1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF

33 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cây Na
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 233,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled 1 PHẦN I MỞ ĐẦU Cây na (mãng cầu ta, mãng cầu dai, sa lê, phan lệ chi) có tên khoa học Annona squamosa Cây na có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới Có hàng chục loại mãng cầu có quả ăn được n[.]

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Cây na (mãng cầu ta, mãng cầu dai, sa lê, phan lệ chi) có tên khoa học :

Annona squamosa Cây na có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới Có hàng chục loại mãng cầu có quả ăn được nhưng trên thế giới chỉ có 2 loại được trồng phổ biến

nhất đó là na (Annona squamosa) và mãng cầu xiêm (Annona muricata)

Từ thế kỷ 16, cây na đã được nhập vào nhiều nước nhiệt đới Do tính thích nghi rộng nên na được trồng phổ biến ở các vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới Cây na

có tính thích ứng rộng và giá trị dinh dưỡng cao Giá trị dinh dưỡng của cây na được thể hiện qua bảng 1

Bảng 1 Chất lượng của na so với một số trái cây phổ biến (hàm lượng chất dinh dưỡng chứa đựng trong 100 gam phần ăn được, không tính vỏ, hạt, lõi )

Giá trị dinh dưỡng Na

Axit ascorbic (C) (miligam) 36,0 24,0 36,0 14,0

(Nguồn: FAO, 1976 “Chất lượng của na so với một số trái cây phổ biến”)

Trang 2

Hạt na chứa 15-45% tinh dầu có thể dùng làm thuốc bảo vệ thực vật và chế

mỹ phẩm Quả na dùng chủ yếu để ăn tươi, chế biến nước giải khát, rượu Rễ, lá và hạt na xanh có thể dùng làm thuốc chữa bệnh Như vậy, cả về mặt hương vị và giá trị dinh dưỡng, na xứng đáng được xếp vào loại cây ăn quả nhiệt đới có giá trị Chính nhờ những giá trị quan trọng đó nên trong những năm gần đây, diện tích và sản lượng na trên thế giới tăng liên tục

Ở Việt Nam, na được trồng rộng rãi cả miền Bắc và miền Nam, vùng phân

bố của na ở nước ta khá rộng Trừ những nơi mùa đông lạnh, có sương muối không trồng được na còn hầu hết các tỉnh đều có thể trồng na Phần lớn cây na được trồng

lẻ tẻ trong các vườn gia đình với mục đích tự sản, tự tiêu, cải thiện bữa ăn, còn một

số ít đem ra chợ địa phương để bán Đáng lưu ý có hai vùng trồng na tập trung có giá trị hàng hóa lớn, đó là:

- Na Chi Lăng (Lạng Sơn): Cây na được coi là cây ăn quả đặc sản của huyện Chi Lăng Trong những năm gần đây diện tích trồng na của huyện tăng dần, từ 789,54 ha năm 2000 lên 936,9 ha năm 2005, 1.025,4 ha năm 2006 và 1.776,0 ha năm 2009 (Niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn tháng 8/2008) Riêng xã Chi Lăng

có 800 hộ trồng na với tổng diện tích khoảng 350 ha, tổng sản lượng khoảng 1.400

tấn và cho thu nhập 6-8 tỉ đồng/năm, [Nguồn: Dương Đình Tường “Đưa na Chi

Lăng vào siêu thị” - Báo Nông nghiệp Việt Nam số 167 ngày 21-8-2007)

- Na (mãng cầu - Bà Đen, Tây Ninh): Tây Ninh là tỉnh có diện tích trồng na lớn nhất cả nước Diện tích trồng na của tỉnh tập trung ở chân núi Bà Đen (thị xã Tây Ninh) Năm 2008, tỉnh Tây Ninh có khoảng 3.036 hecta na (xã Thanh Tân có

hơn 600 hecta) với sản lượng đạt 23.136 tấn (Nguồn: Trần Thế Tục “Kỹ thuật trồng

và chăm sóc Na - Thanh long” NXB Nông nghiệp Hà Nội 2008,tr.7-36)

Quảng Ninh là tỉnh miền núi phía Đông Bắc với địa hình nhiều đồi núi và đồng bằng ven biển nên có tiềm năng phát triển cây lâm nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày Qui hoạch phát triển rừng trồng của tỉnh 433.366 hecta, đến năm

Trang 3

2010 diện tích có rừng là 270.829 hecta trong đó rừng trồng 163.029,7 hecta, tập trung vào một số loại cây trồng chính: Thông, keo, bạch đàn, rừng ngập mặn… Cây

