TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC KHOA QUẢN LÝ GIÁO DỤC TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC Giảng viên GS TS Lê Ngọc Hùng Họ và tên SV Lê Thị Quỳnh Liên Mã SV 18010566 Lớp QH2018S – QTTH Mã học phần EDM1004 Hà Nội, 2022 2 MỤC LỤC Câu 1 Tr 3 Câu 2 Tr 6 Danh mục tài liệu tham khảo Tr 9 3 BÀI LÀM (ĐỀ SỐ 2) Câu 1 Lý thuyết xã hội bằng cấp và lý thuyết xã hội phi trường quy Có thể áp dụng hai lý thuyết này như thế nào trong xây dựng xã hội học tập? 1 1 Lý thuyết về xã hội bằng cấp và xã hội phi trư.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC KHOA QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC
Giảng viên: GS.TS Lê Ngọc Hùng
Họ và tên SV: Lê Thị Quỳnh Liên
Mã học phần: EDM1004
Hà Nội, 2022
Trang 22
MỤC LỤC
Câu 1 Tr 3 Câu 2 Tr 6 Danh mục tài liệu tham khảo Tr 9
Trang 3BÀI LÀM (ĐỀ SỐ 2) Câu 1 Lý thuyết xã hội bằng cấp và lý thuyết xã hội phi trường quy Có thể áp
dụng hai lý thuyết này như thế nào trong xây dựng xã hội học tập?
1.1 Lý thuyết về xã hội bằng cấp và xã hội phi trường quy
1.1.1 Lý thuyết về xã hội bằng cấp
Đại diện tiêu biểu nhất của thuyết xã hội bằng cấp là Radall Collins1 Ông đã đưa ra khái niệm Xã hội bằng cấp để chỉ một xã hội trong đó mọi người quá coi trọng bằng cấp giáo dục và chủ yếu dựa vào bằng cấp để tuyển dụng lao động mà coi nhẹ năng lực thực sự của
cá nhân
Ví dụ về bằng cấp: bằng tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, chứng chỉ,…
Radall Collins cho rằng bằng cấp chỉ là biểu tượng vị thế, giống với các nhãn hiệu hàng hóa Đó không phải
là những chỉ báo của sự tiến bộ thực sự trong học tập
Chủ nghĩa bắng cấp là biểu hiện của sự sùng bái bằng cấp giáo dục khi mà việc đánh giá giá trị con người, giá trị của sức lao động phụ thuộc vào bằng cấp, chứng chỉ mà một người nhận được từ việc đến trường hay kết thúc một khóa đào tạo.2
Xu hướng của xã hội bằng cấp: người ta đến trường chỉ để dành lấy một tấm bằng, một tờ giấy nhất định chứ không phải để phát triển năng lực
Đối với học sinh THPT, đến trường chỉ lấy tấm bằng tốt nghiệp phổ thông Đối với sinh viên, đến trường đại học để lấy tấm bằng cử nhân
Đối với học viên, đến trung tâm ngoại ngữ - tin học chỉ để lấy chứng chỉ ngoại ngữ - tin học
Đối với cán bộ đã có vị trí việc làm, đi học lấy bằng cấp tương đương để làm thủ tục đảm bảo tính hợp lệ, hợp thức vị thế
Những người tuyển dụng lao động đòi hỏi người lao động có bằng cấp, chứng chỉ nhất định mới trao cho họ việc làm Như thế, các nhà tuyển dụng đã lợi dụng văn bằng, chứng chỉ để bảo vệ cho các vị trí nghề nghiệp và vị thế xã hội cùng với các lợi ích kèm theo của họ Trong nhiều trường hợp, chứng chỉ không làm tăng trình độ
1 Hình ảnh, nguồn: Randall Collins, Ph.D | Department of Sociology (upenn.edu)
2 Lê Ngọc Hùng Giáo trình Xã hội học giáo dục Nxb ĐHQGHN 2009 Tr27
Figure 1- Nhà xã hội học Radall Collins
Trang 44
chuyên môn nghiệp vụ của người lao động mà chỉ là công cụ để hợp pháp vị thế trong xã hội Thực tế này đã làm sai lệch ý nghĩa tốt đẹp và giá trị đích thực mà giáo dục tạo ra cho cá nhân và xã hội, đồng thời tạo ra xã hội bằng cấp
