1896 – 1934), X.L Rubinstein (1902 – 1960), A.N Lêonchiev ( 1903 – 1979), A.R.Luria (1902 – 1977)… Dòng phái tâm lí học này lấy triết học Mác – Lênin làm cơ sở

lí luận và phương pháp luận, xây dựng nền tâm lí học lịch sử người: Coi tâm lí là sựphản ánh thế giới khách quan và não thông qua hoạt động Tâm lí người mang tínhchủ thể, có bản chất xã hội, tâm lí người được hình thành, phát triển và thể hiện tronghoạt động và trong các mối quan khệ giao lưu của con người trong xã hội Chính vìthế tâm lí học Macxit được gọi là “Tâm lí học hoạt động”

1.1.1.3 Đối tượng và nhiệm vụ của tâm lý học ( 0,5T)

a Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học.

Đối tượng của tâm lý học là các hoạt động tâm lý của con người, là khía cạnh tâm

lý của các hoạt động của con người Hoạt động tâm lý của con người có cơ sở là hoạtđộng thần kinh kết hợp với hoạt động nội tiết

Tâm lý học khác với các khoa học khác bởi các đặc điểm sau:

+ Tâm lý là hiện tượng tinh thần nên nghiên cứu rất khó khăn Kết quả nghiên

Trang 21

cứu tâm lý không cân, đo, đong, đếm, … được như những kết quả nghiên cứukhác Tuy là những hiện tượng tinh thần nhưng tâm lý lại được biểu hiện tronghoạt động và sản phẩm của hoạt động nên chúng ta hoàn toàn có thể nghiên cứubản chất của các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lý.

+ Chức năng cụ thể của tâm lý là định hướng, điều khiển và điều chỉnh hoạt độngcủa con người; nó là sức mạnh tinh thần giúp con người cải tạo tự nhiên và xãhội và người ta thường nghiên cứu tâm lý con người trên cơ sở 3 hiện tượng tâm

lý là: Quá trình tâm lý; Trạng thái tâm lý và Thuộc tính tâm lý

b Nhiệm vụ của tâm lý học.

Tâm lý học có các nhiệm vụ cơ bản sau:

+ Lý giải 1 cách khoa học các hiện tượng tâm lý (nghiên cứu bản chất của hoạtđộng tâm lý)

+ Nghiên cứu các quy luật hình thành và phát triển tâm lý con người

+ Nghiên cứu tìm ra cơ chế vận động của các hiện tượng tâm lý

+ Nghiên cứu đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho việc phát triển khoa học tâm lý

1.1.2 B n ch t, ch c năng và phân lo i hi n t ả ấ ứ ạ ệ ượ ng tâm lý ( 1T) 1.1.2.1 Bản chất của tâm lý người.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Tâm lý người là sự phản ánh hiện thựckhách quan vào não người thông qua chủ thể và có bản chất xã hội – lịch sử

a Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể

Tâm lý người không phải do thượng đế, trời hay do não tiết ra (như gan tiết mật)

mà tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não con người thông qua

“lăng kính chủ quan” Thế giới khách quan tồn tại bằng những thuộc tính không gian,thời gian và luôn vận động và phản ánh là thuộc tính chung của sự vật, hiện tượngđang vận động hay nói cách khác thì phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hệthống này với hệ thống khác với kết quả là để lại dấu vết (hình ảnh) tác động cả ở hệthống tác động và chịu tác động; VD: Viên phấn viết trên bảng  viên phấn bị mòncòn bảng còn lại vết phấn

Phản ánh tâm lý là 1 phản ánh đặc biệt:

+ Là sự tác động của hiện thực khách quan vào não con người

+ Phản ánh tâm lý tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới Hình ảnh tâm lý là kết quảcủa thế giới khách quan vào não song hình ảnh tâm lý khác với hình ảnh cơ, lý, sinh

Trang 22

vật ở chỗ:

- Hình ảnh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo;

- Mang đậm tính chủ thể: Cùng hình ảnh nhưng ở các chủ thể khác nhau chonhững hình ảnh tâm lý khác nhau

+ Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, cảm nghiệm và thểhiện nó rõ nét nhất

b Bản chất xã hội của tâm lý người

+ Tâm lý người có nguồn gốc là thế giới khách quan – trong đó có nguồn gốc xãhội là cái quyết định; Ngay cả phần tự nhiên cũng được xã hội hoá

+ Tâm lý người là SP của hoạt động và giao tiếp của con người trong các mốiquan hệ xã hội

+ Tâm lý người là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội,nền văn hoá xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp

+ Tâm lý mỗi con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triểncủa lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng

1.1.2.2 Chức năng của tâm lý.

Tâm lý có chức năng là điều hành các hành động, hoạt động của con người, cụthể:

+ Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho mọi hoạt động của con người;+ Tâm lý là động lực thôi thúc, lôi cuốn con người hoạt động, khắc phục mọi khókhăn để vươn tới mục đích đã đề ra;

+ Tâm lý điều khiển, kiểm tra quá trình hoạt động bằng chương trình, kế hoạch,phương pháp, phương thức tiến hành hoạt động làm hoạt động của con người có ýnghĩa;

+ Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu đã xácđịnh

1.1.2.3 Phân loại hiện tượng tâm lý.

a Cách phân loại phổ biến

* Là việc phân loại hiện tượng tâm lý theo thời gian tồn tại và theo vị trí tươngđối của hiện tượng tâm lý trong nhân cách

* Theo cách phân loại này thì hiện tượng tâm lý được chia thành 3 loại:

+ Các quá trình tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương

Trang 23

đối ngắn, có mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng Quá trình tâm lý thườngđược phân thành 3 loại:

- Các quá trình nhận thức: Gồm: Cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng và tưduy

- Các quá trình cảm xúc: Biểu thị sự vui mừng, tức giận, dễ chịu, khó chịu, …của con người

- Quá trình hành động ý chí

+ Các trạng thái tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý diến ra trong thời gian tươngđối dài, việc mở đầu và kết thúc diễn ra không rõ ràng, VD: Chú ý, tâm trạng….+ Các thuộc tính tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hìnhthành và khó mất đi tạo thành những nét riêng của nhân cách; Các thuộc tính tâm lýthường được chia thành 4 nhóm: Xu hướng; Tính cách; Khí chất và Năng lực

b Phân loại theo ý thức

+ Các hiện tượng tâm lý có ý thức;

+ Các hiện tượng tâm lý chưa được ý thức

c Các cách phân loại khác:

* Theo hoạt động: Hiện tượng tâm lý sống động và hiện tượng tâm lý tiềm tàng;

