Với những ý nghĩa như trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình tổng hợp keo tanin – formadehyde quy mô 10kg keo/mẻ và ứng dụng tạo tấm MDF với bột gỗ” để làm luận văn tốt n
Trang 1NGUYỄN CHẮN DUỲN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH TỔNG HỢP KEO TANNIN – FORMALDEHYDE QUY MÔ 10KG KEO/MẺ VÀ ỨNG DỤNG TẠO
TẤM MDF VỚI BỘT GỖ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN CHẮN DUỲN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH TỔNG HỢP KEO TANNIN – FORMALDEHYDE QUY MÔ 10KG KEO/MẺ VÀ ỨNG DỤNG TẠO
TẤM MDF VỚI BỘT GỖ
Chuyên ngành : Hoá hữu cơ
Mã số: 60 44 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ TỰ HẢI
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Chắn Duỳn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHI KEO 4
1.1.1 Keo lá tràm (tràm bông vàng) 6
1.1.2 Keo tai tượng 8
1.1.3 Keo lai 10
1.2 TỔNG QUAN VỀ TANIN 11
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.2 Phân loại 12
1.2.3 Tính chất của tanin 14
1.2.4 Ứng dụng 15
1.2.5 Tình hình nghiên cứu và sử dụng tanin hiện nay 16
1.2.6 Những loại thực vật chứa nhiều tanin 18
1.3 LÝ THUYẾT TỔNG HỢP KEO TANIN – FORMALDEHYDE 19
1.3.1 Tổng hợp keo phenol – formaldehyde 19
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo thành nhựa phenol – formaldehyde (PF) 19
1.3.3 Tổng hợp nhựa rezolic 20
Trang 51.4 MỘT SỐ LOẠI VÁN GỖ CÔNG NGHIỆP 24
1.4.1 Ván Venner 24
1.4.2 Ván PB 24
1.4.3 Ván MFC 25
1.4.4 Ván HDF 26
1.4.5 Ván PW 26
1.5 VÁN MDF 27
1.5.1 Định nghĩa, phân loại 27
1.5.2 Đặc điểm 28
1.5.3 Ứng dụng 28
1.5.4 Vấn đề môi trường 29
1.5.5 Ưu nhược điểm của ván MDF 29
CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 NGUYÊN LIỆU VÀ HÓA CHẤT 31
2.1.1 Tanin rắn 31
2.1.2 Dung dịch NaOH 33% 31
2.1.3 Natri sunfit 31
2.1.4 Formaldehyde 37% 32
2.1.5 Urotrophin, Ammonium chloride 32
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến phản ứng tổng hợp keo tanin – formaldehyde 32
2.2.2 Nghiên cứu các tính chất của keo tanin – formaldehyde 35
2.2.3 Ứng dụng tạo tấm ván ép MDF của keo tanin – formaldehyde 37
2.2.4 Xác định các chỉ tiêu của tấm ép thành phẩm 39
2.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH PHỔ HỒNG NGOẠI 41
2.3.1 Cơ sở vật lý 41
Trang 62.3.2 Phương pháp chuẩn bị mẫu ghi phổ hồng ngoại 42
2.3.3 Ứng dụng của phổ hồng ngoại trong hóa học 43
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU BỀ MẶT MẪU CHỤP SEM 43
2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH NHIỆT 44
2.6 ĐỘ NHỚT 45
2.7 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA BÀI TOÁN QUY HOẠCH THỰC NGHIỆM 46
2.7.1 Mở đầu 46
2.7.2 Bài toán quy hoạch thực nghiệm 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ ĐẾN PHẢN ỨNG TỔNG HỢP KEO TANIN - FORMALDEHYDE 48
3.1.1 Khảo sát ảnh hưởng tỷ lệ khối lượng tanin rắn 48
3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian 49
3.1.3 Ảnh hưởng của pH 51
3.1.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ 52
3.1.5 Ảnh hưởng của xúc tác kẽm axetat (CH3COO)2Zn 53
3.2 TỐI ƯU HÓA TỔNG HỢP KEO TANIN – FORMALDEHYDE BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUY HOẠCH THỰC NGHIỆM 54
3.3 TÍNH CHẤT CỦA KEO TANIN – FORMALDEHYDE 62
3.3.1 Tính chất vật lý 62
3.3.2 Phổ hồng ngoại của keo tanin - formaldehyde 62
3.3.3 Kết quả đo độ bền nhiệt của keo 63
3.3.4 Các tính chất vật lý của keo 64
3.4 NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TẠO TẤM ÉP MDF 65
3.4.1 Quy trình tạo tấm ép MDF 65
3.4.2 Ảnh hưởng của hàm lượng keo đến tính chất của tấm MDF 66
Trang 73.4.3 Cấu trúc tế vi của tấm MDF (chụp SEM) 69
3.4.4 Các thông số của tấm ép MDF 71
3.5 PHÂN TÍCH, ĐỀ XUẤT THIẾT BỊ CHO QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ VỚI QUY MÔ 10KG KEO/MẺ 72
3.5.1 Cân bằng vật chất 72
3.5.2 Nấu nguyên liệu 73
3.5.3 Cô đặc keo 78
3.5.4 Bình ngƣng và bình ngƣng chân không 79
3.5.5 Sơ đồ công nghệ 82
3.6 QUY TRÌNH TỔNG HỢP KEO TANIN – FORMALDEHYDE QUY MÔ 10KG KEO/MẺ 83
3.7 CHẠY THỬ MẺ 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Các ký hiệu
Δ : Dao động biến dạng
W : Độ ẩm của mỗi mẫu (%)
H : Hàm lượng tro của mỗi mẫu (%)
Δk : Ứng suất kéo (MPa)
Δu : Ứng suất uốn (MPa)
2 Các chữ viết tắt
IR : phổ hồng ngoại
LDF : Low Density Fiberboard (tỉ trọng : Dưới 65 kg m3) MDF : Medium Density Fiberboard (tỉ trọng: 7 - 800kg/m3): SEM : Scanning Electron Microscope
