Mối quan tâm bức xúc đối với những người trực tiếp giảng dạy văn học ở nhà trường trung học cơ sở, trung học phổ thông là làm thế nào để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, nân
Trang 1PHÒNG GD-ĐT VĨNH LINH TRƯỜNG THCS TRẦN CÔNG ÁI
-SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG KỈ THUẬT HOẠT ĐỘNG NHÓM VÀ CÁC TRÒ CHƠI TRONG GIỜ HỌC
MÔN NGỮ VĂN
Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
Trang 2
MỤC LỤC
Nội dung Trang
I Lý do chọn đề tài
III Mục đích nghiên cứu ,cơ sở lý luận
1 Một số dạng toán
2 Các biện pháp khắc phục
3 Kết quả
VI Đống góp của đề tài
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
2
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I) Lí do chọn đề tài:
“Văn học là nhân học”, Mác – xim Gooc – ki, đại văn hào của nước Nga Xô Viết đã từng nhận định như thế Thật vậy, môn ngữ văn là môn học kết tinh nhiều giá trị văn hoá của dân tộc cũng như của nhân loại, là môn học có ý nghĩa trong việc hình thành phát triển nhân cách cho học sinh và rèn luyện những kỹ năng cơ bản cần thiết cho các em Mặt khác, đây là môn học nghệ thuật kích thích trí tưởng tượng bay bổng, sáng tạo của các em học sinh Đồng thời, văn học không chỉ dừng lại ở giá trị văn chương mà còn được mở rộng thành những viên gạch đầu tiên xây đắp tình yêu thương giữa con người với con người trong xã hội Điều này lại làm cho việc giảng dạy môn Ngữ văn càng khó hơn
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn, gần đây, trên các diễn đàn nghiên cứu, các hội nghị, hội thảo, người ta đã bàn nhiều đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học cũng luôn là vấn đề được ngành giáo dục quan tâm bàn luận một cách sôi nổi Mối quan tâm bức xúc đối với những người trực tiếp giảng dạy văn học ở nhà trường trung học cơ sở, trung học phổ thông là làm thế nào để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn trong tình hình hiện nay
Thế nhưng phần lớn học sinh chưa thực sự say mê, yêu thích học bộ môn này, chưa thực sự thấy hứng thú trong những tiết học văn
“ Sáng kiến kinh nghiệm”, theo cảm nhận của riêng tôi, nó rất có ích đối với nghề giáo viên bởi thông qua những sáng kiến này, các giáo viên có điều kiện để chia sẻ cho nhau những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà các giáo viên đã tích luỹ được trong thực tiễn công tác giảng dạy và giáo dục bằng những hoạt động cụ thể Từ đó
có thể khắc phục được những khó khăn mà với những biện pháp thông thường không thể giải quyết được, góp phần nâng cao hiệu quả rõ rệt trong công tác giảng dạy của người giáo viên Đặc biệt với môn Ngữ văn là một môn học đòi hỏi có sự tích hợp nhiều nhất: Từ sự hợp lực của ba phân môn, từ kiến thức của các môn học khác, từ kiến thức trong cuộc sống xã hội, từ các tri thức kỹ năng, phương pháp giảng dạy, từ kinh nghiệm của thực tiễn Cũng vì một lý do khác nữa đó là trong những năm gần đây, tình hình học sinh trong nhà trường có sự biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, với tình trạng học sinh chây lười trong việc học các môn, trong đó
có bộ môn Ngữ văn Tình trạng học sinh còn lười học môn ngữ văn, không hứng thú với bộ môn khoa học xã hội này cũng có nguyên nhân từ giáo viên chưa gây được sự hứng thú trong các tiết dạy của mình Chính vì lẽ đó, kết quả cuối cùng mà học sinh đạt được là chưa cao
Từ sự trăn trở “làm thế nào để HS hứng thú học môn Ngữ văn ?”, tôi nghiệm
ra rằng tổ chức cho học sinh thảo luận, cho học sinh tham gia những trò chơi phù
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
