Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thu được kết quả của các thí nghiệm như sau: - Chần vỏ bưởi đã xử lý loại phần vỏ xanh bên ngoài và phần xơ trắng bên trong trong nước sôi trong thời
Trang 1Cán bộ thư viện, cán bộ phòng thí nghiệm bộ môn Công Nghệ Thực Phẩm, khoa Nông Nghiệp – Tài Nguyên Thiên Nhiên, Trường Đại học An Giang, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên lớp Công Nghệ Thực Phẩm, khoá 2, khoa Nông Nghiệp – Tài Nguyên Thiên Nhiên đã động viên giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài tại phòng thí nghiệm
Xin chân thành cảm ơn
Trang 2TÓM LƯỢC
Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới ẩm, có nền nông nghiệp phát triển, hàng năm sản xuất một lượng lớn sản phẩm nông nghiệp, nên lượng phụ phẩm nông nghiệp cũng rất lớn, do đó việc tận dụng nguồn phụ phẩm này là điều cần thiết Qua quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nghiên cứu và tạo ra sản phẩm mới “Vỏ bưởi tẩm đường” từ nguồn phụ phẩm
là vỏ bưởi dựa trên qui trình của các loại mứt đông có chứa hàm lượng pectin cao
Để tạo ra sản phẩm vỏ bưởi tẩm đường có độ cứng, độ trong và mùi
vị hài hòa, chúng tôi tiến hành các thí nghiệm sau:
- Khảo sát ảnh hưởng của thời gian chần và số lần xả đến vị the và đắng của vỏ bưởi
- Khảo sát ảnh hưởng của thời gian nấu vỏ bưởi trong dung dịch acid citric 0,2% đến cấu trúc và màu sắc của sản phẩm
- Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ vỏ bưởi : đường và nồng độ acid citric đến cấu trúc, màu sắc và mùi vị của sản phẩm
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thu được kết quả của các thí nghiệm như sau:
- Chần vỏ bưởi đã xử lý (loại phần vỏ xanh bên ngoài và phần xơ trắng bên trong) trong nước sôi trong thời gian 5 phút và xả nước lạnh 2 lần
- Nấu trong dung dịch acid citric 0,2% trong thời gian 10 phút
- Cho vỏ bưởi đã được xử lý vị the và đắng vào dung dịch đường với
tỉ lệ vỏ bưởi : đường tinh thể là 1 : 1,25, tỉ lệ acid citric bổ sung là 0,5% (so với khối lượng vỏ bưởi), và tỉ lệ lượng nước trong dung dịch đường so với vỏ bưởi là 2 : 1, sau đó cô cạn dung dịch đường
- Sản phẩm sau khi cô cạn trong dung dịch đường được sấy ở nhiệt
độ 65oC trong thời gian 2 giờ, nhằm làm ráo bề mặt giúp tiện lợi khi sử dụng
và tăng thời gian bảo quản
Trang 3Do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên không thể nghiên cứu hết các yếu tố ảnh hưởng cũng như không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
2.2 Pectin, cellulose và các chất đắng trong vỏ bưởi 4
2.2.3 Các thành phần gây đắng trong vỏ bưởi (naringin và hisperdin) 11
Trang 42.6.1 Bản chất quá trình 15
Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
4.1 Ảnh hưởng của thời gian chần và số lần xả đến vị the
4.2 Ảnh hưởng của thời gian nấu trong dung dịch acid citric 0,2%
4.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ vỏ bưởi : đường và nồng độ acid citric
đến cấu trúc, màu sắc và mùi vị của sản phẩm 30
Trang 5DANH SÁCH BẢNG Bảng
1 Kết quả cảm quan về vị the và đắng của vỏ bưởi theo sự
2 Kết quả cảm quan về cấu trúc và màu sắc sản phẩm theo
sự thay đổi thời gian nấu trong dung dịch acid citric 0,2% 27
3 Kết quả về độ cứng, độ ẩm, a w , hàm lượng đường, hàm
lượng acid của sản phẩm theo sự thay đổi thời gian nấu
4 Kết quả cảm quan về cấu trúc, màu sắc và mùi vị sản
phẩm theo sự thay đổi tỷ lệ vỏ bưởi : đường và nồng độ
5 Kết quả về độ cứng, độ ẩm, a w , hàm lượng đường, hàm
lượng acid của sản phẩm theo sự thay đổi tỷ lệ vỏ bưởi :
PHỤ CHƯƠNG
8 Bảng cảm quan về cấu trúc, màu sắc, mùi vị sản phẩm pc-1
9 Bảng cảm quan về vị the và đắng của vỏ bưởi sau chần và
10 Bảng qui đổi ra hàm lượng đường nghịch chuyển theo số
11 Bảng ANOVA kết quả cảm quan về vị the và đắng của vỏ
bưởi theo sự thay đổi thời gian chần và số lần xả pc-5
12 Bảng ANOVA kết quả cảm quan về cấu trúc sản phẩm