TDS : Total Dissolved Solids
Kg : Kilogam
L : Lỏng
R : Rắn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
3.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ khối lượng tanin : thể tích
formaldehyde đến độ nhớt của keo 48 3.2 Ảnh hưởng của yếu tố thời gian đến độ nhớt cuả keo 50
3.4 Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ đến độ nhớt của keo 52 3.5 Ảnh hưởng của xúc tác kẽm axetat (CH3COO)2Zn 53 3.6 Bảng phương án và điều kiện tổ chức thí nghiệm 55
3.7 Ma trận kế hoạch 2
3
cho quá trình tổng hợp keo tanin –
3.9 Ma trận kế hoạch quá trình tổng hợp keo tanin –
3.10 Tần số và loại dao động trong phổ hồng ngoại của keo
Trang 113.3 Đồ thị ảnh hưởng của tỉ lệ khối lượng tanin rắn :
thể tích formaldehyde đến độ nhớt của keo 49
3.4 Đồ thị ảnh hưởng của yếu tố thời gian đến độ
3.6 Đồ thị ảnh hưởng của nhiệt độ 52 3.7 Đồ thị ảnh hưởng của xúc tác kẽm axetat 53 3.8 Phản ứng giữa tanin với formaldehyde 61
3.10 Phổ hồng ngoại IR của keo tanin – formaldehyde 63
Trang 123.19 Đồ thị ảnh hưởng của tỷ lệ keo trong bột ép đến
3.20 Đồ thị ảnh hưởng của tỷ lệ keo trong bột ép đến
3.30 Quy trình tổng hợp keo tanin – formaldehyde
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, rừng tự nhiên trải qua nhiều thiên tai, thu hẹp diện tích trồng và bị con người tàn phá đã trở nên kiệt quệ, không đủ nguồn nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ tự nhiên của con người Vì vậy, ngày nay con người đã nghiên cứu sử dụng, sản xuất ván nhân tạo, ngành công nghiệp sản xuất ván sợi đặc biệt là ván ép MDF ra đời đáp ứng yêu cầu
đó Ván ép MDF ứng dụng nhiều trong ngành sản xuất nói chung và nội thất văn phòng nói riêng Nó có khả năng thay thế gỗ tự nhiên với những ưu điểm
độ bám sơn, vecni cao và sơn nhiều màu tạo sự đa dạng phong phú về màu
sắc cho các sản phẩm
Nghiên cứu về MDF cho thấy thải ra formaldehyde trong quá trình sử dụng là rất cao Formaldehyde trong keo có khả năng viêm da, xâm nhập vào đường hô hấp Hàm lượng formaldehyde cao có thể làm suy giảm hệ miễn dịch thậm chí có thể gây tử vong khi nó chuyển hóa thành axit fomic trong máu gây thở nhanh thở gấp, hạ nhiệt và hôn mê Và điều đáng nói là cơ thể người không có cơ chế đào thải formaldehyde Do đó yêu cầu nghiên cứu một
loại keo dán gỗ thân thiện với môi trường và an toàn cho người sử dụng
Tanin là chất thay thế tốt cho phenol trong việc tạo hợp chất keo tanin – formaldehyde Tanin là hợp chất có rất nhiều trong rễ, quả, hạt và thân các loại thực vật như: keo, thông, điều, sồi, tre… nguồn dự trữ đa dạng, phong phú có thể tái sinh và không có tính độc hại với cơ thể người Các loài cây keo được trồng nhiều nơi và trong vỏ cây keo có hàm lượng tanin rất lớn Keo
lá tràm, keo tai tượng, keo lai chủ yếu được sử dụng để lấy gỗ Vỏ các loại cây này thường bị bỏ đi hoặc dùng làm củi đốt Ngoài ra một số nhà máy sản xuất nguyên liệu bột giấy từ các loại cây keo đã bỏ đi một lượng vỏ rất lớn
Trang 14chứa tanin Vì vậy, việc nghiên cứu, chiết tách tanin từ vỏ các loại keo có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt khoa học và thực tiễn Một mặt tổng hợp một loại keo dán có giá thành rẻ từ nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên, có khả năng tái tạo sử dụng trong ngành công nghiệp chế tạo tấm MDF thân thiện môi trường Mặt khác đáp ứng được một phần nhu cầu sử dụng các loại keo dán cho ngành sản xuất ván gỗ ép, cũng như các ngành có liên quan đến keo dán khác mà thực tế hiện nay chúng ta phải nhập các loại keo dán gỗ từ nước ngoài
Với những ý nghĩa như trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy
trình tổng hợp keo tanin – formadehyde quy mô 10kg keo/mẻ và ứng dụng tạo tấm MDF với bột gỗ” để làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn tìm hiểu thêm
về khả năng sử dụng của các sản phẩm có sẵn trong tự nhiên tại địa phương
- Ứng dụng keo dán gỗ tanin - formadehyde tạo tấm ép MDF
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vỏ của một số loài keo như keo lá tràm, keo lai
và keo tai tượng
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu xây dựng qui trình tổng hợp keo tanin – formadehyde quy mô 10kg keo/ mẻ và ứng dụng tạo tấm MDF từ các vỏ keo quy mô phòng thí nghiệm
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý thuyết
- Thu thập, tổng hợp, phân tích các tài liệu, tư liệu trong và ngoài nước