3
Trang 4hợp ngay trong những giờ học hoặc giờ ngoại khoá môn văn sẽ tạo hứng thú, bồi
dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên của các em Do đó tôi chọn đề tài “Vận dụng kỉ thuật hoạt động nhóm và các trò chơi trong giờ học môn Ngữ văn”- Đó
cũng là một trong những phương pháp học tập mới thực sự cần thiết đối với bộ môn này
II) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Học sinh bậc THCS-khối lớp 9 trường THCS Trần Công Ái
Chương trình Ngữ văn lớp 9
III) Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu
Theo dõi quá trình đổi mới phương pháp dạy học Văn - tiếng Việt ở nhà trường THCS trong những năm gần đây, nội dung đổi mới thường tập trung vào giờ chính khoá, còn hình thức ngoại khóa thì ít được chú trọng triển khai Phải chăng hoạt động ngoài giờ của học sinh là không quan trọng, không đóng vai trò trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn? Đã đến lúc cần xác định lại vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá, phát huy cao độ tính năng động sáng tạo, niềm hứng thú của học sinh
Góp phần nâng cao chất lượng học tập, tạo hứng thú học tập các bộ môn cho học sinh trong nhà trường nói chung, giúp học sinh nắm được những kiến thức chuẩn môn học một cách nhẹ nhàng thông qua những giờ thảo luận và những trò chơi phù hợp
Góp phần giải quyết tình trạng lười học, chán học và không biết cách học môn Ngữ văn của học sinh trong nhà trường hiện nay Từ đó tạo điều kiện cho giáo viên hứng khởi hơn trong những giờ dạy văn
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu về phương pháp giảng dạy của các giáo viên bộ môn khác và giáo viên dạy Ngữ văn trong nhà trường
- Nghiên cứu về tình hình học tập của học sinh đối với các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, về khả năng nắm bắt kiến thức, hứng thú trong học tập bộ môn, về niềm đam mê, say mê cũng như sức hấp dẫn của bộ môn
- Nghiên cứu về tâm tư, nguyện vọng và thái độ, sự ham thích của học sinh trong việc học môn Ngữ văn
- Nghiên cứu về chương trình nội dung kiến thức SGK môn Ngữ văn về các phương pháp giảng dạy học sinh phù hợp với lứa tuổi
IV) Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài nghiên cứu này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Thực nghiệm sư pham: Thông qua thực tế trực tiếp giảng dạy
- Phương pháp đàm thoại - trao đổi: Thầy - trò, trò - trò
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Thông qua trực tiếp bài kiểm tra của học sinh
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
4
Trang 5- Phương pháp tổng kết - rút kinh nghiệm
-Tham khảo tài liệu tham khảo và SGK để tìm ra những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc viết đề tài và áp dụng đề tài vào trong quá trình giảng dạy
- Điều tra khả năng và hứng thú học tập của học sinh, tìm hiểu kỹ về đối tượng học sinh
- Dùng phương pháp quan sát thực nghiệm và phân tích nội dung; phương pháp trắc nghiệm khách quan; phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động…
V) NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1) Cơ sở lý luận:
Nghị quyết hội nghị lần II BCH TW Đảng khoá VIII nêu rõ: Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học; phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Bên cạnh đó, có một thực tế đang diễn ra đó là giáo viên tuy có ý thức đổi
