I MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã và đang được đề cập và bàn luận sôi nổi Định hướng phương pháp dạy học đã được thống nhất theo tư tưởn[.]
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã và đang được đề cập và bàn luận sôi nổi Định hướng phương pháp dạy học đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên
2 Mục đích nghiên cứu:
Để đạt được mục đích hoạt động đổi mới của phương pháp dạy học môn Ngữ văn cũng như các môn học khác là tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, bản thân người giáo viên phải tự tìm tòi phương pháp thích hợp nhằm gây hứng thú cho học sinh Đó là động cơ khiến người thầy tâm huyết phải tích cực tìm tòi những phương pháp tối ưu trong môn ngữ văn nói riêng và các môn học nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu:
Vậy làm thế nào để học sinh say mê, hứng thú trong giờ học ngữ văn?
Làm thế nào để phát huy trí lực sáng tạo của học sinh trong giờ ngữ văn?
Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu truyền đạt khối lượng khổng lồ của tri thức và bên kia là số lượng thời gian thực học của học sinh ngày càng ít đi do sự chi phối bởi nhiều nhu cầu của cuộc sống hiện đại?
Phương pháp mới, sách giáo khoa mới ra đời đã bước đầu giải quyết được mâu thuẫn đó khi chú ý đến việc tự học của học sinh tức là thông qua tri thức học mà dạy cho các em có thể tự học giúp các em tiếp thu được nhiều hơn, nhớ lâu hơn Cách học mới nµy sẽ tránh được sự nhàm chán, đơn điệu, tránh được sự quay cóp, làm bài thiếu sự sáng tạo, cảm xúc khô cứng, gượng gạo trong tâm hồn các em
4 Kế hoạch nghiên cứu:
TT
Thời gian
từ 10/10/2018
đến 10/5/2019
Nội dung công việc Sản phẩm
đến 10/11/2018
Chọn đề tài, viết đề cương nghiên cứu
Đề cương chi tiết
2 Từ 11/11 đến
10/12/2018
- Đọc những loại sách tham khảo, tài liệu tham khảo, xây dựng mô hình tiết dạy, thiết kế bài giảng, giáo án mẫu, nghiên cứu băng hình mẫu Nắm nội dung chương trình sách giáo khoa từ lớp 6 ->
lớp 9
Tài liệu nghiên cứu
3 Từ 10/12 đến
30/3/2019
- Trao đổi với đồng nghiệp về nội dung sáng kiến
- Thực hiện thử nghiệm sáng kiến
- Tập hợp ý kiến
- Áp dụng thử nghiệm thực tế
20/4/2019
- Viết sáng kiến
- Xin ý kiến đóng góp của đồng nghiệp
- Bản thảo sáng kiến
Trang 220/5/2019 hoàn chỉnh.
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Bản thân giáo viên được học tập đầy đủ các khóa tập huấn do Sở giáo dục tổ chức, vµ tham dự các chuyên đề của Phòng giáo dục và tạo
- Nắm nội dung chương trình sách giáo khoa từ lớp 6 -> lớp 9
- Tìm đọc những loại sách tham khảo, tài liệu tham khảo, xây dựng mô hình tiết dạy, thiết kế bài giảng, giáo án mẫu, nghiên cứu băng hình mẫu
- Dự giờ đồng nghiệp trong các tiết Hội giảng trường tích lũy kinh nghiệm trong giảng dạy
- Giáo viên mất nhiều thời gian đầu tư cho tiết dạy
- Một số học sinh có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ đi làm ít quan tâm đến việc học của con em , ảnh hưởng chất lượng học tập của học sinh