Trang 15liên quan đến nội dung đề tài
- Nghiên cứu nguồn gốc, trạng thái tồn tại của tanin
- Nghiên cứu quy trình, phương pháp và công nghệ chiết tách các hợp chất thiên
- Phương pháp tổng hợp keo
- Phương pháp ép ván trong công nghiệp
- Đánh giá kết quả, đề xuất kiến nghị
4.2.Nghiên cứu thực nghiệm
- Tổng hợp keo tanin – formadehyde với 10kg tanin
- Phương pháp vật lý: Xác định tỷ trọng, độ nhớt của keo
- Tạo tấm ván ép MDF bằng bột gỗ
- Xác định các chỉ tiêu của gỗ ép được tạo từ keo tanin – formaldehyde
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
- Tổng hợp keo tanin – formaldehyde với quy mô công nghiệp
- Khảo sát ứng dụng của keo tanin – formaldehyde trong việc tạo tấm MDF
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Tạo nguồn keo tanin với số lượng lớn góp phần ý nghĩa trong thực tiễn
- Tận dụng nguồn nguyên liệu phế thải là vỏ cây keo thay thế cho nguồn nguyên liệu dầu mỏ trong việc tổng hợp keo
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 91 trang trong đó phần mở đầu 4 trang, kết luận kiến nghị
2 trang, tài liệu tham khảo có 4 trang Luận văn có 17 bảng, 60 hình và đồ thị Nội dung chia thành 3 chương
Chương 1: Tổng quan lí thuyết: 35 trang
Chương 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu: 11 trang
Chương 3: Kết quả và thảo luận: 39 trang
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHI KEO [24], [28]
Chi Keo (danh pháp khoa học Acacia) là một trong những nhóm cây
thân gỗ và thân bụi đa dạng nhất trên trái đất; thuộc phân họ Trinh nữ
(Mimosoideae), và thuộc họ Đậu (Fabaceae) Hiện nay, người ta biết khoảng
1.300 loài cây keo trên toàn thế giới, trong đó khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia, và phần còn lại phổ biến trong các khu vực khô của vùng nhiệt đới
và ôn đới ấm ở cả hai bán cầu, bao gồm châu Phi, miền nam châu Á và châu
Mỹ Loài sinh trưởng xa nhất về phía bắc của chi này là keo vuốt mèo (Acacia
greggii) ở miền nam Utah, Hoa Kỳ; loài sinh trưởng xa nhất về phía nam là
keo bạc (Acacia dealbata), keo bờ biển (Acacia longifolia), keo đen (Acacia
mearnsii) và keo gỗ đen (Acacia melanoxylon) ở Tasmania, Australia, và Acacia caven tại khu vực đông bắc tỉnh Chubut, Argentina
Chi Keo được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau Một số loài cung cấp các loại gỗ có giá trị Tại Việt Nam, các loài keo tai tượng
(Acacia mangium), keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và keo lai (Acacia
hybrid) được trồng để làm nguyên liệu sản xuất giấy
Vỏ các loài keo khác nhau rất giàu tanin – chất được sử dụng trong công
nghiệp thuộc da như keo vàng (Acacia pycnantha), keo vỏ đà (Acacia
decurrens), keo bạc (Acacia dealbata) và keo đen (Acacia mearnsii) Nên đó
cũng là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng
Ngoài ra, một số chất thu được từ các loài keo khác nhau được sử dụng
trong y học (cây Acacia catechu, cây y học Ayurveda…) và trong công nghiệp sản xuất nước hoa (từ cây Acacia farnesiana…)
Trang 17
Hình 1.1 Acacia karroo Hình 1.2 Silver Wattle
Hình 1.3 Collins Acacia Hình 1.4 Swamp Wattle
Hình 1.5 Acacia melanoxylon Hình 1.6 Acacia covenyi
Tại Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng có ba loài keo đƣợc trồng phổ biến nhất là keo lá tràm, keo tai tƣợng và keo lai
Trang 18Hình 1.7 Acacia auriculiformis Hình 1.8 Acacia mangium
Hình 1.9 Acacia hybrid
1.1.1 Keo lá tràm (tràm bông vàng) [36]
a Sơ lược về keo lá tràm
Keo lá tràm được phân bố tự nhiên ở miền Bắc Australia, ở Papua New Guinea, và miền đông Indonesia Nó được trồng rải rác ở Maui, và ở những hòn đảo trong quần đảo Hawaiian, nhằm giải quyết vấn đề nghèo nàn thảm thực vật, cũng như sự hiện diện cỏ dại khắp mọi nơi
b Phân loại keo lá tràm
Một số tên thường dùng: Earpod wattle, Papuan wattle, auri, earleaf acacia,…
Tên Latin: Acacia auriculiformis
Trang 19c Đặc điểm sinh học của keo lá tràm
Là loài cây đa mục đích, cao 25 – 3 m, đường kính 60 – 80 cm Thân hình tròn, thẳng Vỏ thân màu xám đen, nứt dọc, nhỏ, sâu 2 – 3 mm Thịt vỏ dày 7 – 9 mm, màu trắng xám Loài cây này phân nhành thấp và có tán rộng, cành non hơi dẹt, nhẵn, màu xanh lục
Hoa lưỡng tính tự dạng bông đuôi sóc, mọc cụm hình bông ở kẽ lá, tràng hoa màu vàng
Quả dạng đậu xoắn, hạt đen, có rốn hạt khá dài màu vàng như màu tràng hoa
Hình 1.10 Hoa keo lá tràm Hình 1.11 Quả keo lá tràm