mới phương pháp dạy học nhưng nhìn chung vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của phương pháp dạy học trước đây Điều này gây tác động không nhỏ đến việc tiếp nhận tri thức một cách thụ động của học sinh Học sinh như trở thành một cỗ máy tiếp nhận chứ không chủ động, sáng tạo Trong khi việc dạy Ngữ văn có hiệu quả lại đòi hỏi cao Dạy văn không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn phải hay, phải lôi cuốn học sinh, làm cho học sinh thích thú, say mê học tập Do đó tạo hứng thú cho học sinh trong học tập là góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ trọng tâm này trong giáo dục
- Sử dụng những phương pháp mới, phương pháp đặc trưng trong hoạt động tự chủ của HS, tạo cho các em sự tự chủ, tích cực, tự giác trong học tập
- Dựa trên cơ sở các tài liệu, SGK, các văn bản của BGD về việc truyền thụ chuẩn kiến thức kĩ năng cho học sinh
- Chúng ta đều biết, môn văn là môn cơ bản góp phần hình thành nhân cách học sinh, “ văn học là nhân học”, đặc biệt đối tượng của môn văn là những tác phẩm văn thơ, là những kiến thức về ngôn ngữ, là tiếng nói từ trái tim lên miệng và hơn hết,
“văn học sẽ chẳng là gì nếu không vì cuộc đời mà có, cuộc đời là nơi xuất phát cũng
là nơi đi tới của văn học”, bằng những tác phẩm văn học, thông qua việc tiếp cận với tác phẩm văn học, chúng ta như thấy được cả một xã hội, cả một thời đại được thu nhỏ ở trong đó để rồi ta có những hiểu biết sâu rộng hơn…Chính vì vậy, để thực hiện một giờ học có hiệu quả, người giáo viên cần phải sử dụng nhiều phương pháp như: phân tích, diễn giảng, vấn đáp, nêu vấn đề, gợi ý,… và đặc biệt, để tạo một giờ học phong phú, sinh động, thì việc sử dụng hình thức thảo luận nhóm sẽ giúp học sinh trao đổi ý kiến với nhau, bổ sung cho nhau các kiến thức còn thiếu sót, học sinh
sẽ sôi nổi hơn trong học tập Việc lồng ghép một số trò chơi trong quá trình giảng dạy sẽ giúp học sinh cảm thấy hứng thú, tích cực, sôi nổi hơn, không gây sự nhàm chán trong một tiết học môn Ngữ văn
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
5
Trang 6- Trong nhiều năm làm công tác giảng dạy, tôi nghiệm thấy rằng cái ước muốn
dạy văn sao cho hay, học văn sao cho giỏi, viết văn sao cho tốt là ước muốn của rất
nhiều giáo viên và học sinh Muốn vậy người giáo viên chúng ta phải biết làm mới bài giảng của mình để kích thích sự hứng thú của học sinh trong học tập Với cách tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm và tham gia các trò chơi trong dạy học văn sẽ góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, nâng cao chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn trong trường THCS
2) Cơ sở thực tiễn:
- Thực tế những năm gần đây cho thấy học sinh nói chung và học sinh ở trường Trần Công Ái nói riêng rất yếu môn Ngữ văn, ít ham thích học văn, lười suy nghĩ với những vấn đề liên quan đến văn chương
- Hiện nay, học sinh từ bậc Tiểu học lên bậc THCS còn có rất nhiều em chưa đọc thông viết thạo, viết mắc lỗi chính tả, dùng từ sai nghĩa, không phù hợp với phong cách… Đây là một trở ngại quá lớn khi các em lại phải tiếp tục tìm hiểu, khám phá những kiến thức cao hơn, rộng lớn hơn, trừu tượng hơn Từ đó dẫn đến việc mất dần kiến thức và kỹ năng cơ bản, dẫn đến chán học, không hứng thú học văn Nhất là đối với chương trình ngữ văn lớp 7, các tác phẩm văn học trung đại lại càng làm cho các
em học sinh khó tiếp cận bởi hệ thống ngôn ngữ và tính đa nghĩa, tính trừu trượng, hàm súc của nó
- Hiện nay dù rằng đã thực hiện giảm tải sgk nhưng chương trình vẫn còn những bài dạy dung lượng kiến thức lớn so với thời lượng từ 45 – 90 phút nghiên cứu trên lớp nên học sinh lại càng khó tiếp thu kiến thức Chính điều này mà học sinh bị hạn chế rất nhiều trong việc tiếp thu và cảm thụ kiến thức Ngữ văn