theo sự thay đổi thời gian nấu trong dung dịch acid citric
13 Bảng ANOVA kết quả cảm quan về màu sắc sản phẩm theo
sự thay đổi thời gian nấu trong dung dịch acid citric 0,2% pc-8
14 Bảng ANOVA kết quả về độ cứng của sản phẩm theo sự
thay đổi thời gian nấu trong dung dịch acid citric 0,2% pc-9
15 Bảng ANOVA kết quả về độ ẩm của sản phẩm theo sự thay pc-10
Trang 6đổi thời gian nấu trong dung dịch acid citric 0,2%
16 Bảng ANOVA kết quả về hàm lượng acid của sản phẩm
theo sự thay đổi thời gian nấu trong dung dịch acid citric
17 Bảng ANOVA kết quả cảm quan về cấu trúc sản phẩm
theo sự thay đổi tỷ lệ vỏ bưởi : đường và nồng độ acid
18 Bảng ANOVA kết quả cảm quan về màu sắc sản phẩm
theo sự thay đổi tỷ lệ vỏ bưởi : đường và nồng độ acid
19 Bảng ANOVA kết quả cảm quan về mùi vị sản phẩm theo
sự thay đổi tỷ lệ vỏ bưởi : đường và nồng độ acid citric pc-15
20 Bảng ANOVA kết quả về độ cứng của sản phẩm theo sự
thay đổi tỷ lệ vỏ bưởi : đường và nồng độ acid citric pc-16
21 Bảng ANOVA kết quả về độ ẩm của sản phẩm theo sự thay đổi tỷ lệ vỏ bưởi : đường và nồng độ acid citric pc-18
DANH SÁCH HÌNH Hình
1 Cấu tạo hóa học của acid pectic và ester methylic của
2 Vỏ bưởi nguyên liệu trước xử lý và sau xử lý 11
4 Qui trình chế biến tổng quát sản phẩm vỏ bưởi tẩm 19
Trang 75 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thời gian chần và
số lần xả đến vị the và đắng của vỏ bưởi 21
6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thời gian nấu vỏ
7 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của tỷ lệ vỏ bưởi :
đường và nồng độ acid citric đến cấu trúc, màu sắc, mùi vị
8 Sản phẩm nấu trong dung dịch acid citric 0,2% với các
9 Sản phẩm với các tỷ lệ vỏ bưởi : đường và các nồng độ
Trang 8Chương 1.GIỚI THIỆU 1.1.Đặt vấn đề
Bưởi là một loại quả mang nhiều dược tính và phổ biến trên thế giới Thịt quả là phần được dùng chủ yếu nhưng phần vỏ quả lại chiếm một tỷ lệ lớn và mang nhiều thành phần có giá trị như pectin, tinh dầu thơm… Một số nước trên thế giới đã chiết xuất các thành phần này sản xuất nhiều loại mỹ phẩm Ở Việt Nam, phần vỏ xanh bên ngoài là vị thuốc nam thông dụng, đặc biệt phần vỏ giữa được chế biến thành các món ăn được nhiều người ưa thích như chè bưởi hay nem bưởi Vỏ bưởi có chứa hàm lượng lớn pectin và cellulose Về y học, pectin là loại thuốc cầm máu hiệu quả Về dinh dưỡng, nhiều nghiên cứu cho thấy pectin có tác dụng ức chế vi khuẩn đường ruột, cải thiện các quá trình tiêu hoá, có công hiệu cao trong các trường hợp ngộ độc chì, thúc đẩy quá trình liền sẹo,… Cellulose cũng có nhiều tác dụng tích cực như: phòng ngừa ung thư ruột kết, phòng ngừa xơ vữa động mạch, phòng ngừa hình thành sỏi mật, giảm hàm lượng mỡ trong máu,… Tuy nhiên, các món ăn được chế biến từ vỏ bưởi chưa nhiều và chưa thật phổ biến trong khi một lượng lớn vỏ bưởi chưa được tận dụng Do đó, việc chế biến và đa dạng hoá các sản phẩm chế biến từ vỏ bưởi là điều cần thiết
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng tôi đã tạo ra sản phẩm “Vỏ bưởi tẩm đường”, dựa trên qui trình chế biến các sản phẩm mứt đông có hàm lượng pectin cao từ nguồn nguyên liệu là phần vỏ giữa của quả bưởi
Sản phẩm vỏ bưởi tẩm đường có độ dòn và độ trong nhất định của gel hình thành từ pectin có trong vỏ bưởi, với vị chua ngọt do sự kết hợp giữa lượng đường và lượng acid citric có trong sản phẩm Sản phẩm được sấy ở nhiệt độ 65oC trong thời gian 2 giờ nhằm làm cho sản phẩm có bề mặt ráo, tiện lợi khi sử dụng, tăng giá trị dinh dưỡng và kéo dài thời gian bảo quản
Tóm lại: sản phẩm vỏ bưởi tẩm đường là sản phẩm vừa góp phần đa dạng hoá các sản phẩm chế biến từ vỏ bưởi, vừa là món ăn cung cấp năng lượng, hỗ trợ tiêu hoá, đồng thời tận dụng được nguồn phế phẩm, mang lại giá trị kinh tế
Trang 91.2.Mục đích
Nhằm tạo ra sản phẩm mới “Vỏ bưởi tẩm đường” có độ dòn, độ trong, màu sắc và mùi vị hài hòa trên nguồn nguyên liệu là vỏ bưởi, với các công đoạn sau:
- Loại vị the và đắng của vỏ bưởi bằng cách chần vỏ bưởi trong nước sôi và xả lại với nước lạnh
- Tẩm đường vỏ bưởi bằng cách cho vỏ bưởi vào dung dịch đường và
cô cạn dung dịch đường Sau đó sấy ráo và cho vào bao PE dày bảo quản
Trang 10Chương 2.LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Vài nét về đặc tính của bưởi
Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp (1991), bưởi là loại cây ăn quả
thuộc họ cam quýt (Rutaeae), có tên khoa học là Citrus grandis osbeck, cây
gỗ, cao 5 – 6 m, có thể trồng bằng hạt hoặc bằng chiết ghép Có rất nhiều loại bưởi như: bưởi Năm Roi, bưởi Đoan Hùng, bưởi Chùm…
Bưởi được trồng nhiều trên khắp thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, bờ biển Địa Trung Hải, Tây Ban Nha, Hungary, Mỹ… Thu hoạch chủ yếu vào mùa thu, phân bố những nơi có không khí ấm áp, hoa năm cánh, quả do rất nhiều túi dịch quả tạo thành
Quả bưởi được sử dụng chủ yếu phần thịt quả, thịt quả có vị thơm ngọt, hương thơm đặc biệt Là loại quả không còn tinh bột sau chín nên không tiếp tục chín thêm
Bưởi là đặc sản quí, có giá trị dinh dưỡng cao, ngoài đường (8 - 10%), bưởi đặc biệt rất giàu vitamin C (90 - 100 mg), acid hữu cơ (0,2 - 1%),
và pectin (0,45 – 0,5%) Trong vỏ bưởi có nhiều tinh dầu chứa dẫn xuất tecpen (xitran - C10H6O, d-limonen - C10H6), pectin, men pectin, men oxy hoá, nhiều glucoside đắng (naringin - C27H32O14, hisperdin - C28H34O5 )
Ngoài ăn tươi, bưởi còn có thể chế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị như các loại nước giải khát, lấy tinh dầu từ vỏ, hạt, các sản phẩm truyền thống như chè bưởi, nem bưởi,…
Bưởi là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Nếu biết chọn lọc giống, có kĩ thuật thâm canh, biết tổ chức sản xuất thành vùng thì giá trị kinh tế còn cao hơn Bưởi nước ta có trên 100 giống khác nhau
Phân biệt một số giống bưởi:
Bưởi Phúc Trạch: huyện Hương Khê, tỉnh Nghệ Tỉnh Quả hình cầu
hay hơi dẹt hai đầu, trọng lượng trung bình 1 kg Tép mọng nước, ăn ngọt đậm, thanh chua Chín vào tháng chín Được xem là một trong những giống ngon nhất hiện nay
Trang 11Bưởi Đoan Hùng: được trồng nhiều ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Vĩnh
Phú Quả hình tròn hơi dẹt hai đầu, trọng lượng trung bình 1 kg Chín rộ vào tháng chín và tháng mười Quả nhiều nước, tép mịn, ngọt dịu và thơm
Bưởi Nông nghiệp I (còn gọi là pumêlô): là giống bưởi nhập nội,
được thuần hóa Cây có tán đẹp Quả to trung bình 2 kg, có quả to hơn 5 kg, tép màu hồng, mộng nước, ăn ngon và thơm dịu Vì quả to nên người tiêu dùng chọn bài mâm ngũ quả ngày Tết
Bưởi đỏ Mê Linh: được trồng nhiều ở xã Văn Quán, huyện Mê
Linh, ngoại thành Hà Nội Quả thon dài, trọng lượng bình quân 1 kg Khi chín vỏ quả, cùi và tép đều đỏ, ăn ngọt, ngon, bày đẹp
Bưởi Biên Hòa: Vùng bưởi nổi tiếng ở cù lao Phố và cù lao Tân
Triều, bên sông Đồng Nai, có nhiều giống như: bưởi Thanh Trà, bưởi da láng, bưởi da có, bưởi đường, bưởi ổi, giống ngon là bưởi ổi Quả tuy không to lắm nhưng khi chín ăn rất ngọt, có vị ổi, có thể để dành được lâu, càng để lâu quả càng ngọt
Bưởi Năm roi, một trong những giống bưởi được xem ngon hiện
nay, có nhiều ở ven sông Hậu, tuy nhiên phải chọn trồng ở đất Bình Minh, Vĩnh Long mới “ngon đúng mức” Bưởi Năm Roi Bình Minh khi chín có màu vàng xanh rất tươi và quả có hình quả lê, vỏ tróc và múi bưởi trong, vị ngọt nhiều, chua ít Bưởi có nhiều vào mùa Trung thu và tết Nguyên đán Năng suất đạt 15 – 20 tấn/ năm Toàn huyện có trên 2000 ha đất trồng bưởi
2.2 Pectin, cellulose và các chất đắng trong vỏ bưởi
2.2.1 Pectin
Pectin là polysaccharide có nhiều trong quả, củ, hay thân cây Các loại thuộc polysaccharide keo hoặc glucopolysaccharide là loại có mặt chủ yếu trong các sản phẩm thực phẩm Các chất pectin có thể coi như hemicellulose vừa có chức phận chống đỡ, bảo vệ, vừa có giá trị dinh dưỡng nhất định Trong thực vật, pectin tồn tại hai dạng:
Dạng protopectin không tan: là những pectin nguyên thủy của thực vật không tan trong nước Có mặt trong các thực phẩm thực vật, tồn tại chủ yếu ở thành tế bào và các lớp gian bào, đóng vai trò chất “cốt”, “ximăng”, ở
Trang 12dạng liên kết với polysaccharide khác như araban, tinh bột, cellulose, galactan Chúng tạo thành các lớp ở trung gian giữa các tế bào Protopectin
có nhiều trong các quả xanh, do đó quả xanh thường cứng Trong quá trình chín, protopectin bị phân giải, quả dần trở nên mềm Lượng pectin ở rau quả đun chín cao hơn ở quả còn tươi vì một phần được tạo từ protopectin
Dạng pectin hoà tan: chủ yếu ở dịch tế bào, thuộc nhóm chất hoà tan, đồng hoá được trong cơ thể
2.2.1.1.Cấu tạo hoá học
Pectin thường gồm một phân tử polysaccharide và một acid pectic Acid pectic là phần chủ yếu
Về cấu trúc hóa học, acid pectic có các chuỗi dài, gồm khoảng 100 đơn vị acid α- D - galacturonic, liên kết nhau theo dây nối α – 1- 4 dễ bị phân huỷ, còn gọi là acid polygalacturonic Pectin hoà tan trong tự nhiên là ester methylic của acid pectic
Ester - methylic của acid pectic
Hình 1:Cấu tạo hoá học của acid pectic và ester methylic của acid pectic
Trong thực tế không phải bao giờ, tất cả các nhóm - COOH ở C6 của đường galactose cũng bị methyl hoá (tạo ester methylic ), mà đôi khi một số nhóm - COOH bị decarboxyl hoá (khử CO2), một số nhóm - COOH được thay thế H bằng kim loại, cũng có lúc giữ nguyên dạng - COOH… Tùy theo mức độ ester hóa mà người ta chia ra : loại pectin có nhiều nhóm methoxyl và loại pectin có ít nhóm methoxyl (có dưới 40% số nhóm carboxyl bị ester
Trang 13hóa) Người ta cho rằng protopectin là hợp chất giữa pectin với nhau qua cầu nối calxi, phospho và ngoài ra còn có sự kết hợp với cellulose, araban, galactan hay tinh bột.
Các cây khác nhau chứa pectin khác nhau về khối lượng phân tử, về
sự phân bố các nhóm ester và mức độ ester hóa
2.2.1.2 Tính chất và những vai trò
Pectin ở dạng bột vô định hình màu xám trắng, tan trong nước, tan trong formamid, trong glyxerin nóng Độ hòa tan tăng khi mức độ methyl ester hóa tăng, nếu phân tử càng lớn thì độ tan giảm Pectin không tan trong ethanol, isopropanol, aceton nên có thể dùng các dung môi này để kết tủa Pectin kết tủa bởi các muối đa hóa trị như CuSO4, Pb(CH3COO)2 hoặc Pb(NO3)2, FeCl2
Dưới tác dụng của acid, hay enzyme pectinase hay khi đun sôi, protopectin chuyển thành pectin hoà tan Do đó, chất pectin giữ vai trò quan trọng trong quá trình chín của quả Khi quả còn xanh và đang phát triển, protopectin phân tán ở thành tế bào với tỷ lệ khá cao làm quả cứng Khi quả bắt đầu chín, protopectin chuyển dần sang dạng pectin hoà tan dưới tác dụng của acid hữu cơ và enzyme protopectinase trong quả, quả càng chín càng mềm, pectin hoà tan tăng cao, pectin không hoà tan sẽ giảm dần Khi rau quả
bị nấu chín, các thành phần pectin không hoà tan trong nước sẽ bị thuỷ phân thành pectin hoà tan Kết quả là tạo độ mềm cho rau quả Khi thuỷ phân với acid và có mặt của đường ở nồng độ cao, thành phần pectin không hoà tan trong nước có thể tạo thành gel hoặc các phần keo lơ lửng có độ nhớt cao
Một đặc tính quan trọng của pectin là khả năng tạo gel Khi có mặt của đường và acid nó có thể tạo thành chất keo Vì vậy, được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất mứt kẹo Để tạo thành gel pectin, có thể thêm đường saccharose với tỷ lệ 65 – 70% (bão hoà đường) và tạo môi trường acid với pH
= 3,1 – 3,5 nhờ acid hữu cơ như acid citric Do đặc tính này, người ta chế biến một số loại sản phẩm từ rau quả với các loại rau quả có chứa đồng thời đường và acid với tỷ lệ cao, thành phần pectin sẽ tạo thành dạng keo làm đặc nước quả Pectin từ nguồn gốc khác nhau sẽ khác nhau về khả năng tạo gel và
Trang 14khác nhau về số nhóm methoxyl (-OCH3) Pectin từ thực vật khác nhau sẽ có khối lượng phân tử khác nhau.