d Tình trạng phân bố trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới, keo lá tràm chủ yếu phân bố tự nhiên ở Australia và trồng phổ biến ở Đông Nam Á, ở một số đảo ở khu vực Thái Bình Dương như Quần đảo Samoa Manu, Quần đảo Bắc Mariana, Quần đảo Hawaii… Ấn Độ Dương
như Quần đảo Palau, Quần đảo Xô-lô-mông… Khu vực giáp Thái Bình
Dương như Úc Malaysia, Indonesia,Trung quốc…
Trang 20Ở nước ta, keo lá tràm được trồng nhiều ở các tỉnh (từ Đà Nẵng, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum cho tới Kiên Giang) Phân tán hoặc tập trung ở các vùng: Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
Tên khác: Keo lá to, Keo mỡ
Tên khoa học: Acacia mangium
Họ thực vật: Trinh nữ (Mimosaceae)
a Sơ lược về keo tai tượng
Keo tai tượng mọc tự nhiên ở Đông Bắc Australia tại các vùng Queensland, Jarđin – Claudie River, Ayton – Nam Ingham Ngoài ra còn thấy xuất hiện ở phía Đông của Indonexia và phía Tây Papua Niu Ghinê
Keo tai tượng thường mọc thành các quần thụ lớn không liên tục dọc theo bờ biển, gần những khu rừng ngập mặn, cũng gặp mọc xen lẫn đồng cỏ ở ven sông thuộc vùng nhiệt đới ẩm có 4 đến 6 tháng mùa khô Là loài cây ưa sáng mạnh và cũng đã được nhập trồng thành công ở nhiều nước như Trung Quốc, Malaysia, Philippin, Thái Lan, Lào,… sinh trưởng mạnh nhất ở nơi có
độ cao dưới 300m so với mực nước biển
b Đặc điểm sinh học
Cây gỗ trung bình, chiều cao biến động từ 7 đến 3 m, đường kính từ 25
– 35 cm, đôi khi trên 5 cm Thân thẳng, vỏ có màu nâu xám đến nâu, xù xì,
có vết nứt dọc Tán lá xanh quanh năm, hình trứng hoặc hình tháp, thường phân cành cao Cây mầm giai đoạn vài tháng tuổi có lá kép lông chim 2 lần,
Trang 21cuống lá thường dẹt gọi là lá thật, các lá ra sau là lá đơn, mọc cách, gọi là lá giả, phiến lá hình trứng hoặc trái xoan dài, đầu có mũi lồi tù Lá giả có 4 gân dọc song song nổi rõ và cũng là loại lá trưởng thành tồn tại đến hết đời của cây
Hình 1.12 Keo tai tượng
c Tình trạng phân bố
Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở Đông Bắc Úc, Papua Newghine, Đông Indonexia, ở độ cao dưới 100 m so với mực nước biển, thường mọc ven sông, vùng đồng cỏ, rừng ngập mặn, rừng tràm Ở Việt Nam, hiện nay đang
mở rộng trồng ở hầu hết các tỉnh đồng bằng cũng như trung du đến độ cao
400 – 500 m so với mực nước biển, trên nhiều loại đất khác nhau: đồi bị xói mòn, chua, nghèo, xấu, khô hạn… nó vẫn sinh trưởng bình thường và ra hoa kết quả
d Giá trị kinh tế
Gỗ keo tai tượng có nhiều tác dụng, gỗ có giác, lõi phân biệt, tỷ trọng
từ 0,56 - 0,60 kg/m3; gỗ có sợi dài 1,0 - 1,2mm có thể làm nguyên liệu giấy,
bao bì, củi đun Keo tai tượng là cây mọc nhanh tán rậm, thường xanh, rễ phát triển mạnh, dùng làm cây che phủ đất, cải tạo và bảo vệ ở vùng đất trống đồi núi trọc, nó cũng làm cây lục hóa, trồng trong công viên, đường phố, lá có thể
Trang 22làm thức ăn gia súc cho dê, hươu…
e Hướng sử dụng
Cũng giống như keo lá tràm, keo tai tượng là cây đa tác dụng, dùng làm
gỗ giấy, gỗ dăm, gỗ xẻ, đóng đồ mộc cao cấp, làm ván ghép thanh, bao bì,…
Gỗ có nhiệt lượng khá cao 48 kcal kg do đó cũng có thể dùng để đốt than, làm củi đun rất tốt
Rễ có nhiều nốt sần có khả năng cố định đạm rất tốt, nên keo tai tượng nói riêng và các loài keo nói chung, ngoài việc sử dụng để trồng rừng sảnxuất, rừng phòng hộ, còn được trồng ở những nơi có đất khô cằn, bị thoái hoá
để tận dụng khả năng cải tạo đất của chúng
Cây gỗ nhỡ, cao tới 25 – 3 m, đường kính tới 30 – 4 cm, cao và to hơn
keo tai tượng và keo lá tràm, các đặc tính khác có dạng trung gian giữa 2 loài
bố mẹ Thân thẳng, cành nhánh nhỏ, tỉa cành khá, tán dày và rậm
Hoa tự bông 5 - 6 hoa/1 hoa tự vàng nhạt mọc từng đôi ở nách lá Quả
đậu dẹt, khi non thẳng khi già cuộn hình xoắn ốc Mùa hoa từ tháng 3 đếntháng 4, quả chín từ tháng 7 đến tháng 8 Vỏ quả cứng, khi chín màu xám và
nứt Mỗi quả có 5 - 7 hạt màu nâu đen, bóng Một kg hạt có 45.000 - 50.000
hạt
b Đặc điểm sinh thái
Keo lai tự nhiên được phát hiện lần đầu vào năm 1972 trong số các cây keo tai tượng trồng ven đường ở Sabah – Malaysia Ở Thái Lan đầu tiên cũng
tìm thấy keo lai được trồng thành đám ở Muak-Lek, Salaburi
Trang 23Ở nước ta giống keo lai ở Ba Vì có nguồn gốc cây mẹ là keo tai tượng
xuất xứ Pain-tree bang Queensland – Australia Cây bố là keo lá tràm xuất xứ
Darwin bang Northern Territory – Australia Ở Đông Nam Bộ hạt giống lấy
