BỘ Y TẾ VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH COVID 19 THEO CON NGƯỜI, KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM Nhiệm vụ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, VI RÚT[.]
Trang 1BỘ Y TẾ VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH COVID-19 THEO CON NGƯỜI, KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TẠI MIỀN
BẮC VIỆT NAM
HỌC BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP DO CHỦNG VI RÚT CORONA MỚI 2019 (COVID-19) TẠI VIỆT NAM
Chủ nhiệm ĐTN: PGS TS TRẦN NHƯ DƯƠNG
HÀ NỘI – 2021
Trang 2Báo cáo đề tài nhánh gồm sản phẩm của 4 hoạt động thuộc công việc 8 và 12
(theo thuyết minh nhiệm vụ được phê duyệt)
1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của các ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I DANH SÁCH THAM GIA ĐỀ TÀI NHÁNH II DANH MỤC HÌNH IV DANH MỤC BẢNG V
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2
1.1 Định nghĩa ca bệnh 2
1.2 Vi rút SARS-CoV-2 4
1.3 Dịch tễ học bệnh COVID-19 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Mục tiêu 1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học của tối thiểu 50 ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc .32
2.2 Mục tiêu 2 Mô tả một số đặc điểm người tiếp xúc gần với ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc .51
2.3 Xử lý và phân tích số liệu 59
2.4 Đạo đức nghiên cứu 59
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 60
3.1 Mục tiêu 1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học của tối thiểu 50 ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc .60
3.2 Mục tiêu 2 Mô tả một số đặc điểm người tiếp xúc gần với ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc 69
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 91
4.1 Mục tiêu 1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học của tối thiểu 50 ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc 91
4.2 Mục tiêu 2 Mô tả một số đặc điểm người tiếp xúc gần với ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc 93
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 97
5.1 Mục tiêu 1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học của tối thiểu 50 ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc 97
5.2 Mục tiêu 2 Mô tả một số đặc điểm người tiếp xúc gần với ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc 97
CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ 98
PHỤ LỤC 99
Trang 4i
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) qua
Dự án mã số VINIF.2020.COVID-19.DA01 và thuộc đề tài mã số TĐLCN.32/20 do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý
Nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới: Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF); tập thể lãnh đạo và cán bộ các đơn vị: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương; Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, Trung tâm Y tế huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc; Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Khoa Vi rút và Trung tâm Đào tạo và Quản lý khoa học – Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Trang 5ii
DANH SÁCH THAM GIA ĐỀ TÀI NHÁNH ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH COVID-19 THEO CON NGƯỜI, KHÔNG
GIAN, THỜI GIAN TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM
9 ThS Phạm Thị Cẩm Hà KSBTN Thành viên thực hiện
11 ThS Lưu Nguyên Thắng KSBTN Thành viên thực hiện
14 TS Nguyễn Thị Thanh Hương KSBTN Thành viên thực hiện
16 ThS Trần Thị Lan Anh KSBTN Thành viên thực hiện
Trang 6iii
19 TS Nguyễn Thị Thu Hương KSBTN Thành viên thực hiện
24 PGS TS Nguyễn Thị Thuỳ Dương ĐT-QLKH Thành viên thực hiện
25 TS Nguyễn Thị Phương Liên KH-HTQT Thành viên thực hiện
26 PGS TS Vũ Đình Thiểm TT TNLS Thành viên thực hiện
27 BS Đào Trung Nguyên TT TNLS Thành viên thực hiện
28 BS Nguyễn Đăng Quang TT TNLS Thành viên thực hiện
29 BS Phạm Đình Long TT TNLS Thành viên thực hiện
31 CN Nguyễn Mạnh Việt KH-HTQT Kỹ thuật viên, NVHT
33 TS Trịnh Thị Thanh Hương TTĐBCL Kỹ thuật viên, NVHT
Trang 7iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Cấu trúc virus SARS-CoV-2 (trái) và gai protein spike (S) (phải) .5
Hình 2 Thời kỳ lây truyền của bệnh COVID-19 16
Hình 3 Phân bố ca bệnh COVID-19 trên toàn cầu, đến 31/5/2021 84 26
Hình 4 Phân bố bệnh COVID-19 theo châu lục 84 27
Hình 5 Diễn biến dịch Covid-19 toàn cầu: Số người đang điều trị trong các bệnh viện trên một triệu dân (Nguồn: Worldometer) 28
Hình 6 Diễn biến dịch Covid-19 ở Ấn Độ (Nguồn: Worldometer) 28
Hình 7 Ước tính tỷ lệ tử vong do COVID-19 theo quốc gia, năm 2020 (theo kết quả từ các nghiên cứu ở cấp độ quốc gia) 85 30
Hình 8 Phân bố ca bệnh COVID-19 tại Việt Nam trong đợt dịch thứ 4 88 31
Hình 9: Quy trình điều tra dịch và các biểu mẫu thu thập thông tin 49
Hình 10 Phân bố đường cong dịch theo thời gian (n=54) 65
Hình 11 Phân bố ca bệnh theo tỉnh nơi phát hiện ca bệnh COVID-19 (n=54) 66
Trang 8v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Tải lượng vi rút và thời gian đào thải của vi rút SARS-CoV2 biến thể B.1.1.7 7
Bảng 2 Thời gian ủ bệnh của COVID-19 theo các kết quả nghiên cứu 14
Bảng 3 Các vắc xin COVID-19 được cấp phép khẩn cấp .24
Bảng 4 Biến số nghiên cứu – Mục tiêu 1 34
Bảng 5 Biến số nghiên cứu – Mục tiêu 2 52
Bảng 6 Đặc điểm nhân khẩu học của ca bệnh (n=54) 60
Bảng 7 Tiền sử bệnh của các ca bệnh trong nghiên cứu (n=54) 62
Bảng 8 Tiền sử phơi nhiễm của các ca bệnh (n=54) 63
Bảng 9 Thời gian ủ bệnh và đáp ứng của hệ thống giám sát với ca bệnh (n=54) 66
Bảng 10 Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng (n=54) 67
Bảng 11 Đặc điểm tuổi, giới tính, quốc tịch của người tiếp xúc gần theo hoàn cảnh tiếp xúc 70
Bảng 12 Nghề nghiệp của người tiếp xúc gần 72
Bảng 13 Trình độ học vấn của người tiếp xúc gần 74
Bảng 14 Số lượng người tiếp xúc gần theo tỉnh/thành phố 75
Bảng 15 Hình thức và số người tiếp xúc trung bình 78
Bảng 16 Số người tiếp xúc có triệu chứng trong vòng 14 ngày 80
Bảng 17 Khoảng cách gần nhất khi tiếp xúc 82
Bảng 18 Số ngày tiếp xúc trung bình của người tiếp xúc gần trong khoảng thời gian từ 2 ngày trước đến 14 ngày sau khi khởi phát của ca bệnh Covid-19 83
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vi rút Corona (CoV) là một họ vi rút lây truyền từ động vật sang người và gây bệnh cho người từ cảm lạnh thông thường đến các tình trạng bệnh nặng, đe dọa tính mạng của người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV) năm 2002 và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) năm 2012 Tháng 12 năm 2019, một chủng
vi rút corona mới (SARS-CoV-2) đã được xác định là căn nguyên gây dịch viêm đường
hô hấp cấp tính (COVID-19) tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, sau đó lan rộng ra toàn thế giới gây đại dịch toàn cầu Từ khi được phát hiện lần đầu tiên cho đến ngày 31/5/2021, toàn thế giới đã ghi nhận trên 171 triệu ca mắc COVID-19, với hơn 3,54 triệu ca tử vong do dịch, ghi nhận tại 228 quốc gia và vùng lãnh thổ [1], và số ca mắc, tử vong vẫn đang tiếp tục tăng lên hàng ngày Từ năm 2020 đến nay, ước tính thiệt hại kinh tế do dịch COVID-19 trên toàn cầu khoảng trên 10 nghìn tỷ đô la Mỹ
Với tính cấp bách và nguy cơ lây lan dịch ra toàn cầu, ngày 30/01/2020, Tổ chức