ăn quả chủ yếu là vải, nhãn, cam quýt, na, dứa , cây công nghiệp chè, mía, tương, lạc…Cây na là một trong những loại cây trồng nằm trong định hướng phát triển của tỉnh, na tập chung chủ yếu tại Đông Triều

Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đông Triều sản lượng

na năm 2010 của huyện ước đạt hơn 8.046 nghìn tấn quả Ngay từ năm 1994 trong khi các địa phương khác tập trung phát triển cây vải thiều thì huyện Đông Triều lại chọn cho mình một hướng đi hoàn toàn khác đó là phát triển cây na và đến nay điều

đó đã cho thấy lựa chọn này là hoàn toàn đúng đắn Cả huyện hiện có hơn 815 ha cây na, trong đó có hơn 200 hecta trồng tập trung theo chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ năm 1994-1995 Những năm gần đây bình quân mỗi năm huyện thu hoạch trên 8.000 tấn quả na, đây là một nguồn thu rất lớn từ kinh tế vườn đồi

mà không phải địa phương nào cũng có được Những hiệu quả kinh tế to lớn từ cây

na mang lại đã cho thấy hướng đi đúng đắn của huyện Đông Triều Trong những năm tới, chắc chắn cây na vẫn sẽ là cây trồng chủ lực của địa phương và đây cũng

là mô hình để các địa phương học tập trong việc bố trí hợp lý việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Xuất phát từ vai trò và lợi ích kinh tế của cây na tại huyện Đông Triều, chúng

tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tác động làm

tăng năng suất, chất lượng quả và phòng trừ dịch hại tổng hợp trên cây Na”.

Thực tế na thường cho thu hoạch vào vào tháng 6 đến tháng 7 trùng với thời điểm thu hoạch nhiều loại trái cây khác nên giá thành quả na thấp (giá chỉ bằng 1/2-1/3 so với giá mùa nghịch) Nông dân đã tìm ra một số kinh nghiệm như: tỉa cành, tuốt lá để kéo dài thời vụ, thụ phấn bổ sung Tuy nhiên việc làm này còn mang tính tự phát, diện áp dụng còn hẹp, chưa có tổng kết xây dựng thành quy trình để phổ biến rộng rãi cho nhân dân

Trang 4

Do đó trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài việc xác định hiệu quả của biện pháp thụ phấn bổ sung đến năng suất và chất lượng quả nhằm tăng hiệu quả

kinh tế là rất cần thiết Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá

hiệu quả của biện pháp thụ phấn bổ sung đến năng suất và chất lượng quả na”

Trang 5

PHẦN II: TÌM HIỂU VỀ HOA NA VÀ CÁC BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG

ĐẾN THỤ PHẤN BỔ SUNG CHO HOA NA 2.1 Hoa na

Hoa na mọc đơn hoặc mọc thành chùm từ 2 - 4 hoa trên nách lá hoặc ở đỉnh của cành năm trước, hoặc mọc trên đoạn dưới của cành già Chiều dài hoa 2 - 4 cm, màu xanh vàng mọc chúc ngược, cuống hoa bé 1,4 - 2,0 cm Cánh hoa xếp 2 vòng, mỗi vòng có 3 cánh, đài hoa bé màu xanh Nhị bé nhưng nhiều tạo thành một lớp bọc ở vòng ngoài của các nhụy Nhụy rất nhiều xếp thành hình chóp tròn và nhọn

Cây na thụ phấn chéo bởi hoa cái thường có khả năng tiếp nhận hạt phấn trước 1-2 ngày lúc hoa đực nở (tung phấn) Thời gian thụ phấn ngắn Cây thụ phấn tốt vào khoảng 9-12 giờ hoặc 14g30-17g30 trong ngày

Kinh nghiệm trồng na của nhân dân cho biết nếu hoa nở gặp khô hạn hay gặp gió màu đông bắc, gặp mưa thì việc thụ phấn sẽ gặp khó khăn, đậu quả ít Nếu gặp ngày nắng, không mưa, gió mùa đông nam thì thụ phấn thụ tinh thuận lợi, đậu quả

sẽ tốt Từ lúc có nụ đến lúc hoa nở khoảng 31- 45 ngày phụ thuộc vào trạng thái sinh trưởng của cây và độ ẩm không khí Nếu có độ ẩm phù hợp thì hoa sẽ nở sớm