từ cây mẹ keo tai tượng xuất xứ Mossman và cây bố keo lá tràm cũng ở Australia nhưng không rõ xuất xứ
c Khai thác và sử dụng
Keo lai là một trong các loài cây chủ lực cung cấp gỗ nguyên liệu
giấy Tỷ trọng gỗ 0,542 kg/m3; hàm lượng xenlulozơ 45,36%; tổng các chất sản xuất bột giấy 95,2%; hiệu suất bột giấy 52,8%; độ nhớt của bột 36,6; độ chịu gấp, chịu đập cao hơn hoặc trung gian của 2 loài keo bố mẹ Ngoài ra keo lai còn dùng làm gỗ dán, ván dán cao cấp, gỗ xẻ dùng trong xây dựng và xuất khẩu
1.2 TỔNG QUAN VỀ TANIN
1.2.1 Khái niệm [6]
Từ “tanin” được dùng đầu tiên năm 1976 để chỉ những chất có mặt trong dịch chiết thực vật có khả năng kết hợp với protein của da sống động vật làm cho da biến thành da thuộc không thối và bền Do đó, tanin được định nghĩa
là những hợp chất polyphenol có trong thực vật, có vị chát được phát hiện với
“thí nghiệm thuộc da” và được định lượng dựa vào mức độ hấp phụ trên bột
da sống chuẩn.[22]
Tanin là một nhóm các hợp chất hóa học được phân bố rộng trong tự nhiên, chúng được tìm thấy trong nhiều loại thực vật Phân tử của chúng là một khối được cấu thành bởi hai hay nhiều đơn phân tử phenol Các tanin là nguyên nhân gây ra màu sắc của nhiều loại hoa như cây phi yến thảo, hoa vân anh, hoa hồng, cây dạ yên thảo và tất cả các loại trái cây có quả chín đỏ Một
số khác là các hợp chất phức tạp hiện diện trong vỏ cây, rễ và lá của cây được
sử dụng trong ngành thuộc da Còn những loại đơn giản hơn thì có mặt trong
Trang 24trái cây tươi, rau quả tươi, hành và trà, rất có lợi cho sức khỏe.[20]
Phân tử lượng tanin phần lớn nằm trong khoảng 5 – 5 đvc
Khi đun chảy tanin trong môi trường kiềm thường thu được những chất sau:
OH
COOH
OHOH
OHCOOH
OH
OHOH
a Tanin thủy phân hay còn gọi là tanin pyrogalic (galotanin)
Tanin pyrogalic là những este của gluxit, thường là glucozơ với một hay nhiều axit trihidroxibenzencacboxylic Khi thủy phân bằng axit hoặc bằng enzym tanase thì giải phóng ra phần đường thường là glucozơ, đôi khi gặp đường đặc biệt, như đường hamamelozơ… Phần không phải đường là các axit, axit hay gặp là axit galic Các axit galic nối với nhau theo dây nối depsid
để tạo thành các axit digalic, trigalic Ngoài axit galic người ta còn gặp các axit khác như axit ellagic, axit luteolic, dạng mở 2 vòng lacton của axit ellagic, axit chebulic
Đặc điểm chính của loại tanin này:
- Khi cất khô ở 18 – 2000C thì thu được pyrogalol là chủ yếu
- Cho kết tủa bông với chì axetat 1 %
Trang 25- Cho kết tủa màu xanh đen với muối sắt (III)
- Thường dễ tan trong nước
Cấu trúc một số loại tanin thuộc nhóm galotanin được trình bày ở hình 1.13
OH OH
Axit galic
OH OH
HO G
O
Galoyl este
O OH
O
O G
G
G G
O G
O O
O O
O
O O
O
O
OH OH HO
OH OH HO
OH HO
OH OH
Hình 1.13 Axit galic và một số loại tanin thuộc nhóm tanin thủy phân
b Tanin ngưng tụ hay còn gọi là tanin pyrocatechin [28]
Tanin nhóm này được tạo thành do sự ngưng tụ từ các đơn vị flavan-3-ol hoặc flavan-3,4-diol Dưới tác dụng của axit hoặc enzym thì không bị thủy
β-1,2,3,4,6-pentagaloyl-O-D-glucozơ
β-1,2,2,3,6-pentagaloyl-O-D-glucozơ
Trang 26phân mà tạo thành chất đỏ tanin hay phlobaphen Phlobaphen ít tan trong nước, là sản phẩm của sự trùng hợp kèm theo oxi hóa, do đó tanin ngưng tụ còn được gọi là phlobatanin
Đặc điểm của loại tanin này là:
- Khi cất khô cho pyrocatechin là chủ yếu
- Cho kết tủa màu xanh đậm với muối sắt (III)
- Cho kết tủa bông với nước brom
- Khó tan trong nước hơn pyrogalic
Cấu trúc một số loại tanin thuộc nhóm tanin pyrocatechin được trình bày
OH
OH
OH
OHO
Trang 27benzen, ete, dầu hỏa, clorofom, sunfua cacbon, tetraclorua cacbon.[13]
Thí nghiệm thuộc da của tanin: lấy một miếng da sống chế sẵn ngâm vào dung dịch HCl 2% rồi rửa sạch với nước cất, sau đó thả vào dung dịch tanin trong vòng 5 phút Rửa lại với nước cất rồi nhúng vào dung dịch Fe2(SO4)31%, miếng da sẽ chuyển sang màu nâu hoặc màu đen
Kết tủa với gelatin: dung dịch tanin ,5 – 1% khi thêm vào dung dịch gelatin 1% có chứa 1 % NaCl sẽ có kết tủa
Kết tủa với ancaloit: tanin tạo kết tủa với các ancaloit hoặc một số dẫn xuất hữu cơ chứa nitơ khác như hexametylendiamin, dibazol…
Kết tủa với muối kim loại: tanin cho kết tủa với các muối kim loại nặng như chì, thủy ngân, kẽm, sắt…
Phản ứng Stiasny (phân biệt hai loại tanin): lấy 5 ml dung dịch tanin, thêm 1 ml focmol và 5ml HCl đun nóng trong vòng 1 phút, tanin thủy phân không kết tủa, còn tanin ngưng tụ sẽ cho kết tủa đỏ gạch Nếu trong dung dịch