Y tế Thế giới đã tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19 gây ra là tình trạng khẩn cấp y tế công cộng gây quan ngại toàn cầu Dịch tễ của bệnh do Covid-19 thay đổi từng ngày
Tại Việt Nam, tính từ khi ca bệnh COVID-19 đầu tiên được ghi nhận ngày 23/01/2020 đến ngày 23/7/2021, toàn quốc đã ghi nhận 81.678 ca mắc, 370 ca tử vong
do dịch Để đáp ứng phòng chống dịch đạt hiệu quả, việc nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm dịch tễ học của bệnh là một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm Trong giai đoạn đầu của đại dịch, có rất ít thông tin về vấn đề này tại Việt Nam cũng như trên thế giới
Do nhu cầu cấp thiết này, để có những thông tin chi tiết hơn đặc điểm các ca bệnh
COVID-19 đầu tiên ghi nhận tại Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm
dịch tễ học bệnh Covid-19 theo con người, không gian, thời gian tại miền Bắc Việt Nam” với mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học của tối thiểu 50 ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc
2 Mô tả một số đặc điểm người tiếp xúc gần với ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc
Trang 102
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Định nghĩa ca bệnh
Theo WHO1, tháng 12/2020:
1.1.1 Ca nghi COVID-19 (suspected case)
Có 3 trường hợp được xếp nhóm ca nghi COVID-19:
1.1.1.1 Đối tượng thỏa tiêu chí dịch tễ và lâm sàng (như sau)
(*) Về lâm sàng: Thỏa 1 trong 2 tiêu chí sau
- Khởi phát Sốt và ho (cấp tính)
- Khởi phát ít nhất 3 trong số các dấu hiệu/ triệu chứng sau: 1 Sốt, 2 Ho, 3 Mệt mỏi toàn thân, 4 Đau đầu, 5 Đau cơ, 6 Đau họng, 7 Sổ mũi, 8 Khó thở, 9 Chán ăn /buồn nôn/ nôn, 10 Tiêu chảy, 11 Các vấn đề tâm thần thay thế khác (*) Về dịch tễ: Thỏa 1 trong 3 tiêu chí sau
- Cư trú/ sinh sống/ làm việc tại một trong các nơi địa phương/ kv có nguy cơ cao lây nhiễm virus cao sau đây: 1 Hộ dân cư khép kín 2 Các cơ sở nhân đạo (lều hoặc dạng lều) dành cho người sơ tán ) trong vòng 14 ngày trước khi khởi phát triệu chứng
- Cư trú/ đi lại đến nơi có lây lan cộng đồng trong vòng 14 ngày trước khi khởi phát triệu chứng
- Hiện làm việc tại bất kỳ cơ sở y tế nào (trong cơ sở y tế lẫn trong cộng đồng) trong 14 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng
1.1.1.2 BN thỏa tiêu chuẩn của SARI theo định nghĩa WHO
Tức là: Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính kèm: tiền sử sốt (hoặc đo được sốt);
ho (đều khởi phát trong thời gian 10 ngày) và cần phải nhập viện
1.1.1.3 Người không triệu chứng, cũng không thỏa tiêu chí dịch tễ
Nhưng có xét nghiệm antigen (kháng nguyên/ test nhanh) dương tính với COV-2 (lúc này cần thêm xét nghiệm NAAT như RT-PCR để kiểm chứng)
1 https://www.who.int/publications/i/item/WHO-2019-nCoV-Surveillance_Case_Definition-2020.2
Trang 113
1.1.2 Ca COVID-19 có thể
Có 4 trường hợp được xếp nhóm ca COVID-19 có thể
1.1.2.1 Thỏa tiêu chí lâm sàng và dịch tễ sau
(*) Về lâm sàng: Thỏa 1 trong 2 tiêu chí lâm sàng sau
- Khởi phát Sốt và ho (cấp tính)
- Khởi phát ít nhất 3 trong số các dấu hiệu/ triệu chứng sau: 1 Sốt, 2 Ho, 3 Mệt mỏi toàn thân, 4 Đau đầu, 5 Đau cơ, 6 Đau họng, 7 Sổ mũi, 8 Khó thở, 9 Chán ăn /buồn nôn/ nôn, 10 Tiêu chảy, 11 Các vấn đề tâm thần thay thế khác (*) Về dịch tễ: Thỏa 1 trong 2 tiêu chí sau
- Là ca tiếp xúc gần của một ca có thể (khác) hoặc của một ca xác định nào đó
- Hoặc có liên quan dịch tễ với chùm ca COVID-19 nào đó
1.1.2.2 Là ca nghi + tổn thương hình ảnh học phổi/ lồng ngực gợi ý nhiều (hướng
chẩn đoán) đến COVID-19, bao gồm:
- Với X-quang: các khối mờ, thường có dạng hình tròn tập trung ở ngoại vi và ở vùng thấp phổi
- Với CT ngực: tổn thương đa ổ dạng kính mờ, thường có dạng hình tròn, tập trung
ở ngoại vi và ở vùng thấp phổi
- Với siêu âm ngực: hình ảnh dày đường màng phổi, dày đường B (thường đa ổ, phân tán, hoặc đồng nhất) có thể có hoặc không có khí phế quản đồ
1.1.2.3 Bất kỳ đối tượng khởi phát cấp tính triệu chứng mất mùi hoặc bị vị giác
(khứu/ vị giác) mà không có cách/ không lý giải bằng nguyên nhân khác được
1.1.2.4 Tử vong chưa rõ nguyên nhân, nhưng, với bệnh cảnh nguy kịch hô hấp
(respriratory distress) trước khi tử vong VÀ là trường hợp tiếp xúc gần với
1 Ca có thể HOẶC 2 Ca xác định HOẶC 3 Chùm ca COVID-19
1.1.3 Ca COVID-19 xác định
Là ca có chẩn đoán xác định từ labo bằng xét nghiệm sinh học phân tử (khuếch đại vật liệu di truyền: RT-PCR/PCR) (bất kể triệu chứng hay không triệu chứng)
Trang 124
1.2 Vi rút SARS-CoV-2
1.2.1 Tác nhân, đặc điểm của virus
Vi rút trong họ Coronaviridae có cấu trúc hình cầu với hệ gen RNA sợi đơn chiều dương và với một nucleocapsid đối xứng xoắn ốc.2 Bộ gen của vi rút dài khoảng từ 26 đến 32 kilobase, lớn nhất đối với các vi rút RNA Vi rút corona gồm các protein S tạo các gai trên bề mặt vi rút, protein E (Envelope), M (Membran), và N (Nucleocapsid) Vật chủ của vi rút corona bao gồm các loài chim cũng như nhiều loài động vật có vú như lạc đà, dơi, cầy, chuột và chó mèo.3,4 Chủng mới hay xuất hiện và gây dịch trên động vật có vú như chủng vi rút corona HKU-2 từ dơi gây dịch tiêu chảy cấp ở heo năm
2018.5
Trước 12/2019, có 6 chủng của vi rút corona được biết gây bệnh ở người Trong
đó bốn chủng – 229E, OC43, NL63 và HKU1 – gây viêm đường hô hấp cấp tính nhẹ và lưu hành thường xuyên; 2 chủng lây truyền từ động vật sang người và gây nên viêm đường hô hấp cấp tính nặng như vi rút corona gây hội chứng viêm đường hô hấp cấp (SARS-CoV) vào năm 2002-2003 với 8.000 ca mắc (774 tử vong) tại 37 nước6 và hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông (MERS-CoV) từ năm 2012 với 2.494 ca mắc (858 tử vong).7 Một chủng mới của vi rút corona, SARS-CoV-2, được phát hiện tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12/2019.8
Bộ gen SARS-CoV-2 mã hóa bốn loại protein cấu trúc: S, M, N và E Trong đó protein S được xem là yếu tố quyết định kháng nguyên quan trọng có khả năng sinh miễn dịch bảo vệ Protein gai (Spike [S]) là một glycoprotein bề mặt xuyên màng, liên kết với thụ thể men chuyển 2 (ACE2) trên tế bào biểu mô hô hấp và tế bào đường tiêu hóa và làm trung gian cho sự xâm nhập của virus [2, 3] Cấu tạo protein S gồm 2 tiểu đơn vị S1 và S2, cùng với miền liên kết thụ thể (RBD) nằm trên S1 RBD trên protein S
2 Su S, Wong G, Shi W, Liu J, Lai ACK, Zhou J, et al Epidemiology, genetic recombination, and pathogenesis of coronaviruses Trends Microbiol 2016; 24(6):490-502
3 Cavanagh D Coronavirus avian infectious bronchitis vi rút Veterinary research 2007; 38(2):281-297
4 Ismail MM, Tang AY, Saif YM Pathogenicity of turkey coronavirus in turkeys and chickens Avian diseases 2003; 47(3):515-522
5 Zhou P, Fan H, Lan T, Yang XL, Shi WF, Zhang W, et al Fatal swine acute diarrhoea syndrome caused by an HKU2-related coronavirus of
bat origin Nature 2018; 556(7700):255-258
6 Chan-Yeung M, Xu RH SARS: epidemiology Respirology 2003; 8 Suppl:S9-14
7 Lee J, Chowell G, Jung E A dynamic compartmental model for the Middle East respiratory syndrome outbreak in the Republic of Korea: A
retrospective analysis on control interventions and superspreading events J Theor Biol 2016; 408:118-126
8 Zhu N, Zhang D, Wang W, Li X, Yang B, Song J, et al A novel coronavirus from patients with pneumonia in China, 2019 N Engl J Med
2020.
