BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG oOo BÀI BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ Singapore Sự bức phá bất ngờ của 1 con rồng châu Á Lớp DH20KI02 Nhóm sinh viên thự[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG
Nhóm sinh viên thực hiện: nhóm 1
Giáo viên hướng dẫn: thầy Phạm Văn Quỳnh
TP HCM – 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4
5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 4
NỘI DUNG 4
1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA SINGRAPORE 4
2 DÂN SỐ 8
3 TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ 9
CHƯƠNG 1: SẢN LƯỢNG QUỐC GIA 10
CHƯƠNG 2: CÁN CÂN XUẤT NHẬP KHẨU 14
CHƯƠNG 3: THUẾ VÀ LẠM PHÁT 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4Vài thập kỷ sau, một bức tranh đã hoàn toàn khác, sáng và rực rỡ Singapore đã trở thànhmột trong những quốc gia giàu có nhất châu Á, và một phần lớn nguyên nhân đó là việcquốc đảo xuất hiện với vị trí như một trung tâm hậu cần có hiệu suất cao nhất trong khu vực2,3 năm trở lại đây Thành tựu của Singapore không đến một cách tình cờ Chúng là kết quảcủa sự kết hợp giữa chính sách công với nhiều ưu đãi, phát triển quan hệ thương mại quy
mô quốc tế và sự tham gia rộng rãi của khu vực tư nhân Bài học kinh nghiệm này có thểgiúp cho bất kỳ quốc gia đang phát triển nào đang tìm cách cải thiện mạng lưới hậu cần củamình
Dù Singapore là nước có xuất phát điểm cực thấp, nhưng hiện nay Singapore lại là mộtthành phố quốc tế náo nhiệt với môi trường phát triển Ngoài ra, Singapore chính là sự tổnghòa của nhiều nền văn hóa đa dạng, nơi con người của những sắc tộc và tín ngưỡng khácnhau cùng chung sống Chính vì sự phát triển của “con rồng Châu Á” Singapore trong vàithập niên gần đây cho thấy được những chính sách của Chính phủ Singapore là đúng đắn
Và đây là một bài học quý báu của các nước đang phát triển hiện nay, trong đó có ViệtNam Từ những lý do trên, nhóm em đã chọn đề tài “Singapore - Sự bức phá bất ngờ của 1con rồng châu Á” làm đề tài cho báo cáo này
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài báo cáo này sử dụng:
- Phương pháp mô tả, khái quát đối tượng nghiên cứu là các khía cạnh giúp Singapore trởthành con rồng Châu Á
- Tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau qua đó nghiên cứu, phân tích và tổng hợp
Trang 5Đối tượng nghiên cứu là nền kinh tế Singapore từ 2010 đến nay.
5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Làm rõ hơn về các chính sách vĩ mô mà quốc đảo Singapore đã và đang áp dụng để có thểthịnh vượng và giàu có bậc nhất châu Á Câu chuyện Singapore sẽ có thể truyền cảm hứngcho các nền kinh tế mới nổi khác Và đó cũng là một bài học kinh nghiệm sâu sắc cho ViệtNam để có thể đưa ra những chiến lược và tập trung vào các lĩnh vực đúng đắn để giúp đấtnước có hướng đi chính xác để phát triển mạnh
Trang 61.3 Vào thế kỉ 19
Đây là giai đoạn quan trọng đánh dấu sự hình thành đất nước Singapore hiện đại ngày nay.Vào thế kỉ thứ 19, Singapore đã sớm trở thành “cửa ngõ” giao thương của vùng eo biểnMalacca Người Anh đã nhận ra nhu cầu cần có một cảng biển trọng điểm cho toàn khuvực Một vị trí chiến lược để họ nghỉ ngơi và ngăn chặn nguy cơ cạnh tranh của người HàLan lúc bấy giờ
Chính vì lí do này, vào ngày 29/1/1819, Thomas Stamford Raffles đã xuất hiện tạiSingapure Ông là tỉnh trưởng của vùng Bencoolen (Bengkulu hiện giờ) Sau khi khảo sáttất cả các hòn đảo trong khu vực, Raffles nhận ra rằng Singapure có một tiềm năng rất lớntrong việc phát triển kinh tế bằng đường biển Vì vậy, ông đã thương thảo hiệp ước vớinhững người trị vì vùng đất này Lập tức xây dựng Singapure trở thành một trung tâmthương mại