có cả 2 loại tanin thì sau khi lọc kết tủa, cho vào dịch lọc CH3COONa rồi thêm muối sắt (III), nếu có mặt tanin thủy phân thì sẽ có kết tủa xanh đen Tanin bị oxi hóa hoàn toàn dưới tác dụng của KMnO4 hoặc K2Cr2O7 Tính chất này dùng để định lượng tanin nhóm tanin với chất chỉ thị là indigocacmin.[15]
Tanin là một hợp chất có khá nhiều ứng dụng trong điều trị:
Do có tính tạo kết tủa với protein, khi tiếp xúc với niêm mạc, tổ chức da
bị tổn thương hay vết loét,… tanin sẽ tạo một màng mỏng, làm máu đông lại,
Trang 28ngừng chảy nên ứng dụng làm thuốc đông máu và thuốc săn da
Tanin có tính kháng khuẩn, kháng virut, được dùng trong điều trị các bệnh viêm ruột, tiêu chảy mà búp ổi, búp sim, và vỏ quả măng cụt là những dược liệu tiêu biểu đã được dân gian sử dụng
Tanin dùng làm thuốc chữa bỏng, làm tiêu độc vì tanin có thể kết hợp với các độc tố do vi khuẩn tiết ra, cũng như các chất độc khác như muối bạc, thủy ngân, chì, sắt, kẽm… tanin làm kết tủa các ancaloit và các kim loại nặng,
do đó làm giảm sự hấp thu của những chất này trong ruột, vì vậy tanin được ứng dụng để giải độc trong những trường hợp ngộ độc ancaloit và kim loại nặng Cũng vì lý do này, không nên uống thuốc cùng với nước trà
c Ứng dụng trong công nghiệp thuộc da
Tanin có ứng dụng quan trọng trong công nghệ thuộc da, làm cho da biến thành da thuộc không thối, bền, làm chất cầm màu trong nhuộm vải bông
d Tạo phức với ion kim loại
Các hợp chất tanin có khả năng tạo phức với các ion kim loại Sự tạo phức đòi hỏi trong phân tử có các nhóm thế thích hợp và dung dịch có pH dưới giá trị pKa của nhóm –OH phenol Các nhóm phenol đa có ái lực lớn với một số kim loại có từ tính thường gặp như sắt Sự giống nhau giữa các nhóm thế ortho-dihidroxi và các nhóm thế trong tanin thủy phân được và tanin không thủy phân được cho thấy rằng tanin cũng có ái lực lớn với nhiều kim loại
Sự tạo phức với các ion kim loại có thể làm thay đổi khả năng oxi hóa – khử của kim loại, hay là giảm khả năng tham gia phản ứng oxi hóa – khử của chúng
1.2.5 Tình hình nghiên cứu và sử dụng tanin hiện nay
a Trên thế giới
Những nghiên cứu gần đây về các vấn đề ứng dụng khác của tanin được các nhà khoa học quan tâm:
Trang 29- Tanin chất kết dính cho gỗ ép
- Sản xuất keo - formaldehyde cho gỗ dán nội thất từ bột bắp – tanin [32]
- Đánh giá khả năng phản ứng của formaldehyde và tanin tạo chất kết dính bằng sắc ký khí
- Chất kết dính sinh học liên kết gỗ từ tanin [34]
Nhà máy tanin DITECO ở Chile hiện đang sản xuất tanin từ vỏ cây thông Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các giải pháp tanin có thể được sử dụng như chất chống ăn mòn kim loại với chi phí ít hơn nhiều, khối lượng lớn vỏ thông bị thải loại từ quy trình khai thác gỗ thông (vỏ chứa 15% tanin) có thể được sử dụng để sản xuất tanin thương mại Một loạt các sản phẩm sản xuất từ tanin đã được phát triển và cấp bằng sáng chế tại Chile và Brazil, bao gồm:
- Sản phẩm chống ăn mòn mồi - được bán dưới tên thương hiệu Nox -
Primer, sản phẩm này xử lý gỉ bề mặt thép trước khi sơn Một polymer trong
thành phần của Nox - Primer tạo ra một lớp bảo vệ mà trên thực tế có thể gấp
đôi tuổi thọ của sơn truyền thống
- Keo dán gỗ - chiết xuất tanin được thêm vào chất kết dính sử dụng để
dán gỗ trong sản xuất vật liệu đóng tàu
- Chất ức chế ăn mòn - tanin là dầu khoáng addedto để bảo vệ thép cán
nguội khỏi ăn mòn trong quá trình vận chuyển và lưu trữ
b Ở Việt Nam
Với những ứng dụng rộng rãi của tanin, nhiều nhà khoa học thuộc các trường Đại học, các trung tâm nghiên cứu của nước ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu chiết tách tanin cũng như ứng dụng của chúng một cách cụ thể Về chiết tách tanin có nhiều công trình công nghệ, điển hình có:
Nhóm tác giả Lê Tự Hải, Phạm Thị Thùy Trang, Dương Ngọc Cầm, Trần Văn Thắm với công trình “Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần
Trang 30hóa học của hợp chất tanin từ lá chè xanh và khảo sát tính chất ức chế ăn mòn kim loại của nó” thuộc tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng – Số 1(36).2010
Đại học Đà Nẵng cũng có nhiều công trình nghiên cứu được công bố như Trần Thị Ngọc Anh với luận văn tốt nghiệp thạc sĩ năm 2 12: Nghiên cứu tổng hợp keo tanin của vỏ keo tai tượng với formaldehyde và ứng dụng tạo tấm MDF với bột gỗ…