Thuyết xã hội bằng cấp chỉ rõ mặt trái của giáo dục khi chính các cơ sở giáo dục tập trung sản xuất hàng loạt chứng chỉ, văn bằng cho người học Trong xã hội
đó, nhà trường là cỗ máy sản xuất các bằng cấp cho xã hội, mà quên mất đi trách nhiệm giáo dục – đào tạo chuyên môn cho người học Cùng với đó, thuyết xã hội bằng cấp còn có xơ sở là yếu tố kinh tế học giáo dục khi đến trường để sau này có nghề nghiệp tốt, để kiếm nhiều tiền Tuy giáo dục không trực tiếp làm tăng năng suất lao động nhưng người lao động có giáo dục và có trình độ học vấn cao là người có khả năng tạo ra năng suất lao động cao và do vậy được trả công cao Đây là lí do các gia đình và cá nhân sẵn sàng đầu tư vào giáo dục và cho con cái mình học lên cao tới bậc đại học hoặc hơn Trên cơ sở của mối tương quan giữa học vấn tỷ lệ thuận với thu nhập đã nảy sinh vấn đề sùng bái bằng cấp khi coi bằng cấp là trình độ học vấn,
là trình độ năng lực của cá nhân, theo hình thức cứ có bằng cấp là có chuyên môn tương đương
Như vậy, thuyết xã hội bằng cấp giải thích tại sao trong xã hội mọi người quá
đề cao bằng cấp giáo dục và cảnh báo nguy cơ sùng bái hình thức của bằng cấp giáo dục mà coi nhẹ nội dung, chất lượng giáo dục Xã hội bằng cấp hay còn gọi là xã hội trường học là một mặt trái của xã hội học tập
1.1.2 Lý thuyết về xã hội phi trường quy
Lý thuyết về xã hội phi trường quy được Ivan Illich đưa ra trong cuốn sách nổi tiếng của ông: Xã hội phi trường quy (Deschooling Society), xuất bản 1971
Ông phê phán quá trình thiết chế hóa xã hội
trường quy, tức là phê phán thiết chế giáo dục đã
biến cả xã hội thành một nhà trường khổng lồ mang
tính hình thức, thụ động, máy móc, làm việc kém
hiệu quả
Xã hội phi trường quy nhằm phi thiết chế hóa
xã hội, tạo ra một xã hội mở mà ở đó con người
thông qua mạng lưới xã hội có thể học được mọi
thứ ở bất cứ nơi đâu, bất cứ khoảng thời gian nào
một cách tự nhiên, cởi mở, linh hoạt, thiết thực và
hiệu quả
Đặc trưng của lý thuyết về xã hội phi trường
quy phê phán xã hội trường quy, ông cho rằng cần
bãi bỏ các hình thức giáo dục bắt buộc và các doanh
nghiệp không được đòi hỏi người lao động về trình
độ học vấn của họ
Figure 2- Ivan Illich (1926-2002)
Trang 5Illich phê phán mục tiêu và nội dung giáo dục trong nhà trường Nhà trường không dạy kiến thức, không tạo ra sự phát triển trí tuệ mà chỉ tuyên truyền về các giá trị vật chất, bí quyết làm việc và do vậy đã khiến học sinh bị động Ông chỉ ra chương trình giáo dục ngầm, theo đó người học được đi học để biết vị trí của họ và để họ ngồi im trong các vị trí đó3 Như thế, trường học làm cho các em cảm thấy lệ thuộc
và bé nhỏ
Illich cho rằng xã hội cần có thiết chê mới về giáo dục đề dạy học sinh những
gì họ muốn học chứ không hẳn là nhồi nhét cho họ các giá trị, chuẩn mực do một số chuyên gia giáo dục tự cho là quan trọng, cần thiết và đúng đắn Các trường tư dạy cho học sinh về kỹ năng nghề nghiệp, dạy chữ, dạy người, dạy cách làm việc và dạy cách vui chơi Các doanh nghiệp không cần và không được phép hỏi người đến xin việc về trình độ học vấn, về chuyện đi học của họ mà chỉ cần và chỉ nên dựa vào kỹ năng tay nghề thực sự của họ là đủ để quyết định tuyển dụng hay bố trí việc làm phù hợp với năng lực ấy