* Theo đối tượng: Hiện tượng tâm lý cá nhân và hiện tượng tâm lý xã hội

1.1.3 Các nguyên t c và ph ắ ươ ng pháp nghiên c u tâm lý (1T) ứ

1.1.3.1 Các nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học khoa học

* Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng: Nguyên tắc này khẳng định

tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào bộ não con người, thông qua

“lăng kính chủ quan” của con người Tâm lý, định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạtđộng, hành vi của con người tác động trở lại thế giới, trong đó yếu tố xã hội là quantrọng nhất Do đó khi nghiên cứu tâm lý cần thấm nhuần nguyên tắc quyết định luậnduy vật biện chứng

* Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức, nhân cách với hoạt động: Hoạt động là

phương thức hình thành, phát triển và thể hiện tâm lý, ý thức, nhân cách, đồng thờitâm lý, ý thức, nhân cách là cái điều hành hoạt động Vì thế chúng thống nhất vớinhau Nguyên tắc này cũng khẳng định tâm lý luôn luôn vận động và phát triển Cầnphải nghiên cứu tâm lý qua sự diễn biến, cũng như qua sản phẩm của hoạt động

* Phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong mối liên hệ giữa chúng với nhau

và trong mối liên hệ giữa chúng với các loại hiện tượng khác: Các hiện tượng tâm lý

Trang 24

không tồn tại một cách biệt lập mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung chonhau, chuyển hoá cho nhau, đồng thời chúng còn chi phối và chịu sự chi phối của cáchiện tượng khác.

* Phải nghiên cứu tâm lý của một con người cụ thể, của một nhóm người cụ thể, chứ không nhiên cứu một cách chung chung, nghiên cứu tâm lý của một con người trừu tượng, một cộng đồng trừu tượng.

1.1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu tâm lý

Có 7 phương pháp nghiên cứu tâm lý phổ biến sau:

* Phương pháp quan sát:

Phương pháp này được dùng nhiều trong khoa học, trong đó có tâm lý học

- Quan sát là tri giác có chủ định, nhằm xác định các đặc điểm của đối tượng quabiểu hiện như hành động, cử chỉ, cách nói năng, …

- Quan sát có nhiều hình thức: quan sát toàn diện hay quan sát bộ phận, quan sát

có trọng điểm, quan sát trực tiếp hay gián tiếp…

- Phương pháp quan sát cho phép chúng ta thu thập được các tài liệu cụ thể,khách quan trong điều kiện tự nhiên của con người, do đó nó có nhiều ưu điểm Bêncạnh những ưu điểm còn có những hạn chế là mất thời gian và tốn công sức

- Trong tâm lý học, cùng với việc quan sát khách quan, cần tiến hành tự quan sát(Tự thể nghiệm, tự mô tả diễn biến tâm lý của bản thân), nhưng phải tuân theo yêucầu khách quan, tránh suy diễn chủ quan theo kiểu “suy bụng ta ra bụng người”

- Muốn quan sát đạt kết quả cao cần chú ý các yêu cầu sau:

+ Xác định mục đích, nội dung, kế hoạch quan sát;

+ Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt;

+ Tiến hành quan sát một cách cẩn thận và có hệ thống;

+ Ghi chép tài liệu quan sát một cách khách quan, trung thực

* Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp có nhiều hiệu quả trong nghiên cứu tâm lý.

+ Thực nghiệm là quá trình tác động vào đối tượng một cách chủ quan, trongnhững điều kiện đã được khống chế để gây ra ở đối tượng những biểu hiện về quan

hệ nhân quả, tính quy luật, cơ cấu, cơ chế của chúng, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần và

đo đạc, định hướng, định tính một cách khách quan các hiện tượng cần nghiên cứu.+ Người ta thường nói tới 2 loại thực nghiệm cơ bản là thực nghiệm trong phòngthí nghiệm và thực nghiệm tự nhiên

Trang 25

 Phương pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được tiến hành dưới điềukiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài, người làm thựcnghiệm tự tạo ra những điều kiện để làm nẩy sinh hay phát triển một nội dung tâm lýcần nghiên cứu, do đó có thể tiến hành nghiên cứu đối tượng chủ động hơn so vớiquan sát và thực nghiệm tự nhiên.

 Phương pháp thực nghiệm tự nhiên được tiến hành trong điều kiện bình thườngcủa cuộc sống hoạt động Trong quá trình quan sát, nhà nghiên cứu chỉ thay đổi cácyếu tố riêng rẽ của hoàn cảnh, còn trong thực nghiệm tự nhiên, nhà nghiên cứu có thểchủ động gây ra biểu hiện và diễn biến tâm lý bằng cách khống chế một số nhân tốkhông cần thiết cho việc nghiên cứu, làm nổi bật những yếu tố cần thiết có khả nănggiúp cho việc khai thác, tìm hiểu các nội dung thực nghiệm Tuỳ theo mục đích vànhiệm vụ nghiên cứu mà người ta phân biệt các thực nghiệm tự nhiên: thực nghiệmnhận định và thực nghiệm hình thành:

- Thực nghiệm nhận định: Chủ yếu nêu lên thực trạng của vấn đề nghiên cứu ở địađiểm cụ thể

- Thực nghiệm hình thành còn gọi là thực nghiệm giáo dục, trong đó tiến hành cáctác động giáo dục, rèn luyện nhằm hình thành một phẩm chất tâm lý nào đó ởnghiệm thể (chuẩn bị thực nghiệm)

Tuy nhiên dù thực nghiệm trong phòng thí nghiệm hay trong điều kiện tự nhiêncũng khó có thể khống chế hoàn toàn ảnh hưởng các yếu tố chủ quan của người thựcnghiệm vì thế phải thực nghiệm một số lần và phối hợp đồng bộ với nhiều phươngpháp khác

1. Test trí tuệ của Binê - Ximông;

2. Test trí tuệ của Oátslơ;

Trang 26

3. Test trí tuệ của Ravơn;

4. Test nhân cách của Âyzen, Rôsát, Murây…

+ Ưu điểu cơ bản của test là:

- Test có khả năng làm cho hiện tượng tâm lý cần đo trực tiếp bộc lộ quahành động giải bài tập test

- Có khả năng tiến hành tương đối đơn giản bằng giấy, bút, tranh vẽ

- Có khả năng lượng hoá, chuẩn hoá chỉ tiêu tâm lý cần đo

+ Tuy nhiên test có những khó khăn hạn chế:

- Khó soạn thảo một bộ test đảm bảo tính chuẩn hoá;

- Test chủ yếu cho ta biết kết quả, ít bộc lộ quá trình suy nghĩ của nghiệmthể để đi đến kết quả