- Học sinh lười học, không chịu đầu tư suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài trong giờ học, khâu chuẩn bị bài còn hời hợt, có khi học sinh chuẩn bị bài một cách đối phó bằng cách chép bài trong những quyển sách giải, tiếp thu bài chậm
- Theo điều tra ban đầu số lượng học sinh ham thích học môn Ngữ văn còn rất ít, khoảng 300/0
- Một số GV còn lúng túng trong phương pháp giảng mới, còn nặng về phương pháp truyền thống, một chiều (Giáo viên giảng giải, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại những điều mà giáo viên truyền đạt Giáo viên chủ động cung cấp tri thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh Nhiều giáo viên còn chưa chú trọng đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như chỉ ra cho người học con đường tích cực, chủ động
để tiếp nhận kiến thức Do đó có những tiết dạy giống như những giờ diến thuyết), không biết làm thế nào để tạo sự hứng thú cho học sinh trong học tập và nắm bắt được những kiến thức trọng tâm của bài học một cách nhẹ nhàng và sinh động nhất
- Trên cơ sở đó, việc giúp học sinh ham thích học môn Ngữ văn, nắm bắt được những kiến thức cơ bản của bài học, là một yêu cầu cấp thiết mà mỗi giáo viên trong tổ Ngữ văn chúng tôi cần phải nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo trong giảng dạy để đạt được hiệu quả cao Một trong những đề xuất của bản thân tôi để thực hiện tốt yêu cầu đó là tổ chức cho HS thảo luận nhóm và tham gia các trò chơi trong quá trình học văn
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
6
Trang 7Chương III: MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP, TỎ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1) Mục tiêu:
- Giảm tỉ lệ HS yếu kém bộ môn Ngữ văn trong nhà trường
- Nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng văn hoá của nhà trường nói chung, góp phần nâng cao ý thức học tập của HS trong nhà trường
- Giúp HS có hứng thú, ham thích học môn Ngữ văn
- Tạo cho HS tâm lí thoải mái khi học, mạnh dạn trao đổi ý kiến với bạn bè, thầy
cô, hoà đồng với bạn bè, thầy cô; tạo môi trường thân thiện trong nhà trường
- Giúp HS khắc phục được lối học thụ động, không hứng thú trong học tập môn văn, từ đó dần dần củng cố được những kiến thức cũ và tiếp thu kiến thức mới một cách tự giác
2) Các giải pháp chủ yếu:
- Phân loại đối tượng HS, khả năng tiếp thu kiến thức cũng như trình độ kiến thức của HS
- Gần gũi, quan tâm động viên, khích lệ HS trong học tập
- Nghiên cứu kỹ nội dung bài học để đề ra những tình huống thảo luận, những trò chơi phù hợp với từng bài học
- Dự giờ thăm lớp để nắm kỹ về đối tượng HS và học hỏi những kinh nghiệm về cách tạo hứng thú cho HS trong phương pháp giảng dạy
- Có kế hoạch trao đổi với tổ, với đồng nghiệp để tổ chức những giờ dạy thực nghiệm áp dụng những hình thức thảo luận nhóm và trò chơi trong giờ học hoặc giờ ngoại khoá
- Có thể đăng kí thực hiện chuyên đề ngoại khóa ngữ văn trong toàn trường để tạo
sự hứng thú cho học sinh đối với môn học( có thể tổ chức thành các đội chơi để thi đua giữa các khối lớp…)
3) Tổ chức triển khai thực hiện:
3.1- Hình thức tổ chức thảo luận nhóm:
3.1.1 Cách thức tổ chức:
- Để thực hiện một tiết dạy học Ngữ văn có sử dụng hình thức hoạt động nhóm, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách chia lớp học thành các nhóm nhỏ ( 2,4, hoặc 6em) Chúng ta cần phải biết cách chia nhóm, chọn kiểu nhóm nào
để phù hợp với điều kiện lớp bạn Nhóm: Gồm 2 đến 6 em, tuỳ mục đích và yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc lựa chọn chủ định, được duy trì ổn định hoặc thay đổi theo từng phần của tiết học, được giao nhiệm vụ