Hiện nay tiềm năng khai thác tanin rất lớn nhưng việc nghiên cứu và hiệu quả sử dụng vẫn chưa cao Trong thời gian gần đây, một số nhà khoa học
đã bước đầu nghiên cứu và thử tác dụng chống oxi hóa của tanin từ lá chè Ngoài việc làm thuốc chữa bệnh và các chất phụ gia có giá trị cao trong công nghiệp thực phẩm, tanin cũng cần được nghiên cứu để sử dụng có hiệu quả hơn trong công nghiệp thuộc da và chống ăn mòn kim loại
1.2.6 Những loại thực vật chứa nhiều tanin
Các loài keo (acacia) khác nhau có hàm lượng tanin khác nhau Loài có hàm lượng tanin lớn nhất là keo đen (acacia mearsi) có tới 40 – 43% tanin, loài acacia cepebricta có hàm lượng tanin từ 15 – 20% Cây sồi chứa khoảng từ 7 đến 10% tanin Bạch đàn: vỏ bạch đàn vùng Biển Đen chứa khoảng 10 – 12% Cây chè cũng có hàm lượng tanin khá lớn: lá chè chứa khoảng 20% tanin Đặc biệt, có một số tanin được tạo thành do thực vật bị một bệnh lý nào
đó, như vị thuốc Ngũ bội tử là những túi được hình thành do nhộng của con sâu ngũ bội tử gây ra trên cành và cuống lá của cây Muối (Rhus semialata, thuộc họ Anacardiaceae) Hàm lượng tanin trong dược liệu thường khá cao,
chiếm từ 6 - 35%, đặc biệt trong Ngũ bội tử có thể lên đến 50 - 70% Ở trong cây, tanin tham gia vào quá trình trao đổi chất và oxi - hoá khử, đồng thời nhờ
có nhiều nhóm phenol nên tanin có tính kháng khuẩn, bảo vệ cây trước những tác nhân gây bệnh từ bên ngoài
Trang 31Xúc tác
base
Xúc tác acid
1.3 LÝ THUYẾT TỔNG HỢP KEO TANIN – FORMALDEHYDE 1.3.1 Tổng hợp keo phenol – formaldehyde
Phản ứng của hợp chất phenolic với formaldehyde được đưa ra vào năm
1872 bởi A Beyer Phenol cho phép nhiều nhất ba phân tử formaldehyde gắn vào vòng tại các vị trí ortho và para (vị trí 2, 4 và 6) Nhóm hydroxymethyl của phenol này có khả năng tiếp tục phản ứng tạo ra cầu nối methylene; hoặc cầu nối ete [6]
Hình 1.15 Sơ đồ tổng hợp nhựa phenol – formaldehyde
Keo phenolformaldehyde được tạo nên bởi phản ứng polymer hóa, dưới xúc tác acid hoặc base Mỗi chuỗi phản ứng sẽ diễn ra theo những hướng nhất định tùy thuộc vào loại xúc tác mà ta dùng cho phản ứng [1]
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo thành nhựa phenol – formaldehyde (PF)
a Tỷ lệ mol giữa phenol và formaldehyde
Sản phẩm ngưng tụ ban đầu giữa phenol và formaldehyde phụ thuộc vào
tỷ lệ mol giữa phenol và formaldehyde
b Độ pH của môi trường
pH của môi trường có ảnh hưởng quyết định đến quá trình phản ứng: Nếu tiến hành trùng ngưng trong môi trường acid (pH<7) thì các rượu
Phenol + formaldehyde (dư) Phenol (dư) + formaldehyde
Nhựa đóng rắn
Trang 32tạo thành từ phenol và formaldehyde không bền, nó nhanh chóng ngưng tụ với nhau hoặc với phenol (đặc biệt khi đun nóng) để tạo thành nhựa nhiệt dẻo
vì tốc độ phản ứng ngưng tụ rất lớn [6]
Nếu tiến hành trùng ngưng trong môi trường base (pH>7) thì tạo ra các rượu đi, tri metylol phenol từ phenol và formaldehyde, các rượu này tiếp tục trùng ngưng với nhau hoặc với phenol để tạo thành nhựa nhiệt rắn Trường hợp không đủ formaldehyde thì phần phenol dư sẽ tan vào nhựa ở dạng phenol tự do [6]
Như vậy, khi phenol tác dụng với formaldehyde tuỳ thuộc vào tỷ lệ các cấu tử tham gia phản ứng và pH môi trường mà tạo thành nhựa nhiệt rắn hay nhiệt dẻo
c Ảnh hưởng của xác tác
Tuỳ thuộc và loại và lượng xúc tác mà sản phẩm của phản ứng tạo thành
là nhựa nhiệt rắn hay nhựa nhiệt dẻo
- Xúc tác acid: sản phẩm tạo thành là nhựa nhiệt dẻo Novolac, không có khả năng tự đóng rắn và không tạo ra mạng lưới không gian để chuyển sang trạng thái không nóng chảy, không hoà tan
- Xúc tác base: sản phẩm tạo thành là nhựa rezolic
1.3.3 Tổng hợp nhựa rezolic
Thông thường để làm keo dán người ta thường tổng hợp nhựa rezolic
Để tạo ra nhựa rezolic thì xúc tác sử dụng phải là các base như NaOH, KOH, Ba(OH)2, NH4OH hay hỗn hợp các base
Khi môi trường pH > 7, có hai trường hợp xảy ra:
Nếu lượng kiềm ít, phần lớn phenol tồn tại ở dạng tự do, lúc này kiềm đóng vai trò xúc tác
Nếu lượng kiềm đủ chuyển hoá tất cả phenol thì lúc này kiềm đóng vai trò vừa là xúc tác vừa hoà tan phenol để phản ứng xảy ra trong môi trường
Trang 33đồng thể