VD: Trọng lượng phân tử (M) pectin của mận là 25.000 và của cam
là 50.000
Do pectin là ester của acid pectic Dưới ảnh hưởng của enzyme pectinase, pectin bị thủy phân tới các thành phần đơn giản hơn là đường và acid tetragalacturonic Do tác dụng của enzyme này, nhóm methoxyl tách khỏi pectin nên pectin mất tính gel Đặc tính này quan trọng trong sản xuất các loại nước quả hay furê quả, đặc biệt với các loại quả chứa cả pectin và enzyme pectinase, nếu paste cà chua và nước cà chua được chuẩn bị ở dạng tươi thì độ nhớt của sản phẩm sẽ bị giảm dần do hoạt động của enzyme pectinase trên gel pectin Điều này có thể không xảy ra nếu xử lý nhiệt nhanh sản phẩm ở khoảng nhiệt độ 82oC (180oF) nhằm vô hoạt enzyme pectinase được giải phóng từ tế bào suy thoái trước khi chúng có cơ hội thủy phân các hợp chất pectin Việc xử lý như vậy thông thường được thực hiện trong chế biến paste cà chua hoặc nước cà chua Điều này được thực hiện với sản phẩm
có độ nhớt cao [quá trình hot- break] Ngược lại sản phẩm có độ nhớt thấp cần tạo điều kiện cho enzyme hoạt động và không cần xử lý nhiệt [quá trình cold -break] Sau khi đạt được độ nhớt thấp, sản phẩm có thể được xử lý nhiệt, như đối với sản phẩm đồ hộp nhằm mục đích tồn trữ sản phẩm lâu hơn
Pectin hòa tan dưới tác dụng của kiềm loãng hay enzyme pectinase sẽ giải phóng nhóm methoxyl tạo rượu methylic và acid pectic tự do Acid pectic phản ứng với Ca2+ tạo pectat calxi Acid pectic tự do không có khả năng tạo gel kể cả khi có đường Vì vậy, để tạo gel tránh dùng môi trường kiềm hay enzyme pectinase
Thành phần pectin hòa tan trong nước cũng phản ứng với ion kim loại, đặc biệt là calxi, và tạo thành muối pectat calxi Thông thường cần làm cứng chắc cấu trúc rau quả, đặc biệt khi sản phẩm bị mềm do quá trình chế biến, trong trường hợp này cần thiết tạo phản ứng giữa thành phần pectin hòa tan và ion calxi để tạo thành pectat calxi Đây là dạng muối không hòa tan
Trang 15trong nước và khi chúng được tạo thành trong các mô rau quả sẽ làm cho cấu trúc rau quả trở nên rắn chắc hơn.
Tính chất của các pectin quyết định vai trò của chúng trong kỹ nghệ thực phẩm, khi có mặt của acid và đường chúng tạo thành với nước các khối đông keo Người ta thấy lượng rượu methylic trong pectin càng cao thì đặc tính đông keo càng tốt
Nhiều nghiên cứu cho thấy pectin có vai trò trong dinh dưỡng người khỏe và người ốm Pectin dùng làm thuốc cầm máu đường ruột, các chất pectin ức chế vi khuẩn gây thối trong ruột và điều hòa hệ vi khuẩn đường ruột, cải thiện các quá trình tiêu hóa
Pectin có công hiệu cao trong các trường hợp ngộ độc nghề nghiệp
do chì Ở những nơi sản xuất có nguy hiểm do chì, chế độ ăn điều trị, dự phòng giàu pectin có tác dụng tốt Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng pectin vào chế độ ăn điều trị, dự phòng giàu pectin có thể áp dụng cho các nghề nghiệp tiếp xúc với các chất độc khác Pectin còn thúc đẩy các quá trình liền sẹo và có tác dụng trong điều trị bỏng loét
Hiệu quả điều trị của các thực đơn thực vật trong điều trị các bệnh dạ dày, ruột là do các chất pectin có nhiều trong đó Các tác dụng này của pectin chưa được giải thích đầy đủ một cách khoa học Người ta cho rằng tác dụng trên có được là do các đặc tính keo của pectin vì khả năng hấp phụ cao của chúng
2.2.2.Cellulose
Cellulose thuộc loại polysaccharide cao phân tử không có tính chất đường, là thành phần chính của tế bào thực vật, nó tham gia chủ yếu trong cấu tạo màng, thành tế bào thực vật làm cho các mô thực vật có tính bền cơ học, tính đàn hồi và tạo thành bộ xương cho tất cả các loại cây Cellulose được hình thành trong cây nhờ quá trình quang hợp
2.2.2.1.Cấu tạo hóa học
Cellulose có công thức chung giống tinh bột (C6H10O5)n Trong phân
tử cellulose, D - glucose là đơn vị cơ bản cấu thành và chúng liên kết với
Trang 16nhau bằng liên kết 1,4 - glucoside Mỗi phân tử cellulose chứa 1.400 - 15.000 gốc D - glucose (M = 5.104 - 2,5.104).