2.2 Sự phân hoá và sự kích thích ra hoa

Sự kích thích mầm hoa bắt đầu với sự dừng sinh trưởng dinh dưỡng trong thời gian nghỉ đông ở vùng Á nhiệt đới hoặc trong thời gian khô hạn ở vùng nhiệt đới Nói chung, trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng của chồi dừng và tỉ lệ sinh trưởng của rễ giảm trong mùa đông ngay khi nhiệt độ xuống chưa đến 12,5oC Trong thời gian sinh trưởng này mầm phát triển khả năng ra hoa Do đó, sự kích thích ra hoa bao hàm sự kiện trực tiếp chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực (Davenport, 1990) Nhiệt độ thấp và khô hạn là hai yếu tố kích thích đầu tiên, trong đó nhiệt độ thấp là yếu tố đầu tiên ở vùng Á nhiệt đới trong khi khô hạn là yếu tố kích thích ra hoa cho na ở vùng nhiệt đới Nhiệt độ dưới 25oC

Trang 6

trong nhiều tuần lễ là yêu cầu kích thích mầm hoa (Inoue, 1990) Ngưỡng nhiệt độ thấp cảm ứng ra hoa là 19oC trong vài tuần và ngưỡng tối thấp là 9,4oC Thường cây sẽ ra hoa sau khi tưới nước 3 - 4 tuần Thời gian từ khi cảm ứng ra hoa đến khi hoa nở thay đổi từng năm

Sự phân hoá mầm hoa bao gồm sự thay đổi về mô học và hình thái học chuyển

mô sinh trưởng dinh dưỡng trở thành một mô phân sinh hoa (Davenport, 1990)

2.3 Sự ra hoa và đậu trái

Hoa hình thành và phát triển trên cành một năm tuổi Cây còn tơ, ra hoa chưa

ổn định thường ra hoa không tốt như cây trưởng thành Cây na là cây thụ phấn chéo Côn trùng như ong mật thụ phấn hiệu quả hơn gió Một đàn ong có khả năng thụ phấn cho 0,8 ha diện tích trồng cây na

Sự đậu trái bị ảnh hưởng rất mạnh bởi nhiệt độ và sự khô hạn Nhiệt độ cao (>35oC), sự khô hạn và mưa nhiều dễ gây ra sự rụng trái non Nhiều tác giả cho rằng sự rụng sinh lý khi trái có kích thước từ 0,5 - 2,0 cm có liên quan đến chất điều hoà sinh trưởng, nước và các chất carbohydrate Sự rụng hoa trước khi thụ phấn là hiện tượng quan trọng trên cây na

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa

2.5.1 Nhiệt độ

Một số đặc tính của trái như kích thước, hình dạng, màu sắc, thời gian chín, TSS, TA bị ảnh hưởng rất mạnh bởi yếu tố khí hậu Tỉ lệ sinh trưởng của trái tối

Trang 7

hảo trong điều kiện nhiệt độ từ 20 - 25oC, nhiệt độ lớn hơn 30oC và thấp hơn 13oC

ức chế sự sinh trưởng của trái Khí hậu ẩm, lạnh trái sẽ phát triển tốt hơn khí hậu khô, nóng Cấu trúc của con tép mịn trong điều kiện khí hậu ẩm Trong điều kiện Á nhiệt đới màu sắc trái phát triển tốt hơn trong điều kiện nhiệt đới Diệp lục tố bắt đầu bị phá huỷ khi nhiệt độ ban đêm thấp hơn 13oC Trị số TSS cao nhất đạt được trong điều kiện nhiệt đới và Á nhiệt đới ẩm, nhiệt độ ban đêm cao làm giảm TSS ở vùng nhiệt đới Hàm lượng Acid thấp và giảm nhanh khi nhiệt độ cao, hàm lượng acid cao nhất ở vùng bán sa mạc hoặc vùng sa mạc Á nhiệt đới

2.5.2 Ánh sáng

Cây na cũng như những thực vật khác, để hoàn thành chu trình phát dục, cây tiến hành quang hợp để tích lũy chất khô dự trữ cho các quá trình sinh trưởng biến dưỡng cây cần có một lượng ánh sáng nhất định Khi thiếu ánh sáng cây sinh ra những cành mềm yếu, lá to, phát triển cành vượt và khó hình thành các mầm hoa Ánh sáng còn có tác dụng đối với quả, trên cây những quả nằm phía ngoài sáng có hình dáng đẹp, hàm lượng đường cao hơn quả nằm ở trong tán hoặc ở những nơi cành lá nhiều thiếu ánh sáng Nhưng nếu cường độ ánh sáng cao, vỏ trái bị thâm nám