Tỷ lệ mol giữa phenol: formaldehyde là 1:2 hoặc cao hơn sẽ tạo ra hỗn hợp o và p – phenol metylol Chúng phản ứng tiếp với formaldehyde và tạo 2,4– dimethylolphenol và 2,4,6–dimethylolphenol Sự polime hoá hình thành đầu tiên bởi nhóm metylol của một phenol phản ứng ở vị trí o hoặc p của phenol khác để hình thành cầu nối metylen nối với hai gốc phenol Ngoài ra, các cầu nối dibenzylether nối 2 phenol cũng được hình thành bởi phản ứng của hai nhóm metylol
Trong suốt quá trình tổng hợp rezolic thường xảy ra hai phản ứng chính: phản ứng cộng hợp và ngưng tụ [26]
Formaldehyde thường ở dạng methylene glycol trong dung dịch nước:
Phenoxide sau đó tấn công vào formaldehyde qua vị trí ortho và para:
Dĩ nhiên, phản ứng tiếp tục xảy ra tại các vị trí đã được hoạt hóa nhưng chưa phản ứng; kết quả là hỗn hợp tất cả các hợp chất “methylol”, với một, hai hoặc ba nhóm thế được sinh ra
Trang 34Có thể biểu diễn theo sơ đồ sau:
Các dimethylol và trimethylol sẽ tạo ra oligomer nhánh với các cầu nối methylen, có khả năng gel hoá và cuối cùng tạo ra nhựa rezolic có cấu trúc không gian 3 chiều, không nóng chảy, không tan do các liên kết cầu –CH2, thực tế do khả năng phản ứng hoá học của phenol nên có thể hình thành các loại liên kết cầu khác nhau
Quá trình khâu mạch hay đóng rắn xảy ra trong môi trường axit hay trung tính hay ở nhiệt độ cao khoảng 130–1800C [1]
Trang 35Hình 1.16 Các liên kết trong nhựa rezolic
Việc tổng hợp keo tanin – formaldehyde cũng tương tự như phản ứng tổng hợp keo phenol – formaldehyde do tanin là hợp chất phenolic có phản
ứng với formaldehyde giống như phenol Phản ứng tổng hợp được trình bày
qua sơ đồ phản ứng hình 1.17 [30]
Hình 1.17 Sơ đồ phản ứng giữa tanin với formaldehyde
Trang 361.4 MỘT SỐ LOẠI VÁN GỖ CÔNG NGHIỆP [4], [5], [6], [7], [37] 1.4.1 Ván Venner
Là một lớp gỗ tự nhiên mỏng, được sử dụng làm bề mặt của sản phẩm ván Ván Venner được sản xuất từ việc lạng mỏng gỗ tự nhiên như gỗ sồi hoặc gỗ xoan đào Nên bề mặt của ván venner rất đẹp và tự nhiên Các lớp gỗ bên trong tạo độ dày thì có thể dùng gỗ công nghiệp cho kinh tế Khi gia công sản phẩm đồ gỗ, thợ thường gọi luôn gỗ sử dụng là gỗ venner Trong đó bao gồm cả gỗ công nghiệp được phủ bề mặt Venner
Trang 371.4.3 Ván MFC
Ván gỗ dăm phủ nhựa Melamine (dòng gỗ này cũng có thể coi là một nhánh của PB) có những cây gỗ đƣợc trồng chuyên để sản xuất loại ván MFC này Các cây này đƣợc thu hoạch ngắn ngày, không cần cây to
Trang 38Hình 1.21 Ván HDF
- Ưu điểm: Dễ thi công, sử dụng cho các công trình đòi hỏi chất lượng cao, kích thước bề mặt gỗ lớn Độ bền tốt, chống xước và chống nước rất tốt Giá chấp nhận được so với gỗ tự nhiên
- Nhược điểm: Là gỗ được dán ép nên vẫn có những nhà sản xuất đưa ra các sản phẩm rẻ nên vẫn sợ nước
- Thường được sử dụng làm bàn ghế, tủ kệ trong nội thất, sàn và đặc biệt
là làm cửa
1.4.5 Ván PW
Ván ép Polywood được ép từ những miếng gỗ thật lạng mỏng và ép ngang dọc trái chiều nhau để tăng tính chịu lực Dòng ván này thường đi cùng với Venner để tạo vẻ đẹp rồi sơn phủ PU lên để bảo vệ bề mặt chống trầy
Trang 39xước và chống ẩm Được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng Ghép từ những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy Gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí Thường sử dụng làm trang trí nội thất, ván sàn… Gồm 4 kiểu ghép: ghép song song, ghép mặt, ghép cạnh, ghép giác Ghép song song gồm nhiều thanh gỗ cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau
1.5.1 Định nghĩa, phân loại
MDF là từ viết tắt của từ Medium Density Fiberboard là tên gọi chung cho cả ba loại sản phẩm ván ép bột sợi có tỷ trọng trung bình (medium density) và độ nén chặt tương đối cao Để phân biệt người ta dựa vào các thông số cơ lý, độ dày và cách xử lý bề mặt
Đây là sản phẩm composite ván nhân tạo Họ composite ván gồm: Ván
ép gỗ lạng (Polywood), ván ép bột sợi (MDF), ván ép dăm (OSB, PB, WB)
Trang 40MDF có các thành phần cơ bản gồm: bột sợi gỗ, chất kết dính, parafin, chất bảo vệ gỗ và bột độn vô cơ
Những tính chất cơ lý cơ bản của sản phẩm composite gỗ nói chung và MDF nói riêng: +Tỷ trọng (đơn vị kg/m3)
+ Độ bền uốn gãy (MOR) (đơn vị MPa)
+ Độ bền liên kết nội (đơn vị MPa)
phenolic và polymeric methylene di–isocyonate (PMDI)
1.5.3 Ứng dụng
Do có độ dày khác nhau và khả năng áp dụng các máy móc chế biến ván hiện đại, ván ép rất được ưa chộng trong ngành nội thất, xây dựng và nó đang dần thay thế các loại gỗ thịt vốn càng ngày càng trở nên khan hiếm Ngoài ra
do người ta dần kiểm soát được độ ẩm trong ván, nên ván MDF có nhiều ứng dụng khác nhau