Cần sử dụng phương pháp test như là một trong các cách chẩn đoán t.lý conngười ở một thời điểm nhất định

* Phương pháp đàm thoại (trò chuyện)

Đó là cách đặt ra các câu hỏi cho đối tượng và dựa vào trả lời của họ để trao đổi,hỏi thêm, nhằm thu thập thông tin về vấn để cần nghiên cứu

Có thể đàm thoại trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ sự liên quan của đối tượng với điềutra cần thiết Có thể hỏi thẳng hay hỏi đường vòng

Muốn đàm thoại thu được tài liệu tốt thì cần phải:

- Xác định rõ mục đích, yêu cầu;

- Tìm hiểu trước thông tin về đối tượng đàm thoại với một số đặc điểm củahọ;

- Có một kế hoạch trước để “ lái hướng” câu chuyện;

- Rất nên linh hoạt trong việc “lái hướng” này để câu chuyện vẫn giữ đượclôgíc của nó, vừa đáp ứng yêu cầu của người nghiên cứu

* Phương pháp điều tra:

- Đây là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loại đặt ra cho một số đối tượngnghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về vấn đề nào đó Có thể trả lờiviết nhưng cũng có thể trả lời miệng và có người ghi lại

- Có thể điều tra thăm do chung hoặc điều tra chuyên đề để đi sâu vào một sốkhía cạnh Câu hỏi dùng để điều tra có thể là câu hỏi đóng, tức là có nhiều đáp án sẵn

để đối tượng chọn một hay hai, hoặc cũng có thể là câu hỏi mở để họ tự trả lời

Trang 27

- Dùng phương pháp này có thể trong một thời gian ngắn thu thập được 1 số ýkiến của rất nhiều người nhưng là ý kiến chủ quan Để có tài liệu tương đối chínhxác, cần soạn thảo kỹ bản hướng dẫn điều tra viên vì nếu những người này phổ biếnmột cách tuỳ tiện thì kết quả sẽ rất khác nhau và mất hết giá trị khoa học.

* Phương pháp phân tích SP của hoạt động

Đó là phương pháp dựa vào các kết quả, SP (vật chất, tinh thần) của hoạt động docon người làm ra để nghiên cứu các chức năng tâm lý của con người đó, bởi trong SP

do con người làm ra có chứa đựng “dấu vết” tâm lý, ý thức, nhân cách của con người.Cần chú ý rằng: các kết quả hoạt động phải được xét trong mối liên hệ với nhữngđiều kiện tiến hành hoạt động Trong tâm lý học có bộ phận chuyên ngành”phát kiếnhọc” (Ơritxtic) nghiên cứu quy lật về cơ chế tâm lý của tư duy sáng tạo trong khámphá, phát minh

* Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân

Phương pháp này xuất phát từ chỗ có thể nhận ra các đặc điểm tâm lý cá nhânthông qua việc phân tích tiểu sử cuộc sống của cá nhân đó, góp phần chung cấp 1 sốtài liệu cho việc chẩn đoán tâm lý

* Tóm lại: Các phương pháp nghiên cứu tâm lý con người khá phong phú Mỗi

phương pháp đều có những ưu điểm, hạn chế nhất định Muốn nghiên cứu một chứcnăng tâm lý một cách khoa học, khách quan, chính xác cần phải:

+ Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp với vấn đề nghiên cứu;+ Sử dụng phối hợp, đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để đem lại kếtquả khoa học, toàn diện

Trang 28

1.2 C S T NHIÊN VÀ C S XÃ H I C A TÂM LÝ NG Ơ Ở Ự Ơ Ở Ộ Ủ ƯỜ I

(2T)1.2.1 C s t nhiên c a tâm lý con ng ơ ở ự ủ ườ i ( 1T)

Khi bàn về cơ sở tự nhiên của tâm lý con người có nhiều vấn đề cần nghiên cứu,

ở đây chúng ta chủ yếu chỉ giới hạn một số quan hệ giữa di truyền, bộ não, phản xạ

có điều kiện và hệ thống tín hiệu thứ 2 với tâm lý con người

1.2.1.1 Di truyền và tâm lý

* Các đặc điểm giải phẫu sinh lí, di truyền và tư chất có liên quan đáng kể đếntâm lý con người Chúng có vai trò nhất định trong sự hình thành và phát triển tâm lýcon người

* Theo sinh học hiện đại thì:

- Di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống, đảm bảo sự tái tạo ở thế hệmới những nét giống nhau về mặt sinh vật đối với thế hệ trước, đảm bảo năng lực đápứng những đòi hỏi của hoàn cảnh theo 1 cơ chế đã định sẵn

- Đặc điểm giải phẫu sinh lí của cơ thể bao gồm những yếu tố do di truyền tạonên và cả những yếu tố riêng tự tạo ra trong đời sống cá thể của sinh vật, những yếu

tố như thế con người có ngay từ khi trong bào thai

- Tư chất là 1 tổ hợp bao gồm cả những đặc điểm giải phẫu vừa là những đặcđiểm chức năng tâm – sinh lí mà cá thể đạt trong một giai đoạn phát triển nhất địnhdưới ảnh hưởng của môi trường sống và hoạt động: đó là các đặc điểm của giác quan,của hệ thần kinh tạo nên tiền đề vật chất cho việc phát triển năng lực của con người

* Đối với con người, mỗi 1 cá thể sinh ra đã nhận được theo con đường di truyền

từ thế hệ trước một số đặc điểm về cấu tạo, chức năng của cơ thể, trong đó có đặcđiểm về cấu tạo và chức năng của các giác quan và não Song vai trò của di truyềnđối với sự phát triển tâm lý lại có nhiều quan điểm khác nhau:

- Một số nhà tâm lý học tư sản thừa nhận những đặc điểm tâm lý là những cấu tạobẩm sinh, do tiềm năng sinh vật gây ra, mỗi đặc điểm tâm lý đều do tiềm định, đều cósẵn trong cấu trúc sinh vật Sự phát triển thuộc tính đã có sẵn trong gien và quyếtđịnh bằng con đường di truyền Trong thời gian gần đây người ta nói “mức độ bẩmsinh của sự trang bị về gien” những thuộc tính nhân cách, năng lực chương trìnhchuẩn hoá, mã hoá trong gien, đồng thời cũng chú ý đến yếu tố môi trường Nhà ditruyền học người Anh S Auerbac cho rằng: …những phẩm chất của cá nhân là kếtquả của sự tác động qua lại giữa yếu tố di truyền và yếu tố môi trường” Một số nhàtâm lý Mỹ nói đến vai trò giáo dục trong sự phát triển tâm lý con người, nhưng vẫn