2.5.3 Nước và lượng mưa

Na là cây không những cần nhiệt độ mà còn ẩm độ cao Ẩm độ không khí thấp hoặc biến động nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình bốc thoát hơi nước của cây, ảnh hưởng đến sinh trưởng và nhất là chất lượng trái làm cho vỏ dày, ít thơm, chất lượng kém Ở những vùng ven biển có độ ẩm cao, sự bốc thoát hơi nước ít làm cho

vỏ quả đẹp, nhẵn mỏng, nhiều nước chất lượng thơm ngon

Cây na cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và kết quả nhưng cũng rất sợ ngập úng Ẩm độ đất thích hợp nhất là 70 - 80% Lượng mưa cần khoảng 1.000 - 2.000 mm/năm Trong mùa nắng cần phải tưới nước và lượng muối NaCl trong nước tưới không quá 3g/lít nước

Trang 8

Lượng mưa thích hợp thay đổi tùy theo giống na, nhìn chung trong điều kiện Việt Nam, lượng mưa phù hợp cho sự phát triển của các giống na

2.5.4 Đất đai

Na là loại cây nhìn chung không kén đất lắm Đất đồi lẫn sỏi đá cũng trồng được, tốt nhất là đất cát pha, đất thịt, đất bazan đất chân núi đá vôi thoát nước nhiều mùn, giàu dinh dưỡng là thích hợp hơn cả Đất phải có tầng canh tác dày ít nhất là 0,6 m và thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, có hàm lượng hữu cơ cao >3%, không bị nhiễm mặn, mực nước ngầm thấp dưới 0,8 m Na thích ứng với độ pH 5,5 - 7,4 Trong điều kiện thích hợp

về đất đai na cho quả sai và chất lượng tốt, hàm lượng acid citric và đường tổng số cao, tỉ lệ đường/acid trên đất hơi chua giảm từ đất hơi chua đến đất trung tính và thấp nhất ở đất chua Đất quá xấu, sét nặng, ít thấm nước, đất tầng dưới có nhiều cát hoặc có lớp đá ong hạn chế rễ phát triển và sinh trưởng của cây

2.5.5 Chất đồng hóa và điều hòa sinh trưởng

Các yếu tố quan trọng liên quan đến sự ra hoa trên cây na là: các chất đồng hoá, chất điều hoà sinh trưởng Ngược lại, cũng có những nghiên cứu cho rằng không có sự liên hệ giữa hàm lượng tinh bột trong lá và chồi non với sự ra hoa của cây na (Davenport, 1990) Hàm lượng carbohydrate trong rễ thấp do cây mang quả quá nhiều có ảnh hưởng đến sự ra chồi và ra hoa Vai trò của các chất điều hoà sinh trưởng lên sự ra hoa của cây na cũng được nghiên cứu (Davenport, 1990) Phun gibberelin lên lá trước khi phân hoá mầm hoa có thể ức chế sự ra hoa (Monselise

và Halevy, 1964) Tình trạng dinh dưỡng của cây có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự ra hoa của cây Hàm lượng đạm cao trong cây còn tơ có thể kích thích

sự sinh trưởng quá mạnh và sản xuất chồi sinh trưởng hơn là chồi sinh sản Ngược lại mức độ đạm thấp thúc đẩy ra hoa nhiều mặc dù sự đậu trái và năng suất thấp

Sự thiếu đạm nghiêm trọng sẽ sản xuất ít hoa Do đó, duy trì mức đạm trong lá tối hảo từ 2,5 - 2,7% sẽ cho số lượng hoa trung bình nhưng sẽ có sự đậu trái và năng

Trang 9

suất cao nhất Đạm dạng ammonium có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra hoa thông qua sự điều chỉnh ammonia và hàm lượng polyamine trong chồi (Lovatt, 1988) Nhiệt độ thấp và stress do khô hạn làm tăng hàm lượng ammonium trong lá và sự

ra hoa Số hoa có tỉ lệ thuận vói thời gian kích thích của nhiệt độ thấp Phun urê 1%

ở giai doạn 6 - 8 tuần trước khi hoa nở làm tăng số hoa và năng suất cây na 9 năm tuổi (Rade and van de Walt, 1992)