Như vậy, xã hội bằng cấp rất coi trọng nhà trường và từ nhà trường để nhận được những chứng chỉ bằng cấp tương ứng, còn xã hội phi trường quy thì không coi trọng điều này Thoạt nhìn, ta cứ nghĩ đây là hai thuyết đối lập nhau, nhưng thực chất, cả hai quan niệm này đều đề cao giá trị của giáo dục trong xã hội và phát triển con người, phát triển xã hội Đồng thời, cả hai đều phê phán nhà trường kiểu cũ và chỉ ra những nguy cơ, thách thức đòi hỏi cần cải cách giáo dục
1.2 Áp dụng lý thuyết về xã hội bằng cấp và xã hội phi trường quy trong xây
dựng xã hội học tập
Trong thực tiễn, cần áp dụng lý thuyết về xã hội bằng cấp và lý thuyết về xã hội phi trương quy bằng cách phát huy tối đa thế mạnh của hai lý thuyết này Xã hội bằng cấp tạo nền tảng và thúc đẩy xã hội học tập, xã hội phi trường quy mở rộng các tri thức và năng lực học tập ngay và luôn dành cho tất cả mọi người, đặc biệt là trong thời đại số hiện nay
Tại Việt Nam hiện nay, chúng ta vẫn đang duy trì hai hình thức giáo dục này Qua hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống trường học được mở từ Giáo dục (GD) Mầm non, GD Tiểu học, GD THCS, GD THPT, Đại học và sau Đại học tạo điều kiện cho trẻ đến trường và có cơ hội được học tập đến mức mà họ muốn Các hệ thống, trung tâm như Ngoại ngữ, Tin học, Thể thao,… phát triển mạnh Xã hội phi trường quy được cụ thể qua hàng loạt cộng đồng học tập trên mạng, các tổ chức phi lợi nhuận hoặc các buổi training tập sự, học việc
Chương trình giáo dục phổ thông được ban hành kèm theo QĐ 1981 của Chính phủ năm 2018 là một bước đột phá cho giáo dục Việt Nam Mục tiêu và phương pháp giáo dục học sinh hoàn toàn hướng đến người học, và lấy người học làm trung tâm
3 Anthony Giddens Sociology 3rd Edition United Kingdom Blackwell Publishers Ldt.1997 Tr 416
Trang 66
Như thế, các nhà trường vừa đổi mới theo thời đại vừa tích cực tích hợp liên môn, liên ngành để làm sao tạo môi trường thuận lợi nhất để người học phát triển phẩm chất và năng lực
Nếu như trước đây, tấm bằng là đủ để ngồi vào một vị trí, nhưng nay, tấm bằng
ấy chỉ là điều kiện cần thôi chứ chưa đủ, thứ các nhà tuyển dụng cần là tấm bằng đi kèm với phẩm chất và năng lực mà người lao động có thể phát huy Nếu trong trường hợp có đầy đủ bằng cấp mà thiếu năng lực, họ sẵn sàng sa thải và trao cơ hội cho người khác
Như vậy, khi đã hiểu về lý thuyết xã hội bằng cấp và lý thuyết về xã hội phi trường quy, ta không nên chỉ chăm chăm theo một bên nào mà cần chọn lựa những mặt tích cực của cả hai lý thuyết này để áp dụng trong thực tiễn Giáo dục cần xây dựng theo thiết chế nhà trường nhưng thế thôi thì chưa đủ, cần mở rộng phạm vi của giáo dục ra mọi mặt của đời sống để dù ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào, chỉ cần họ là một thành phần tham gia vào xã hội thì ở đó, họ được trao cơ hội giáo dục và được giáo dục một cách tốt nhất