Trang 13Vi rút SARS-CoV-2 là chủng vi rút corona mới với những đặc tính khác so với các chủng vi rút corona được biết trước đây Bản thân vi rút SARS-CoV-2 cũng có sự biến đổi liên tục dẫn đến các biến thể có khả năng lây truyền, độc tính khác nhau như các biến thể mang đột biến D614G phát hiện từ đầu tháng 03/2020, biến thể B.1.1.7, và
Trang 14cơ bản (R 0) từ 0,4 trở lên với ước tính tăng khả năng lây truyền lên đến 70%.9
Tất cả các biến thể hiện tại đều thuộc chủng gốc SARS-CoV-2 Một số biến thể mới xuất hiện của SARS-CoV-2 đang được chú ý rộng rãi vì sự xuất hiện nhanh chóng trong quần thể và gia tăng khả năng lây truyền hoặc các tác động lâm sàng khác, bao gồm10 11 12:
1.2.2.1 (*) B.1.1.7 (hay VOC 202012/01):
Phát hiện đầu tiên ở Vương Quốc Anh vào tháng 12/2020 Biến thể này có chứa
23 đột biến, trong đó có 3 đột biến có ảnh hưởng đến khả năng lây nhiễm của biến thể này, bao gồm:
- Đột biến N501Y: là 1 trong 6 gốc tiếp xúc quan trọng trong vùng liên kết thụ thể (RBD) trên protein spike và đã được xác định là làm tăng ái lực liên kết với ACE2
ở người N501Y có liên quan đến việc tăng khả năng lây nhiễm và độc lực trên
mô hình chuột
- Sự mất đoạn 69-70del: Một số xét nghiệm phân tử SARS-CoV-2 không thể phát hiện ra gen đích S (gen mã hóa protein spike) khi có đột biến mất đoạn này Tuy nhiên, các test này vẫn có thể phát hiện RNA của virus vì các test sử dụng nhiều hơn một gen đích và do đó sẽ không dẫn đến kết quả âm tính giả Tuy nhiên, sự thất bại trong việc nhắm gen S mục tiêu (SGTF) đã được dùng làm dấu chỉ (marker) để phát hiện biến thể B.1.1.7, tuy nhiên, đột biến mất đoạn 69-70 có thể xuất hiện ở các biến thể khác
- Đột biến P681H: ngay gần vị trí phân cắt furin - một vị trí đã biết có ý nghĩa sinh học Vị trí phân cắt S1/ S2 furin của SARS-CoV-2 không được tìm thấy trong các coronavirus khác và đã được chứng minh là có khả năng thúc đẩy sự xâm
Trang 157
nhập vào các tế bào biểu mô đường hô hấp và lây truyền trên các mô hình động
vật
Những phát hiện sơ bộ cho thấy có thể có mối liên quan giữa việc nhiễm biến thể
B.1.1.7 và tăng tải lượng virus Cts RT-PCR (Ct) của biến thể này giảm khoảng 02 đơn
vị so với các biến thể khác, tương ứng với tải lượng vi rút tăng lên khoảng 04 lần13
Một nghiên cứu của Trường YTCC thuộc Đại học Harvard (Mỹ) trên 65 người
bị nhiễm SARS-CoV-2, trong đó 7 người nhiễm B.1.1.7 cho rằng biến thể B.1.1.7 có thể gây nhiễm lâu hơn và thời gian nhiễm kéo dài với tải lượng virus tương tự so với nhiễm SARS-CoV-2 không phải B.1.1.7 Khoảng thời gian nhiễm kéo dài này có thể góp phần làm tăng khả năng truyền của biến thể B.1.1.714 Tuy nhiên, cần cân nhắc kết luận này vì kết quả nghiên cứu chưa qua giai đoạn bình duyệt và cỡ mẫu nhỏ Kêt quả
cụ thể:
Bảng 1 Tải lượng vi rút và thời gian đào thải của vi rút SARS-CoV2 biến thể
B.1.1.7 Người nhiễm biến thể B.1.1.7
2,0 ngày [0,7-3,3]
Giai đoạn thanh thải
virus trung bình
8,0 ngày [6.1-9.9]
6,2 ngày [5.1-7.1]
Thời gian nhiễm
20,2 Ct [19,0-21,4], tương đương 8,2log10 bản sao RNA/ml [7,8-8,5]
13 https://gov.wales/sites/default/files/publications/2020-12/technical-brief-viral-variant-voc-20201201-23-december-2020_0.pdf
14 https://dash.harvard.edu/handle/1/37366884
Trang 168
Vào tháng 21/1/2021, các nhà khoa học Anh đã báo cáo bằng chứng ban đầu cho thấy biến thể B.1.1.7 có thể liên quan đến tăng nguy cơ tử vong so với với các biến thể
khác Nguy cơ tử vong tương đối (relative risk of mortality) cao hơn ở những cá thể mắc
B.1.1.7 so với nhiễm thể hoang dã (khoảng tỷ lệ nguy cơ từ 1,35-1,91), mặc dù tỷ lệ tử
vong do nhiễm trùng tuyệt đối (absolute infection fatality rate) vẫn thấp15
Tại Anh, báo cáo vào tháng 3/202116 cho thấy từ dữ liệu 54,906 người mắc COVID-19 cho thấy, tỷ lệ nguy cơ tử vong liên quan đến nhiễm B.1.1.7 so với nhiễm các biến thể lưu hành trước đó là 1,64 (95% CI: 1,32 - 2,04) Trong nhóm nguy cơ tương đối thấp, điều này thể hiện sự gia tăng số ca tử vong từ 2,5 lên 4,1 trên 1000 trường hợp được phát hiện Xác suất tăng nguy cơ tử vong do nhiễm biến thể này là cao
Cho đến nay, chưa có bằng chứng nào cho thấy biến thể B.1.1.7 có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của vắc xin Một số nghiên cứu chỉ ra rằng huyết thanh từ những người nhận vắc xin COVID-19 duy trì hoạt tính trung hòa chống lại biến thể B.1.1.7 và một
số vắc xin duy trì hiệu quả chống lại biến thể1 Tuy nhiên, theo phân tích bộ gen vẫn đang tiếp diễn của các biến thể B.1.1.7 lưu hành ở Vương quốc Anh đã xác định được một số trình tự có chứa đột biến E484K trong protein gai S (spike) Đột biến này cũng
có trong các biến thể B.1351 và P.1, và một số nghiên cứu đã gợi ý rằng đột biến này có thể đại diện cho bằng chứng về khả năng trốn thoát hệ thống miễn dịch
1.2.2.2 (*) B.1.351 (hay 20H / 501Y.V2):
Là một biến thể khác của SARS-CoV-2 xuất hiện ở Nam Phi, độc lập với biến
thể B.1.1.7, được báo cáo vào tháng 12/2020 Biến thể này có nhiều đột biến trong protein Spike, bao gồm K417N, E484K, N501Y Hiện tại chưa có bằng chứng cho thấy rằng biến thể này có bất kỳ tác động nào đến mức độ nghiêm trọng của bệnh Có một số bằng chứng chỉ ra rằng đột biến E484K có thể ảnh hưởng đến quá trình trung hòa của một số kháng thể đa dòng và đơn dòng17 18 Đột biến E484K trên protein spike này cũng
có thể sẽ ảnh hưởng đến khả năng miễn dịch khỏi nhiễm trùng hoặc tiêm chủng trước
15 https://assets.publishing.service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/961037/NERVTAG_note_on_B.1.1.7_se verity_for_SAGE_77 1_.pdf
16 https://www.bmj.com/content/372/bmj.n579
17 https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/cases-updates/variant-surveillance/variant-info.html
18 https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/more/science-and-research/scientific-brief-emerging-variants.html
Trang 179
đó Trong một báo cáo sơ bộ của một nghiên cứu đánh giá tác động của các đột biến trên protein spike đối với sự trung hòa bởi các kháng thể trong huyết tương giai đoạn
hồi phục (convalescent plasma), trung bình, E484K làm giảm mức độ trung hòa nhiều
nhất so với các đột biến khác (với một số mẫu huyết tương, mức giảm là >10 lần) , mặc
dù sự tác động là khác nhau giữa các mẫu cá thể và theo thời gian giữa các mẫu từ cùng một cá thể
Trong một báo cáo khác chưa được peer-preview, việc đưa protein spike dòng B.1.351 vào cấu trúc virus làm suy giảm hoạt tính trung hòa của huyết tương giai đoạn hồi phục, với 48% mẫu huyết tương mất hoạt tính trung hòa; hầu hết các mẫu huyết tương vẫn duy trì liên kết kháng thể không trung hòa với protein spike của B.1.351 Huyết tương từ những người nhận vắc xin mRNA COVID-19 dường như vẫn duy trì hoạt động trung hòa chống lại biến thể B.1.351, nhưng ở hiệu giá thấp hơn so với vi rút thể hoang dã Ý nghĩa lâm sàng của những hoạt động giảm trung hòa này là không chắc chắn vì các tương quan miễn dịch chính xác của hệ thống miễn dịch chưa được làm sáng
tỏ, nhưng có vẻ như khả năng miễn dịch tạo ra bởi vắc xin mRNA COVID-19 vẫn sẽ bảo vệ khỏi biến thể B.1.351 Các báo cáo sơ bộ về các thử nghiệm đánh giá các loại vắc xin khác cho thấy chúng vẫn giữ được hiệu quả ở Nam Phi, mặc dù ở đó mức độ bảo vệ có thể thấp hơn so với những nơi mà B.1.351 không phổ biến
Trang 1810
1.2.2.4 (*) A23: Biến thể A.23: 03 thay đổi đột biến F157L, Q613H và V367F
Sự thay đổi V367F (vùng RBD của protein Spike) được báo cáo là làm tăng khả năng lây nhiễm một cách khiêm tốn (tăng độ nhạy để trung hoà kháng thể đơn dòng - mAbs); tuy nhiên lại tăng nhạy cảm với kháng thể trung hoà19
Sự thay đổi Q613H có thể gây ra những hậu quả tương tự như sự thay đổi D614G
được quan sát thấy trong dòng B.1 chủ yếu được tìm thấy ở Châu Âu và Hoa Kỳ (tuy
nhiên, hiện chưa có nghiên cứu đưa ra bằng chứng cụ thể, nhận định này do spike Q614H và D614G nằm gần cạnh nhau)