2.6 Biện pháp tác động đến sự ra hoa và đậu quả

2.6.1 Biện pháp tuốt lá, cắt cành ảnh hưởng đến thời điểm ra hoa

Trong kỹ thuật chăm sóc cây Na có rất nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất và chất lượng quả như: tỉa cành, tuốt lá, thụ phấn bổ sung kết hợp chăm sóc bón phân hợp lý Na thường cho năng suất thấp, ngoài những nguyên nhân kỹ thuật canh tác còn có vấn đề về thụ phấn Na rất nhiều hoa nhưng tỉ lệ đậu quả thấp

vì nhụy nở trước, sau đó nhị mới nở tung phấn do đó quả đậu ít Muốn quả đậu nhiều, cần phải thụ phấn bằng tay cho Na Song song với kỹ thuật tăng tỷ lệ đậu quả bằng thụ phấn bổ sung ở na, tuốt lá cũng là một trong những biện pháp điều khiển cho cây na ra hoa trái vụ, rải vụ thu hoạch

Biện pháp tỉa cành, tuốt lá là biện pháp kỹ thuật được áp dụng ở nhiều loại cây

ăn quả, cây cảnh như: đào, chè, na, nhãn vãi, mãng cầu Đây là biện pháp hữu hiệu

để kích thích ra cành, lộc, hoa và áp dụng biện pháp tỉa cành, tuốt lá với các biện pháp canh tác hợp lý người sản suất có thể điều khiển được thời vụ ra hoa đậu quả Theo kinh nghiệm của ông Nguyễn Xuân Thuỷ, ở xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) vào khoảng thời gian trung tuần tháng 11 sẽ đốn toàn bộ cành cao của cây na, chỉ để cây na cao khoảng 1,5 - 1,8 m và cắt bớt cành cho thoáng Nhờ đó, cây na sẽ chống chịu được mưa gió, quả không bị dập nát do va chạm trên cao; không tốn thức ăn để nuôi cành vô hiệu; quả ra tập trung vào thân và cành cấp một (những quả na gần thân thường là những quả to và đẹp); cây na cũng dễ thụ phấn và dễ thu hoạch hơn

Trang 10

- Muốn cho na ra hoa sớm hoặc rải vụ thì áp dụng kỹ thuật tuốt lá: pha 800g urê trong bình 8 lít nước rồi phun ướt đẫm cây làm rụng lá già, số lá còn lại thì tuốt

bỏ luôn hoặc dùng thuốc gây rụng lá cây Rontar với lượng dùng pha 25 ml thuốc với bình 10 lít phun cho 15 cây

2.6.2 Biện pháp sử dụng chế phẩm tăng đậu quả ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả

Sử dụng chế phẩm đậu quả đã rất phổ biến với người trồng na, vào thời điểm hoa na nở rộ nông dân có thể dùng Paclobutrazol ở liều lượng 2,5 - 5g ai/cây (tùy theo tuổi cây và đường kính của cây mà tăng giảm liều lượng) tưới xung quanh gốc hoặc phun lên cây ở nồng độ 1.000-2.000 ppm cũng có khả năng giúp cây na ra hoa

Hoặc dùng Ethrel 500 ppm phun lên lá hoặc tưới gốc Trước khi xử lý hóa chất thì cây cũng được bón phân lần 2 (trước ra hoa), sau khi xử lý hóa chất cũng cần giảm dần lượng nước tưới và khi cây ra hoa thì tưới nước trở lại

Sự hiện diện của gibberellin có thể ảnh hưởng đến sự ra hoa Tuy nhiên, những nghiên cứu sự biến động của hàm lượng GA3 nội sinh cho thấy không có sự liên quan có ý nghĩa giữa GA3 và kiểu chồi sinh trưởng hay sinh sản (Davenport, 1990) Gibberellin và 2,4-D thường được áp dụng để cải thiện vỏ quả và sự rụng trái non trên na (Coggins, 1981) Phun GA3 làm tăng sự đậu trái Những hoa nở đợt đầu thường đậu trái kém hơn những hoa nở sau GA3 thường được áp dụng để tăng

tỉ lệ đậu trái và năng suất và sản xuất trái không hạt cho thị trường châu Âu

Các yếu tố liên quan để việc xử lý ra hoa thành công:

- Trước giai đoạn xử lý ra hoa, cây không được bón quá nhiều phân bón có hàm lượng đạm cao

- Trong thời gian xử lý ra hoa trên cây mang quá nhiều quả và quả đang ở các giai đoạn khác nhau