Không lâu sau đó, chính sách mở rộng tự do buôn bán của Singapure đã thu hút rất nhiềuthương nhân trên toàn Châu Á Ngay cả những thương nhân đến từ các vùng đất xa xôi như
Mỹ và Trung Đông cũng tìm đến đây Vào năm 1832, Singapure trở thành trung tâm tàichính của khu định cư eo biển Penang, Malacca và Singapore
1.4 Thế chiến thứ 2
Khi Singapore ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc trở thành cửa ngõ giao thươngnối liền phương Đông với Phương Tây Dân số đất nước cũng vì thế mà tăng trưởng mạnh
Từ 150 người vào năm 1819 đến năm 1860 con số đã lên đến 80.792 người
Thế nhưng, cuộc sống yên bình và thịnh vượng không bao lâu đã bị thế chiến thứ 2 phá hủy
Mở màn của sự tàn phá đó là cuộc tấn công bằng máy bay của quân Nhật vào ngày8/12/1941 Chính vì nhận thấy sự phát triển vững chắc tầm ảnh hưởng chiến lược màSingapore đã mang lại Nên Nhật đã quyết định “thâu tóm” vùng đất này Và vào ngày15/2/1942 Singapore đã chính thức bị Nhật xâm chiếm Ba năm rưỡi là khoảng thời gian màSingapore phải chịu sự đàn áp vô cùng tàn nhẫn từ đất nước này Hàng ngàn người dân đãphải bỏ mạng
Trang 71.5 Giành lại chủ quyền
Vào năm 1945, quân Nhật rốt cuộc cũng đầu hàng Tuy nhiên, Singapore lúc này lại rơi vàotay của Chính quyền Anh Cho đến khi khu định cư eo biển Penang, Malacca và Singaporegiải tán Vào tháng 3/1946, Singapore đã trở thành thuộc địa của Hoàng gia Anh
Đến năm 1959, khi chủ nghĩa dân tộc đã phát triển Singapore lập tức giành lại quyền tự trị
Và khi cuộc tổng tuyển cử đầu tiên đã diễn ra, Đảng nhân dân hành động đã giành được 43ghế Ông Lý Quang Diệu lúc này trở thành vị thủ tướng đầu tiên của Singapore
Vào năm 1961, Singapore quyết định sát nhập vào Malaya Tiếp đó, đến năm 1963, đấtnước này đã hợp nhất với liên bang Malaya, Sarawak và Bắc Borneo, trở thành nướcMalaysia ngày nay Rất tiếc, việc hợp nhất không mang lại nhiều thành công như mong đợi.Chưa đầy 2 năm sau đó, cụ thể vào ngày 9/8/1965, Singapore đã tách khỏi Malaysia và trởthành một quốc gia độc lập Và đến ngày 22/12/1965 Singapore chính thức trở thành nướccộng hòa độc lập như ngày nay
1.6 Chuyển mình trở thành “con hổ Châu Á”
Độc lập chính là đồng nghĩa với tự túc Singapore thật sự đã trải qua rất nhiều khó khăntrong những ngày đầu giành lại chủ quyền Nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, tài nguyên lànhững vấn đề mà đất nước này phải đối mặt Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và cácnước Đồng Minh Trong nhiệm kỳ của mình từ năm 1959-1990, thủ tướng Lý Quang Diệu
đã từng bước gầy dựng lại đất nước Singapore
Bắt đầu từ việc kiềm chế thất nghiệp, lạm phát Thêm vào đó là gia tăng mức sống ngườidân Thực hiện chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn Không lâu sau đó, các cơ sở
hạ tầng, kinh tế của Singapore đều phát triển mạnh trở lại Lúc này, hệ thống phòng vệ quốcgia cũng được thiết lập Singapore từ một nước đang phát triển trở thành đất nước phát triểnvào cuối thế kỷ 20
Trang 82 DÂN SỐ
Bảng dân số Singrapore 2010-2020
Trong số hơn 5,8 triệu người dân của Singapore ước tính chỉ có 60% là người Singaporecòn lại có đến 40% là người ngoại quốc đến sinh sống và làm việc tại đảo quốc này Gần25% dân số của Singapore không được sinh ra trên đảo quốc sư tử mà sinh ra ở khắp cácnơi trên thế giới sau đó theo cha mẹ hoặc tự mình đến Singapore để sinh sống
Do là một quốc gia có diện tích đất rất nhỏ chỉ 700 km2 nên đa phần dân số của Singapoređều sống trong những căn hộ được trợ cấp và công cộng
Với dân số chỉ 5.876.885 và diện tích là 700 km2 có mật độ dân số Singapore là 8,4người/km2 Đây là một con số rất rất nhỏ khi so sánh với Việt Nam chúng ta là hơn 300người/km2 Có 100% dân số Singapore sống ở thành thị Điều này cũng khá dễ hiểu khi hầuhết đất đai ở đất nước này đều được sử dụng để phát triển kinh tế Ta có thể thấy được diệntích và dân số của Singapore khá chênh lệch
Tính đến đầu năm 2017 theo ước tính của chúng tôi, Singapore có phân bố các độ tuổi
như sau:
Trang 9 795.708 thanh thiếu niên dưới 15 tuổi (412.322 nam / 383.386 nữ)
4.446.077 người từ 15 đến 64 tuổi (2.161.817 nam / 2.284.260 nữ)
533.841 người trên 64 tuổi (238.938 nam / 294.903 nữ)
3 TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ
Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài Singaporechỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt, đất canh tác hẹp, chủ yếu đểtrồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả, do vậy nông nghiệp không phát triển, hàng năm phảinhập lương thục, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước
Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á vàthế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến
và lắp ráp máy móc tinh vi Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất làKhu công nghiệp Jurong Đây cũng là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử vàhàng bán dẫn Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu
Á Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốcdân) Kinh tế ở đây từ cuối những năm 1980 đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thếgiới: 1994 đạt 10% và 1995 là 8,9% Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việcchuyển đổi sang nền kinh tế tri thức
Nền kinh tế Singapore phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là các thiết bị điện tử tiêudùng, sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm và lĩnh vực ngân hàng tài chính Năm
2012 do ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tăng trưởng GDP củaSingapore chỉ đạt 1.3 % tuy nhiên đã tăng lên 3.7 % vào năm 2013, tỷ lệ lạm phát ở mức1.5%
Singapore hiện là quốc gia đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức với mụctiêu đến năm 2018 sẽ trở thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạnglưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và khu vực châu Á
Trang 11CHƯƠNG 1: SẢN LƯỢNG QUỐC GIA
1 TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI (GDP)
1.1 Định nghĩa:
GDP (Gross Domestic Product) là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng củanền kinh tế được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định, trong một phạm vi lãnhthổ nhất định
1.2 Số liệu:
Nền kinh tế mang tính toàn cầu hóa và đa dạng của Singapore phụ thuộc nhiều vàomậu dịch, đặc biệt là xuất khẩu, thương mại và công nghiệp chế tạo, chiếm 26%GDP vào năm 2005 Theo sức mua tương đương thống kê năm 2020, Singapore cómức thu nhập bình quân đầu người cao thứ 2 trên thế giới
T ổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Singapore từ 2010-2020
Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy trong giai đoạn 2010 - 2020 GDP của Singapore đạt:
- Đỉnh cao nhất vào năm 2018 với 375.981.539.146 USD
- Thấp nhất vào năm 2010 với 239.809.387.605 USD
Trang 12Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Singapore vào năm 2020 là 340,00 tỷ USD theo số liệumới nhất từ Ngân hàng thế giới Theo đó tốc độ tăng trưởng GDP của Singapore là -5.39%trong năm 2020, giảm 6.74 điểm so với mức tăng 1.35 % của năm 2019 GDP củaSingapore năm 2021 dự kiến sẽ còn 309,40 tỷ USD nếu nền kinh tế Singapore vẫn giữnguyên nhịp độ tăng trưởng GDP như năm vừa rồi.
Trang 13GDP thực (GDPr) của Singapore từ 1/2010 – 12/2019
1.4 Thu nhập bình quân đầu người
1.4.1 Định nghĩa:
Thu nhập bình quân đầu người GDP(PPP) là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được tạo
ra bên trong một quốc gia trong một năm cho trước được chia theo dân số trung bình củacùng năm đó GDP(PPP) được tính toán mà không khấu trừ khấu hao tài sản cố định hoặc
để cạn kiệt và suy thoái tài nguyên thiên nhiên
1.4.2 Số liệu:
Đây là quốc gia có nhiều doanh nghiệp lớn vận hành trong nước nhất nhờ mức thuế thấp(doanh thu thuế chỉ chiếm 14,2% GDP), cùng với đó GDP bình quân đầu người của quốcgia này còn cao thứ ba trên thế giới tính theo sức mua tương đương (PPP) Singapore lànơi đặt trụ sở của APEC Nền kinh tế Singapore lớn thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á, lầnlượt xếp hạng 14 châu Á và 34 toàn cầu theo GDP danh nghĩa
Trang 14Thu nhập bình quân đầu người GDP(PPP) của Singapore từ 2010-2020
Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy trong giai đoạn 2010 - 2020 GDP (PPP) của Singaporetăng đáng kể:
- Đỉnh cao nhất vào năm 2019
- Thấp nhất vào năm 2010
Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người) của Singapore là 59.798 USD/người vào năm
2020 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Singapore đạt -5.10% trong năm
2020, giảm -5.843 USD/người so với con số 65.641 USD/người của năm 2019 GDP bìnhquân đầu người của Singapore năm 2021 dự kiến sẽ đạt 54.416 USD/người nếu nền kinh tếSingapore vẫn giữ nguyên tốc độ tăng trưởng GDP và mức dân số như năm vừa rồi
2 TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN (GNP)
2.1 Định nghĩa:
GNP (Gross National Product) là giá trị của toàn bộ lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
do công dân một nước tạo ra được tính trong một thời kỳ (thường là một năm)
2.2 Số liệu:
Trang 15Theo báo cáo của Fnight Frank và Citi Private Bank công bố năm 2010, Đảo quốc Sư tửSingapore là nước có GDP bình quân đầu người đứng đầu trên Thế giới vượt qua cả Nauy(thứ hai), Mỹ (thứ ba) và Thụy Sỹ (thứ tư) Theo dự kiến đến năm 2050, Singapore vớichính sách mở cửa rộng rãi, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tập trung đào tạo lao động taynghề cao sẽ giữ vững được vị trí số 1 của mình.