Trong phân tử cellulose có nhiều gốc - OH ở dạng tự do, nhưng cũng
có vài nhóm - OH, hydro của nó dễ được thay thế bằng một số gốc hóa học như gốc methyl (-CH3), acethyl (CH3CO-) hình thành nên dẫn xuất ete hay ester của cellulose hay gốc có nitơ tạo dẫn xuất nitơ
Cellulose trong tự nhiên dưới dạng sợi và không hoàn toàn nguyên chất Nó thường liên kết chặt chẽ với các thành phần khác như chất béo, hemicellulose, pentozan, các chất nhựa, các muối vô cơ…
2.2.2.2.Tính chất và những vai trò
Cellulose là chất rắn, màu trắng, không mùi vị, có tỉ khối 1,51 - 1,52, không nóng chảy, ở nhiệt độ cao và không có không khí nó hóa than, khi đun nóng trong chân không trong những điều kiện xác định nó bị phân trùng hợp thành glucozan
Cellulose không tan trong nước Nước làm phồng lên từng phần cellulose Nó hấp thu nước với lượng 7 - 8% khối lượng Lượng nước hấp thu tăng lên 22 - 24% trong trường hợp không khí bão hòa hơi nước Sự phồng lên làm tăng đường kính sợi cellulose nhưng chiều dài không đổi
Tính bền cơ học là đặc tính chủ yếu của các sợi cellulose Tính bền
cơ học của cellulose là do độ dài lớn của đại phân tử và hướng song song của chúng Các đại phân tử liên kết với nhau bằng liên kết hydro giữa các nhóm - OH
Cellulose không tan trong các dung môi hữu cơ như ete, rượu Trong điều kiện thường nó cũng khá bền đối với các dung dịch kiềm loãng, acid loãng, và các chất oxi hóa yếu Cellulose tan được trong dung dịch Cu(OH)2 + NH4 đặc (nước Schweitzer) tạo thành dung dịch nhớt, tan trong H2SO4 đặc (trên 72%), trong HCl đặc có mặt ZnCl2 Dung dịch cellulose trong nước Schweitzer bị kết tủa khi cho acid vào Dung dịch cellulose trong acid đặc cũng bị kết tủa khi cho thêm nước Kết tủa này gọi là amiloid, nó bị iod nhuốm màu xanh Lợi dụng tính chất này phát hiện cellulose
Trang 17Con người không thể tiêu hóa được cellulose trong khẩu phần vì không có các enzyme cần thiết để phân hủy chúng Tuy nhiên, một số loại vi khuẩn có khả năng phân hủy cellulose thành CO2 và H2O.
Các tác nhân oxi hóa như ozeic, peroxide, hydro, natri hipocloride,…
Có thể oxi hóa cellulose tạo thành hỗn hợp phức tạp gọi là oxycellulose
Cellulose có thể tác dụng với kiềm đặc tạo thành sản phẩm tương tự các ancolat gọi là cellulose - kiềm Cellulose - kiềm dễ bị thủy phân trở lại cellulose dưới dạng hydrat cellulose, dạng này giống cellulose về thành phần hóa học nhưng háo nước hơn và ít bền hơn Cellulose - kiềm tác dụng với sulfurcarbon tạo thành xentogenat cellulose Xentogenat tan trong kiềm thành một dung dịch rất nhớt gọi là visô
Cellulose có thể bị este hóa khi tác dụng với anhydride acetic (có mặt H2SO4 làm xúc tác) tạo thành mono, di, triacetat cellulose và có thể nitrat hóa thành hỗn hợp mono, di, trinitrat cellulose
Trong dinh dưỡng, cellulose có ý nghĩa quan trọng thể hiên qua các chức năng sau:
Phòng ngừa ung thư ruột kết: Cellulose giữ vai trò nhất định trong điều hòa hệ vi khuẩn có ích ở ruột và tạo điều kiện tốt nhất cho chức phận tổng hợp của chúng Các thức ăn có chứa hàm lượng lipid cao
sẽ làm cho vi khuẩn kỵ khí trong ruột sinh sôi nảy nở nhiều khiến cho các steroic trung tính hoặc có tính acid, đặc biệt là acid choleic (các chất chuyển hóa acid choleic trong phân tăng lên là chất gây ung thư), cholesterol cùng các chất chuyển hóa khác của chúng cũng bị thối biến, … Chất xơ trong thức ăn sẽ ức chế hoạt động của các vi khuẩn kỵ khí, thúc đẩy vi khuẩn hiếu khí sinh trưởng, làm cho lượng hình thành acid choleic trong đại tràng giảm xuống Cellulose có tác dụng kích thích nhu động ruột, vì thế dùng để điều hòa bài tiết