Câu 2 Phân tích xu hướng biến đổi cơ hội giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng, đại học của cả nước, thành thị, nông thôn trong giai đoạn 2009-2019 (căn cứ số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 và 2019)
Trang 7Bảng 1 – Tỉ lệ đi học chung và tỉ lệ đi học đúng tuổi giáo dục phổ thông và giáo
dục cao đẳng, đại học của cả nước, thành thị, nông thôn
trong giai đoạn 2009-2019
Tỉ lệ đi học chung
Tiểu học THCS THPT Cao đẳng Đại học Năm 2009 2019 2009 2019 2009 2019 2009 2019 2009 2019
Cả
nước 102,6 101 89 92,8 62,5 72,3 16 9,6 26 Thành
thị 97,2 100,9 88,8 95,1 68,4 81,1 12,9 23,3 46 Nông
thôn 94,9 100,9 80,6 91,7 52,8 68,1 3,7 3,0 14
Tỉ lệ đi học đúng tuổi
Năm 2009 2019 2009 2019 2009 2019 2009 2019 2009 2019
Cả
nước 95,5 98 82,6 89,2 56,7 68,3 16 9,6 26 Thành
thi 97,2 98,3 88,8 91,5 68,4 76,4 12,9 23,3 46 Nông
thôn 94,9 97,9 80,6 88,1 52,8 64,4 3,7 3,0 14
“Sau rất nhiều nỗ lực, giáo dục Việt Nam đã có những bước tiến trong việc mang lại cơ hội tiếp cận giáo dục một cách bình đẳng cho các đối tượng người học Những con số trải dài trong suốt 10 năm qua đã chứng minh điều đó” 4
4 Lê Anh Vinh Báo cáo Giáo dục Việt Nam 2011-2020 2020
Màu vàng: các ô chứa số liệu chưa chắc chắn
Trang 88
2.1 Đối với giáo dục phổ thông
Trong 10 năm qua, tính từ 2009 - 2019, giáo dục phổ thông đã có sự cải thiện
rõ rệt về việc tăng tỉ lệ đi học chung và đi học đúng tuổi Trong đó, bậc trung học phổ thông có sự cải thiện rõ ràng nhất:
- Tỷ lệ đi học chung của cấp tiểu học là 101,0%, cấp trung học cơ sở (THCS) là 92,8% và trung học phổ thông (THPT) là 72,3%
Ở cấp Tiểu học, tỉ lệ đi học chung giảm từ 102,6% xuống 101,0%, giảm ở đây không có nghĩa là số lượng học sinh đi học quá tuổi giảm; không có sự phân biệt nhiều giữa thành thị và nông thôn, vì 100,9% xấp xỉ 101,0% Số liệu này cho thấy giáo dục Tiểu học đã được phổ cập trên toàn quốc
Ở cấp THCS, tỉ lệ đi học chung ở thành thị và nông thôn đã được rút ngắn lại
từ 7,8 xuống còn 3,4 điểm phần trăm
Giáo dục THPT có tỉ lệ đi học chung tăng đáng kể, cả nước tăng từ 62,5% đến 72,3%, tăng đến 9,8 điểm phần trăm
Như vậy, số điểm phần trăm tăng dần từ Tiểu học đến THPT cho thấy cấp học càng lên cao thì khoảng cách chênh lệch về tỷ lệ đi học chung giữa khu vực thành thị
và khu vực nông thôn càng lướn Cũng cho thấy một thực tế rằng, trẻ em khu vực thành thị có nhu cầu và cơ hội học lên cao hơn so với trẻ em khu vực nông thôn
- Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp Tiểu học, THCS, THPT năm 2019 lần lượt là 98,0%, 89,2% và 68,3%, cấp Tiểu học có tỉ lệ trẻ đi học đúng tuổi cao nhất Trong 10 năm, từ 2009-2019, tỉ lệ đi học đúng tuổi cấp tiểu học tăng từ 95,5% lên 98%, tương tự như tỉ lệ đi học chung, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn trong độ tuổi này đã thu hẹp chỉ còn 0,4 điểm phần trăm Khoảng cách này được mở rộng lên từ THCS lên THPT lần lượt là 3,4 điểm phần trăm và 12 điểm phần trăm
Như vậy, sự phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng tốt ở khu vực thành thị