Từ lý do trên, người giáo viên muốn dạy văn hay và học sinh học văn được tốt thì người dạy và người học phải có những nổ lực nhất định để phát huy khả năng của chính mình Với tư cách là một giáo viên đứng lớp trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn trong thời gian qua, tôi luôn trăn trở về phương pháp tích cực nhằm gây hứng thú cho học sinh để các em yêu thích, say mê với môn học
II NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở lý luận của sáng kiến
Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì hiệu quả trong việc gây hứng thú cho học sinh trong giờ dạy ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của nhà trường nói chung và của từng giáo viên Văn học dễ làm say mê người học nếu người dạy tạo được sự hứng thú tự thân nơi người học Người học văn cảm thụ được cái hay , cái đẹp trong từ ngữ, bố cục, vần điệu khi có được sự hứng thú tìm hiểu và đưa đến cảm xúc Cái khó của người dạy là làm thế nào truyền được cảm xúc của tác giả đến với người học Trong nhà trường phổ thông đối tượng học sinh do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thích tìm hiểu và sáng tạo nhưng chưa có phương pháp đúng để cảm thụ văn học, chưa hiểu rõ cái hay, cái đẹp ẩn chứa trong từng câu thơ, câu văn, chưa có cảm xúc thực sự đồng điệu với cảm xúc của tác giả Chính những thiếu sót trên học sinh thường không thích học và đọc văn Nhiệm vụ của giáo viên dạy văn là phải tạo sự hứng thú, phải khiến cho những từ ngữ khô khan biết nhảy múa biết vẽ ra những khung cảnh lúc yên bình , lúc dữ dội, phải đi vào tâm hồn các em những tình cảm yêu, ghét, nhớ nhung, mơ mộng phải mở ra những cánh cửa từ lâu được khóa chặt bằng sinh hoạt đời thường
Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn học nói chung và môn ngữ văn nói riêng việc lấy học sinh làm trung tâm thúc đẩy tư duy học sinh, mở cho các em hướng nghiên cứu và tự mình giải quyết những thắc mắc, những khó khăn trong việc tìm hiểu phân tích Người giáo viên không còn giảng giải một cách say sưa khi không có phản hồi từ học sinh, các em được làm quen với những câu hỏi gợi mở, những gợi ý cho một đề tài thảo luận, các em có quyền nêu những nhận xét, những cảm nhận cá nhân về đề tài , về nhân vật, về tác gia những cảm nhận đôi khi chưa chính xác, gây tranh cãi góp phần rất lớn trong việc điều chỉnh
Trang 3nhận thức, gõy hứng thỳ cho cỏc em và văn học khụng xa lạ khụng đúng khung trong thỏp ngà mà thật sự gần gũi biết bao
2 Thực trạng vấn đề trước khi ỏp dụng sỏng kiến
Nh chúng ta đã biết “văn học là nhân học”, “văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Chính vì vậy việc học văn không phải là đơn giản, hơn nữa trong thời
đại hiện nay, môn ngữ văn không còn là “điểm đến” hấp dẫn với các em học sinh nh các môn Toán, Lý, Hoá, Anh … mặc dù đó là một trong 2 môn chính chiếm số lợng tiết không nhỏ Có nhiều học sinh rất ngại học môn Văn bởi lý do
là Văn viết dài, khó học, khó thuộc Có những tác phẩm tự sự dài học sinh lời không đọc hết dẫn tời tình trạng mơ màng về nội dung, cốt truyện, nhân vật
Có những bài thơ khi học xong học sinh không nắm đợc những nghệ thuật tiêu biểu, nội dung của bài thơ Những lý do trên khiến tâm lý học sinh ngại và chán học môn Văn Vậy làm thế nào để khắc phục khó khăn đó? Làm thế nào để tiết dạy học môn Ngữ Văn thật sự có hiệu quả để thu hút học sinh say mê học tập?