cụ thể Các nhóm lớn (6 em, tạo điều kiện cho các thành viên trong nhóm niềm tin lớn nhất về kết quả làm việc vì có nhiều khả năng tìm câu hỏi đúng) Vớí loại nhóm này, thu hút được nhiều ý kiến, nhiều kinh nghiệm và có khả năng hiểu đúng, hiểu nhanh chóng nhiệm vụ Tuy nhiên nhóm lớn cũng có hạn chế là khó đi đến quyết định thống nhất và giáo viên khó quản lí Các nhóm nhỏ (2-4 em) các
em có nhiều cơ hội để thể hiện ý kiến của mình, thống nhất ý kiến nhanh hơn và dễ quản lí hơn
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
7
Trang 8*Cơ cấu nhóm:
Để nhóm hoạt động có hiệu quả, các thành viên phải biết rõ nhiệm vụ của mình, vì vậy phải phân công nhiệm vụ cho các em:
+ Trưởng nhóm: điều khiển hoạt động nhóm
+ Thư kí: ghi chép kết quả hoạt động của nhóm sau khi đã thống nhất
+ Báo cáo viên: Báo cáo kết quả làm việc của nhóm
+ Thành viên khác: có nhiệm vụ tham gia tích cực vào các hoạt động của nhóm
Trong nhóm có học sinh phải thay nhau đóng vai của các thành viên trên hoặc kiêm nhiệm Khi hoạt động nhóm các thành viên trên cần:
+ Hướng vào nhau ( ngồi thành vòng tròn hoặc xung quanh bàn )
+ Chăm chú lắng nghe người khác phát biểu
+ Từng thành viên sẵn sàng đưa ra ý kiến của mình
+ Trao đổi, thảo luận để có ý kiến thống nhất
+ Tuân theo sự điều khiển của từng nhóm trưởng
+ Đảm bảo thời gian
+ Đặc biệt là cần phải chuẩn bị giấy, bút và các dụng cụ học tập cần thiết cho tiết học
* Cách chia nhóm
Trong giờ lên lớp, tuỳ theo mục tiêu của từng hoạt động Giáo viên có thể chia nhóm nhỏ có từ hai học sinh trở lên Việc chia nhóm nhiều hay ít học sinh
là do giáo viên yêu cầu và quyết định Sau đây là một số cách chia nhóm đang được giáo viên áp dụng:
- Gọi ngẫu nhiên: tuỳ theo mục đích chia nhóm giáo viên có thể chia nhóm thích hợp( từ số 1 đến số 6…rồi quay trở lại)
- Chỉ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm
- Chia nhóm biểu tượng: giáo viên có thể dùng các biểu tượng: hình tam giác, hoa hồng, các loại quả, tên các anh hùng …để chia nhóm Các em có cùng biểu tượng vào một nhóm để tạo ra sự ngẫu nhiên và thoải mái cho học sinh
- Chia từng cặp: Giáo viên chỉ định hai học sinh ngồi gần nhau làm việc.Cách này thường diễn ra ngay sau khi học sinh làm việc cá nhân
- Với hình thức thảo luận nhóm thì chúng ta có thể sử dụng trong tất cảc các tiết dạy, trong tất cả các bài học Còn hình thức tổ chức trò chơi thì chỉ có thể áp dụng ở một số bài cho phù hợp, tuy nhiên để sử dụng trò chơi trong một tiết dạy thì bắt buộc trong đó sẽ có hình thức thảo luận nhóm
Khi cho học sinh thảo luận nhóm thì có rất nhiều cách để chúng ta thực hiện:
+ Viết sẵn câu hỏi ra giấy rồi phát cho mỗi nhóm một tờ
+ Treo bảng phụ có ghi nội dung câu hỏi thảo luận
+ Chỉ cho HS câu hỏi trong sách GK và học sinh nhìn vào đó để thảo luận + Từ một ý kiến thắc mắc của học sinh về bài học, tổ chức cho các em thảo luận
Lưu ý ở hoạt động này, Giáo viên phải quan sát và theo dõi hoạt động, công việc cuả từng nhóm để tìm cách giải quyết hợp lý nhất Trong quá trình quan sát các
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
8
Trang 9nhóm làm việc, người giáo viên phải phát hiện sai lầm (nếu có) của các nhóm, những sai lầm mang tính điển hình và chưa được sửa chữa để cuối phần hoạt động nhóm, giáo viên có nhận xét, góp ý Ngoài những vấn đề mà các nhóm thảo luận, giáo viên cũng có thể đặt ra những câu hỏi bổ sung để phát huy tính tích cực, chủ động của nhóm.