Phòng ngừa xơ vữa động mạch: gần đây nhiều nghiên cứu cho thấy cellulose tạo điều kiện bài tiết cholesterol ra khỏi cơ thể và như vậy
có vai trò nhất định trong phòng ngừa xơ vữa động mạch
Trang 18Phòng ngừa hình thành sỏi mật, giảm được hàm lượng mỡ trong máu: Phần lớn sỏi mật là do cholesterol trong dịch mật bão hòa quá mức gây nên Khi acid mật và cholesterol mất cân bằng, thì sẽ chiết xuất ra chất kết tinh cholesterol nhỏ và hình thành sỏi mật Chất xơ thức ăn sẽ làm giảm được nồng độ cholesterol trong mật và huyết thanh, từ đó làm độ bão hòa của cholesterol trong mật giảm xuống và
tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật theo đó cũng giảm Ngăn ngừa sự thừa dinh dưỡng và béo phì
Gây ảnh hưởng đến mức đường huyết, giảm bớt tác dụng dựa vào insulin của bệnh nhân tiểu đường (Thuỷ 2003 Giáo trình dinh dưỡng người)
2.2.3.Các thành phần gây đắng trong vỏ bưởi (naringin và hisperdin)
Nhiều nghiên cứu cho thấy naringin và hisperdin là hai chất chủ yếu gây ra vị đắng trong vỏ bưởi Chúng là các glucoside tan trong nước Khi thuỷ phân hay với tác dụng của men peroxidase chúng bị thủy phân thành đường glucose, đường ramnose và các aglucon Các aglucon thuộc nhóm flavanon trong nhóm các hợp chất polyphenol thực vật và tan trong nước, aglucon của naringin là narigenin và của hisperdin là hisperidin (neohisperidin có vị rất đắng)
Trang 192.3.Đặc tính của đường saccharose
2.3.1.Cấu tạo hóa học
Saccharose, đường mía, đường củ cải, đường kính C12H22O11 Công thức cấu tạo sau:
H H
Trang 20Saccharose rất dễ thủy phân trong môi trường acid hay ngay cả với acid yếu nhất như H2O + CO2 tạo thành D - glucose và D - fructose Do D - fructose cho quay trái mạnh, còn saccharose và D - glucose cho gốc quay phải yếu, nên sau khi thủy phân dung dịch trở nên quay trái ([α] = - 20o) Hiện tượng đó gọi là sự nghịch đảo đường Saccharose cũng có thể bị thủy phân dưới tác dụng của men như men saccharase.
Saccharose có thể tạo thành các saccharide kim loại kiềm thổ với calxi Saccharat calxi C12H22O11.CaO.2H2O tan trong nước Nhờ đặc tính này người ta tinh chế saccharose bằng nước vôi (Ca(OH)2) Sau khi lọc bỏ tạp chất, người ta cho luồng khí CO2 lội qua dung dịch saccharose tan trong nước
sẽ làm CaCO3 kết tủa Lọc, cô đặc và kết tủa thu được saccharose tinh khiết
C12H22O11.CaO.2H2O + CO2 → C12H22O11 + CaCO3↓ + 2H2O
2.4.Bảo quản sản phẩm bằng cách thêm đường
2.4.1.Tổng quan
Nếu một thực phẩm được bảo quản bằng một dung dịch đường đậm đặc, nó sẽ trở nên không thích hợp đối với sự phát triển của vi sinh vật, các bào tử không thể nảy chồi
Khả năng bảo quản của đường do áp suất thẩm thấu cao hơn là do nồng độ chất khô cao Một dung dịch 5% glucose có một áp suất thẩm thấu 0,71 Mpa ở 20oC Monosaccaride tác động hiệu quả hơn saccharose Điều này giải thích jam kháng vi sinh vật tốt hơn sản phẩm chứa đường saccharose lớn và ít đường nghịch đảo
Nếu một nửa thành phần (vào khoảng 60%) đường nghịch đảo trong jam, hiệu quả chống vi sinh vật của sản phẩm cuối tương ứng với 62,65% đường saccharose không nghịch đảo Đặc điểm này rất quan trọng trong việc ngăn chặn sự tấn công của nấm mốc và nấm men chịu thẩm thấu
Áp suất thẩm thấu ở 20oC (Mpa) 0,4 2,02 15,1
Hoạt động ức chế nấm và vi khuẩn (bacteriostatic và mycostatic) gia tăng do
sự gia tăng độ acid và sự thiếu tương đối chất đạm Ở môi trường 60 - 65%
Trang 21đường thường đủ để bảo quản jam trong khi đó các sản phẩm như sirô không acid, dịch chiết malt, sirô đường, mật chỉ bảo quản an toàn khi có đường 75 - 80% đường.