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Singapore từ 2010 – 2020
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Singapore là 298,44 tỷ USD vào năm 2020 theo sốliệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới GNP của Singapore giảm 9,47% trong năm 2020, vớimức thay đổi -31,21 tỷ USD so với con số 329,65 tỷ USD của năm 2019 GNP củaSingapore năm 2021 dự kiến sẽ đạt 271,58 tỷ USD nếu nền kinh tế Singapore vẫn giữnguyên tốc độ tăng trưởng GNP như năm vừa rồi
CHƯƠNG 2: CÁN CÂN XUẤT NHẬP KHẨU
1 Tổng quan:
- Singapore là một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động xuất nhập khẩu
- Singapore được xem là trung tâm xuất, nhập khẩu hoạt động theo phương
Trang 162 Cá
n cân
thương mại:
- Cán cân thương mại biến động liên tục theo tình hình xuất nhập khẩu Và cán cânthương mại cả Singapore luôn thặng dư, nghĩa là Singapore có kim ngạch xuấtkhẩu luôn cao hơn so với kim ngạch nhập khẩu
- Tuy nhiên, thương mại Singapore phụ thuộc chặt chẽ vào nền kinh tế khu vực và nềnkinh tế thế giới; đặc biệt là các bạn hàng lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, , điều nàyđồng nghĩa với việc Singapore phải chịu chung số phận, chịu chung bước thăngtrầm của những nền kinh tế này
2.1 Số liệu thống kế:
- Cán cân thương mại ở Singapore đạt trung bình 1047,51 triệu SGD từ năm 1964 đếnnăm 2021, đạt mức cao nhất mọi thời đại là 7973,33 triệu SGD vào tháng 3 năm
2015 và mức thấp kỷ lục -1999,81 triệu SGD vào tháng 10 năm 1993
- Về thương mại dịch vụ, Singapore xếp thứ 6 trên thế giới cả về xuất khẩu và nhậpkhẩu
Trang 17Năm 2010-2011 2014-2015
Tổng kim ngạch Xuất khẩu (FOB) 409.5 tỷ USD 409.8 tỷ USD
Nhập khẩu (CIF) 365.8 tỷ USD 366.2 tỷ USD
- 2014-2015, xuất khẩu sang Châu Á và Châu đại dương chiếm 76,9% tổng kim ngạchxuất khẩu của Singapore, xuất khẩu sang ASEAN chiếm 31,2%, xuất khẩu sang EU
và Mỹ lần lượt chiếm 8,1% và 5,9% Trung Quốc và EU là 2 nước mà Singaporenhập khẩu nhiều nhất năm 2014, lần lượt chiếm 12,1% và 12% trong tổng kim ngạchnhập khẩu của Singapore với thế giới Tiếp theo là Malaysia (10,7%), Mỹ (10,3%).Nhập khẩu từ ASEAN giảm nhẹ từ 21,4% xuống 20,6% giai đoạn 2011-2014
2.2 Điểm nhấn trong năm 2015:
Năm 2015, xuất khẩu dịch vụ vận tải chiếm 33,8% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.Nhập khẩu dịch vụ chủ yếu là dịch vụ vận tải, chiếm 30,7% và dịch vụ khác chiếm 28,8%
3 Nhập khẩu:
3.1 Tổng quan:
Trang 18- Nhập khẩu ở Singapore đạt trung bình 15772,87 triệu SGD từ năm 1964 đến năm
2021, đạt mức cao nhất mọi thời đại là 45221,60 triệu SGD vào tháng 3 năm 2021 vàmức thấp kỷ lục 266,38 triệu SD vào tháng 7 năm 1964
- Kim ngạch nhập khẩu nhiên liệu chiếm 31% và nông sản chiếm 4%
3.2 Tỷ trọng các mặt hàng nhập khẩu chính của Singapore được thể hiện như
sau
3.3 Tỷ trọng của các đối tác nhập khẩu nhập khẩu của Singapore:
- Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu của Singapore sang các thị trường lân cận qua cácnăm đều tăng (tăng mạnh nhất phải kể đến thị trường Trung Quốc, ASEAN trong giaiđoạn 2010 - 2020.)
- Năm 2014, Singapore là nước xuất khẩu lớn thứ 9 trên thế giới và đứng thứ 10 về nhậpkhẩu và là một trong số ít quốc gia trên thế giới có tổng thương mại quốc tế lớn hơntổng GDP
- Trong 4 tháng đầu năm 2020, kim ngạch thuơng mại hai chiều của 9/15 đối tác thươngmại hàng đầu của Singapore giảm tương đối mạnh, Trung Quốc (đối tác thương mại lớnnhất) giảm 7,49% và Malaysia (đối tác thương mại lớn thứ 3) giảm 7,81%