Trang 11

- Đất quá ẩm cũng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây, bên cạnh đó thời gian tạo khô hạn phải tương đối đủ để cây phân hóa mầm hoa

- Trên cây xuất hiện nhiều tược non và cành vượt không được tỉa bỏ thường xuyên cũng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây

2.6.3 Biện pháp thụ phấn bổ sung ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả.

Mục đích thụ phấn bổ sung là để nâng cao hiệu quả thụ phấn cho một số loài hoa đơn tính mà có ít hoặc không có hoa đực hoặc các loại cây trồng bất dục đực ở hoa lưỡng tính (cam, quýt), hoặc có khiếm khuyết trong cấu thành lệ hoa lưỡng tính

và hoa đơn tính (vải thiều) Nhiều khi phải thụ phấn bổ khuyết bởi thụ phấn không những nâng cao được năng suất cây trồng mà còn thay đổi hẳn phẩm chất quả theo hướng có lợi

Một số nghiên cứu cho thấy tất cả các loại mãng cầu nói chung và na nói riêng đều có trái phức hợp, tỷ lệ đậu quả thấp Đặc điểm này, ngoài việc làm giảm năng suất còn ảnh hưởng đến chất lượng quả, hình dáng quả ít đều đặn Phần được thụ phấn - múi có hạt thì no tròn, phình ra Phần không được thụ phấn thì múi không có hạt, không phát triển được, vỏ phía ngoài co lại, quả nhỏ (Nguồn: Huỳnh Văn Tư, Nguyễn Văn Hùng, Bùi Văn Khôi, Mai Văn Trị - Điều tra khảo sát giống

mãng cầu ta (Annona squmosa L.) và bình tuyển cá thể tốt tại tỉnh Bà Rịa- Vũng

Tàu Báo cáo hội nghị khoa học năm 1999, Trung tâm cây ăn quả miền Đông Nam

Bộ SOFRI, 1999) Hiện tượng đậu quả thấp ở cây na là do sự thụ phấn kém (Hayes, 1957; Kumar et all, 1977), trong điều kiện tự nhiên chỉ có 1- 8 % quả đậu (George

và Nissen, 1988) Cây na là cây thụ phấn chéo, thông thường hoa đực và hoa cái không cùng nở vào một thời điểm Thông thường, hoa cái nở sớm hơn hoa đực khoảng 2 ngày, do đó khi nhị đực tung phấn thì khả năng tiếp nhận của đầu nhụy đã kém đi rất nhiều (Nguồn: Vũ Công Hậu Trồng cây ăn quả Việt Nam NXB Nông nghiệp

TP Hồ Chí Minh 1996, tr.344-358) Mặt khác thời gian thụ phấn của cây ngắn, ở xứ Á nhiệt đới cây thụ phấn tốt nhất vào khoảng 9 - 12 giờ hoặc 14g 30 đến 17g 30 trong

Trang 12

ngày Việc thụ phấn cho na chủ yếu nhờ vào côn trùng (một loài bọ cánh cứng rất nhỏ thuộc chi Carpaphilus) và gió, do vậy việc thụ phấn và thụ tinh trong tự nhiên

là rất khó khăn, hiệu quả không cao

Để tăng cường tỷ lệ đậu quả và kích thước quả, ở Cu ba và Ai Cập trong sản xuất na người ta thực hiện biện pháp kỹ thuật thụ phấn bổ sung Ở Cuba, 01 lao động

có thể thụ phấn cho 800 - 1.000 hoa na trong 1 ngày Khoảng 3 - 4 ngày thụ phấn 1 lần cho 1 cây và cả mùa hoa cũng chỉ thụ phấn 8 - 10 lần khi hoa ra nhiều nhất

Kinh nghiệm và kết quả thụ phấn nhân tạo cho thấy, lấy hạt phấn khi hoa vừa tung phấn để thụ phấn cho hoa cái hiệu quả sẽ tốt hơn: tỷ lệ nảy mầm của hạt phấn đạt 53,1%; tỷ lệ đậu quả đạt 90% Còn nếu lấy phấn từ hôm trước: tỷ lệ nảy mầm chỉ đạt 8,8%; tỷ lệ đậu quả đạt 64,5%

Để khắc phục hiện tượng trên và tăng cường tỷ lệ đậu quả ở cây na, trong sản xuất na người ta thực hiện biện pháp kỹ thuật thụ phấn bổ sung