Sự khác nhau chủ yếu có liên quan đến sức chống chịu (resistance) đối với nấm men và nấm mốc Những sự biến đổi không do vi sinh vật thường chậm hơn với các vật liệu đường kẹo Sự ức chế của các tiến trình enzyme chủ yếu do các yếu tố gián tiếp như là sự oxi hóa chậm do sự khuếch tán chậm oxygen trong khối đường bảo quản
2.4.2.Tồn trữ sản phẩm chứa nhiều đường và đánh giá sản phẩm
Các sản phẩm bảo quản bằng đường có thể giữ tốt trong bao gói, tiếp xúc với không khí ở điều kiện bình thường Sản phẩm cần giữ độ ẩm cần được bao gói kín Nếu thành phần đường giảm thấp dưới mức giới hạn trong sản phẩm do qui định về dinh dưỡng, việc thêm các chất bảo quản phải được
sử dụng bù cho việc giảm áp suất thẩm thấu
Chất dinh dưỡng chủ yếu được giữ gìn trong các thực phẩm và thõa mãn được chất lượng cảm quan
Việc giữ các vitamin dễ bị oxi hóa thì khó khăn hơn Tuy nhiên, sự khắc phục đáng kể có thể đạt được nếu các sản phẩm dễ bị oxi hóa này bị ngăn cản tối đa trước và trong khi nấu đường Chế biến rất nhanh trong thiết
bị thép không rỉ, dùng nguyên liệu hoàn toàn tươi hay sản phẩm đông lạnh thì thích hợp
Sự mất L- ascorbic acid xảy ra trong các tiến trình trước kia, ở đó người ta dùng bán thành phẩm và thiết bị được làm bằng đồng, bây giờ để tránh bị oxi hóa người ta tránh sử dụng như vậy
Vấn đề kinh tế của sản xuất thực phẩm bảo quản bằng đường thường rất thõa mãn (Hồng và Thuận 1999 Nguyên lý bảo quản thực phẩm)
2.5.Quá trình chần
Trong quá trình, nguyên liệu được nhúng vào nước nóng hay vào dung dịch muối ăn, đường, acid nóng
* Mục đích của quá trình
Trang 22Đình chỉ các quá trình sinh hóa của nguyên liệu, giúp màu sắc nguyên liệu không bị xấu đi Chần làm cho hệ thống các men peroxidase, polyphenoloxidase trong các nguyên liệu rau quả bị đình chỉ, không tạo thành các chất màu
Làm thay đổi thể tích, khối lượng nguyên liệu để các quá trình chế biến sau thuận lợi
Thủy phân protopectin thành pectin hòa tan, giúp các quá trình xử lý sau đó được dễ dàng hơn
Đuổi bớt không khí trong gian bào của nguyên liệu nhằm hạn chế tác dụng của oxy gây phồng hộp, loại trừ các chất không thích hợp như các chất gây ra vị đắng và các chất có vị không thích hợp
Tăng độ thẩm thấu của chất nguyên sinh, làm cho dịch bào thoát ra
dễ dàng, hoặc dung dịch dễ ngấm vào tế bào
Làm cho rau quả có màu sáng hơn khi chần trong các dung dịch như muối hoặc acid Tiêu diệt các vi sinh vật bám bên ngoài nguyên liệu
2.6.Quá trình sấy
2.6.1.Bản chất quá trình
Là quá trình bốc hơi nước của sản phẩm bằng nhiệt ở nhiệt độ bất kỳ,
là quá trình khuếch tán ẩm do chênh lệch ẩm ở bề mặt và bên trong vật liệu, hay nói cách khác do chênh lệch áp suất hơi riêng phần ở bề mặt vật liệu và môi trường xung quanh
Trang 23Biến đổi tính chất cơ lý:
Các biến đổi tính chất cơ lý như: sự biến dạng, hiện tượng co, hiện tượng tăng độ giòn (một số sản phẩm dễ bị vỡ, hoặc bị nứt nẻ)
Có thể có hiện tượng nóng chảy và tụ tập các chất hòa tan lên bề mặt làm ảnh hưởng đến bề mặt sản phẩm (như sấy các loại quả) vì chúng làm tắt nghẽn các mao quản thoát nước Kèm theo đó là sự đóng rắn trên bề mặt
Biến đổi hoá lý:
Khuếch tán ẩm: trong giai đoạn đầu của quá trình, ẩm khuếch tán từ bên ngoài vào bên trong vật liệu do dãn nở vì nhiệt Đây là sự dời ẩm gây nên
do sự chênh lệch nhiệt độ giữa các phần khác nhau của vật liệu sấy Quá trình này được thực hiện dưới tác dụng của nhiệt khuếch tán và do kết quả dãn nở của không khí trong mao quản, nhiệt chuyển dời theo hướng có nhiệt độ thấp hơn, tức là từ bề mặt nóng nhất bên ngoài vào sâu bên trong vật liệu và kèm theo ẩm: hiện tượng dẫn nhiệt ẩm làm cản trở chuyển động của ẩm từ bên trong vật liệu ra ngoài bề mặt, tức cản trở quá trình sấy
Sau khi có hiện tượng bay hơi nước ở bề mặt, ẩm di chuyển từ bề mặt nguyên liệu đến tác nhân sấy, lượng ẩm di chuyển đó được bù vào bằng lượng ẩm bên trong vật liệu ra đến bề mặt, nếu trên bề mặt vật liệu nóng quá
sẽ ngăn cản quá trình thoát ẩm dẫn đến sấy không đều
Việc bốc hơi từ bề mặt sẽ tạo ra sự chênh lệch ẩm giữa lớp bề mặt và các lớp bên trong vật liệu, kết quả là ẩm chuyển từ bên trong ra đến bề mặt
Quá trình chuyển ẩm từ bên trong sản phẩm sấy ra ngoài thực hiện được nhờ lực khuếch tán thẩm thấu, lực mao quản… gọi là độ dẫn ẩm Nhờ
có độ dẫn ẩm, ẩm sẽ chuyển dời theo hướng từ trung tâm ra bề mặt vật liệu
Ngoài sự khuếch tán ẩm, trong quá trình sấy còn có hiện tượng chuyển pha từ lỏng sang hơi của ẩm và có ảnh hưởng của hệ keo trong quá trình sấy, tùy tính chất vật liệu có chứa keo háo nước hoặc keo ghét nước Nếu keo ghét nước liên kết lỏng lẻo, dễ khuếch tán
Keo háo nước khuếch tán chậm chạp Nếu ngậm nước, không tách được