Trang 29

khẳng định, tiềm năng sinh vật bẩm sinh đã định trước giới hạn sự phát triểm tâm lý:

“Tự nhiên ban cho mỗi con người một vốn nhất định, giáo dục cần làm bộc lộ vốn đó

là cái gì và sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất”

- Một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học tư sản tiến hành trênnhững trẻ sinh đôi cùng trứng, nhằm chứng minh vai trò quyết định của tâm lý ditruyền trong sự hình thành phẩm chất tâm lý Nhằm chống lại những quan điểm tưsản nói trên V.n Conbannôvxki, A.R Luria, A.N Mirênôva tiến hành ở Liên Xô thínghiệm trên trẻ sơ sinh cùng trứng đã chỉ rõ: Với cơ sở bẩm sinh giống nhau, Tuỳthuộc vào phương pháp dậy, các trẻ sinh đôi cùng trứng thu được các kết quả khácnhau trong một số hoạt động sáng tạo khác nhau

- Sinh vật học hiện đại chứng minh rằng, bản thân di truyền cũng bị biến đổi dướitác động của môi trường Mặt khác cơ thể sống ở bậc càng cao của sự tiến hoá thìtính biến dị đảm bảo cho sự thích ứng trong điều kiện sống và kinh nghiệm cá thểcàng đóng vai trò lớn Ngoài ra, riêng đối với con người, điều kiện xã hội và kinhnghiệm xã hội đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển tâm lý

* Tóm lại: Di truyền đóng vai trò đáng kể trong sự hình thành và phát triển tâm

lý con người, bởi di truyền tham gia vào sự thành công những đặc điểm giải phẫu vềsinh lí của sơ thể trong đó có đặc điểm giải phẫu hệ thần kinh – cơ sở vật chất củahiện tượng tâm lý Song lý thuyết di truyền học hiện đại và các công trình nghiên cứuthực nghiệm chỉ cho phép ta khẳng định vai trò tiền đề của di truyền trong sự pháttriển của cá nhân

1.2.1.2 Não và tâm lý

Mối liên hệ giữa não và tâm lý là 1 trong những vấn đề cơ bản trong việc lí giải

cơ sở tự nhiên, cơ sở vật chất của hiện tượng tâm lý con người

Song xung quanh mối liên hệ giữa tâm lý và não cũng có rất nhiều quan điểmkhác nhau

- Quan điểm tâm lý vật lí song song: Từ thời R Đêcac với quan điểm nhị nguyên,các đại biểu của tâm lý kinh nghiệm chủ nghĩa coi quá trình sinh lí và tâm lý thườngsong song diễn ra trong não con người không phụ thuộc vào nhau, trong đó tâm lý coi

là hiện tượng phụ

- Quan điểm đồng nhất tâm lý với sinh lí: Đại biểu của chủ nghĩa duy vật tầmthường Đức (Búcsơne, Phôtxtơ, Môlêsôt) cho rằng: tư tưởng do não tiết ra giống nhưmật do gan tiết ra

- Quan điểm duy vật coi tâm lý và sinh lí có quan hệ chặt chẽ với nhau, tâm lý có

cơ sở vật chất là hoạt động của bộ não, nhưng tâm lý không song song hay khôngđồng nhất với sinh lí

Trang 30

Phơbách (1804 – 1872), nhà triết học duy vật trước C Mác, đã khẳng định: tinhthần, ý thức không thể tách rời ra khỏi não người, nó là sản vật của vật chất đã đượcphát triển tới mức cao nhất là bộ não V.I Lênin đã chỉ ra rằng: ”Tâm lý là cơ năngcủa cái phần nhỏ đặc biệt phức tạp của vật chất mà ta gọi là bộ não con người” Tấtnhiên tâm lý và sinh lí không đồng nhất với nhau Ph.Ăngghen cũng đã từng viết:

”Chắc hẳn đến một lúc nào đó qua con đường thực nghiệm, chúng ta “sẽ quy” được

tư duy thành những vận động phân tử và hoá học ở trong óc, nhưng liệu điều đó cóbao quát được bản chất của tư duy chăng?”

Các nhà tâm lý học khoa học đã chỉ ra rằng, tâm lý là chức năng của não: bộ nãonhận tác động của thế giới dưới các dạng xung động thần kinh cùng những biến đổi líhoá ở từng nơron, từng xinap, các trung khu thần kinh ở bộ phận dưới vỏ và vỏ não,làm cho não hoạt động theo quy luật thần kinh tạo nên hiện tượng tâm lý này hayhiện tượng tâm lý kia theo cơ chế phản xạ Như vậy tâm lý là kết quả của hệ thốngchức năng những hoạt động phản xạ của não Khi nẩy sinh trên bộ não, cùng với quátrình sinh lí não, hiện tượng tâm lý thực hiện chức năng định hướng, điều chỉnh, điềukhiển hành vi con người Xung quanh vấn đề mối liên hệ giữa não và tâm lý có nhiềuvấn đề nghiên cứu, chẳng hạn:

- Vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não;

- Phản xạ có điều kiện và tâm lý;

- Quy luật hoạt động của não và tâm lý;

- Hệ thống tín hiệu thứ hai và tâm lý

1.2.1.3 Vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não

Khi nói đến cơ sở tự nhiên của tâm lý, người ta thường đặt vấn đề định khuchức năng tâm lý trong não Song có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này:

- Thế kỉ thứ V trước công nguyên, có quan niệm rằng: lí trí khu trú ở trong đầu(bộ não), tình cảm ở ngực (tim), lòng đam mê ở bụng (gan)

- Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, một nhà thần kinh học cho rằng: mỗi chứcnăng tâm lý được định khu ở một vùng trong não: có vùng trí nhớ, vùng tưởng tượng,vùng tư duy Thậm trí có người còn nói trong não có các mấu “tư tưởng”, mấu “yêuđương”… Nhà bác học Đức Ph Galơ cho rằng: tâm lý gắn chặt với 1 khu nhất địnhtrên não, tạo nên các vùng ”kín đáo”, “tế nhị”, “hung hăng”, “tự ái”, ”thận trọng”,

“khéo léo”, “yêu đời”

Thật ra vỏ não có các miền (vùng, thuỳ) mỗi miền này là cơ sở vật chất của cáchiện tượng tâm lý tương ứng Mọi miền có thể tham gia vào nhiều hiện tượng tâm lý.Các miền phục vụ cho 1 hiện tượng tâm lý tập hợp thành 1 hệ thống chức năng Hệ