Kết quả điều tra hiện trạng của việc thụ phấn bổ sung cho hoa na tại huyện Đông Triều cho thấy:

- Thời gian tiến hành thụ phấn bổ sung: Tháng 2 - 5 Trong 120 hộ được phỏng vấn có 05 hộ tiến hành thụ phấn bổ sung vào tháng 2; 17 hộ thụ phấn bổ sung vào tháng 3; 55 hộ thụ phấn bổ sung vào tháng 4; 43 hộ thụ phấn bổ sung vào tháng 5

- Tỷ lệ đậu quả: Khi áp dụng phương pháp thụ phấn bổ sung tỷ lệ đậu quả na cao hơn so với khi không áp dụng biện pháp thụ phấn bổ sung

- Ngoài thụ phấn bổ sung đa số các hộ không sử dụng phương pháp nào khác làm tăng tỷ lệ đậu quả Trong 120 hộ điều tra có 12 hộ sau khi sử dụng biện pháp thụ phân bổ sung có sử dụng biện pháp kích thích để làm tăng tỷ lệ đậu quả và kích thích quả lớn

- Năng suất (đối với hộ có áp dụng thụ phấn bổ sung): 92,48 - 121,05 (tạ/ha)

Trang 13

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh trên cây Na giúp cho người nông dân hiểu được những kỹ thuật chăm sóc,tuốt lá, tỉa cành, thụ phấn bổ sung để tăng năng suất và chất lượng quả Na, nhằm mục đích nâng cao thu nhập cho người dân trong vùng, góp phần xoá đói giảm nghèo Vì vậy, các nghiên cứu phải đặt trong hệ thống khép kín, tương tác lẫn nhau từ khâu chăm sóc, tuốt lá, tỉa cành, thụ phấn bổ sung, bảo quản và định hướng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo tiền đề xây dựng vùng sản xuất Na qui mô lớn, tập trung và bền vững

Trang 14

PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Để đánh giá hiệu quả của biện pháp thụ phấn bổ sung đến năng suất và chất lượng quả na chúng tôi tiến hành bố trí thí nghiệm gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi công thức bố trí 10 cây liền nhau Tổng số cây = 5*3*10 = 150 cây Mỗi cây

cần thụ phấn 200 - 300 hoa

- CT 1: Thụ phấn bổ sung cho công thức tuốt lá vào giữa tháng 1;

- CT 2: Thụ phấn bổ sung cho công thức tuốt lá, cắt đầu cành vào giữa tháng 1;

- CT 3: Thụ phấn bổ sung cho công thức tuốt lá vào cuối tháng 1;

- CT 4: Thụ phấn bổ sung cho công thức tuốt lá, cắt đầu cành vào cuối tháng 1;

- CT 5: Không thụ phấn bổ sung

Kết quả cụ thể được như sau:

3.1 Thời gian ra hoa, thời gian ra quả, tỷ lệ đậu quả (%)

- Thời gian ra hoa: Thời gian bắt đầu ra hoa được xác định khi có 10% số cây

có hoa nở Định kỳ 5 ngày theo dõi 1 lần

+ Thời gian ra hoa rộ: Được tính từ thời gian xuất hiện hoa đến ngày có >50%

số cây/công thức có hoa nở (ngày)

+ Thời gian kết thức nở hoa: Được tính từ ngày xuất hiện hoa đến ngày có

>50% số cây/công thức có hoa tàn (ngày)

- Thời gian ra quả: Được tính từ ngày có 10% số cây có quả

+ Thời gian ra quả rộ: Được tính từ ngày xuất hiện quả đến ngày có >50% số quả/công thức

+ Thời gian phát dục của quả: Được tính từ ngày xuất hiện quả đến ngày có

>20% số quả cho thu hoạch/công thức

Kết quả được trình bày dưới bảng 1:

Trang 15

Bảng 1: Kết quả theo dõi thí nghiệm thụ phấn

Số hoa Số quả

Tỷ lệ đậu quả (%)

Số hoa Số quả

Tỷ lệ đậu quả (%)

Số hoa Số quả

Tỷ lệ đậu quả (%)

Số hoa Số quả

Tỷ lệ đậu quả (%)