A.23 cũng có các thay đổi bổ sung trong các vùng không phải protein spike, bao gồm nsp3: E95K, nsp6: M86I, L98F, ORF 8: L84S, E92K và ORF9 N: S202N, Q418H
1.2.2.5 (*) A.23.1:
Biến thể A.23.1 mã hóa nhiều thay đổi đột biến, protein nsp6, ORF8 và ORF9,
và một số thay thế được dự đoán là có chức năng tương tự như những thay đổi được quan sát thấy trong các biến thể dòng B So với A.23, bên cạnh 03 đột biến F157L, Q613H và V367F; có 02 thay đổi bổ sung là R102I và P681R
Sự thay đổi P681R thuộc một axit amin cơ bản gần vị trí phân cắt furin của protein spike Sự thay đổi tương tự này đã được chứng minh trong ống nghiệm (in vitro) giúp tăng cường hoạt động dung hợp (fusion activity) của protein spike, có thể là do sự phân cắt tăng lên bởi enzyme furin protease của tế bào Một thay đổi tương tự (P681H) được
mã hóa bởi chủng Anh B.1.1.7
Ngoài ra còn có những thay đổi trong vùng đầu cuối N của protein spike (NTD) – 01 mục tiêu chọn lọc miễn dịch đã biết, được quan sát thấy trong mẫu từ dòng Kampala A.23.1, bao gồm P26S và R102I cộng với 8 thay đổi singleton bổ sung (chỉ quan sát thấy trong một bộ gen)
A.23.1 cũng có các thay đổi bổ sung trong các vùng không phải protein spike, bao gồm nsp3: E95K, nsp6: M86I, L98F, ORF 8: L84S, E92K và ORF9 N: S202N, Q418H
19 Li Q, Wu J, Nie J, Zhang L, Hao H, Liu S, et al The Impact of Mutations in SARS-CoV-2 Spike on Viral Infectivity and Antigenicity Cell
2020 Sep 3;182(5):1284-1294.e9
Trang 1911
Vào T1/2021, một tập hợp con của vi rút A.23.1 ở Anh được phát hiện có một đột biến đáng lo ngại trong protein Spike là E484K20 Dòng (Lineage) A.23.1 với đột biến E484K được đặt tên là VUI 202102/01 Tính đến ngày 10 tháng 2, tổng số 43 trường hợp được xác nhận bộ gen với VUI 202102/01 đã được phát hiện ở Anh21 Giải trình tự gen tại Viện Pasteur chưa phát hiện E484K trong biến thể lần này (E484K không nằm trong định nghĩa cho nhóm A.23.1)
Như vậy, hiện tại, 2 đột biến quan trọng đáng chú ý của biến thể này là P681R (nghi ngờ tăng khả năng xâm nhiễm) và E484K (có thể kháng vaccine) Hiện chưa rõ độc lực của A.23.1
1.2.2.6 (*) Fin-796H:
Theo thông tin từ Phòng thí nghiệm Vita (Helsinki, Phần Lan), biến thể Fin-796H này có 1 số đột biến giống biến thể Anh và Nam Phi nhưng không có đột biến N501Y Biến thể này cũng có đột biến trên gen N, có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của xét nghiệm kháng nguyên và XN RT-PCR xác định dựa trên gen N (Kĩ thuật của CDC)22 Hiện chưa tìm thấy bài báo khoa học nào đề cập đến biến thể này
1.2.2.7 (*) Riêng đối với một đột biến cụ thể là D614G:
Đây là đột biến xuất hiện trong bộ gen của cả 3 biến thể này Nó cung cấp cho các biến thể khả năng lây lan nhanh hơn23 Biến thể D614G có số lượng gai chức năng (protein S) trên bề mặt nhiều hơn so với biến thể ban đầu Ngoài ra, đột biến đã giúp ổn định sự tương tác giữa các miền S1 và S2, hạn chế S1 rơi rụng (S1 shedding), và kết hợp nhiều protein S hơn vào hạt pseudovirion , dẫn đến khả năng lây nhiễm tổng thể tốt hơn Biến thể G614 cũng tạo ra lượng virus gây nhiễm cao hơn24 Tuy D614G không làm thay đổi ái lực liên kết giữa protein S với ACE2 nhưng các hạt virus mang SG614 xâm nhập vào các tế bào biểu hiện ACE2 hiệu quả hơn những tế bào mang SD614 cũng giúp gia tăng khả năng lây truyền25 Đột biến D614G dường như không liên quan đến
20 Public Health England Guidance for investigating and managing individuals with a possible or confirmed SARS-CoV-2 Variant of Concern or Variant Under Investigation (updated 11th February 2021): https://www.gov.uk/government/publications/sars-cov-2-voc- investigating-and-managing-individuals-with-a-possible-or-confirmed-case/guidance-for-investigating-and-managing-individuals-with-a- possible-or-confirmed-sars-cov-2-variant-of-concern
21 Public Health England Variants: distribution of cases data (Updated 11 February 2021):
data#Variant5
https://www.gov.uk/government/publications/covid-19-variants-genomically-confirmed-case-numbers/variants-distribution-of-cases-22 https://pledgetimes.com/coronavirus-a-new-variant-of-coronavirus-was-found-in-finland-which-is-less-visible-in-the-pcr-test-than-before/
23 https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/cases-updates/variant-surveillance/variant-info.html
24 https://www.cell.com/cell/fulltext/S0092-8674(20)30820-5
25 https://www.nature.com/articles/s41467-020-19808-4
Trang 2012
nguy cơ nhập viện cao hơn và cũng không ảnh hưởng đến liên kết kháng thể chống protein S1
1.2.3 Phương thức lây truyền
Lây truyền trực tiếp qua đường hô hấp từ người sang người là phương thức lây truyền chính của SARS-CoV-226 Nó được cho là xảy ra chủ yếu khi tiếp xúc ở cự ly gần (tức là trong khoảng sáu feet hoặc hai mét) qua các giọt hô hấp; vi rút được tiết ra trong dịch tiết đường hô hấp khi một người bệnh ho, hắt hơi, hoặc nói chuyện và có thể lây nhiễm sang người khác nếu nó được hít phải hoặc tiếp xúc trực tiếp với màng nhầy Nhiễm trùng cũng có thể xảy ra nếu bàn tay của một người bị ô nhiễm bởi các giọt nhỏ hoặc do chạm vào bề mặt bị ô nhiễm và sau đó họ chạm vào mắt, mũi hoặc miệng của
họ, mặc dù các bề mặt bị ô nhiễm không được coi là một con đường lây truyền chính
SARS-CoV-2 cũng có thể được lây truyền với khoảng cách xa hơn qua đường trong không khí (thông qua việc hít phải các hạt nhỏ hơn các giọt nhỏ hơn các giọt lưu lại trong không khí theo thời gian và khoảng cách, nhưng mức độ mà phương thức lây truyền này đã góp phần gây ra đại dịch còn nhiều tranh cãi27 Một số báo cáo về các đợt bùng phát SARS-CoV-2 (ví dụ: trong nhà hàng, trên xe buýt) đã nêu bật khả năng lây truyền qua đường không khí ở khoảng cách xa hơn trong các không gian kín, kém thông gió Tuy nhiên, khả năng lây truyền tổng thể và tỷ lệ tấn công thứ phát của SARS-CoV-
2 cho thấy rằng lây truyền trong không khí tầm xa không phải là phương thức chính 28 Hơn nữa, trong một số báo cáo về các nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm trùng chưa được chẩn đoán trong khi chỉ sử dụng các biện pháp phòng ngừa tiếp xúc và phơi nhiễm giọt bắn, không có nhiễm trùng thứ cấp nào được xác định mặc dù không có các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm qua đường không khí29
Khi xem xét sự lây truyền của vi rút, không thể bỏ qua việc liệu vi rút hoạt động
có thể tồn tại trong môi trường bao lâu Người ta đã ghi nhận rằng, trong các điều kiện thử nghiệm có tải lượng vi rút cao, SARS-CoV-2 có thể vẫn lây nhiễm ở khí dung trong
3 giờ và trên bề mặt (đặc biệt là nhựa và thép không gỉ) trong tối đa ba ngày.30
26 Transmission of SARS-CoV-2: A Review of Viral, Host, and Environmental Factors
27
https://www.who.int/publications/i/item/modes-of-transmission-of-virus-causing-covid-19-implications-for-ipc-precaution-recommendations
28 Airborne Transmission of SARS-CoV-2: Theoretical Considerations and Available Evidence
29 COVID-19 and the Risk to Health Care Workers: A Case Report
30 van Doremalen N, Bushmaker T, Morris DH, Holbrook MG, Gamble A, et al Aerosol and surface stability of SARS-CoV-2 as compared with SARS-CoV-1 N Engl J Med 2020;382(16):1564-1567
Trang 2113
Bộ gen của SARS-CoV-2 đã được phát hiện trong tất cả các bệnh phẩm lâm sàng: ngoáy mũi họng, đờm, dịch rửa phế quản phế nang, sinh thiết phổi xuyên phế quản, phân, nước mắt và máu.31,32,33
Một số nghiên cứu báo cáo sự hiện diện của RNA vi rút trong phân của những bệnh nhân có mẫu hô hấp chuyển sang âm tính.34,35,36,37,38,39 Đối với việc phân lập vi rút, không dễ dàng để phân lập SARS-CoV-2 từ mẫu phân, mặc dù nồng độ RNA của vi rút cao Có rất ít bằng chứng về sự hiện diện của RNA vi rút SARS-CoV-2 trong nước tiểu
và chưa phân lập được vi rút lây nhiễm nào từ mẫu nước tiểu Bên cạnh đó, mặc dù RNA của vi rút đã được phát hiện trong huyết tương hoặc huyết thanh của 15% đối tượng bị nhiễm bệnh,40 một đánh giá về chẩn đoán thử nghiệm kết luận rằng không thể phát hiện axit hạt nhân của vi rút trong huyết thanh và nước tiểu41 và lây truyền qua đường máu truyền máu vẫn chưa được chứng minh.42
1.2.4 Thời gian ủ bệnh
Theo WHO, gian ủ bệnh từ 1-14 ngày, trung bình 5-6 ngày43 44 Tuy nhiên có một số nghiên cứu quan sát và mô hình có kết quả 5-10% có thời gian ủ bệnh hơn 14 ngày45, nhưng đó vẫn là ước tính và có thể do không điều tra rõ nguồn gốc phơi nhiễm
31 Wenling W, Yanli X, Ruqin G, et al Detection of SARS-CoV-2 in different types of clinical specimens JAMA 2020;323(18):1843-1844
32 Cheng MP, Papenburg J, Desjardins M, Kanjilal S, Quach C, et al Diagnostic testing for severe acute respiratory syndrome-related coronavirus 2: a narrative review Ann Intern Med 2020;172(11):726-734
33 Colavita F, Lapa D, Carletti F, Lalle E, Bordi L, et al SARS-CoV-2 isolation from ocular secretions of a patient with COVID-19 in Italy with prolonged viral rna detection Ann Intern Med 2020;173(3):242-243
34 Wu Y, Guo C, Tang L, Hong Z, Zhou J, et al Prolonged presence of SARS-CoV-2 viral RNA in faecal samples Lancet Gastroenterol Hepatol 2020;5(5): 434-435
35 Lai MY, Cheng PK, Lim WW Survival of severe acute respiratory syndrome coronavirus Clin Infect Dis 2005; 41: e67-e71
36 Chin AWH, Chu JTS, Perera MRA, Hui KPY, Yen HL, et al Stability of SARS-CoV-2 in different environmental conditions Lancet Microbe 2020; 1: e10
37 van Doremalen N, Bushmaker T, Morris DH, Holbrook MG, Gamble A, et al Aerosol and surface stability of SARS-CoV-2 as compared with SARS-CoV-1 N Engl J Med 2020;382(16):1564-1567
38 Tang A, Tong ZD, Wang HL, Dai YX, Li KF, et al Detection of novel coronavirus by RT–PCR in stool specimen from asymptomatic child, China Emerg Infect Dis 2020; 26: 1337-1339
39 Liu Y, Li T, Deng Y, Liu S, Zhang D, et al Stability of SARS-CoV-2 on environmental surfaces and in human excreta J Hosp Infect 2020
Trang 2214
Theo US CDC46, thời gian ủ bệnh của COVID-19 được cho là kéo dài đến 14 ngày, với thời gian trung bình là 4-5 ngày kể từ khi tiếp xúc với các triệu chứng khởi phát Một nghiên cứu báo cáo rằng 97,5% những người bị COVID-19 phát triển các triệu chứng trong vòng 11,5 ngày kể từ khi nhiễm SARS-CoV-2
Theo ECDC47, thời gian ủ bệnh trung bình từ 5-6 ngày, phạm vi từ 2-14 ngày Các nghiên cứu mô hình hóa gợi ý rằng thời gian ủ bệnh có thể từ 2,3 ngày (KTC 95%, 0,8–3,0 ngày) trước khi khởi phát triệu chứng và lên đến 14 ngày
Các thông tin chi tiết về nghiên cứu về thời gian ủ bệnh đã thực hiện:
Bảng 2 Thời gian ủ bệnh của COVID-19 theo các kết quả nghiên cứu
Tác giả Địa điểm, thời
gian
Phương pháp, cỡ mẫu
Qin et al 49 Trung Quốc,
14/08/20
Hồi cứu
1084 bệnh nhân
TGUB trung bình: 7,76 ngày (KTC 95% 7,02-8,53), phân vị thứ 90 là 14,28 ngày (KTC 95%: 13,64 đến 14,90) Có đến 5 đến 10% trường hợp có thời gian ủ bệnh dài hơn 14 ngày
Trang 2315
Tác giả Địa điểm, thời
gian
Phương pháp, cỡ mẫu
Kết quả
khoảng phân vị thứ 95: 12,5 ngày
Zhang et al
51
Trung Quốc, 7/2020
Hồi cứu
49 bệnh nhân
TGUB trung bình: 5,2 (KTC 95%: 1,8-12,4)
Guan et al 52 Trung Quốc,
Lauer et al 54 Thế giới, 05/05/20 Hồi cứu 181
bệnh nhân
TGUB trung bình: 5,1 (KTC 95%: 4,5-5,8), 97,5% số ca phát triển triệu chứng trong 11,5 ngày đầu
1.2.5 Thời gian phát tán vi rút và thời kỳ lây nhiễm
Khoảng thời gian chính xác mà một cá nhân bị nhiễm SARS-CoV-2 có thể truyền bệnh cho người khác là không chắc chắn Khả năng lây truyền SARS-CoV-2 bắt đầu trước khi phát triển các triệu chứng và cao nhất trong giai đoạn đầu của bệnh, khoảng 2-3 ngày trước khởi phát triệu chứng; nguy cơ lây truyền giảm sau đó Chưa ghi nhận lây truyền sau 7 đến 10 ngày kể từ khi khởi phát
1.2.5.1 (*) Thời kỳ lây nhiễm cao nhất:
Những người bị nhiễm có nhiều khả năng bị lây nhiễm hơn trong giai đoạn đầu của bệnh, khi nồng độ RNA của virus từ các mẫu bệnh phẩm đường hô hấp trên là cao nhất Một nghiên cứu mô hình hóa, trong đó khoảng thời gian nối tiếp trung bình khi bắt
Trang 2416
đầu các triệu chứng của 77 chuỗi lây truyền ở Trung Quốc là 5-8 ngày, cho thấy rằng khả năng lây nhiễm bắt đầu 2,3 ngày trước khi khởi phát triệu chứng, cao nhất là 0-7 ngày trước khi khởi phát triệu chứng và giảm trong vòng 7 ngày55
Một nghiên cứu gộp đăng trên tạp chí Lancet ngày 19/11/2020 nhận thấy rằng tải lượng vi rút đạt đến đỉnh điểm ở cổ họng và mũi (được cho là nguồn lây truyền chính) rất sớm khi mắc bệnh, đặc biệt là từ ngày đầu tiên có triệu chứng đến ngày thứ năm của triệu chứng - ngay cả ở những người có triệu chứng nhẹ Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng vật liệu di truyền vẫn có thể được phát hiện trong mẫu ngoáy họng hoặc mẫu phân trong vài tuần Nhưng không có vi rút sống nào được tìm thấy trong bất kỳ mẫu nào được thu thập sau 9 ngày có triệu chứng Mặc dù một số người, đặc biệt là những người
bị bệnh nặng hoặc suy giảm hệ thống miễn dịch (ví dụ như do hóa trị liệu), có thể lây nhiễm vi-rút lâu hơn, nhưng kết quả cho thấy những người bị nhiễm SARS-CoV-2 có khả năng lây nhiễm cao vài ngày trước khi các triệu chứng bắt đầu và năm ngày sau đó
Trang 2517
1.2.5.2 (*) Thời gian phát hiện vi rút
Khả năng phát hiện vi rút có khả năng sao chép giảm sau khi khởi phát triệu chứng Ở những bệnh nhân COVID-19 nhẹ tới trung bình, vi rút không còn khả năng sao chép sau 10 ngày khởi phát triệu chứng Tuy nhiên có 1 báo cáo cho thấy một người lớn mắc bệnh nhẹ đã phát hiện vi rút có khả năng sao chép lên tới 18 ngày sau khi khởi phát
Một số bệnh nhân COVID-19 nặng (trong đó có một số trường hợp bị suy giảm miễn dịch) phát hiện được vi rút có khả năng sao chép ở khoảng 10-20 ngày sau khi khởi phát triệu chứng Tuy nhiên, trong số những bệnh nhân này, ước tính có 88% mẫu bệnh phẩm không còn vi rút có khả năng sao chép sau 10 ngày khởi phát triệu chứng,
và 95% sau 15 ngày
Ở những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch nặng (chẳng hạn bệnh nhân bị bệnh bạch cầu mãn tính dòng lympho và giảm gamma globulin huyết mắc phải, ung thư hạch bạch huyết và điều trị miễn dịch – hóa trị liệu, cấy ghép tế bào gốc tạo máu, liệu pháp tế bào CAR-T, hoặc AIDS) có thể phát hiện những đoạn subgenomic RNA của vi rút SARS-CoV-2 hoặc vi rút có khả năng sao chép sau 20 ngày, thậm chí sau 143 ngày khi phát hiện dương tính với vi rút SARS-CoV-257
Ở những bệnh nhân chạy thận nhân tạo, 32% bệnh nhân tiếp tục dương tính sau
40 ngày khi phát hiện dương tính với vi rút SARS-CoV-258
Chưa ghi nhận tình trạng nhiễm vi rút ở người tiếp xúc với bệnh nhân
COVID-19 đã khởi phát từ 6 ngày trở lên
Bệnh nhân đã hồi phục có thể phát hiện RNA của vi rút SARS-CoV-2 trong mẫu bệnh phẩm đường hô hấp trên sau 12 tuần khởi phát Một nghiên cứu 285 người trưởng thành dương tính kéo dài (trong đó 126 người xuất hiện triệu chứng lại) cho thấy không ghi nhận trường hợp nhiễm thứ phát nào trong số 790 người tiếp xúc với các ca bệnh này; và nỗ lực phân lập vi rút có khả năng sao chép từ 108 mẫu bệnh phẩm không thành công
57 US CDC Interim guidance on duration of isolation and precautions for adults with COVID-19 (Updated Feb 13, 2021), https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/hcp/duration-isolation.html
58 Shaikh A, Zeldis E, Campbell KN, Chan L Prolonged SARS-CoV-2 Viral RNA Shedding and IgG Antibody Response to SARS-CoV-2 in
Patients on Hemodialysis Clin J Am Soc Nephrol 2021;16(2):290-292 doi:10.2215/CJN.11120720
Trang 2621 ngày so với 28 ngày)
- 13,7% ca bệnh vẫn còn dương tính sau 14 ngày xuất viện
- 14,7% ca bệnh dương tính kéo dài trong khoảng thời gian giữa ngày 41 và ngày
60 sau khi xuất viện, mặc dù tải lượng vi rút thấp < 1x103 (Ct 39,2-43,6)
- Không ghi nhận bệnh nhân có RT-PCR dương tính sau 60 ngày
- KQXN RT-PCR âm sang dương: ghi nhận ở 10,5% bệnh nhân âm tính lần đầu
và 90,5% bệnh nhân trong tháng đầu tiên sau xuất viện (74,2% trong ngày 20 và 12,3% giữa ngày 20 và ngày 30)
- Mặc dù ghi nhận KQXN dương tính sau khi xuất viện nhưng không có bệnh nhân nào xuất hiện triệu chứng
1.2.6 Lây truyền tiền triệu chứng hoặc không triệu chứng:
Lây truyền SARS-CoV-2 từ những cá nhân bị nhiễm bệnh nhưng không có triệu
chứng (và cả những người sau đó mới phát triển các triệu chứng và do đó được coi là có triệu chứng) đã được ghi nhận Cơ sở sinh học cho điều này được hỗ trợ bởi một nghiên cứu về một đợt bùng phát SARS-CoV-2 trong một cơ sở chăm sóc dài hạn: từ 6 ngày trước khi các BN không/tiền triệu chứng phát triển các triệu chứng điển hình; vi rút có khả năng lây nhiễm đã được nuôi cấy từ các mẫu bệnh phẩm đường hô hấp trên có XN RT-PCR (+) ở những bệnh nhân này60
Nồng độ và thời gian phát tán của RNA virus ở đường hô hấp trên của bệnh nhân không triệu chứng cũng tương tự như ở bệnh nhân có triệu chứng
59 Cento V, Colagrossi L, Nava A, et al Persistent positivity and fluctuations of SARS-CoV-2 RNA in clinically-recovered COVID-19
patients J Infect 2020;81(3):e90-e92 doi:10.1016/j.jinf.2020.06.024
60 https://www.nejm.org/doi/10.1056/NEJMoa2008457?url_ver=Z39.88-2003&rfr_id=ori:rid:crossref.org&rfr_dat=cr_pub%20%200pubmed
Trang 2719
Nguy cơ lây truyền từ một cá nhân không có triệu chứng ít hơn so với một người
có triệu chứng Ví dụ, trong phân tích 628 trường hợp COVID-19 và 3790 người tiếp xúc gần ở Singapore, nguy cơ lây nhiễm thứ cấp cao hơn 3,85 lần ở những người tiếp xúc của một cá nhân có triệu chứng so với những người tiếp xúc của một cá nhân không
có triệu chứng61 Tương tự, trong một phân tích ở những hành khách người Mỹ trên tàu
du lịch Diamond Princess, nhiễm SARS-CoV-2 được chẩn đoán ở 81% (25/31) những người ở chung khoang với người bệnh có triệu chứng; ở 63% (27/43) những người ở chung khoang với 1 người nhiễm bệnh không có triệu chứng; và ở 18% (58/329) những người không có khách cùng khoang nhiễm bệnh62
Tuy nhiên, những người không có/tiền triệu chứng ít có khả năng tự cô lập mình hơn những người khác, và mức độ lây truyền từ những cá nhân đó góp phần gây ra đại dịch là không chắc chắn Một nghiên cứu mô hình hóa của CDC ước tính rằng 59% sự lây truyền có thể là do những người không có triệu chứng (trong đó 35% từ những người tiền triệu chứng và 24% từ những người không có triệu chứng)63
1.2.7 Khả năng tái nhiễm, tái dương tính:
Khẳng định tái nhiễm thông qua phát hiện sự khác biệt về phát sinh loài giữa vi rút phân lập được trong đợt đầu và đợt tái nhiễm Một vài báo cáo cho rằng tái nhiễm xảy ra ít nhất sau 90 ngày khởi phát, một số khác cho rằng sớm nhất là 45 ngày sau khởi phát
Nhìn chung, nguy cơ tái nhiễm trong thời gian ngắn (ví dụ, trong vài tháng đầu tiên sau khi nhiễm lần đầu) có vẻ thấp Tuy nhiên, các trường hợp tái nhiễm lẻ tẻ đã được ghi nhận64 65 66 67 68 69 70 71
Tương tự các coronavirus gây bệnh trên người đã được nghiên cứu về tái nhiễm, khả năng tái nhiễm của SARS-CoV-2 được cho rằng tăng theo thời gian sau khi ca bệnh
Trang 2820
hồi phục vì khả năng miễn dịch suy yếu và khả năng phơi nhiễm với các biến thể của vi rút
Trường hợp đầu tiên có bằng chứng về khả năng tái nhiễm là một người đàn ông
33 tuổi không có triệu chứng ở Hồng Kông có kết quả xét nghiệm dương tính với CoV-2 khi khám sàng lọc liên quan đến du lịch năm tháng sau khi đã mắc COVID-19 ở mức độ nhẹ với KQXN xác nhận PTN; giải trình tự các bộ gen virus chiết xuất từ các mẫu nước bọt thu thập được trong mỗi lần nhiễm chỉ ra 2 biến thể khác nhau, cho thấy hai nhiễm trùng riêng biệt72 Hoạt động trung hòa có thể phát hiện được (đánh giá bằng cách sử dụng xét nghiệm trung hòa dựa trên chủng tham chiếu) được tạo ra trong lần nhiễm đầu tiên nhưng không thể phát hiện được tại thời điểm lây nhiễm thứ hai73 Lần nhiễm thứ hai không có triệu chứng cho thấy có khả năng miễn dịch từ lần nhiễm ban đầu có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của lần tái nhiễm
SARS-Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp tái nhiễm đều ít nghiêm trọng hơn
so với nhiễm trùng ban đầu74, và ít nhất một trường hợp tái nhiễm gây tử vong đã được báo cáo ở một bệnh nhân đang điều trị và hóa trị liệu làm suy giảm tế bào B75 Việc tái nhiễm với biến thể vi rút SARS-CoV-2 đã được ghi nhận ở Brazil, Anh và Nam Phi Nguy cơ tái nhiễm tăng trong tương lai khi phơi nhiễm với biến thể vi rút SARS-CoV-
2 không được trung hòa bởi kháng thể Nguy cơ tái nhiễm phụ thuộc vào khả năng tái phơi nhiễm với các ca bệnh COVID-19 Chưa có dữ liệu về đặc tính thải vi rút và nguy
cơ tái nhiễm ở trẻ em
Sự tái nhiễm với biến thể Nam Phi B.1.351 với bệnh cảnh nghiêm trọng cũng đã
được ghi nhận ở một BN nam 58 tuổi miễn dịch bình thường (immunocompetent) và có
tiền sử hen suyễn 129 ngày sau đợt nhiễm đầu tiên, vào tháng 1/2021, anh ta nhập viện
vì khó thở và sốt hồi quy; XN SARS-CoV-2 RT-PCR dương tính và giải trình tự bộ gen xác định biến thể B.1.351 dòng 501Y.V2 07 ngày sau đó, bệnh nhân xuất hiện hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng cần đặt nội khí quản và thở máy; XN kháng thể dương tính với IgG chống lại SARS-CoV-276
Trang 2921
Sự tái nhiễm với VOC 202012/01 của dòng B.1.1.7 gây bệnh nặng sau khi nhiễm
vi rút hoang dại cũng đã được ghi nhận, xảy ra 8 tháng sau khi nhiễm lần đầu với bệnh cảnh nhẹ ở một bệnh nhân nam 78 tuổi với tiền căn chạy thận nhân tạo/ Đái tháo đường type 2/COPD/thiếu máu tim cục bộ77
Xét nghiệm virus SARS-CoV-2 dương tính sau khi hồi phục không có nghĩa đây
là tái nhiễm mà có thể là tái dương tính ở bệnh nhân COVID-19; việc xác định trình tự thể hiện một biến thể khác tại thời điểm tái nhiễm được cho là cần thiết để phân biệt Một số nghiên cứu đã báo cáo xét nghiệm RT-PCR dương tính ở những bệnh nhân có COVID-19 xác nhận phòng thí nghiệm sau khi cải thiện lâm sàng và kết quả âm tính ở hai xét nghiệm liên tiếp Tuy nhiên, những xét nghiệm dương tính này thường xảy ra ngay sau khi xét nghiệm âm tính, thường không liên quan đến các triệu chứng xấu đi,
có thể không đại diện cho vi-rút lây nhiễm và có khả năng không phản ánh sự tái nhiễm
Cụ thể, trong một báo cáo từ CDC Hàn Quốc về những bệnh nhân mắc bệnh
COVID-19 đã có kết quả xét nghiệm RNA dương tính lặp lại sau khi đã hết cách ly trước đó, virus lây nhiễm không thể được phân lập trong nuôi cấy tế bào ở bất kỳ bệnh nhân nào trong số 108 bệnh nhân được xét nghiệm Trong số 790 trường hợp tiếp xúc, không có trường hợp mới được xác nhận nào có dấu hiệu phơi nhiễm trong thời gian xét nghiệm dương tính lặp lại78
1.2.8 Nhóm đối tượng nguy cơ:
Theo US CDC, nhóm đối tượng nguy cơ diễn tiến nặng của COVID-19 bao gồm: người lớn (bất kỳ lứa tuổi nào) với các bệnh nền sau: Ung thư, suy thận mạn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hội chứng Down, bệnh tim (bệnh mạch vành, suy tim, viêm
cơ tim), tình trạng suy giảm miễn dịch, béo phì, mang thai, người hút thuốc lá, người mắc ĐTĐ type 2; người trên 65 tuổi79
77 David Harrington, Beatrix Kele, Spiro Pereira, Xose Couto-Parada, Anna Riddell, Suzanne Forbes, Hamish Dobbie, Teresa Cutino-Moguel,
Confirmed Reinfection with SARS-CoV-2 Variant VOC-202012/01, Clinical Infectious Diseases, 2021;
ciab014, https://doi.org/10.1093/cid/ciab014
78 Korean Centers for Disease Control and Prevention Findings from Investigation and analysis of re-positive cases https://www.cdc.go.kr/board/board.es?mid=a30402000000&bid=0030
79 https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/need-extra-precautions/older-adults.html
Trang 3022
1.2.9 Hệ số lây nhiễm cơ bản R0:
Trong dịch tễ học, hệ số lây nhiễm cơ bản (cũng được gọi là hệ số sinh sản cơ bản/hệ số tái sinh cơ bản/tỷ lệ sinh sản cơ bản; được ký hiệu là R0) của một bệnh truyền nhiễm là số trường hợp nhiễm bệnh mới dự kiến được tạo ra trực tiếp bởi một trường hợp nhiễm bệnh ban đầu
R 0 là chỉ số để xác định xem 1 bệnh truyền nhiễm mới nổi có thể lây lan trong
cộng đồng hay không Khi R0 > 1, sự lây nhiễm sẽ có thể bắt đầu lan rộng trong cộng