Trang 31

thống chức năng này thực hiện 1 cách cơ động, tuỳ thuộc vào yêu cầu của chủ thể,vào đặc điểm không gian, thời gian và không có tính bất di bất dịch Trong não có sựphân công rất chặt chẽ giữa các vùng của vỏ não như: vùng chẩm gọi là vùng thị giác,vùng thái dương gọi là cùng thính giác, vùng đỉnh gọi là vùng vận động, vùng trunggian giữa thái dương và đỉnh và vùng định hướng không gian và thời gian Ở người

có các vùng chuyên biệt như vùng nói, vùng nghe hiểu tiếng nói, vùng nhiền hiểu chữviết, vùng ngôn ngữ… Nguyên tắc “phân công” kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc

“liên kết” rất nhịp nhàng, tạo nên hệ thống chức năng cơ động nói trên trong từngchức năng tâm lý Các hệ thống chức năng này được thực hiện bằng nhiều tế bào não

từ các vùng, các khối của bộ não tham gia: Khối năng lượng bảo đảm trương lực,khối thông tin đảm bảo việc thu nhận, xử lý và gìn giữ thông tin; khối điều khiển đảmbảo việc chương trình hoá, điều khiển, điều chỉnh, kiểm tra Các khối liên kết chặtchẽ với nhau, cùng tham gia thực hiện hoạt động tâm lý

1.2.1.4 Phản xạ có điều kiện và tâm lý

* Toàn bộ hoạt động của não là hoạt động phản xạ Vào thế kỉ XVII, R Đêcac làngười đầu tiên nêu ra khái niệm “phản xạ” và dùng phản xạ để giải thích hoạt độngtâm lý Tuy nhiên Đêcac chỉ mới nói đến hoạt động vô thức gắn với phản xạ

* I.M Xêtrênôv, nhà tâm lý học Nga, đã mở rộng nguyên tắc phản xạ đến toàn bộhoạt động của não Năm 1863, Ông viết: “Tất cả các hiện tượng tâm lý, cả ý thức lẫn

vô thức, về nguồn gốc đều là phản xạ Theo Ông phản xạ có 3 khâu chủ yếu:

- Khâu đầu tiên là quá trình nhận kích thích bên ngoài, biến thành hưng phấn theođướng hướng tâm dẫn truyền vào não;

- Khâu giữa là quá trình thần kinh trên não và tạo ra hoạt động tâm lý;

- Khâu kết thúc dẫn truyền hưng phấn từ trung ương theo đường li tâm (dẫn ra)gây nên phản ứng của cơ thể

* I.P Pavlôv kế tục sự nghiệp của I.M Xêtrênôv, qua nhiều năm thực nghiệm đãsáng tạo ra học thuyết phản xạ có điều kiện – cơ sở sinh lí của hiện tượng tâm lý

* Đặc điểm của phản xạ có điều kiện:

+ Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống từng cá thể để thích ứngvới môi trường luôn luôn thay đổi, là cơ sở sinh lí của hoạt động tâm lý

+ Cơ sở giải phẫu sinh lí của phản xạ có điều kiện là vỏ não và hoạt động bìnhthường của vỏ não

+ Quá trình diễn biến của phản xạ có điều kiện là quá trình thành lập đường liên

hệ thần kinh tạm thời giữa trung khu nhận kích thích có điều kiện và đại diện củatrung khu trực tiếp thực hiện phản xạ không điều kiện

Trang 32

+ Phản xạ có điều kiện thành lập với kích thích bất kì, đặc biệt ở người, tiếng nói

là 1 loại kích thích đặc biệt có thể lập bất cứ 1 phản xạ có điều kiện nào

+ Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác độngvào cơ thể

* Tất cả các hiện tượng tâm lý đều có cơ sở sinh lí là phản xạ có điều kiện Hoạtđộng phản xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn luôn thay đổi

1.2.1.5 Quy luật hoạt động thần kinh cao cấp và tâm lý

* Quy luật hoạt động theo hệ thống: Trong điều kiện tự nhiên, các kích thích

không tác động 1 cách riêng lẻ, chúng thường tạo thành tổ hợp kích thích đồng thờihoặc nối tiếp đến cơ thể Cơ thể không phản ứng riêng lẻ mà phản ứng một cách tổhợp với kích thích đó Hoạt động này cho phép hợp nhất những kích thích riêng lẻhay không riêng lẻ thành 1 hệ thống Đó là quy luật theo hệ thống của vỏ não Cáchoạt động phản xạ có điều kiện kế tiếp nhau theo 1 thứ tự nhất định, tạo nên 1 hệthống định hình động lực của vỏ não, làm cho trong não khi có 1 phản xạ khác cũngxảy ra Đó chính là cơ sở sinh lí thần kinh của cảm xúc, tình cảm, thói quen…

* Quy luật lan toả và tập trung: Hưng phấn và ức chế là 2 trạng phái cơ bản của

hệ thần kinh Khi trên vỏ não có 1 điểm nào đó thì quá trình hưng phấn, ức chế sẽkhông dừng lại ở điểm ấy, nó sẽ lan toả ra xung quanh Sau đó trong những điều kiệnbình thường, chúng tập trung vào 1 nơi nhất định Hai quá trình lan toả và tập trungxảy ra kế tiếp nhau trong 1 trung khu thần kinh Nhờ đó mà hình thành 1 hệ thốngchức năng các phản xạ có điều kiện – cơ sở sinh lí của các hiện tượng tâm lý

* Quy luật cảm ứng qua lại: Có 4 dạng cảm ứng qua lại

- Cảm ứng qua lại đồng thời xảy ra giữa nhiều trung khu: Hưng phấn ở điểm nàygây ức chế ở điểm kia và ngược lại;

- Cảm ứng qua lại tiếp diễn: ở 1 trung khu vừa có hưng phấn, sau đó có thểchuyển sang ức chế ở chính trung khu ấy;

- Cảm ứng dương tính: đó là hiện tượng hưng phấn làm cho ức chế sâu hơn hoặcngược lại ức chế làm cho hưng phấn mạnh hơn;

- Ngược lại, hưng phấn gây nên ức chế làm giảm hưng phấn, thì đó là cảm ứng

âm tính

* Quy luật dựa vào cường độ của kích thích: trong trạng thái tính táo, khoẻ

mạnh, bình thường của vỏ não nói chung thì độ lớn của phản ứng tỉ lệ thuận vớicường độ của kích thích ở người, sự phụ thuộc này mang tính tương đối vì phản ứngcủa con người không chỉ phụ thuộc vào kích thích mà còn phụ thuộc vào chủ thể mỗingười Mặt khác, vỏ não chuyển từ trạng thái hưng phấn sang ức chế thì sự phản ứng

Trang 33

còn tuỳ thuộc vào mức độ ức chế sâu hay nông của vỏ não.