đã tạo cơ hội cho người dân nơi đây được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục dễ dàng Điều này làm cho người dân khu vực thành thị có ưu thế hơn so với khu vực nông thôn ở những cấp học có trình độ cao hơn Ngoài ra, khu vực thành thị cũng là điểm đến hấp dẫn hơn trong việc thu hút người có trình độ cao tới sinh sống và làm việc
- Việt Nam hiện có 8,3% trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng không đến trường, giảm 8,1 điểm phần trăm so với năm 2009 (năm 2009: 16,4%) Tỷ
lệ trẻ em ngoài nhà trường ở khu vực nông thôn cao hơn gần hai lần khu vực thành thị (9,5% so với 5,7%) Cấp học càng cao, tỷ lệ này càng lớn: Cấp tiểu học, cứ 100 em trong độ tuổi đi học cấp tiểu học thì có khoảng 1 em không được đến trường; con số tương ứng ở cấp THCS là gần 7 em, ở cấp THPT là
26 em
Trang 9- Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường giữa các cấp học cũng có sự khác biệt khá rõ Cấp học càng cao, tỷ lệ này càng gia tăng Ở cấp tiểu học, cứ 100 em trong độ tuổi đi học cấp tiểu học thì có khoảng 1 em không được đến trường; con số tương ứng ở cấp THCS là gần 7 em, ở cấp THPT là 26 em
- Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường ở tất cả các cấp của khu vực nông thôn luôn cao hơn khu vực thành thị; cấp học càng cao, khoảng cách càng tăng Cụ thể, khoảng cách thành thị - nông thôn tăng từ 0,4% tại cấp tiểu học lên 2,9% tại cấp THCS và 12,4% tại cấp THPT
2.2 Đối với Cao đẳng, đại học
Tỉ lệ dân số tham gia cao đẳng, đại học đúng tuổi tăng từ 16% lên 26% trong các năm từ 2009-2019
Tỉ lệ dân số được đào tạo cao đẳng, đại học ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn: Đào tạo trình độ cao đẳng và dưới cao đẳng ở khu vực thành thị cao hơn gần hai lần khu vực nông thôn; đào tạo trình độ đại học và trên đại học ở thành thị cao hơn gần bốn lần so với khu vực nông thôn
Đây là con số còn hạn chế nhưng cũng thể hiện sự nỗ lực của các bộ ngành liên quan trong việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, nâng cao trình độ nguồn nhân lực
Với định hướng nền kinh tế tri thức thì con số này còn là một hạn chế rất lớn
Tỉ lệ người học cao đẳng, đại học của nước ta có tăng nhưng tăng chậm so với các nước trong khu vực Để hướng đến nguồn nhân lực có trình độ cao trong tương lai, chúng ta cần mở rộng hệ thống giáo dục, đồng thời đảm bảo về chất lượng đầu ra Trong việc phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội đối với các cấp học này, yếu tố chính sách như phổ cập giáo dục, miễn giảm học phí, trợ cấp xã hội có ảnh hưởng rất lớn DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Ngọc Hùng (2009), Giáo trình Xã hội học giáo dục, Nxb ĐHQGHN
2 http://consosukien.vn/tha-nh-tu-u-gia-o-du-c-va-da-o-ta-o-qua-ke-t-qua-to-ng-die-u-tra-dan-so-va-nha-o-nam-2019.htm
3 TỔNG CỤC THỐNG KÊ VIỆT NAM (gso.gov.vn)
5 Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới - Tuổi Trẻ Online (tuoitre.vn)
6 Thông cáo báo chí Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 – General Statistics Office of Vietnam (gso.gov.vn)