( Nói chung với hoạt động này, chúng ta nên tham khảo kỉ thuật dạy học tích cực trong đó có kỉ thuật hoạt động nhóm)
3.1.2 Chuẩn bị của giáo viên:
+ Phiếu học tập, bảng phụ,…chuẩn bị nội dung câu hỏi thảo luận
+ Câu hỏi thảo luận nên chia nhỏ, câu hỏi khó phải có câu hỏi gợi mở + Nội dung câu hỏi phải rõ ràng, phù hợp với đối tượng học sinh
+ Câu hỏi phải phát huy khả năng tư duy, kích thích khả năng sáng tạo cho học sinh
+ Các câu hỏi chỉ nên xoay quanh nội dung chính của bài học
+ Thời gian thảo luận không quá ngắn học sinh không kịp định hình, cũng không quá dài ảnh hưởng tới thời gian tiết học
+ Phân nhóm cho học sinh thảo luận không nên quá ít mà cũng không quá đông
+ Học sinh thảo luận xong, giáo viên gọi ít nhất hai nhóm trả lời, còn lại thu bài về nhà chấm và sửa hôm sau phát lại (tránh mất nhiều thời gian của tiết học)
+ Phân công một học sinh nhanh nhẹn làm trưởng nhóm, một HS ghi nhanh làm thư ký
+ Việc sử dụng hình thức thảo luận nhóm thì có thể sắp xếp bất kì khoảng thời gian nào trong tiết dạy
3.1.3 Chuẩn bị của học sinh:
+ Đọc kĩ các câu hỏi trong phần bài học
+ Ghi ý kiến của bản thân về các câu hỏi cho là khó
+ Mạnh dạn trình bày ý kiến trước lớp
3.1.4 Một số ví dụ minh hoạ:
* Khi dạy văn bản Chuyện người con gái Nam Xương , có thể dùng một số
câu hỏi thảo luận như sau:
- Lời trăn trối của bà mẹ chồng giúp ta hiểu thêm điều gì về nàng Vũ Nương ?
- Theo em, nguyên nhân dẫn đến nỗi oan của Vũ Nương là gì? Em hãy chỉ rõ và phân tích những nguyên nhân đó ?
- Theo em, có cách nào để kết cục cuộc đời của những con người như Vũ Nương, Thị Kính không rơi vào bi kịch mà không cần đến sức mạnh thần bí ?
- Sức mạnh thần bí hay sự xuất hiện của yếu tố thần kì ở cuối truyện có tác dụng gì?
Nó có còn phù hợp với xã hội ngày nay nữa hay không?
* Khi dạy văn bản Đồng chí của Chính Hữu, để thấy rõ nghệ thuật của bài
thơ cũng như sự chuyển ý thơ, ta có thể đặt câu hỏi:
- Câu thơ thứ 7 trong bài thơ có gì đặc biệt ?