đồng, còn khi R0 < 1 thì sẽ không xảy ra dịch bệnh hoặc dịch bệnh được kiểm soát
Theo WHO, hệ số lây nhiễm cơ bản R0 của COVID-19 nằm trong khoảng 2-4, nghĩa là một bệnh nhân có thể lây nhiễm 2 đến 4 người khác
1.2.10 Triệu chứng lâm sàng
- Triệu chứng lâm sàng gây ra bởi SARS-COV-280:
Người mắc SARS-COV-2 có biểu hiện lâm sàng thay đổi từ không triệu chứng, nhẹ, đến nặng/ rất nặng, có thể dẫn tới tử vong, đặc biệt trên những cơ địa có bệnh lý nền, bệnh mạn tính, bệnh tự miễn/ suy giảm miễn dịch; người cao tuổi
Theo nghiên cứu quan sát 1.420 bệnh nhân COVID-19 ở mức nhẹ và vừa, các triệu chứng phổ biến có tỷ lệ xuất hiện như sau: đau đầu (70,3%), mất vị giác (70,2%), nghẹt mũi (67,8%), ho (63,2%), đau cơ (60,2%), đau họng (52,9%), sốt (45,4%)
Theo Hiệp hội các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính và mới nổi quốc tế (ISARIC) đối với 25.849 ca COVID-19 nhập viện với bệnh cảnh lâm sàng đa dạng, nhận thấy các triệu chứng nổi bật nhất vào thời điểm nhập viện (cỡ mẫu 25.849) bao gồm: sốt, khó thở, ho, mệt mỏi toàn thân Cũng theo một vài nghiên cứu, triệu chứng (nếu có) nổi bật nhất ở trẻ em là sốt và ho
Trong đó, triệu chứng giảm/ mất khứu giác cấp tính có khả năng gợi ý
COVID-19 ở những khu vực có lây lan trong cộng đồng, và, theo một số nghiên cứu, triệu chứng này nếu xuất hiện sẽ thường sau khởi phá triệu chứng sốt khoảng 4 ngày
Nguy cơ diễn tiến nặng: Theo nghiên cứu từ ISARIC, trong số 4.752 bệnh nhân nhập viện, khoảng 18% phải nhập các khoa hồi sức tích cực/ cấp cứu, 1.567 bệnh nhân
80 https://www.ecdc.europa.eu/en/covid-19/latest-evidence/clinical
Trang 3123
tử vong Theo một nghiên cứu tổng hợp, tỷ lệ chung về nhập viện, xuất hiện ARDS, và
tử vong do COVID-19 lần lượt là 10,9%; 18,4% và 4,3%81
1.2.11 Xét nghiệm bệnh COVID-19
Xét nghiệm chủ yếu hiện nay dùng trong chẩn đoán COVID-19 được Tổ chức Y
tế thế giới khuyến cáo là kỹ thuật real-time RT-PCR Quy trình xét nghiệm được đưa ra bởi Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật (CDC) Trung Quốc, Charite, HKU, NIID, NIH Thái Lan và CDC Hoa Kỳ Trong các phương pháp sinh học phân tử được
sử dụng, realtime RT-PCR là phương pháp phát hiện nhanh RNA của vi rút gây bệnh COVID-19 từ các mẫu bệnh phẩm dịch tiết mũi-hầu, máu và nước tiểu do thời gian xét nghiệm ngắn (4-6 giờ), độ nhạy và độ đặc hiệu cao, trang thiết bị không quá mắc tiền
và có thể thực hiện đồng thời trên số lượng mẫu lớn Phương pháp này cho phép phát hiện RNA của vi rút bằng các cặp mồi đặc hiệu cho gen E và gen RdRp hiện diện trên
bộ gen vi rút SARS-CoV-2 Realtime RT-PCR là phương pháp PCR cải tiến ngoài việc xác định mẫu bệnh phẩm dương tính còn có thể xác định tải lượng vi rút có trong mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân COVID-19 Kỹ thuật real-time RT-PCR đã được dùng để xét nghiệm mẫu ngáy mũi-họng và sau đó kỹ thuật ELISA đã được áp dụng trong chẩn đoán SARS-CoV ở mẫu máu
1.2.12 Biện pháp phòng chống
Để nhanh chóng ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19, bên cạnh các biện pháp phòng ngừa tích cực bao gồm: đeo khẩu trang, rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, giữ khoảng cách an toàn…, việc sử dụng vắc xin phòng ngừa chủ động càng ngày càng trở nên cấp bách tại từng quốc gia và toàn cầu Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19 là biện pháp chủ động, hiệu quả nhất để phòng, chống dịch COVID-19.Tính đầu tháng 5 năm 2021, hơn 1 năm sau khi phát hiện SARS-CoV-2, có khoảng hơn 180 dự án vắc-xin Covid-19 đang được triển khai, trong đó có hơn 90 loại đang được thử nghiệm trên người và một số vắc-xin đã được cấp phép sử dụng [15] Nhiều công nghệ điều chế vắc-xin được áp dụng, bao gồm các vắc-xin chứa: virus bất hoạt, tiểu đơn vị protein, mRNA, ADN, tiểu đơn vị protein,
81 Zhang JJY, Lee KS, Ang LW, Leo YS, Young BE Risk Factors of Severe Disease and Efficacy of Treatment in Patients Infected with COVID-19: A Systematic Review, Meta-Analysis and Meta-Regression Analysis Clin Infect Dis 2020 May 14
Trang 3224
vector virus khác loài… Những dữ liệu hiện có từ các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2
và 3 cho thấy các vắc-xin mới có khả năng bảo vệ cá thể khỏi bệnh và giảm lây lan trong cộng đồng [16-20]
Các vắc-xin tạo ra trên nền tảng công nghệ khác nhau có thể tạo ra các dạng miễn dịch khác nhau, mỗi dạng thích hợp trong các bối cảnh môi trường và con người khác nhau Theo thời gian, dữ liệu của các thử nghiệm lâm sàng sẽ cho biết khả năng bảo vệ
do vắc-xin gây ra sẽ kéo dài bao lâu và nên tiêm nhắc lại tần suất như thế nào để duy trì
sự bảo vệ Một thông tin cần có từ những bước đầu là miễn dịch do vắc-xin tạo ra có tương đồng với miễn dịch sau khỏi bệnh
Bảng 3 Các vắc xin COVID-19 được cấp phép khẩn cấp
Pfizer/BioNTech
(BNT162b2)
Sử dụng mRNA mã hóa dạng đột biến của protein gai S của virus
Tiêm 2 liều có hiệu lực bảo vệ 95% ở những người từ 16 tuổi Miễn dịch tạo được bởi vắc xin cao hơn so với nhiễm tự nhiên, ngay cả với người cao tuổi [18]
Moderna Biotech
(mRNA-1273)
Sử dụng mRNA mã hóa dạng đột biến của protein gai S của virus
Tiêm 2 liều có hiệu lực bảo vệ gần 92%, từ sau ngày 14 của liều thứ nhất Miễn dịch tạo được bởi vắc xin cao hơn so với nhiễm tự nhiên, ngay cả với người cao tuổi [15, 19]
(ChAdOx1) mã hóa protein
S của virus SARS-CoV-2
Tiêm 2 liều có hiệu lực ngừa bệnh Covid-19 # 82% [17] Không có công bố rõ ràng nhưng có thông tạo miễn dịch tạo được bởi vắc xin cao hơn so với nhiễm tự nhiên
Johnson &
Johnson/ Janssen
Sử dụng vector Adenovirus týp huyết thanh 26 (Ad26) tái
Tiêm 1 liều duy nhất, hiệu lực phòng ngừa 66,9% chống lại bệnh
Trang 33Covid-19 có triệu chứng, ngăn ngừa được 93% trường hợp phải nhập viện [21] Miễn dịch tạo được bởi vắc xin cao giống với nhiễm tự nhiên ở người trẻ, thấp hơn nhiễm tự nhiên ở người trên
Tiêm 2 liều chứa rAd26 và rAd5 riêng biệt, đạt hiệu lực 91.6% [16]
Sinovac Biotech
(CoronaVac)
Sử dụng virus SARS-CoV-2 bất hoạt
Một số thử nghiệm tại các nước đưa ra nhiều tỉ lệ hiệu quả khác nhau Kết quả thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 tại thổ Nhĩ Kỳ cho thấy hiệu lực đạt 83.7%, tuy nhiên thử nghiệm tại Brazil chỉ đạt được 50.4% Miễn dịch tạo được bởi vắc xin thấp hơn so với nhiễm tự nhiên [22]
Sinopharm
(BBIBP-CorV)
Sử dụng virus SARS-CoV-2 bất hoạt
Thử nghiệm giai đoạn 3 tại các tiểu vương quốc Ả rập (UAE) thông báo hiệu lực vắc xin đạt 79% Miễn dịch tạo được bởi vắc xin thấp gần tương tương so với nhiễm tự nhiên [23]
Trang 3426
1.3 Dịch tễ học bệnh COVID-19
1.3.1 Trên thế giới
Ca bệnh COVID-19 đầu tiên được ghi nhận tại Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng
12 năm 2019 Ban đầu trong đợt bùng phát, nhiều bệnh nhân được ghi nhận có mối liên
hệ với một chợ lớn hải sản và động vật sống, tuy nhiên, những trường hợp sau đó không
có mối liên hệ với chợ đã xác nhận lây truyền bệnh từ người sang người Ngoài ra, các trường hợp xâm nhập liên quan đến du lịch đã xảy ra Kể từ ca bệnh đầu tiên, dịch bệnh
đã nhanh chóng lan ra 31/31 tỉnh/thành phố của Trung Quốc.82 Trung Quốc đã triển khai các biện pháp can thiệp mạnh mẽ nhằm ngăn chặn sự lan rộng của vi rút như phong tỏa thành phố Vũ Hán và vùng phụ cận cũng như nghiêm cấm đi và đến vùng dịch.83
Với tính cấp bách và nguy cơ lây lan dịch ra toàn cầu, ngày 30/01/2020, Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 gây ra là tình trạng khẩn cấp y tế công cộng gây quan ngại toàn cầu Ngày 11/03/2020, WHO tuyên bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu Trong bối cảnh dịch lây lan mạnh toàn cầu, ngày 25/10/2020, WHO cảnh báo về khả năng chịu đựng của hệ thống y tế trong đối phó với làn sóng dịch thứ hai
Hình 3 Phân bố ca bệnh COVID-19 trên toàn cầu, đến 31/5/2021 84
82 Novel Coronavirus(2019-nCoV): Situation Report - 15, 04 February 2020 In Geneva: World Health Organization, 2020; 2020.
83Callaway E, Cyranoski D China coronavirus: Six questions scientists are asking Nature 2020; 577(7792):605-607
Trang 3527
Kể từ khi được phát hiện đến ngày 31 tháng 5 năm 2021, theo số liệu của WHO, trên quy mô toàn cầu, dịch bệnh đã gây nhiễm cho 170.051.718 người, trong đó 3.540.437 người tử vong 84
Hình 4 Phân bố bệnh COVID-19 theo châu lục 84Dịch COVID-19 ghi nhận cao nhất tại Châu Mỹ với hơn 67 triệu ca mắc chiếm 39,4% số mắc toàn cầu, tiếp theo là Châu Âu với 54 triệu ca mắc chiếm 31,8% số mắc toàn cầu Số mắc tại hai châu lục này duy trì ở mức cao trong cả làn sóng dịch đầu tiên
và thứ hai Khu vực Đông Nam Châu Á ghi nhận số mắc thấp giai đoạn đầu đại dịch hiện đang có xu hướng gia tăng mạnh mẽ, đến nay đã ghi nhận trên 31 triệu ca mắc chiếm 18,2% số mắc toàn cầu 84
84 WHO Coronavirus (COVID-19) Dashboard Accessed at: https://covid19.who.int/
Trang 3628
Hình 5 Diễn biến dịch Covid-19 toàn cầu: Số người đang điều trị trong các bệnh
viện trên một triệu dân (Nguồn: Worldometer)
Theo số liệu COVID-19 toàn cầu, số người đang được điều trị trong các bệnh viện tăng từ 10 người/1 triệu dân khi WHO công bố đại dịch Covid-19 ngày 11/3/2020, đạt đỉnh 2.461 người/1 triệu dân vào ngày 24/01/2021, sau đó giảm dần Tức là xét góc
độ toàn thế giới, loài người vừa trải qua làn sóng thứ 1 của đại dịch Covid-19 Nếu như nhiều nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á từ tháng 3/2021 không nới lỏng các quy định phòng, chống dịch thì số người đang được điều trị trên một triệu dân sẽ tiếp tục giảm (Hình 3), song các biện pháp nới lỏng thực tế đã làm dịch bùng phát trở lại từ 11/3/2021, đúng một năm sau khi WHO xác nhận có đại dịch Covid-19 toàn cầu Đến ngày 30/4/2021 có 2.455 người đang được điều trị/1 triệu dân, tương ứng đỉnh dịch của làn sóng thứ 1 (2.461 người)
Hình 6 Diễn biến dịch Covid-19 ở Ấn Độ (Nguồn: Worldometer)
Trong làn sóng dịch thứ hai, Ấn Độ là quốc gia liên tục ghi nhận số mắc và tử vong do COVID-19 vượt qua mọi kỷ lục trước đó Ngày 11/3/2020, khi WHO tuyên bố
có đại dịch toàn cầu, thì Ấn Độ chỉ có 58 người đang được điều trị, bằng 0,4% ngưỡng
có dịch Chỉ hơn một tháng sau, ngày 19/4/2020, số người đang điều trị là 14.203, vừa
Trang 3729
vượt ngưỡng có dịch Đến ngày 18/9/2020, dịch đạt đỉnh lần thứ 1, với 1.014.649 người đang điều trị, gấp 74 lần ngưỡng có dịch Như vậy, quá trình gia tăng lây nhiễm toàn quốc của làn sóng dịch thứ nhất kéo dài năm tháng, từ ngày 19/4/2020 đến 18/9/2020 Các nỗ lực của Chính phủ Ấn Độ, các bang và người dân trong năm tháng này đã chặn được sự gia tăng lây nhiễm, do đó số người đang được điều trị giảm dần, Hình 2 Các giải pháp phòng, chống dịch này cũng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân và hoạt động kinh tế Ngày 16/2/2021, tức là sau năm tháng từ khi làn sóng dịch thứ nhất đạt đỉnh (ngày 18/9/2020) số người đang được điều trị giảm còn 138.254, tức giảm 86% so với đỉnh dịch (1.014.649), số người đang được điều trị chưa bằng 14% lúc cao nhất Đây là kết quả rất có ý nghĩa và chính lúc này, Chính phủ Ấn
Độ đã nới lỏng hàng loạt biện pháp chống dịch: người dân được tham dự các lễ hội truyền thống, các cuộc mít-tinh, vận động bầu cử, việc đeo khẩu trang bị lơ là Chỉ trong vòng hai tháng sau đó, Ấn Độ bùng phát dịch với mức độ chưa từng có, số người đang được điều trị tăng vọt từ 138.254 người lên 1.679.121 vào ngày 16-4-2021 và sau đó hai tuần lên mức 3.272.256 gấp 240 lần ngưỡng có dịch (Hình 4) Số người chết từ ngày 16/2/2021 đến 30/4/2021 là 55.890 người, nhiều hơn số người chết của hơn bảy tháng đầu năm 2020 (15/01/2020 đến 20/8/2020) là 54.975 người
Trang 3830
Hình 7 Ước tính tỷ lệ tử vong do COVID-19 theo quốc gia, năm 2020 (theo kết
quả từ các nghiên cứu ở cấp độ quốc gia) 85
Năm 2020, một nghiên cứu tổng quan do WHO công bố đã ghi nhận tỷ lệ tử vong
do COVID-19 có sự dao động khá lớn giữa các quốc gia cũng như giữa các nghiên cứu khác nhau trong cùng quốc gia85
Dịch tễ của bệnh COVID-19 thay đổi từng ngày Chỉ mất 6,4 đến 7,4 ngày để số
ca mắc tăng gấp đôi.86,87 Tỷ lệ chết trên mắc là 2,2%, cao hơn so với bệnh nhiễm trùng
hô hấp thông thường như cúm mùa (tỷ lệ tử vong: 0,15-0,25%) nhưng COVID-19 thấp hơn rất nhiều với bệnh do vi rút corona khác, thấp hơn gần 5 lần so với SARS-CoV (10%), thấp hơn 17 lần so với MERS-CoV (34,4%)
Tới ngày 20/7/2021, số ca tích lũy được báo cáo trên toàn cầu hiện là hơn 190 triệu và số ca tử vong vượt quá 4 triệu Với tốc độ này, dự kiến số ca tích lũy được báo cáo trên toàn cầu có thể vượt quá 200 triệu trong ba tuần tiếp theo
Trên toàn cầu, các trường hợp của biến thể Alpha đã được báo cáo ở 180 quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc khu vực (sau đây là các quốc gia; sáu quốc gia mới trong tuần qua), trong khi 130 quốc gia (bảy quốc gia mới) đã báo cáo các trường hợp biến thể Beta; 78 quốc gia (ba quốc gia mới) đã báo cáo các trường hợp nhiễm Gamma; và 124 quốc gia (13 quốc gia mới) đã báo cáo các trường hợp mắc biến thể Delta Sự gia tăng lây truyền dường như được thúc đẩy bởi bốn yếu tố: sự lưu hành của các Biến thể (VOCs), nới lỏng các biện pháp xã hội về sức khỏe cộng đồng ban đầu nhằm kiểm soát
sự lây truyền, sự gia tăng sự hòa trộn trong xã hội và số lượng lớn những người vẫn còn nhạy cảm lây nhiễm SARS-CoV-2 do phân phối vắc xin không công bằng trên khắp thế giới
1.3.2 Tại Việt Nam
Dịch COVID-19 ghi nhận tại Việt Nam từ khá sớm, ngay từ tháng 1/2020 nước
ta đã ghi nhận ca bệnh đầu tiên xâm nhập là trường hợp có quốc tịch Trung Quốc từ Vũ Hán đến thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đến nay, Việt Nam đã trải qua 4 đợt dịch, trong
85 John P A Ioannidis Infection fatality rate of COVID-19 inferred from seroprevalence data Bulletin of the World Health Organization; Type: Research Article ID: BLT.20.265892 https://www.who.int/bulletin/online_first/BLT.20.265892.pdf
86 Wu JT, Leung K, Leung GM Nowcasting and forecasting the potential domestic and international spread of the 2019-nCoV outbreak
originating in Wuhan, China: a modelling study Lancet 2020;395(10225):689-697
87 Li Q, Guan X, Wu P, Wang X, Zhou L, et al Early transmission dynamics in Wuhan, China, of novel coronavirus-infected pneumonia N Engl J Med 2020;382(13):1199-1207
Trang 3931
đó đợt dịch hiện tại từ tháng 4/2021 đến nay đã ghi nhận trên 3.000 ca bệnh tại gần 20 tỉnh, thành phố Tính đến thời điểm ngày 23/7/2021, Việt Nam đã ghi nhận 81.678 ca dương tính với COVID-19, trong đó 370 ca tử vong, tỷ lệ chết/mắc khoảng 0,45% 88
Hình 8 Phân bố ca bệnh COVID-19 tại Việt Nam trong đợt dịch thứ 4 88
Có hơn một phần hai (751, 53%) trường hợp mắc là ca xâm nhập, trong đó 90,7%
có quốc tịch Việt Nam Tuổi của các ca bệnh từ 2 tháng đến 100 tuổi, 62,3% ca bệnh từ 30-69 tuổi, 4,3% trên 70 tuổi, và 33,4% dưới 30 tuổi Giới nam và nữ lần lượt chiếm 53,5% và 44,5%
88 Trang thông tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 của Bộ Y tế https://ncov.moh.gov.vn/ Truy cập ngày 04/6/2021
Trang 4032
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu 1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học của tối thiểu 50 ca bệnh Covid-19 tại miền Bắc
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Ca bệnh Covid-19 tại khu vực miền Bắc trong thời gian triển khai nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí sau:
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chọn và loại trừ đối tượng:
- Tiêu chuẩn chọn người nhiễm COVID-19 xác định:
o Trường hợp 1: Ca có xét nghiệm khẳng định nhiễm vi rút COVID-19 bằng xét nghiệm sinh học phân tử từ trường hợp bệnh nghi ngờ tại cơ sở y tế hay cộng đồng cả hồi cứu và tiến cứu
o Ca nghi ngờ là trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, với các biểu hiện sốt, ho hoặc khó thở và có một trong các yếu tố dịch tễ sau: Có tiền sử đến/ở/về vùng có dịch trong vòng 14 ngày trước khi khởi phát bệnh; hoặc tiếp xúc (trong vòng 2 mét) với trường hợp mắc hoặc nghi ngờ mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp do COVID-19
HOẶC
o Trường hợp 2: là người nước ngoài khởi phát ở Việt Nam và có xét nghiệm khẳng định nhiễm COVID-19 phản hồi qua hệ thống đầu mối quốc gia về Điều lệ y tế quốc tế, hay có thông tin phản hồi tờ thông tin y tế khẳng định nhiễm COVID-19
o Bất kỳ lứa tuổi nào và không giới hạn về địa lý
o Có khả năng và sẵn sàng ký Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (Phụ lục 3), hoặc được xem xét và ký bởi cha mẹ hay người đại diện hợp pháp nếu bệnh nhân dưới 18 tuổi hay có biểu hiện nặng về lâm sàng (không áp dụng với trường hợp 2)
- Tiêu chuẩn loại trừ:
o Người mắc bệnh tâm thần mà không có người giám hộ
o Có trên một thành viên trong gia đình có ngày khởi phát bệnh giống nhau