Nh chúng ta đã biết, văn học xuất phát từ đời sống, chính vì thế văn học rất gần gũi với mọi ngời Những bài thơ hay, những văn bản hấp dẫn đã giúp cho giờ văn không chỉ là giờ học mà còn là những giờ giải trí, khám phá biết bao
điều kỳ diệu của cuộc sống con ngời Để có giờ văn nh thế thì khâu “đọc – hiểu văn bản” là rất quan trọng đòi hỏi ngời thầy chủ động, sáng tạo và linh hoạt khi thiết kế bài giảng
3 Cỏc sỏng kiến đó được sử dụng để giải quyết vấn đề :
Vấn đề tạo hứng thỳ cho học sinh trong giờ học ngữ văn đi đụi với hiệu quả và
cú tớnh giỏo dục cao Học sinh cú thể cú hứng thỳ nhưng hiệu quả giỏo dục mới là mục đớch mà người dạy cần đạt Người viết xin trỡnh bày một số phương phỏp đó
ỏp dụng khi hướng dẫn học sinh tiếp xỳc với văn bản như sau:
a Phương phỏp thảo luận:
Đặc trưng của phương phỏp thảo luận là cho học sinh được hội thoại tự do theo nhúm , học sinh cú cơ hội trỡnh bày ý kiến , suy nghĩ của mỡnh và được nghe ý kiến của bạn Khi ỏp dụng thảo luận trong giảng dạy hàm chứa một thụng điệp :”Mọi ý kiến đều được trõn trọng bao gồm cả những kinh nghiệm mà cỏc em
cú được “ Ở phương phỏp nàyhọc sinh cũng cũ cơ hội sử dụng cỏc kỹ năng nhận biết bậc cao như đỏnh giỏ và tổng hợp Phương phỏp thảo luận được sử dụng trong từng bài học
b Phương phỏp đúng vai, diễn kịch:
Đúng vai rất cú tỏc dụng trong việc phỏt triển “ kỹ năng giao tiếp “của học sinh nú mang đến cho học sinh cơ hội thực tập kỹ năng Đõy cũng là một thủ phỏp thõm nhập tỡm hiểu Tõm tư và thỏi độ con người (Đúng vai ụng giỏo, đúng vai chị Dậu – Văn 8)
c Phương phỏp học nhúm:
Ở phương phỏp nầy mang lại cho học sinh cơ hội thuận lợi để làm quen với nhau.Nú cũng khơi dậy sự gắn bú với tập thể Sau mỗi bài dạy giỏo viờn cú thể cho học sinh luyện tập bằng phương phỏp học nhúm Mỗi nhhúm cú từ 3-4 em ,Giỏo viờn cho thời gian chuẩn bị khoảng 5’ Sau đú mỗi nhúm cử đại diện lờn trỡnh bày
Trang 4Lúc nay học sinh có cơ hội thực hành các kỹ năng trí tuệ bậc cao như: Kỹ năng sáng tạo kỹ năng đánh giá, tổng hợp và phân tích Hoạt động nầy không những lý thú mà còn tạo nhiều cơ hội cho các em học hỏi Những học sinh nhút nhát thường
ít phát biểu trong lớp, sẽ có môi trường tốt để động viên tham gia xây dựng bài Ở hoạt động nầy các lỗi sai đều được giải đáp, học sinh tự sửa lỗi và dạy lẫn nhau trong bầu không khí rất thoải mái Học sinh có thể cùng nhau đạt được những điều
mà các em không thể làm được một mình
Ngoài ra để thực hiện phương pháp dạy học hiện đại là phải nói đến phương pháp trò chơi học tập như: Đối đáp ; đóan ô chữ; nhận biết tranh; kim tự tháp; ai nhanh hơn; trắc nghiệm vui; trò chơi đổi chỗ;mật thư;thi sắp xếp từ ngữ
Tác dụng lớn nhất của phương pháp tró chơi là kích thích nhu cầu học tập , nâng cao hiệu quả học tập
VD1:Khi dạy văn bản”Qua đèo ngang” bà Huyện Thanh Quan (Ngữ văn 7) Giáo viên có thể giới thiệu bài bằng trò chơi như sau: Giáo viên nêu tình huống: Chúng ta đang ngồi trên chiếc ô tô du lich xuyenViệt Chuyến xe khởi hành từ TP
Hồ Chí Minh, hiện nay chúng ta đang ở đâu? Mời các bạn đoán xem(Bằng cách chọn ô chữ)
Câu 1: Đây là một tỉnh thuộc Bằc Trung bộ có danh lam thắng cảnh nổi tiếng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới năm 2003 Các em đã biết danh thắng này trong một văn bản nhật dụng lớp 6 Tên của tỉnh này có 9 chữ cái (Động Phong Nha- Quảng Bình)
Câu 2: Đây là một dãy núi phân chia hai tỉnh, thuộc một nhánh của dãy Trường Sơn Tên của nó có 8 chữ cái (Đèo Ngang)
Câu 3: Đây là một tỉnh thuộc Bắc Trung bộ có núi Hồng Lĩnh, sông Lam nổi tiếng Nơi đây có 10 cô thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh ở ngã ba Đồng Lộc Tên tỉnh có 6 chữ cái (Hà Tỉnh)
Giáo viên cho học sinh đoán hình nền (Đèo Ngang) Ở bước giới thiệu bài giáo viên đã tích hợp dọc (Khối 6-7); tích hợp liên môn (Địa lý- lịch sử).Ngay phần vào bài đã gây ấn tươịng cho học sinh về phong cảnh và vị trí địa lý lịch sử của Đèo Ngang trước khi học bài “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan
VD2: Văn bản: “Hai cây phong” (Ai- ma- tốp) –Ngữ văn 8: Ngoài ảnh hai cây phong phóng to Giáo viên chuẩn bị 4 tranh với 4 cảnh:
1 Cảnh bọn con trai trèo lên hai cây phong
2 Cảnh ngọn hai cây phong với khung cảnh bao la của thiên nhiên
3 Cảnh hai cây phong hiện tại
4. Cảnh hai cây phong đang được vùi xuống đất
Giáo viên cho học sinh nhận diện tranh trước khi tổng kết:
Yêu cầu : Học sinh sắp xếp các tranh theo thứ tự bài học Sau đó kể chuyện theo tranh
Với văn bản nầy học sinh không có tài liệu, tác phẩm nên phần tiếp cận với đoạn trích có khó khăn Qua trò chơi giúp học sinh nắm vững kiến thức của văn bản – Giờ học sinh động hơn
VD3: Dạy bài : Từ ghép (Ngữ văn7) Trường từ vựng (Ngữ văn 8) Giáo viên dùng phương pháp trò chơi : Giải Ô chữ
Trang 5Ở môn Tiếng Việt trò chơi nµy được vận dụng ở bậc Tiểu học Để trò chơi hấp dẫn hơn khi tổ chức ô chữ theo dạng khối chữ nhật phải có ô chứa từ khóa Trò chơi nầy có tác dụng phát triển vốn từ, mở rộng nhận thức
Yêu cầu giải bài tập nµy học sinh căn cứ vào ba dữ kiện: Số ô chữ, lời gợi ý , số chữ cái nằm trong vòng từ khóa (hàng dọc có màu khác) Học sinh điền từ vào các ô trống
Kết quả: Xuất hiện từ mới ở hàng dọc khác màu là từ chỉ tên trường từ vựng , các ô hàng ngang là những từ cùng trường với trường từ vựng đó
*Trong luyện tập giáo viên cần tổ chức cho học sinh trò chơi ai nhanh hơn: Yêu cầu của trò chơi tương đối đơn giản, giáo viên cho sẵn nội dung , học sinh điền vào mô hình có sẵn: dạng sơ đồ, dạng bông hoa
Áp dụng khi dạy từ đồng nghĩa (Ngữ v¨n 6)
Giáo viên chuẩn bị sẵn nhiều cánh hoa đã ghi từ vào.Khi thực hiện bài tập giáo viên đặt một nhụy hoa lên khoảng trống của bảng (nhụy có ghi sẵn từ) hai đội lần lượt lên xếp từng cánh hoa vào nhụy sao cho các từ của cánh hoa phải là từ đồng nghĩa với từ ở nhụy hoa
-Trong khi hai đội thi đền nghị lớp cổ vũ, báo giờ chính xác
- Hết giờ đội nào nhiều hoa hơn, đúng từ thì đội đó thắng
VD4: Để phân loại kiến thức trong bài học như : Từ, danh từ, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ láy, điệp ngữ Ta có thể dùng đồ dùng dạy học trong một số trò chơi như: tiếp sức, diền vào chỗ còn trống trong các sơ đồ khuyết, tạo không khí sinh động trong giờ học
+Dạy bài :”Điệp ngữ (Ngữ văn 7) Giáo viên chuẩn bị một bảng phụ có ghi những câu thơ, câu ca dao còn chỗ
bỏ trống có ghi các từ: chưa ngủ, nhớ, nhớ, con, vàng
Cảng khuya như vẽ người chưa ngũ vì lo nỗi nước nhà
Anh đi anh quê nhà Nhớ canh rau muống cà dầm tương
Có vàng, chẳng hay phô Có , con nói trầm trồ mẹ nghe
*Tiến hành: Giáo viên chia lớp thành hai đội chơi: Điền chữ còn bỏ trống trong các câu thơ và ca dao trên Lần lươt 5t mỗi đội điền một câu, đội nào không điền được đội còn lại có quyền trả lời để ghi điểm sau khi hoàn tất trò chơi giáo viên hướng dẫn cho học sinh xác định dạng điệp ngữ ở các ví dụ trên
+Dạy bài:”Từ láy” (Ngữ văn 7) -Giáo viên cắt các cánh hoa có ghi các từ : Nhỏ nhẹ, lấp lánh, máu mủ, rơi rớt, đo đỏ, bồng bềnh, chùa chiền, mhè nhẹ, lênh khênh, lanh canh
-Giáo viên dán lên bảng từ láy Họcsinh thi ráp thành các bông hoa có mỗi cánh là một từ láy
Sau khi trò chơi kết thúc Giáo viên gíup học sinh rút ra những chú ý phân biệt giữ từ láy và từ ghép
Trang 6Bồng bềnh lấp lánh lanh
canh Từ láy
đo đỏ lênh nhè
khênh nhẹ
+Dạy bài:”Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” ( Ngữ văn 9) Giáo viên có thể dùng trò chơi :Điền sơ đồ khuyết
Đối với văn bản này, phần chủ đích của thông điệp màG.Mác- két muốn gửi tới mọi người là :”Nhiệm vụ của chúng ta là đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân cho một thế giới hòa bình” Vì vậy khi dạy đến phần nầy sau khi phân tích Giáo viên chuẩn bị kẻ sơ đồ vào phim trong phát cho 4 nhóm để học sinh hoàn chỉnh sơ đồ Nhóm nào điền nhanh , chính xác sẽ đưa lên đèn chiếu
Tăng cường
sức khỏe- dinh dưỡng
Đảm bảo an toàn Thực hiện bình đẳng Mang thai và sinh nở Nam – nữ
Nhiệm vụ
Chăm sóc trẻ Tàn tật – khó khăn
-Những nhiệm vụ học sinh cần điền: Chăm lo cho tất cả biết chữ Phát triển kinh tế thế giới Giúp trẻ tự tin và sống có trách nhiệm
+Dạy bài: “Danh từ) Sau khi giáo viên truyền thụ kiến thức học sinh tìm hiểu khái niệm về danh từ và các loại danh từ để hệ thống hóa các kiến thức đã học , giáo viên dùng sơ đồ vẽ sẵn lên phim trong và cho các em điền vào các ô trống với những từ , cụm từ cho sẵn như: Danh từ, danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ
sự vật , đơn vị tự nhiên , đơn vị qui ước, danh từ chung , danh từ riêng
Giáo viên có thể chia lớp thành 2 nhóm Nhóm nào điền nhanh đúng đưa lên sẽ thắng
Trang 7
Qua thực hiện các biện pháp đã nêu trong bộ môn ngữ văn ở bậc THCS người viết đã nhận thấy các em học sinh có nhiều tiến bộ rõ rệt khi tìm hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ,giúp học sinh khắc sâu các kiến thức
về Tiếng Việt các em yêu thích học văn , hăng hái phát biểu, không còn những giờ văn giáo viên luôn thuyết giảng mà hiệu quả không như ý muốn Từ các bài làm của học sinh trong khi kiểm tra 1 tiết và các bài thi định kỳ giáo viên nhận thấy sự tiến bộ rõ nét trong việc các em dùng từ, đặt câu nêu cảm nghĩ, phân tích đánh giá Bước đầu các em đã thấy hứng thú khi tìm hiểu di sản văn hóa Việt Nam và các nước trên thế giới, biết rung động trước cảnh đẹp quê hương đất nước , lịch sử và con người Học sinh đã có ý kiến cá nhân , nêu những điều các