* Đối với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, có thể đặt câu hỏi:
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
9
Trang 10- Hình ảnh “ bếp lửa” trong bài xuất hiện mấy lần, có tác dụng gì không?
- Tại sao tác giả lại viết “Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” ? , sau đó dùng câu hỏi gợi mở: Từ “ấp iu” thể hiện hành động như thế nào ?Bếp lửa luôn gắn với hình ảnh nào trong bài thơ ? Bếp lửa có thể hiện được sự ấp iu không ?
* Khi dạy bài Các phương châm hội thoại, sau khi HS đọc xong truyện cười
“Quả bí khổng lồ”, GV đưa ra những câu hỏi sau đây cho HS thảo luận nhóm 4 em:
- Trả lời quả bí to bằng cái nhà có đúng không? Nếu nói cho đúng về quả bí to thì nên nói như thế nào?
- Trả lời cái nồi đồng to bằng cả cái đình có đúng không? Nếu nói cho đúng về cái nồi to thì nên nói như thế nào?
- Những câu trả lời trên đã có bằng chứng xác thực đưa ra chưa ?
- Như vậy, trong giao tiếp có điều gì cần tránh ?
* Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích :
- Tại sao tác giả để Thuý Kiều nhớ Kim Trọng trước rồi mới nhớ đến cha mẹ? Điều đó có hợp lí không? Vì sao ?
* Trong đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga :
- Có ý kiến cho rằng “Lục Vân Tiên” gần như là tự truyện của Nguyễn Đình Chiểu Qua so sánh cuộc đời nhân vật Lục Vân Tiên và cuộc đời tác giả, ý kiến của
em như thế nào ?
* Trong bài Nghị luận trong văn bản tự sự , GV cho 2 nhóm tìm hiểu đoạn
trích trong bài học theo những gợi ý dưới đây:
- Nội dung của mỗi đoạn trích là gì ?
- Yếu tố lập luận trong đoạn trích: Vấn đề cần lập luận, luận cứ, luận chứng,…
- Từ ngữ, kiểu câu dùng trong lập luận (đặc biệt ở đoạn trích 1).
* Văn bản Những ngôi sao xa xôi, thảo luận về ý nghĩa của tên truyện:
- “Những ngôi sao xa xôi” có ý nghĩa gì ?
* Hay trong truyện ngắn “ Bến quê” của Nguyễn Minh Châu ( Hướng dẫn đọc thêm), hình ảnh Bến quê có sức gợi như thế nào trong tác phẩm?
* Cũng có thể sau khi học xong” truyện Kiều” của Nguyễn Du, hãy cho học sinh liên hệ về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến thông qua hình ảnh của Vũ Nương và Thúy Kiều.
Trên đây chỉ là một vài ví dụ cụ thể về việc áp dụng hình thức thảo luận trong dạy học văn Trong chương trình Ngữ văn THCS còn có rất nhiều bài học có thể áp dụng một cách linh hoạt hình thức này trong dạy học
3.2- Hình thức sử dụng trò chơi trong dạy học văn:
3.2.1 Cách thức tổ chức:
Đối với việc sử dụng trò chơi thì cũng cần chú ý lựa chọn trò chơi phù hợp với từng nội dung bài dạy và thời gian của tiết học Có thể trò chơi “Giải ô chữ”, “Rung chuông vàng”, “Tiếp sức”,…
Ví dụ: Để dạy các văn bản những tác phẩm truyện, chúng ta có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “giải ô chữ” bằng cách kẽ sẵn các ô chữ trên bảng phụ và đưa ra các câu hỏi gợi ý để tìm ra nội dung, nghệ thuật chính của truyện giáo viên cũng có thể tổ chức trò chơi “Rung chuông vàng” ở cuối tiết học bằng cách phân
Trường THCS Trần Công Ái Người thực hiện: Hoàng Hoài Ly
10