Tóm lại : Các quy luật nói trên của hoạt động thần kinh cấp cao có quan hệ với

nhau, cùng chi phối sự hình thành, diễn biến và biểu hiện hoạt động tâm lý của conngười

1.2.1.6 Hệ thống tín hiệu thứ 2 và tâm lý

Học thuyết về 2 hệ thống tín hiệu là một bộ phận rất quan trọng trong học thuyết

về hoạt động thần kinh cao cấp:

+ Ở động vật chỉ có tín hiệu thứ 1, bao gồm những tín hiệu do sự vật, hiện tượngkhách quan và các thuộc tính của chúng, kể cả hình ảnh do tín hiệu tác động vào vỏnão gây ra Hệ thống tín hiệu là cơ sở sinh lí của hoạt động cảm tính, trực quan, tưduy cụ thể và các cảm xúc cơ thể ở cả động vật và người

+ Hệ thống tín hiệu thứ 2 chỉ có ở người; Đó là tín hiệu ngôn ngữ (tiếng nói, chữviết) – tín hiệu của tín hiệu Nó là cơ sở sinh lí tư duy ngôn ngữ, ý thức, tình cảm vàchức năng tâm lí cấp cao của con người

Hệ thống tín hiệu có quan hệ chặt chẽ với nhau Hệ thống tín hiệu thứ 1 là cơ sởcủa hệ thống tín hiệu thứ 2 và hệ thống tín hiệu thứ 2 có tác động trở lại, nhiều khi cótác động rất lớn đến hệ thống tín hiệu thứ 1

1.2.2 C s xã h i c a tâm lý con ng ơ ở ộ ủ ườ i (1T)

Sự hình thành và phát triển của con người cũng như sự phát triển và hình thànhtâm lí người không chỉ bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên của thế giới, mà chủ yếu

là chịu sự chế ước, quy định bởi những quy luật xã hội – lịch sử, trong đó có các mốiquan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội, các phương thức hoạt động và giao tiếp của conngười trong xã hội

1.2.2.1 Quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội và tâm lí con người.

* Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử khẳng định: Tâm lí con người

có bản chất xã hội và mang tính lịch sử Tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm tráingược nhau chẳng hạn:

- Thuyết tiến hoá thực chứng luận của G Spenxơ (1920 – 1903), nhà triết học vàtâm lí học thực chứng, cho rằng: Con người không chỉ tồn tại trong môi trường tựnhiên mà còn tồn tại trong môi trường xã hội, sau khi chuyển lên người, các quy luật

và cơ chế thích nghi của động vật, kể cả cơ chế tự tạo kinh nghiệm cá thể cũng khôngthay đổi, có chăng là cơ chế đó phức tạp hơn người E.R Gơtrơ thì cho rằng cái khác

là ở chỗ việc học tập ở người diễn ra trong phạm vi ngôn ngữ

- Quan điểm xã hội học, nhà xã hội họ Pháp Đuych – Khêm Kanvac … coi xã hội

Trang 34

tạo ra bản chất con người, ”xã hội là nguyên lí giải thích cá thể”, con người là mộttồn tại “giao lưu” chứ không phải là tồn tại xã hội hành động và quá trình “xã hộihoá” cá thể là quá trình giao lưu ngôn ngữ, giao lưu tinh thần với người này vớingười khác để lĩnh hội các “biểu tượng xã hội”, các tập tục, lề thói…tạo ra “hành vi

xã hội”

- J Piagie coi sự phát triển tâm lí là SP của sự phát triển các quan hệ của cá thểvới những người xung quanh, với xã hội, là quá trình cải tổ, chuyển hoá các cấu trúccủa các quá trình nhận thức vốn có của trẻ em đưa đến sự thích nghi, thích ứng.Trong số các nhà tâm lí học phương Tây, 2 nhà tâm lí học Pháp là H Valông (1879 –1962), G Pôlide (1903 – 1942) đã coi cái xã hội trong con người không phải là cáitrừu tượng mà là SP hoạt động và giao lưu của các quan hệ xã hội Những quan điểmnói trên là những quan điểm tiến bộ

- Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:

+ Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người.Ông đã chỉ rõ luận điểm này trong luận cương về Phơbach: “…bản chất của conngười không phải là cái gì trừu tượng, tồn tại đối với từng cá nhân riêng biệt, trongtính hiện thực của nó, bản chất của con người là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội”.Quan hệ xã hội trước hết là quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế, chế độ xã hội chính trị,quan hệ con người – con người, quan hệ đạo đức, pháp quyền…Quy luật cơbản chiphối sự phát triển xã hội loài người là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với lựclượng sản xuất chứ không phải là quy luật chọn lọc tự nhiên Hoạt động tâm lí củacon người chịu sự tác động của quy luật xã hội, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo

và quan trọng nhất Chỉ khi sống và hoạt động trong xã hội con người mới thực hiệnchức năng phản ánh tâm lí

+ Cơ chế chủ yếu của sự phát triển tâm lí con người là cơ chế lĩnh hội nền vănhoá xã hội Đặc điểm cơ bản của quá trình lĩnh hội là nó tạo ra ở con người nhữngchức năng tâm lí mới, những năng lực mới Quá trình lĩnh hội là quá trình tái tạonhững thuộc tính, năng lực của cá thể mỗi người, hay nói cách khác, thông qua cơchế lĩnh hội mà con người tổng hào các mối quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội thànhbản chất người, tâm lí con người

1.2.2.2 Hoạt động và tâm lí

Cuộc sống của con người là 1 chuỗi các hoạt động giao lưu kế tiếp nhau, đan xenvào nhau Con người muốn sống muốn tồn tại thì phải hoạt động Vậy hoạt động làgì? Hoạt động có vai trò như thế nào đối sự hình thành và phát triển tâm lí?

a Khái niệm chung về hoạt động

* Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động:

Trang 35

+ Thông thường hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của conngười tác động vào hiện thực khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu của mình.

+ Về phương diện triết học, tâm lí học, người ta quan niệm hoạt động là phươngthức tồn tại của con người trong thế giới

+ Hoạt động là mối liên hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể)

để tạo ra SP cho cả thế giới, cho cả con người (chủ thể)

Trong mối quan hệ đó có 2 quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thốngnhất với nhau:

- Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hoá, trong đó chủ thể chuyển năng lựccủa mình thành SP của hoạt động, hay tâm lí của con người (của chủ thể) được bộc

lộ, được khách quan hoá trong quá trình làm ra SP

Quá trình đối tượng hoá (khách thể hoá) còn gọi là quá trình xuất tâm:

- Quá trình thứ 2 là quá trình chủ thể hoá, có nghĩa là khi hoạt động, con ngườichuyển từ phiá khách thể vào bản thân mình những quy luật, bản chất của thế giới đểtạo ra tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới.Quá trình này gọi là quá trình nhập tâm

Như vậy trong hoạt động con người vừa tạo ra SP về phía thế giới, vừa tạo ra tâm

lí của mình, hay nói khác đi tâm lí, ý thức, nhân cách được bộc lộ và hình thànhtrong hoạt động

* Những đặc điểm của hoạt động

- Hoạt động bao giờ cũng là “hoạt động có đối tượng” Đối tượng của hoạt động

là cái con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh Đó là động cơ Động cơ luôn thúc đẩycon người hoạt động nhằm vào khách thể để thay đổi nó, biến đổi nó thành SP, hoặctiếp nhận nó chuyển vào đầu óc mình, tạo nên một cấu tạo tâm lí mới, một năng lựcmới…

- Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể Hoạt động do chủ thể thực hiện, chủ thểhoạt động có thể là 1 hoặc nhiều người

- Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích: Mục đích của hoạt động là làm biếnđổi thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể Tính mục đích gắn liền với tínhđối tượng Tính mục đích bị chế ước bởi nội dung xã hội

- Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Trong hoạt động, con người

“gián tiếp” tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lí trong đầu, gián tiếp qua việc

sử dụng công cụ lao động và sử dụng phương tiện ngôn ngữ Như vậy, công cụ tâm lí,ngôn ngữ và công cụ lao động giữa chức năng trung gian giữa chủ thể và khách thể,tạo ra tính gián tiếp của hoạt động

Trang 36

* Các loại hoạt động Có nhiều cách phân loại hoạt động:

- Xét về phương diện cá thể, ta thấy có 4 loại hoạt động: vui chơi, học tập, laođộng và hoạt động xã hội

- Xét về phương diện SP người ta chia làm 2 loại hoạt động lớn”

+ Hoạt động thực tiễn: hướng vào vật thể hay quan hệ, tạo ra SP vật chất chủ yếu.+ Hoạt động lí luận: diễn ra với hình ảnh, biểu tượng, khái niệm…tạo ra SP tinhthần

Hai loại hoạt động luôn tác động qua lại, bổ sung chonhau

- Có cách phân loại khác lại chia hoạt động thành 4 loại:

+ Hoạt động biến đổi;

+ Hoạt động nhận thức;

+Hoạt động định hướng giá trị;

+ Hoạt động giao lưu

* Cấu trúc của hoạt động

- Chủ nghĩa hành vi cho rằng, hoạt động của con người và động vật có cấu trúcchung là: kích thích – phản ứng (S – R)

- Trong tâm lí học có lúc người ta chỉ xét cấu trúc hoạt động bao gồm các thành

tố diễn ra ở phía con người (chủ thể) thuộc các thành tố đơn vị thao tác của hoạtđộng Hoạt động có cấu trúc như sau: hoạt động – hành động – thao tác

- Quan điểm của A N Lêônchiev về cấu trúc vĩ mô của hoạt động: trên cơ sởnghiên cứu thực nghiệm trong nhiều năm, nhà tâm lí học xo viết nổi tiếng A N.Lêônchiev đã nêu lên cấu trúc vĩ mô của hoạt động, bao gồm 6 thành tố và mối quan

hệ giữa 6 thành tố này

Khi tiến hành hoạt động, phái chủ thể bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ giữa 3thành tố này, đó là: hoạt động – hành động – thao tác Ba thành tố này thuộc vào cácđơn vị thao tác (mặt kỹ thuật) của hoạt động Còn phía khách thể (phía đối tượng hoạtđộng) bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ giữa chúng với nhau, đó là : Động cơ - mụcđích – phương tiện Ba thành tố này tạo nên “nội dung đối tượng” của hoạt động (mặttâm lí) Cụ thể là: hoạt động hợp bởi các hành động Các hành động diễn ra bằng cácthao tác Hoạt động luôn luôn hướng vào động cơ (nằm trong đối tượng) đó là mụcđích chung, mục đích cuối cùng của hoạt động, mục đích chung này(động cơ) được

cụ thể hoá bằng những mục đích cụ thể, mục đích bộ phận mà từng hành động hướngvào Để đạt mục đích, con người phải sử dụng các phương tiện Tuỳ theo các điềukiện, phương tiện mà con người thực hiện các thao tác để tiến hành hoạt động đạt

Trang 37

DÒNG CÁC HOẠT ĐỘNG Chủ thể

Hoạt động cụ thể Hành động Thao tác

Khách thể Động cơ Mục đích Phương tiện Sản phẩm

mục đích, hay nói khác đi hành động thực hiện nhờ các thao tác Sự tác động quan lạigiữa chủ thể và khách thể, giữa đơn vị thao tác và nội dung đối tượng của hoạt độngtạo ra SP của hoạt động (cả về khách thể cả về chủ thể – “SP kép”) Có thể khái quátcấu trúc chung của hoạt động hình bên:

1.2.2.3 Giao tiếp và tâm lí

a Giao tiếp là gì?

* Giao tiếp là mối quan hệ giữa con người

với con người thể hiện sự tiếp xúc tâm lí giữa

người và người, thông qua đó con người trao đổi

với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn

nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay

nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các

quan hệ người – người, thực thể hoá các quan hệ

xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác

* Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xẩy ra với các hìnhthức khác nhau:

- Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân;

- Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm;

- Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng

b Các loại giao tiếp

Có nhiều cách phân loại giao tiếp:

* Theo phương diện giao tiếp, có các loại giao tiếp sau:

- Giao tiếp vật chất: Giao tiếp thông qua hành động với vật chất

- Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ như giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, nétmặt…

- Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết): đây là hình thức giao tiếp đặctrưng của con người, xác lập và vận hành mối quan hệ người – người trong xã hội

* Theo khoảng cách, Có 2 loại giao tiếp cơ bản:

- Giao tiếp trực tiếp: Giao tiếp mặt đối mặt, chủ thể trực tiếp phát và nhận tín hiệuvới nhau

- Giao tiếp gián tiếp: Qua thư từ, ngoại cảm, thần giao cách cảm…

* Theo quy cách, chia thành 2 loại:

- Giao tiếp chính thức: Giao tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ chung theo chức trách,

Trang 38

quy định, thể chế.

- Giao tiếp không chính thức: Là giao tiếp giữa những người hiểu biết rõ về nhau,không câu lệ vào thể thức mà theo kiểu thân tình, nhằm mục đích chính là thông cảm,đồng cảm với nhau

c Quan hệ giao tiếp và hoạt động

- Nhiều nhà tâm lí học cho rằng giao tiếp như 1 dạng đặc biệt của hoạt động: giaotiếp cũng diễn ra bằng các hoạt động và có cả các thao tác cụ thể, sử dụng cácphương tiện khác nhau, nhằm đạt những mục đích xác định thoả mãn các nhu cầu cụthể, tức là thúc đẩy bởi động cơ

- Một số nhà tâm lí học khác cho rằng, giao tiếp và hoạt động là 2 phạm trù đồngđẳng, có quan hệ qua lại với nhau trong cuộc sống (lối sống) của con người.:

+ Có trường hợp giao tiếp là điều kiện của 1 hoạt động khác, ví dụ trong lao độngsản xuất thì giao tiếp là điều kiện để con người phối hợp với nhau, quan hệ với nhau

để cùng tiến hành làm ra SP lao động chung

+ Có trường hợp hoạt động là điều kiện để thực hiện mối quan hệ giao tiếp giữacon người với con người, chẳng hạn diễn viên múa… trên sân khấu thì hành động taychân, điều bộ, cử chỉ…là điều kiện để thực hiện 1 mối quan hệ giao tiếp giữa diễnviên và khán giả

Vì thế có thể nói: Cả giao tiếp và hoạt động đều là 2 mặt không thể thiếu của lốisống, của hoạt động cùng nhau giữa con người trong thực tiễn

d Tâm lí của con người

* Tâm lí của con người là kinh nghiêm xã hội – lịch sử chuyển thành kinhnghiệm của bản thân, thông quan hoạt động và giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai tròchủ đạo Tâm lí là SP của hoạt động giao tiếp Hoạt động và giao tiếp, mối quan hệgiữa chúng là quy luật tổng quát hình thành và biểu lộ tâm lí người

Sơ đồ tổng quát về sự hình thành và phát triển tâm lí người

Xã hội (các quan hệ xã hội)Giao tiếp

Con người – chủ

thể hoạt động giao

tiếp

Đối tượng giao tiếp

động

Trang 39

1.3 S HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRI N TÂM LÝ, Ý TH C Ự Ể Ứ

1.3.1 S hình thành và phát tri n tâm lý ự ể

1.3.1.1 Sự nảy sinh và hình thành tâm lý về phương diện loài người.

* Tiêu chuẩn xác định sự nảy sinh tâm lý – nói cách khác là phản ánh tâm lý đầutiên nảy sinh dưới hình thái tính nhạy cảm ( tính cảm ứng)

* Các thời kỳ phát triển tâm lý: Thường được nghiên cứu trên 2 phương diện:

+ Xét theo mức độ phản ánh: Tâm lý người trải qua 3 thời kỳ: Cảm giác, tri giác,

tư duy (bằng tay, chân và bằng ngôn ngữ):

- Thời kỳ cảm giác: Thời kỳ đầu tiên trong phản ánh tâm lý ở động vật khôngxương sống

- Thời kỳ tri giác: Xuất hiện ở loài cá

- Thời kỳ tư duy: lúc đầu là thời kỳ tư duy bằng tay (xuất hiện ở loài ngườivượn Ôxtralôpitec cách đây khoảng 10 triệu năm) sau đó chuyển sang tư duybằng ngôn ngữ - chỉ xuất hiện ở người

+ Xét theo nguồn gốc nảy sinh của hành vi thì tâm lý trải qua 3 thời kỳ: Bảnnăng; Kỹ xảo; Trí tuệ

- Thời kỳ bản năng: Từ loài côn trùng trở đi đã có bản năng Bản năng là hành

vi bẩm sinh, mang tính di truyền có cơ sở là những phản xạ không điều kiện.Bản năng nhằm thoả mãn nhu cầu có tính thuần tuý của cơ thể Bản năng củacon người khác với bản năng của loài vật ở chỗ bản năng của con người làbản năng có ý thức

- Kỹ xảo: Xuất hiện sau bản năng, trên cơ sở đã luyện tập, là hành vi do conngười sáng tạo ra, hành vi kỹ xảo được lặp đi lặp lại thành định hình trongnão động vật nhưng so với bản năng thì kỹ xảo có tính mềm dẻo hơn và khảnăng biến đổi lớn

- Thời kỳ hành vi trí tuệ: Là kết quả của luyện tập, do cá thể tự tạo ra trong đờisống của nó Hành vi trí tuệ của con người sinh ra trong hoạt động nhằm nhậnthức bản chất, các mối quan hệ có tính quy luật, nhằm thích ứng và cải tạothực tế khách quan Hành vi trí tuệ của con người gắn liền với ngôn ngữ (chữviết) và có ý thức

1.3.1.2 Các giai đoạn phát triển tâm lý về mặt cá thể

Con người từ khi sinh ra cho đến khi qua đời trải qua rất nhiều giai đoạn biến đổitâm lý và gọi là những giai đoạn phát triển tâm lý và Sự phát triển về tâm lý ngườitheo lưới tuổi có thể khái quát hoá như bảng sau:

Lứa tuổi Hoạt động Đặc trưng tâm lý Mức độ phát triển cần đạt

Trang 40

Động tác bột phát Thực hiện bằng các chức

năng sinh lý người phốihợp các phản xạ và độngtác đơn giản bột phát

Hài nhi 3 – 12tháng

Giao tiếpcảm xúctrực tiếp

Cộng sinh cảm xúc, động tácbiểu cảm

Thực hiện quan hệ giaotiếp ban đầu với người lớn

U nhi

12tháng –

2 tuổi

Hoạt độngvới đồ vật

- Bắt chước hoạt động sửdụng các đồ vật

- Tìm tòi, “khám phá” sự vật

- Hiểu biết chức năng các

đồ vật xung quanh

- Biết cách sử dụng các đồvật

- Ý thức bản ngã

- Rung cảm đạo đức, thẩmmỹ

- Tư duy trực quan, hìnhtượng

- Làm chủ các chức năngtâm lý người

- Chủ động trong môitrường gần gũi

- Hiếu động,

- Ham tìm tòi, khámphá

Làm chủ từng bước cácquan hệ xã hội của bảnthân; Phát triển nhân cáchvới tư cách là chủ thể xãhội

Thiếu

nhi(11, 12

– 14,

15)

Học tậpgiao tiếpnhóm

- Dậy thì

- Quan hệ tâm tình,bạn bè

- “Cải tổ” nhân cách

và định hình bản ngã

- Muốn được đối xửnhư người lớn

Ngày đăng: 13/05/2022, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w