em nghĩ chứ không bị áp đặt
4 Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Qua những năm áp dụng phương pháp gây hứng thú trong giờ học ngữ văn ở bậc THCS người viết rút ra được một số kinh nghiệm nhỏ góp phần dạy tốt các môn học theo hướng tích cực như sau:
+ Giáo viên phải biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của học sinh xem các
em là những chủ thể tích cực trong việc xây dựng bài học, không nên thuyết giảng nhiều mà dành thời gian cho các em thảo luận đóng góp ý kiến
+Giáo viên phải chuẩn bị bài thật kỹ, giả định mọi tình huống khi các em xây dựng bài, nên sử dụng hài hòa và đa dạng các phương pháp không gây nhàm chán trong những tiết học
+ Khi sử dụng các trò chơi cần lưu ý tính hiệu quả của nó và phải phân biệt trò chơi khởi động giới thiệu bài cần ngắn gọn , trò chơi luyện tập cần phong phú , đúng mục đích, trong thi đua cần nghiêm túc, công bằng, không gây mất trật tự
+Trong học nhóm: Nên áp dụng chia nhóm cố định và bất kỳ, chú ý đối tượng học sinh yếu kém , nhút nhát không để một vài học sinh làm thay cả nhóm còn những em khác không có điều kiện tham gia
+Cảm thụ văn học là một điều khó, không vội vàng yêu cầu cao trong tiết học, có thể những tiết học sau đó mới đánh giá được sự tiến bộ của các em
Trang 8+Giáo viên phải luôn tìm hiểu tham khảo các tài liệu liên quan đến chương trình, phải có kiến thức phổ thông trên nhiều lĩnh vực trong đời sống để tích hợp liên môn, giáo dục học sinh qua thực tế
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Trước tình hình học sinh không ham thích học văn và các môn xã hội nói chung việc gây hứng thú trong giờ dạy ngữ văn là rất quan trọng Để đạt được kết quả như mong đợi cần có thời gian, tham khảo các tài liệu và suy nghĩ tìm phương pháp thích hợp cho từng tiết dạy thực hiện phương châm: "Lấy học sinh làm trung tâm”
Việc gây hứng thú trong giờ dạy bước đầu cả giáo viên và học sinh đều phải làm việc tích cực, thời gian chuẩn bị bài nhiều hơn, học sinh phải hoạt động hơn trong giờ học, sẽ có những thiếu sót, vấp váp, e ngại lúc mới áp dụng khi học sinh phải đi từ cách học thụ động : nghe giảng , ghi chép sang cách học tích cực: phát biểu ý kiến, tham gia thảo luận, dự các trò chơi Tuy nhiên với bản tính ham học hỏi, thích thú với việc được tôn trọng, hấp dẫn bởi vừa chơi vừa học Bên cạnh sự nhiệt tình tổ chức hướng dẫn của giáo viên Người viết tin tưởng rằng những phương pháp đã nêu sẽ thành công tốt đẹp trong giờ dạy ngữ văn THCS và có thể vận dụng thường xuyên trong nhiều năm học
2 Kiến nghị
Bên cạnh sự nhiệt tình tổ chức hướng dẫn của giáo viên Người viết tin tưởng rằng những phương pháp đã nêu sẽ thành công tốt đẹp trong giờ dạy ngữ văn THCS và có thể vận dụng thường xuyên trong nhiều năm học Đề nghị BGH nhà trường cho phép áp dụng trong các năm học tới
XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT SÁNG KIẾN TRƯỜNG THCS PHÚ LƯƠNG NĂM HỌC 2019-2020
Sáng kiến xếp loại
Phú Lương, ngày / /2019
TM HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT SÁNG KIẾN
CHỦ TỊCH
HIỆU TRƯỞNG
Nguyễn Thành Lê