Trang 16

Kết quả nghiên cứu cho thấy hoa na thường ra rải rác trong thời gian 2 tháng, tuy nhiên do điều kiện thời tiết năm nay lạnh kéo dài nên hoa na nở muộn hơn so với những năm trước Sau khi tuốt lá, tỉa cành mầm xuất hiện vào cuối tháng 3, nụ

ra rải rác vào khoảng từ 10/4 trở đi, hoa nở tập trung từ 6/5 đến 10/6, là thời gian tiến hành thụ phấn bổ sung cho hoa na Từ bảng 1 cho thấy công thức 4 số lượng hoa ra trung bình nhiều nhất là 6035,34 hoa/công thức và số quả đậu trung bình cũng nhiều 5103 quả/công thức; tiếp đến công thức 2 số lượng hoa trung bình là 5721,33 hoa/công thức và số quả đậu trung bình là 4414 quả/công thức; công thức

3 số lượng hoa trung bình là 5359,67 hoa/công thức và số quả đậu trung bình là 3480,66 quả/công thức; công thức 1 số lượng hoa trung bình là 5009 hoa/công thức

và số quả đậu trung bình là 3099,33 quả/công thức; công thức 5 cho số lượng hoa ít nhất là 4529,01 hoa/công thức và số quả trung bình ít nhất là 1125,33 quả/công thức Theo dõi ngưỡng rụng quả từ khi quả non đến khi gần thu hoạch, chúng tôi nhận thấy ở thời kỳ quả non đường kính 1-2 cm quả rụng nhiều, đồng thời đây là thời gian người dân tiến hành tỉa quả dày, méo mó, sâu bệnh, sau đó quả rụng ít đi tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, nếu gặp trời nắng gắt sau mưa rào kèm gió to thì quả bị rụng nhiều hơn Nhìn chung điều kiện thời tiết từ tháng 1 đến tháng 3 lạnh nên ảnh hưởng của số lượng hoa giữa các lần tuốt lá không sai khác nhiều, nhưng giữa công thức cắt tỉa cành và không cắt tỉa cành thì đã có sự sai khác rõ rệt

3.2 Tỷ lệ đậu quả của biện pháp thụ phấn bổ sung

Cây na nếu chăm sóc tốt ra rất nhiều hoa nhưng tỷ lệ đậu quả thấp vì nhị và nhụy thường nở lệch pha nhau, nhiều quả có tỷ lệ múi lép cao do thụ phấn không hoàn toàn Muốn cho na sai quả, quả to, không bị lép, chất lượng tốt, bán được giá cao thì cần phải thụ phấn bổ sung bằng tay cho na

Cách lấy phấn hoa:

Chọn ngày nắng ráo, hái những hoa ở gần ngọn, đầu cành các cành nhỏ (thường những hoa này không đậu quả) để lấy phấn Chọn hái những hoa sắp nở:

Ngày đăng: 30/04/2022, 20:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả theo dõi thí nghiệm thụ phấn - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
Bảng 1 Kết quả theo dõi thí nghiệm thụ phấn (Trang 15)
Bảng 3: Kích thước quả trung bình - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
Bảng 3 Kích thước quả trung bình (Trang 20)
chia trung bình để tính số quả/cây. Kết quả được trình bày ở bảng 4 và biểu - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
chia trung bình để tính số quả/cây. Kết quả được trình bày ở bảng 4 và biểu (Trang 21)
bảng 5: - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
bảng 5 (Trang 22)
Bảng 5: Trọng lượng trung bình/quả (gam) - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
Bảng 5 Trọng lượng trung bình/quả (gam) (Trang 22)
Bảng 6: Trọng lượng quả trung bình/cây (Kg) - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
Bảng 6 Trọng lượng quả trung bình/cây (Kg) (Trang 23)
Theo kết quả nghiên cứu bảng 6 chúng tôi nhận thấy, giữa 5 công thức thí nghi ệm trọng lượng quả trung bình/cây đã có sự chênh lệch nhau rõ rệ t - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
heo kết quả nghiên cứu bảng 6 chúng tôi nhận thấy, giữa 5 công thức thí nghi ệm trọng lượng quả trung bình/cây đã có sự chênh lệch nhau rõ rệ t (Trang 23)
Kết quả được trình bày ở bảng 8: - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
t quả được trình bày ở bảng 8: (Trang 24)
chất lượng để so sánh với bảng chất lượng một số loại quả của FAO. Kết quả trình bày bảng 9: - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
ch ất lượng để so sánh với bảng chất lượng một số loại quả của FAO. Kết quả trình bày bảng 9: (Trang 25)
Bảng 11: Tổng số tiền chi/ha - BCCD3 - Thu phan bo sung.PDF
Bảng 11 Tổng số tiền chi/ha (Trang 27)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm