1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc

109 2K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Bệnh Dịch Tả Vịt Trên Đàn Vịt Nuôi Tại Ngoại Thành Hà Nội Và Một Số Tỉnh Lân Cận, Phân Lập, Khảo Sát Đặc Tính Sinh Học Của Chủng Virus Cường Độc
Tác giả Nguyễn Ngọc Điểm
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Bá Hiên
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I -

Nguyễn Ngọc Điểm

Tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành Hà Nội và một số tỉnh lân cận Phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Hà nội - 2005

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I -

Nguyễn Ngọc Điểm

Tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành

Hà Nội và một số tỉnh lân cận Phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đ−ợc ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 10 năm 2005

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Điểm

Trang 4

Lời cảm ơn

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại lớp Cao học khoá 12 Chuyên ngành Thú y trường Đại học Nông nghiệp I, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, giảng dạy nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong nhà trường Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới tập thể các thầy giáo cô giáo; đặc biệt là các thầy, cô trong bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm – Bệnh lý Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông nghiệp I

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới T.S Nguyễn Bá Hiên, người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp và những người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài Rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đối với đề tài nghiên cứu của tôi

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2005

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Điểm

Trang 5

B¶ng c¸c ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n

DEV : Duck enteritis virus

DNA : Dezoxy ribonucleic acid

DTV : DÞch t¶ vÞt

DVE : Duck virus enteritis

Eld50 : 50 percent Embryo Lethal Dose

EID50 : 50 percent Embryo Infective Dose FAO : Food and Agriculture Organization

LD50 : 50 percent Lethal Dose

OIE : Office International des Epizooties PCR : Polymerase chain reaction

Trang 6

Danh mục các bảng

Bảng 2.1: Tình hình bệnh dịch tả vịt ở một số nước châu á từ năm 1996 -

2003 6 Bảng 3.1: Thành phần và số lượng từng thành phần tham gia PCR 40 Bảng 4.1: Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi vịt ở một số địa bàn

thuộc Hà Nội và các vùng phụ cận 46 Bảng 4.2: Tình hình mắc bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt thuộc địa bàn

điều tra 49 Bảng 4.3: Kết quả phân lập virus cường độc dịch tả vịt trên vịt… 53 Bảng 4.4: Kết quả phân lập virus cường độc dịch tả vịt trên phôi vịt 55 Bảng 4.5: Kết quả cấy truyền chủng virus cường độc dịch tả vịt VG-

2004 trên phôi vịt 58 Bảng 4.6: Kết quả xác định chỉ số ELD50 của chủng virus cường độc dịch tả vịt

VG-2004 61 Bảng 4.7: Kết quả xác định chỉ số EID50 của chủng virus cường độc dịch tả

vịt VG-2004 63 Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra bệnh tích đại thể của phôi sau khi gây

nhiễm chủng virus cường độc dịch tả vịt VG - 2004 65 Bảng 4.9: Kết quả xác định chỉ số LD50 của chủng virus cường độc dịch tả vịt

VG-2004 69 Bảng 4.10: Tỷ lệ triệu chứng, bệnh tích đại thể của vịt sau khi gây

nhiễm chủng virus cường độc dịch tả vịt VG-2004 72 Bảng 4.11: Kết quả phản ứng trung hoà trên phôi 75 Bảng 4.12: Kết quả tiêm phòng bệnh của vacxin nhược độc dịch tả vịt

chủng DP-EG-2000 80 Bảng 4.13: Kết quả can thiệp dịch của vacxin nhược độc dịch tả vịt

chủng DP-EG-2000……… 82 Bảng 4.14: Hiệu lực bảo hộ của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng DP-

EG-2000 trong phòng thí nghiệm 85 Bảng 4.15: Hiệu lực bảo hộ của vacxin nhược độc dịch tả vịt DP-EG-

2000 trong thực tế 87

Trang 7

Danh mục các Hình

Hình 4.1: Sản phẩm PCR của đoạn gen DNA-polymerase

virus dịch tả vịt cường độc phân lập tại Việt Nam

(hình A) và kết quả dòng hoá (hình B)

76

Hình 4.2: Giản đồ (chromatogram) một phần đoạn gen

DNA-polymerase (446bp) virus dịch tả vịt của Việt Nam sau khi giải trình trình tự (hình trên) và thành phần

nucleotid và axit amin của gen này (hình dưới) 77

Hình 4.3: So sánh trình tự nucleotid (446bp) của cường độc

dịch tả vịt phân lập ở Việt Nam (ký hiệu: DEV-VN)

và chủng vacxin của thế giới (DEV-vx) 78

Trang 8

Danh môc c¸c ¶nh

¶nh 4.1: VÞt b¹i liÖt……… 89

¶nh 4.2: VÞt ch¶y n−íc m¾t, n−íc mòi……… 89

¶nh 4.3: VÞt bÞ phï ®Çu……… 89

¶nh 4.4: VÞt Øa ch¶y……… 89

¶nh 4.5: Gan vÞt xuÊt huyÕt, ho¹i tö……… 90

¶nh 4.6: Ruét xuÊt huyÕt, loÐt……… 90

¶nh 4.7: Gan xuÊt huyÕt, tho¸i ho¸ kh«ng bµo………… 90

¶nh 4.8: Gan xuÊt huyÕt, t¨ng sinh tÕ bµo viªm………… 90

¶nh 4.9: Ph«i vÞt xuÊt huyÕt, cßi cäc……… 91

¶nh 4.10: Ph«i vÞt xuÊt huyÕt, phï……… 91

¶nh 4.11: Gan ph«i vÞt xuÊt huyÕt, ho¹i tö……… 91

¶nh 4.12: Gan ph«i vÞt xuÊt huyÕt, t¨ng sinh tÕ bµo viªm… 91

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho đến nay, vịt là loài thuỷ cầm được người dân chăn nuôi nhiều nhất Trên thế giới hàng năm có khoảng 550 đến 600 triệu vịt, trong đó ở châu á chiếm tới 80 - 86% tổng đàn vịt Những nước nuôi nhiều vịt phải kể đến là Trung Quốc, Thái Lan, Banglades và Việt Nam Nước ta hàng năm đàn vịt sản xuất khoảng 30.000 đến 40.000 tấn thịt hơi, 0,8 đến 1 tỷ quả trứng và khoảng 1000

đến 1500 tấn lông (Trịnh Quang Khuê, 2003) [20] Đến năm 2003 số vịt tăng bình quân 7%, đạt gần 70 nghìn tấn thịt vịt; 1,5 tỷ quả trứng vịt và 3.500 tấn lông (Lâm Minh Thuận, 2004) [31]

Theo số liệu thống kê của FAO (2003) [40]: Tổng số vịt của Việt Nam là 57 triệu con, đứng thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc; sản lượng thịt vịt của Việt Nam là 67,8 nghìn tấn, đứng thứ 5 thế giới Những vùng chăn nuôi vịt nhiều ở nước ta phải

kể đến là khu vực đồng bằng sông Cửu Long và khu vực đồng bằng Bắc Bộ Hình thức chăn nuôi vịt chủ yếu của người dân là nuôi chăn thả, tận dụng thóc lúa theo mùa vụ Hàng năm, Việt Nam sản xuất trên 32 triệu tấn lương thực, chủ yếu là thóc Nếu tính 5% lượng thóc rơi rụng thì đó là một lượng thức ăn mất mát không nhỏ Nuôi vịt theo kiểu chăn thả tận dụng không chỉ giúp người chăn nuôi có thể tiết kiệm rất lớn chi phí về thức ăn mà còn là biện pháp cơ bản giúp giải quyết vấn

đề lãng phí lương thực nêu trên Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi này lại làm cho dịch bệnh trở thành một yếu tố đáng quan tâm hơn bao giờ hết

Một trong những bệnh quan trọng nhất và gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi vịt là bệnh dịch tả vịt (Nguyễn Đức Hiền, 1999) [17] Căn bệnh là một loại DNA virus thuộc họ Herpesvirideae nhóm Herpesvirus Bệnh gây nên tình trạng bại huyết, xuất huyết cho vịt với tỷ lệ chết cao lên đến 90%

Trang 10

Theo kết quả nghiên cứu về vấn đề phát triển vịt ở Việt Nam năm 1992 bệnh dịch tả vịt là một trong 3 bệnh mũi nhọn cần quan tâm nghiên cứu quy trình miễn dịch cho khu vực nuôi qui mô lớn ở những vùng tập trung

Điều tra dịch bệnh gia cầm ở 5 tỉnh phía Bắc (năm 1995- 1997), Lê Minh Chí và cộng sự (1999) [8] cho biết: Bệnh dịch tả vịt là một trong hai bệnh tác động lớn nhất đến đàn vịt

Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh dịch tả vịt,

đã có nhiều nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt và virus gây bệnh dịch tả vịt được tiến hành Nhiều loại vacxin dịch tả vịt đã được sản xuất và lưu hành trên thị trường Việt Nam Song việc sử dụng vacxin chủ yếu lại do người chăn nuôi quyết định Hơn nữa do khâu chăn nuôi chưa hợp lý, vệ sinh phòng bệnh chưa triệt để đã ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả bảo hộ của vacxin

Gần đây, bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm - Bệnh lý (VSV - TN - BL) trường Đại học Nông nghiệp I đang có giống vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng DP-EG-2000 có xuất xứ từ nước ngoài Những nghiên cứu ban đầu về hiệu lực bảo hộ của vacxin này đối với đàn vịt nuôi ở Việt Nam đã cho kết quả tốt

Để phục vụ cho việc nghiên cứu vacxin, cần thiết phải có một chủng virus cường độc tiêu chuẩn Chủng virus cường độc này cũng đồng thời phục

vụ cho công tác nghiên cứu về mặt độc lực, tính kháng nguyên và đặc điểm bệnh lý học của các chủng virus cường độc dịch tả vịt gây bệnh ở nước ta những năm gần đây

Nhằm đóng góp thêm cơ sở khoa học đánh giá về tình hình dịch bệnh, sự thiệt hại của bệnh trong chăn nuôi và góp phần bổ sung, hoàn thiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vịt đạt hiệu quả cao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành Hà Nội

và một số tỉnh lân cận Phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus

Trang 11

cường độc"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định thực trạng bệnh dịch tả vịt trên các đàn vịt nuôi tại ngoại thành Hà Nội và một số tỉnh lân cận

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Là cơ sở đề ra biện pháp phòng trị bệnh dịch tả vịt có hiệu quả cao

- Là cơ sở để sử dụng virus nhược độc dịch tả vịt thích nghi trên phôi gà chủng DP-EG-2000 vào sản xuất vacxin phòng bệnh cho đàn vịt

ở Việt Nam

Trang 12

2 Tổng quan tài liệu

Năm 1930, cũng tại Hà Lan, De Zeeuw mô tả một trường hợp bệnh tương tự xảy ra ở một đàn vịt 150 con

Năm 1942, dịch lại tái phát ở đất nước này làm chết 2600 trong tổng số

5700 vịt Vịt ốm ỉa phân xanh, mổ khám khi vịt chết thấy xuất huyết cơ tim, dạ dày tuyến, tá tràng, viêm kiểu bạch hầu ở cuống họng và lỗ huyệt Lần này, Boss (1943) [34] đã phân lập ra virus và cấy truyền 18 đời trên vịt Chủng virus này được giữ lại

Năm 1949, tại hội nghị thú y thế giới lần thứ XIV; căn cứ vào những kết quả nghiên cứu của mình về chủng virus do Boss (1943) phân lập được; Jansen và Kunst đã đề nghị gọi tên bệnh là Duck virus enteritis (DVE) (OIE, 2000) [52]

* Phân bố bệnh

Tại Châu Âu, bệnh dịch tả vịt đã được Devos phát hiện ở Bỉ năm 1964 Năm 1970, Gaudry [61] phát hiện bệnh dịch tả vịt ở Pháp; Asplin phát hiện

Trang 13

bệnh ở Anh Tiếp theo, Bela Toth và Voxapeer Suwathanaviroj công bố bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Đức (Trần Minh Châu, 1980) [4]

Tại Châu Mỹ, Leibovitz & Hwang (1967) [51]; Brand, C.J., and D.E Docherty (1984) [35] đã xác nhận bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Mỹ

Tại Châu á, năm 1944 bệnh xảy ra ở ấn Độ và tái phát vào năm 1963 Năm 1968, Jansen khẳng định bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Trung Quốc Khi nghiên cứu về bệnh này, Mukerji xác nhận chủng virus của ấn Độ và chủng virus của Hà Lan có cùng tính chất kháng nguyên Năm 1979 đã có báo cáo về

sự xuất hiện bệnh dịch tả vịt ở đàn vịt trời và vịt Muscovy Năm 1976, 1977, bệnh đã phát ra ở Thái Lan gây thiệt hại tới 650.000 vịt (Vorapee Suwathanaviroij, 1978) [59]

ở Việt Nam, bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Cao Bằng vào năm

1963 Lúc đó, sự bùng nổ của bệnh đã làm thiệt hại trên 3000 vịt (Đặng Trần Dũng, 1963) [11] Tiếp theo, bệnh đã lây lan và có mặt ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước

Theo thống kê mới nhất của OIE (2004) [53]; Việt Nam là một trong những nước bị bệnh dịch tả vịt hoành hành dữ dội nhất Năm 1999, bệnh đã làm chết 51.752 trong tổng số 123.851 vịt Năm 2000, có 2.964 vịt chết vì bệnh dịch tả vịt trong tổng số 6.747 vịt Năm 2001 phát hiện có 24.478 vịt chết trong 46.993 vịt và năm 2002 số vịt chết vì bệnh dịch tả vịt là 15.680

Như vậy, bệnh dịch tả vịt mặc dù được phát hiện ra lần đầu tiên ở Châu

Âu nhưng gần đây bệnh chủ yếu lây lan và gây hại ở các nước Châu á Có lẽ

do ở đây nghề chăn nuôi vịt đang ngày càng phát triển nhưng các biện pháp phòng chống bệnh này vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Trang 14

B¶ng 2.1: T×nh h×nh bÖnh dÞch t¶ vÞt ë mét sè n−íc ch©u ¸

tõ n¨m 1996 - 2003 N¨m Quèc gia Tæng sè vÞt (con) Sè vÞt chÕt (con)

Trang 15

2.1.2 Truyền nhiễm học

2.1.2.1 Loài mắc bệnh

Trong tự nhiên, bệnh dịch tả vịt là bệnh của loài vịt bao gồm cả vịt nuôi

và vịt hoang: vịt trời, vịt mỏ nhọn, vịt đầu đỏ, Ngoài ra, các loài thuỷ cầm khác như ngỗng, thiên nga và một số loài chim hoang dã cũng cảm nhiễm bệnh (Friend (1973) [42]; Docherty D.E & Franson C.J (1992) [39]) Vịt là loài cảm nhiễm nhất, các giống vịt ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh Tỷ lệ vịt mắc bệnh và chết có thể lên tới 100% Tuy nhiên mức độ cảm nhiễm với bệnh có thể khác nhau tuỳ theo giống vịt Theo các kết quả nghiên cứu đã

được công bố, loài vịt nhọn đuôi được coi là ít cảm nhiễm nhất đối với bệnh (Sandhu T.S & Leibovitz L., 2003) [56] Theo Vandorssen (1955) [58] thì trong họ Anatideae, chỉ loài vịt xám được coi là đề kháng với bệnh Các động vật khác như bồ câu, công và động vật có vú không cảm thụ với bệnh

Trong phòng thí nghiệm, có thể gây bệnh cho vịt con, ngỗng con, ngan con Ngoài ra virus dịch tả vịt có khả năng nhân lên ở gà nhỏ hơn 2 tuần tuổi (Jansen, 1968) [46] Vịt con là động vật thí nghiệm mẫn cảm nhất với bệnh Theo OIE (2000) [52], dùng vịt con 1 ngày tuổi để gây bệnh, tiêm virus vào cơ bắp Sau khi gây nhiễm 3- 12 ngày, vịt bị chết với triệu chứng, bệnh tích

điển hình của bệnh

2.1.2.2 Mùa vụ phát bệnh

Theo các kết quả nghiên cứu trên thế giới nói chung, bệnh dịch tả vịt xảy ra nhiều nhất vào tháng 4 - 6 trong năm Ngoài ra sự bùng nổ dịch bệnh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, mùa sinh sản của vịt và ảnh hưởng của nhân tố stress (Sandhu, T., 1998) [55]

ở Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm nhưng phát triển mạnh vào thời vụ chăn nuôi vịt và trùng với thời vụ thu hoạch lúa: Vụ chiêm tháng 5 - 6, vụ mùa tháng 10 -

11 (Trần Minh Châu, 1996) [7] Do đây là thời diểm vịt đã được gột xong và đem chăn thả ngoài đồng để tận dụng thức ăn (Lê Hồng Mận, 1999) [24]

Trang 16

2.1.2.3 Tuổi mắc bệnh

Bệnh xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi, tuy nhiên vịt bị nhiễm nhiều nhất từ 15 ngày tuổi trở đi (Nguyễn Xuân Bình, 2004) [3]

2.1.2.4 Chất chứa virus

ở vịt bị nhiễm bệnh, virus có trong máu, các cơ quan phủ tạng, nhiều nhất là ở gan, lách và óc Tại Việt Nam đã nghiên cứu sự nhân lên của virus ở cơ thể vịt bị gây nhiễm nhân tạo; sau khi nhiễm virus 24 giờ, vịt còn đang trong thời kỳ mang bệnh thì virus đã nhân lên, xâm nhập vào máu nhưng số lượng virus còn ít Đến 48 giờ, khi vịt chảy nước mắt, nước mũi thì virus đã xuất hiện trong các dịch này Và đến 72 giờ, khi vịt bị bệnh nặng, bắt đầu ỉa chảy thì tế bào niêm mạc đường tiêu hoá do tác động của virus bị huỷ hoại, tróc ra cùng với dịch tiết có nhiều virus, theo phân bài xuất ra ngoài (Trần Minh Châu, 1987) [6]

Ngoài ra, vịt bệnh còn mang virus rất lâu và có thể tái phát bệnh ở thể ẩn tính Người ta có thể phát hiện bệnh bằng kiểm tra nốt rộp ở mặt dưới của lưỡi vịt

ở môi trường ngoài, với điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm, virus có thể tồn tại tới 30 ngày (OIE, 2004) [53] Trong điều kiện tự nhiên, virus có thể tồn tại một thời gian khá dài, 5 ngày kể từ khi con vật cuối cùng chết vẫn có thể làm lây lan bệnh cho vịt khoẻ nếu nhốt chúng vào chuồng cũ (Trần Minh Châu, 1987) [6]

2.1.2.5 Đường xâm nhập và cách lây lan

Trong thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách tiêm dưới da, bắp thịt, tiêm tĩnh mạch hoặc nhỏ mũi

Trong tự nhiên, đường xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là đường tiêu hoá

Bởi vậy, bệnh lây lan rất nhanh và mạnh theo phương thức truyền lây gián tiếp Vịt bệnh bài xuất căn bệnh theo phân, nước mắt, nước mũi làm ô nhiễm thức ăn, nước uống Từ đó bệnh lây lan sang vịt khoẻ và các động vật cảm nhiễm khác Vịt khoẻ và các động vật cảm nhiễm này lại trở thành nguồn

Trang 17

phát tán căn bệnh tiếp theo Jansen (1964) [45] cho biết, nguồn nước và các

động vật thuỷ sinh trong đó cũng đóng vai trò nhất định trong việc truyền lây căn bệnh Khi dịch xảy ra, việc bán chạy vịt bệnh, mổ thịt vịt ốm đều làm cho bệnh lan đi rất nhanh và xa

Phương thức truyền lây trực tiếp từ mẹ sang con cũng có thể xảy ra (Burgess E.C và TM Yuill, 1981) [36]

2.1.3 Triệu chứng và bệnh tích

2.1.3.1 Triệu chứng

Sau khi bị nhiễm virus cường độc dịch tả vịt thì vịt sẽ phát bệnh sau

3 - 4 ngày, thời gian nung bệnh có thể dài hơn hoặc ngắn hơn phụ thuộc vào bệnh lần đầu tiên xảy ra hay đã từng xảy ra đối với đàn vịt

Các diễn biến về triệu chứng của bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt bị nhiễm bệnh như sau:

Khi bệnh phát ra, quan sát toàn đàn sẽ thấy nhiều con có tiếng kêu khản

đặc Một số vịt lờ đờ, chậm chạp hẳn Những vịt này giảm ăn, thường đi ở cuối, thậm chí bị tách khỏi đàn Sau những dấu hiệu ban đầu, triệu chứng đầu tiên của bệnh thể hiện trên vịt là mắt bị sưng, chảy nhiều nước mắt Mũi cũng

có hiện tượng chảy niêm dịch trong, thành dòng trên mỏ, sau đặc lại đóng chặt hai khoé mũi thành vảy màu vàng, kết hợp với sự tiến triển của quá trình viêm trong đường hô hấp khiến vịt bị khó thở; nước dãi của vịt có mùi hôi thối (Trần Minh Châu, 1987) [6] Vịt sốt cao và ỉa chảy nặng Phân của vịt có màu trắng xanh; có mùi khắm, tanh rất đặc trưng

Bệnh tiếp tục diễn biến xấu; vịt bị liệt, nằm một chỗ Bắt vịt lên xem thì thấy lông quanh vùng hậu môn dính bết phân Nhiều con bị sưng đầu, sờ nắn thấy đầu vịt mềm, nhũn

Ngoài ra, bệnh dịch tả vịt còn có một số triệu chứng khác đáng chú ý như: vịt sợ ánh sáng, có biểu hiện thần kinh Vịt tì mỏ xuống đất Vịt đực bị sa dương vật, niêm mạc có những vết loét Vịt đẻ giảm sản lượng trứng mạnh

Trang 18

Bệnh kéo dài 4- 6 ngày làm vịt gầy rạc, thân nhiệt hạ và vịt chết

Các tác giả Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [25], Trần Minh Châu (1987) [6], Phạm Quang Hùng (2003) [19] và nhiều công trình nghiên cứu khác về triệu chứng của bệnh dịch tả vịt đều tiến tới xác nhận những triệu chứng đặc trưng nhất của bệnh dịch tả vịt là: sưng đầu, liệt chân, chảy nước mũi, nước mắt có dử, ỉa chảy phân trắng xanh Nguyễn Như Thanh (2001) [28] cho biết

số liệu điều tra về tỷ lệ phân bố các triệu chứng và bệnh tích của bệnh dịch tả vịt, trong đó:

Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu nêu trên, người chăn nuôi và thú

y viên có thể nhanh chóng phát hiện và ngăn ngừa dịch bệnh lây lan

2.1.3.2 Bệnh tích

Khi mổ khám thấy xác chết gầy, bẩn do vịt ỉa chảy, mất nước kéo dài Nhổ sạch lông thấy da vùng đầu, cổ, ngực, bụng, đùi xuất huyết lấm tấm Tổ chức liên kết dưới da vùng đầu, cổ thuỷ thũng, có dịch keo nhầy trong suốt hơi hồng hoặc hơi vàng Mổ khám các cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, cơ tim thì thấy ở các cơ quan này đều biểu hiện bệnh tích sưng, tụ huyết hoặc xuất huyết, đặc biệt

ở gan còn có những điểm hoại tử màu trắng đục, to bằng đầu đinh ghim hoặc hơn (Trần Kim Anh (2004) [2]; Phạm Sỹ Lăng (2002) [23])

Theo Trần Minh Châu (1996) [7] thì bệnh tích của bệnh dịch tả vịt đặc trưng là đường tiêu hoá có những chấm xuất huyết, nhiều nhất là ở cuống mề

và trực tràng; bên trên có phủ lớp màng giả, khó bóc Phần ruột non xuất huyết thành những vòng nhẫn nhìn từ ngoài vào thấy có màu nâu hoặc tím rất

đặc trưng

Trang 19

Phạm Quang Hùng (2003) [19] cho biết ở mỗi lứa tuổi vịt, bệnh lại thể hiện những đặc trưng riêng: Vịt bố mẹ bệnh tích chủ yếu là ở tuyến ức, xuất huyết mô và tổn thương bộ máy sinh sản Còn ở vịt con thì bệnh tích chủ yếu

ở các Lymphoid

Việc kiểm tra triệu chứng và bệnh tích đặc trưng có thể giúp sơ bộ kết luận bệnh dịch tả vịt Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác bệnh dịch tả vịt còn phải sử dụng những cách thức chẩn đoán trong phòng thí nghiệm, thậm chí phải kết hợp nhiều biện pháp chẩn đoán khác nhau

2.1.4 Chẩn đoán

2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng

Đây là cách thức chẩn đoán đầu tiên và thường xuyên được sử dụng ở các hộ chăn nuôi Thú y viên hoặc chủ chăn nuôi dựa vào những triệu chứng, bệnh tích và đặc điểm dịch tễ của bệnh để kết luận bệnh Trong quá trình chẩn

đoán, cần phân biệt với một số bệnh khác ở vịt:

Bệnh viêm gan do virus: Bệnh chỉ tập trung ở vịt con từ 1- 3 tuần tuổi

Gan chủ yếu bị viêm, xuất huyết thành điểm, thành vệt chứ ít có hiện tượng hoại tử

Bệnh tụ huyết trùng và phó thương hàn: Là hai bệnh do Pasteurella và

Salmonella gây nên Đây là những vi khuẩn thường trú trong cơ thể vịt, ngay cả ở vịt khoẻ Cho nên bệnh dịch tả vịt dễ ghép với hai bệnh này và gây khó khăn cho công việc chẩn đoán bệnh Tuy nhiên, nếu là ổ dịch tụ huyết trùng hoặc phó thương hàn đơn thuần thì khi điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu có thể nhanh chóng dập tắt dịch Ngoài ra các phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm cũng giúp cho việc phân biệt các bệnh dễ dàng hơn

Bệnh sưng phù đầu Coryza: Do một loại vi khuẩn Haelmophilus gây ra,

nên nếu điều trị bằng kháng sinh: Colistin, Gentamycin, Flumequin sẽ có hiệu quả Ngoài ra, vịt không có biểu hiện ỉa chảy phân xanh trắng và tỷ lệ vịt chết do bệnh thấp (Nguyễn Xuân Bình, 2004) [3]

Trang 20

2.1.4.2 Chẩn đoán virus học

Bệnh phẩm dùng để chẩn đoán tốt nhất là gan, thận, lách của vịt nghi mắc bệnh Nghiền bệnh phẩm với dung dịch PBS (Phosphate Buffer Saline); cho thêm kháng sinh (Penicillin, Steptomycin) diệt tạp khuẩn, ly tâm tốc độ

1800 vòng/phút trong 15 phút, lấy nước trong gây nhiễm cho vịt con, phôi vịt

và môi trường nuôi cấy tế bào

* Nuôi cấy trên vịt con

Dùng huyễn dịch bệnh phẩm đã được xử lý như trên tiêm cho vịt con (mỗi con nặng khoảng 1 kg) với liều 0,5ml/con vào dưới da hay bắp lườn Nếu bệnh phẩm có virus dịch tả vịt, vịt sẽ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả vịt giống như đã mô tả

* Nuôi cấy trên phôi vịt

Tiêm huyễn dịch bệnh phẩm vào phôi vịt 12 ngày tuổi với liều 0,2ml/phôi vào xoang niệu Sau 4 - 6 ngày, nếu bệnh phẩm có virus, phôi sẽ chết với bệnh tích: Xuất huyết, phù thũng dưới da, tổ chức dưới da; gan bị hoại

tử, màng nhung niệu sưng dày

* Nuôi cấy trên môi trường tế bào

Có nhiều loại môi trường tế bào được sử dụng để nuôi cấy virus dịch tả vịt như: tế bào xơ phôi vịt, tế bào xơ phôi ngan, Với huyễn dịch bệnh phẩm

được xử lý như trên, nếu có virus dịch tả vịt, thì khi nuôi cấy vào tế bào, virus

sẽ gây biến đổi các tế bào trong môi trường CPE biểu hiện là sự thoái hoá tế bào và trong nhân tế bào có các hạt vùi dạng Crowdy A (Trần Minh Châu, 1987) [6] Ngoài ra, có thể sử dụng phương pháp phát hiện Plaque (những tế bào bị virus gây thoái hoá) để xác định virus

2.1.4.3 Chẩn đoán bằng phản ứng trung hoà

Để làm phản ứng trung hoà có thể dùng kháng huyết thanh dịch tả vịt trộn với huyễn dịch bệnh phẩm Sau đó tiêm cho phôi trứng hoặc tiêm cho vịt thí nghiệm (lô thí nghiệm) Nếu phôi trứng hoặc vịt thí nghiệm không chết mà

Trang 21

ở lô đối chứng có hiện tượng chết với triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả vịt thì có thể kết luận bệnh (Nguyễn Xuân Bình, 2004) [3]

ở trên vịt, có thể tiến hành phản ứng trung hoà bằng cách tiêm vacxin cho vịt ở lô thí nghiệm Sau 15 - 20 ngày thì tiêm huyễn dịch bệnh phẩm cho vịt (ở cả lô thí nghiệm và lô đối chứng) Nếu thấy vịt ở lô đối chứng chết với triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả vịt mà ở lô thí nghiệm vịt không chết thì cũng có thể kết luận được bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001) [28]

Ngoài các phương pháp nêu trên, có thể chẩn đoán chính xác bệnh dịch tả vịt bằng các phương pháp khác như phản ứng trung hoà trên nuôi cấy tế bào, chẩn đoán bằng phương pháp ELISA,

2.1.4.4 Chẩn đoán bằng phương pháp Polymerase Chain Reaction (PCR)

Phương pháp Polymerase chain reaction (PCR) hay phản ứng chuỗi polymerase do Karl Mullis và cộng sự phát minh năm 1985 đã đưa lại một cuộc cách mạng trong di truyền học phân tử Đây là một phương pháp tạo dòng invitro, không cần sự hiện diện của tế bào PCR là một phản ứng sinh hoá phụ thuộc nhiệt độ, dựa trên nguyên tắc sử dụng đoạn mồi chuyên biệt để tổng hợp nên một mạch DNA mới bổ sung với đoạn DNA khuôn mẫu Kỹ thuật PCR được phát triển từ các tổ hợp đang tồn tại và được cải tiến, dựa nhiều vào các đặc điểm nhiệt động học của các cặp gốc AT và GC (Hồ Huỳnh Thuỳ Dương (2003) [13]; Lê Thanh Hoà (2002) [18])

Phản ứng PCR gồm một chuỗi nhiều chu kỳ nối tiếp nhau Mỗi chu kỳ gồm ba bước (ba giai đoạn): Bung liên kết của DNA (giai đoạn biến tính); Mồi bám (giai đoạn lai); Tổng hợp (giai đoạn kéo dài) Ba bước trong chu kỳ này được lặp đi lặp lại nhiều lần Kết quả là từ một đoạn DNA bất kỳ có thể

được nhân lên nhanh chóng hàng tỷ lần mà không cần đến tế bào vi sinh vật

Có nghĩa rằng một đoạn DNA ở một vùng bất kỳ trong genome được khuếch

đại lên rất nhiều lần (2n sau n chu kỳ) khi trình tự nucleotid ở hai đầu đoạn DNA đó đã biết (Võ Thị Thương Lan, 2002) [21]

Trang 22

Sản phẩm của PCR là hỗn hợp các chuỗi xoắn kép DNA được kiểm tra bằng cách chạy điện di trên thạch agarose nồng độ 0,8%- 2%, và DNA được nhìn thấy rõ dưới tia cực tím, sau khi đã nhuộm Ethidium Bromid (một loại hoá chất có khả năng bám và làm hiển thị DNA) Độ dài DNA sản phẩm được tính bằng cách so sánh với chỉ thị DNA (DNA Marker), hay sử dụng DNA của

thực khuẩn thể Lambda cắt bằng enzym giới hạn HindIII (Lê Thanh Hoà,

2002) [18] ứng dụng trong công tác chẩn đoán bệnh dịch tả vịt, với đoạn mồi

được xác định trước là của chủng virus dịch tả vịt chuẩn trên thế giới có trong ngân hàng gen Khi đưa mẫu bệnh phẩm cần chẩn đoán vào và tiến hành phản ứng PCR, đoạn mồi nói trên sẽ làm một đoạn DNA của virus dịch tả vịt (nếu

có trong bệnh phẩm) nhân lên nhanh chóng với số lượng lớn Sản phẩm này

được phát hiện khi điện di trên thạch agarose 0,8 - 2%

Để xác định trình tự các nucleotid của vùng gen cần nghiên cứu, có thể lấy sản phẩm PCR để xác định trực tiếp trình tự trên máy giải trình tự động (automated sequencer), nếu sản phẩm PCR tốt và đơn nhất Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, khi xác định trình tự nucleotid cần thiết phải tạo dòng sản phẩm PCR (gọi là dòng hoá, cloning), vì trong phản ứng PCR, đôi khi có những vùng nhân lên không đặc hiệu như mong muốn mà qua điện di không thể phát hiện được Do đó nó sẽ bị lẫn vào sản phẩm PCR, và khi đọc trình tự

sẽ làm chuỗi nucleotid bị rối và không chính xác Mặt khác, số lượng DNA trong sản phẩm PCR thường ít, chất lượng kém nên khi giải trình trình tự sẽ gặp khó khăn

Nguyên lý của dòng hoá là đưa đoạn DNA sản phẩm của PCR gài vào trong hệ gen của một vòng DNA đã được thiết kế trước, gọi là plasmid (hay plasmid dẫn truyền, cloning vector) Sau đó plasmid chứa DNA ngoại lai này

được chuyển nạp vào tế bào chủ thích ứng để nuôi cấy với số lượng lớn và tách DNA plasmid chứa đoạn PCR nói trên (plasmid tái tổ hợp), nhằm thu

được một số lượng lớn bản sao DNA một cách chính xác nhất Để thực hiện

Trang 23

tạo dòng, phải có các thành phần sau: DNA ngoại lai (DNA của PCR nhân vùng gen mong muốn), vector dẫn truyền (plasmid mang) và dòng tế bào chủ thích ứng (vi khuẩn, nấm men hay tế bào động vật)

Đầu tiên, DNA ngoại lai được nối vào vector nhằm tạo ra vector tái tổ

hợp Vector sử dụng là plasmid thích ứng của vi khuẩn E coli Sau đó vector

tái tổ hợp chuyển nạp vào tế bào chủ và tế bào chủ được cấy trong môi trường

thích hợp để nhân vi khuẩn nhân lên nhiều lần tế bào chủ ở đây là vi khuẩn E

coli Cuối cùng qua các bước tách chiết DNA, người ta sẽ thu được một số

lượng lớn DNA của plasmid tái tổ hợp

Quá trình tạo dòng nói chung gồm các bước: 1) Chọn và xử lý vector, 2)

Xử lý DNA cần tạo dòng, 3) Tạo vector tái tổ hợp vào tế bào chủ, 4) Phát hiện

dòng cần tìm

Tác giả Vũ Minh Thục (2004) [32] cho biết nhược điểm chính của phương pháp PCR là sự nhạy cảm khác thường của chúng, làm cho chúng rất

dễ có kết quả “dương tính sai”, và thường diễn ra bởi một số lượng nhỏ DNA

bị nhiễm chéo trong phòng thí nghiệm Tuy nhiên, riêng với bệnh dịch tả vịt, Hansen (1999) [43] khẳng định sự đặc trưng của đoạn mồi đã được kiểm tra với bộ gen khuôn mẫu của các loại Herpesvirus gây bệnh ở các gia cầm khác như đại bàng, chim câu, gà, …Kết quả cho thấy sự khuếch đại vẫn không cho sản phẩm Điều này có nghĩa là phản ứng này đặc hiệu rất cao cho DNA của virus dịch tả vịt Với hai đoạn mồi sẽ có khả năng phát hiện 1 fg của DNA từ virus dịch tả vịt và phản ứng PCR được đánh giá là nhạy bén hơn gấp 20 lần so với việc chẩn đoán bệnh dịch tả vịt bằng nuôi cấy tế bào

2.1.5 Biện pháp can thiệp và phòng bệnh dịch tả vịt

2.1.5.1 Biện pháp can thiệp

Bệnh dịch tả vịt là bệnh không chữa được Nên giết chết và chôn sâu những vịt bị bệnh chết hoặc bệnh quá nặng (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [25] Tuy nhiên đối với trường hợp đàn vịt mới chớm mắc vài con thì có thể can thiệp

Trang 24

bằng cách tiêm vacxin dịch tả vịt nhược độc cho toàn đàn Những vịt nào đã bị nhiễm virus thì sẽ phát bệnh ngay còn những vịt chưa bị nhiễm virus sẽ được bảo hộ nhờ vào hiện tượng cản nhiễm Nếu tiêm sớm và kết hợp với chăm sóc

đàn vịt tốt thì có thể cứu đựơc tới 90% vịt (Trần Minh Châu, 1996) [7]

Ngày nay, bệnh dịch tả vịt có những diễn biến phức tạp Tác giả Phạm Quang Hùng (2003) [19] nêu một số nguyên tắc phòng bệnh bằng vệ sinh như sau:

- Chuồng trại vịt cách xa khu dân cư Cổng trại phải có hố sát trùng (thường sát trùng bằng Cloramin 3%) Hạn chế người đi lại, người ra vào trại phải sát trùng giày dép, tay chân

- Điều kiện nuôi dưỡng tốt, máng ăn, máng uống phải sạch sẽ Thức ăn, nước uống phải vệ sinh Thực hiện tiêu độc, sát trùng dụng cụ, chuồng trại giữa hai lứa vịt Chú ý tiêu diệt chuột và các loài gặm nhấm quanh khu vực trại

- Vịt mới mua về phải nuôi cách ly ít nhất ba tuần lễ

Trang 25

Theo OIE (2000) [52]: vacxin vô hoạt tạo được miễn dịch cho đàn vịt nhưng hiệu lực thấp hơn so với vacxin nhược độc, hiện nay vacxin vô hoạt chỉ sử dụng trong phòng thí nghiệm, chưa được áp dụng trong sản xuất

+ Vacxin nhược độc:

Chủng virus dịch tả vịt nhược độc đầu tiên do Jansen và Kunst (1964) [47] nghiên cứu Chủng virus này không còn độc với vịt, vẫn giữ được tính kháng nguyên và trở thành chủng virus vacxin Cùng với quá trình nghiên cứu

về bệnh dịch tả vịt; ở nhiều nước, các nhà khoa học đã dùng các chủng virus dịch tả vịt phân lập ở địa phương để chế tạo virus vacxin bằng các phương pháp khác nhau

ở ấn Độ, Mukerji đã tạo được một chủng virus nhược độc bằng cách dùng virus cường độc phân lập ở Cancuta đem cấy truyền liên tiếp 25 đời trên phôi gà Vacxin gây hiệu lực miễn dịch cho vịt trong 14 tháng

ở Mỹ, Dardini (1968) [38] đã tạo được một chủng virus nhược độc bằng cách cấy truyền nhiều đời virus cường độc trên môi trường phôi vịt và phôi gà

Ngày nay, người ta sử dụng hai chủng virus vacxin là virus nhược độc dịch tả vịt thích nghi trên phôi vịt và virus dịch tả vịt chủng Jasen thích nghi trên phôi gà và trên nuôi tế bào Fibroblast phôi gà một lớp Đây là 2 loại vacxin

có độ an toàn cao và hiệu lực tốt, thời gian miễn dịch dài sau khi tiêm vacxin (9 tháng vịt vẫn còn miễn dịch) Vacxin sử dụng an toàn cả với vịt con một ngày tuổi Vacxin được chế biến dưới 2 dạng vacxin tươi và vacxin đông khô (Lê Hồng Mận, 1999) [24]

Vacxin tươi thường được đóng ở ampoul 100 liều, chỉ bảo quản tối đa là

4 tháng ở kho lạnh và phải dùng không quá 6 giờ khi đã pha loãng vacxin bằng nước sinh lý

Vacxin đông khô thì thời gian bảo quản dài hơn (khoảng 1 năm) và ít bị mất hiệu lực hơn khi gặp điều kiện bất lợi Vacxin đông khô có thể đóng 1ampoul 100 liều hoặc chai có từ 500 - 1000 liều (Nguyễn Như Thanh, 2001) [28]

Trang 26

Tùy theo liều đóng vacxin mà pha loãng với nước sinh lý đủ cho 0,2ml/vịt con và 0,3 - 0,5ml/vịt lớn Đường tiêm chủ yếu của vacxin nhược

độc là tiêm dưới da hoặc bắp lườn

- Về lịch trình sử dụng vacxin, có nhiều công trình nghiên cứu nhằm mục

đích bảo hộ hữu hiệu nhất cho đàn vịt nuôi Hầu hết các công trình đó đều thống nhất ở một số điểm như sau:

+ Với đàn vịt ở vùng bị dịch uy hiếp, cần tiêm phòng cho vịt con ngay sau khi vịt nở

+ Vịt nuôi thịt chỉ cần tiêm phòng 1 lần ở nơi không bị dịch uy hiếp, có thể tiêm phòng cho vịt vào lúc vịt từ 2-3 tuần tuổi

+ Đối với vịt đẻ và vịt giống, lịch tiêm phòng yêu cầu chặt chẽ hơn Nguyễn Như Thanh (2001) [28], Phạm Quang Hùng (2003) [19] đề nghị tiêm phòng ngay sau khi vịt nở từ đàn vịt bố mẹ đã đựơc phòng bệnh dịch tả vịt Sau 45 ngày cần tiêm lại và sau 1 năm thì cứ mỗi 6 tháng lại tiêm phòng 1 lần

Lê Hồng Mận (1999) [24], Nguyễn Xuân Bình (2004) [3] cũng cho rằng cần tiến hành tiêm 2 lần/ năm đối với vịt lớn; Lần 1: cuối xuân đầu hè - Lần 2: sau lần thứ nhất 6 tháng

Ngoài ra, tác giả Trần Minh Châu còn đề nghị tiêm củng cố cho vịt con

10 ngày tuổi bằng vacxin viêm gan để đảm bảo cho đàn vịt nuôi tại những nơi

bị ô nhiễm nặng

2.2 Virus Gây bệnh dịch tả vịt

Virus gây bệnh dịch tả vịt là loại DNA virus thuộc họ Herpesvirideae nhóm Herpesvirus Virus chỉ có 1 serotype được biết đến nhưng có nhiều chủng có độc lực khác nhau tồn tại trong tự nhiên ( Nguyễn Như Thanh, 2001) [28]

2.2.1 Virus nhóm Herpes

Virus Herpes được Gritner (1912) phát hiện trong dịch thể nốt phồng Herpes ở người bằng cách dùng thể này gây bệnh cho thỏ vào giác mạc đã được rạch sẵn

Trang 27

Các virus nhóm Herpes được xếp vào nhóm virus có dạng cấu trúc phức tạp, có kích thước từ 120 - 200nm, là loại có kích thước trung bình Herpesvirus có kiểu đối xứng khối, được tạo thành từ 4 thành phần cấu trúc:

Herpesvirus không bền với nhiệt, nhạy cảm với ete và chloroform Tuy nhiên, chúng tương đối bền với sự thay đổi của pH môi trường (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [25]

Virus có khả năng nhân lên trên tế bào nuôi Khi nhiễm trùng tự nhiên hay thực nghiệm trên súc vật, trong các mô nhiễm phát hiện ra các hạt vùi kiểu A theo Crowdy (trên cơ sở đó mà Andrew đề nghị gọi là nhóm Nitavirus, tức Nuclear inclusion type A) Các kiểu tổn thương mà virus gây nên đối với tế bào bị xâm nhiễm có thể là: tế bào đa nhân khổng lồ với các hạt vùi trong nhân; tương bào bị không bào hóa; tế bào nhân sáng hơn do ít chất nhiễm sắc, có những hạt virus đang hình thành ở các giai đoạn khác nhau (Trần Minh Châu, 1987) [6]

Quá trình tổng hợp DNA của Herpesvirus xảy ra trong nhân Lê Huy Chính (2001) [9] cho biết: Sau khi virion xâm nhập vào nguyên tương bào do

sự hòa màng thì diễn ra sự cởi vỏ và phức hợp DNA - protein di chuyển vào nhân tế bào DNA sao mã thành RNAm trong nhân tế bào, còn protein tổng hợp ở nguyên tương

Sự tổng hợp DNA của virus ở trong tế bào nuôi có thể bị ức chế bởi chất

5 - iod - zdesoxyuridin Dựa vào đây, người ta có thể phân loại các virus trong nhóm này và đây cũng chính là nguyên nhân để xếp virus vào nhóm DNA virus (Nguyễn Thị Chính, Lê Tiến Hiển, 2001) [10]

Trang 28

2.2.2 Virus dịch tả vịt ( Duck enteritis virus)

Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [25]; Nguyễn Như Thanh (2001) [28] cho biết: Virus có đường kính tăng dần khi cấu trúc dần được hoàn thiện ở những

tế bào được gây nhiễm virus, sau 24 giờ thấy các hạt vùi trong nhân và nguyên sinh chất Đó là những tập hợp không có hình thù, trông giống như bụi Trong nhân, hạt virus có đường kính là 93,5 nm; trong nguyên sinh chất có đường kính là 136 nm và thành thục ở không bào với đường kính 250 nm

Theo Trần Minh Châu (1987) [6] ở Việt Nam, virus dịch tả vịt cường độc chủng 769 có hình thái và cấu trúc giống như virus mà Brixơ, Dardini (1968) [38], Proctor (1976) [54] và Bergmann (1978) [60] đã mô tả

Virus dịch tả vịt qua được lọc Chamberland, Berkefeld nhưng không qua

được màng lọc Seitz Bằng phương pháp lọc qua màng lọc; Hess và Dardini (1968) [44]đã nhận xét, virus dịch tả vịt nhược độc chủng Jansen và virus cường độc có kích thước 150 - 250 nm

Trang 29

hơn thì tính gây nhiễm của virus giảm dần Ngoài ra, Nguyễn Như Thanh (2001) [28] khẳng định: Virus mất khả năng gây nhiễm ở 300C sau 2 giờ; 700C trong 20 phút, 800C virus bị vô hoạt sau 5 phút Trong điều kiện lạnh từ -100C

đến -200C, virus có thể tồn tại rất lâu Làm đông khô các chất chứa virus không những có thể giữ virus nhiều năm mà còn không làm mất độc lực của virus Với pH môi trường: virus ổn định ở pH từ 5 - 10 và bị bất hoạt khi pH < 3 hoặc pH > 10

Với một số nhân tố hóa học, virus dịch tả vịt rất nhạy cảm với ete và chloroform Dưới tác dụng của hai chất này, virus bị phá hủy Kunst (1967) [48] cho rằng Natri lauryl sulfate, Natridesoxycholate, Zephirol, Saponin có ảnh hưởng với virus Theo Nguyễn Thát (1975) [29]; Nguyễn Như Thanh (2001) [28] thì cồn 750 diệt virus trong 5-30 phút, acid phenic 0,5% diệt virus sau 30 phút NaOH 2% và NH4OH 0,5% ở 220C cũng giết chết virus sau 30 phút

Với một số enzym, Hess và Dardini (1968) [44] cho biết virus dịch tả vịt

bị các men Trypsin, Chimotrypsin, Lypase của tụy phá hủy

phôi vịt bị nhiễm virus (Lam, 1984) [49]

Trang 30

* Nuôi cấy trên phôi

Jansen sau khi nghiên cứu về đặc tính nuôi cấy của virus dịch tả vịt đã kết luận: Virus dịch tả vịt sau khi đã tiêm truyền trên phôi vịt sẽ dễ dàng thích nghi trên phôi gà

Mặc dù vậy, khi nuôi cấy trên phôi vịt, tỷ lệ chết của phôi không cao và theo kinh nghiệm thì virus dịch tả vịt Việt Nam có vẻ như khó nuôi cấy trên phôi gà (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [25]

Nghiên cứu về khả năng nhân lên trên phôi của virus dịch tả vịt, Trần Minh Châu, (1987) [6] cho rằng màng nhung niệu là đường tiêm truyền tốt nhất Theo Nguyễn Như Thanh (2001) [28], nuôi cấy virus trên màng niệu

đệm hoặc xoang niệu mô của thai vịt ấp 12 ngày, thai sẽ chết sau 4- 6 ngày với các bệnh tích: xuất huyết trên da vùng lưng, rìa cánh, đầu; gan và bề mặt quả tối có điểm xuất huyết và hoại tử Ngoài ra, một số phôi có biểu hiện phù, một số phôi lại có hiện tượng màng nhung niệu sưng dày

Virus dịch tả vịt có thể cảm nhiễm với phôi ngỗng ấp 12 ngày tuổi và giết chết phôi sau 3 - 5 ngày Virus cường độc dịch tả vịt ít mẫn cảm ở những lần cấy truyền đầu tiên trên phôi gà Đối với phôi gà 9 - 10 ngày tuổi phải tiếp truyền virus sau ít nhất 12 đời liên tiếp virus mới thích nghi

Qua nhiều lần cấy truyền virus trên phôi vịt, phôi gà, độc lực của virus sẽ giảm dần với vịt Người ta sử dụng những chủng virus nhược độc này qua phôi

gà, phôi vịt để chế tạo vacxin

* Nuôi cấy trên tế bào

Virus dịch tả vịt có thể nuôi cấy trên môi trường tế bào phôi vịt, phôi gà một lớp và gây ra biến đổi bệnh lý cho tế bào (Jansen, 1968) [46] Burgess (1981) [36] công bố virus dịch tả vịt có khả năng nhân lên trên loại tế bào xơ phôi vịt, xơ phôi ngan, gan phôi ngan, xơ phôi gà Theo Ronald Atlanasio, (1989) thì không quan sát thấy biến đổi bệnh lý tế bào khi nuôi cấy virus trên

tế bào thận lợn dòng PK15, tế bào WI-38, RD Hela, Hep-2, Vero, LleMK,

Trang 31

BGM và BD (Trần Minh Châu, 1987) [6]

ở Việt Nam, khi nghiên cứu nuôi cấy virus cường độc trên tế bào xơ phôi vịt Sau 36 giờ có hiện tượng tế bào co tròn lại, thoái hoá và rụng khỏi thành bình tạo thành khoảng trống, xung quanh là những hợp bào (Synciticum) như những dải đăng ten Lớp tế bào này sẽ bị phá huỷ hoàn toàn vào ngày thứ 4 Trong các bình nuôi cấy virus ở nồng độ loãng, có thể phát hiện được Plaque (những ổ tế bào bị virus gây thoái hoá) bằng cách nhuộm lớp tế bào với dung dịch Fushin kiềm hoặc đỏ trung tính hoặc tím kết tinh (Nguyễn Lân Dũng, 1972) [12] Nếu nhuộm bằng Fushin kiềm trong vài giây, sẽ quan sát thấy Plaque hiện ra trên nền đỏ, hình tròn, bờ không gọn và có đường kính 1 - 2mm (Trần Minh Châu, 1987) [6]

Theo Dardini và Hess (1968) [38] Plaque của virus dịch tả vịt cường độc hình tròn, to nhỏ không đều, có đường kính từ 1 - 8mm Plaque của virus dịch tả vịt nhược độc thì đều hơn, có bờ gọn và sáng, đường kính là 3 - 4mm Nguyễn Như Thanh (2001) [28] cũng mô tả, với các chủng virus nhược độc, Plaque đều gọn và sáng rõ; ở ngày thứ 3 có đường kính 3mm, sau 6 ngày là 4 - 7mm và sau 14 ngày sẽ là 10mm

Về sự nhân lên của virus ở tế bào nuôi cấy, qua nghiên cứu thấy rằng: 12 giờ sau khi cấy virus vào tế bào đã tìm thấy virus ở trong nhân tế bào Đến 24 giờ virus đã có mặt ở nguyên sinh chất và lúc 60 giờ thì tế bào có hàm lượng virus cao nhất

Sự xuất hiện Plaque trên các môi trường nuôi cấy khác nhau là khác nhau Virus cường độc thì nhân lên và hình thành các Plaque đẹp theo thứ tự các môi trường sau: tế bào xơ phôi ngan và uyên ương, xơ phôi vịt Bắc Kinh, vịt đen, vịt đầu đỏ Còn xơ phôi vịt mốc và vịt bãi là kém nhất

Virus nhược độc dịch tả vịt của Hà Lan lại có thứ tự các môi trường thích hợp khác: tế bào xơ phôi vịt Bắc Kinh, tế bào xơ phôi gà, trĩ Mông Cổ, cun cút

(Ronald Atlanansio, Robert Olson, James C Johnson, 1980) (Trích Trần

Trang 32

Minh Châu, 1987) [6] Đối với virus nhược độc chủng Jansen, virus rất thích

ứng trên môi trường tế bào xơ phôi gà Chỉ sau 24 giờ cấy virus, tế bào đã bắt

đầu có hiện tượng huỷ hoại tế bào bị biến dạng, co tròn, phình to ra, tập trung thành từng đám và có thể nhìn rõ dưới kính hiển vi quang học (nghiên cứu của

Bộ môn VSV - TN - BL trường Đại học Nông nghiệp I)

* Nuôi cấy trên động vật cảm thụ

Có thể dùng vịt con 1 ngày tuổi để nuôi cấy, virus nhân lên, 3 - 12 ngày sau vịt chết với triệu chứng, bệnh tích điển hình của bệnh Ngoài vịt con, có thể dùng ngan con, ngỗng con, gà con mới nở để gây bệnh

2.2.3 Miễn dịch chống virus dịch tả vịt

2.2.3.1 Đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu

Khi virus xâm nhập và tấn công vào các tế bào, ngay lập tức hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ chống trả bằng việc sinh ra các chất miễn dịch không đặc hiệu nhằm chống lại sự xâm nhập và nhân lên của virus Các chất đó bao gồm:

* Interferon: Là một chất do tế bào sinh ra Nó có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus bằng cách giải thoát sự khống chế việc tổng hợp protein kháng virus Protein này có khả năng khống chế sự phiên dịch các thông điệp của virus ở Ribosome của tế bào (Nguyễn Đường, 1990) [14]

Nghiên cứu về vai trò của Interferon và hiện tượng cản nhiễm (Interferon); Jansen (1964) [45] đã chứng minh vacxin còn phát huy tác dụng ngay cả khi vịt

đã nhiễm virus cường độc trước khi tiêm vacxin Nếu nhiễm virus cường độc trước 4 giờ thì trong 10 vịt can thiệp bằng vacxin sống 8 con Nếu can thiệp vacxin lúc vịt nhiễm virus dịch tả vịt trước 8 giờ, 15 vịt phát bệnh nhưng còn sống 3 con Nếu vịt bị nhiễm bệnh từ 16 giờ trở lên, dù tiêm vacxin vịt vẫn không được bảo hộ Như vậy, rõ ràng, interferon có vai trò quan trọng trong việc chống lại sự nhân lên của virus dịch tả vịt và hiện tượng cản nhiễm là cơ sở khoa học cho việc can thiệp vacxin vào ổ dịch để nhanh chóng dập tắt dịch

* Tế bào NK: tăng cường hoạt động diệt những tế bào đã bị nhiễm virus

Trang 33

do chúng có một phần tử KIR (Killer cell Inhibitory Receptor) có tác dụng giúp chúng tiếp xúc với tế bào đích (tế bào bị nhiễm virus) làm ức chế tín hiệu hoạt hoá và dung giải tế bào đích

* Các loại bổ thể có vai trò khởi phát viêm và opsonin hoá các yếu tố gây bệnh Từ đó tạo điều kiện cho các tế bào thực bào bắt nuốt, tiêu diệt và trình diện kháng nguyên

2.2.3.2.1 Sự hình thành kháng thể kháng virus dịch tả vịt

ở vịt, kháng thể kháng virus dịch tả vịt có được do các hình thức miễn dịch chủ động và bị động

* Về miễn dịch chủ động tự nhiên: Sau khi vịt mắc bệnh dịch tả vịt và đã

khỏi bệnh thì vịt sẽ có kháng thể kháng virus dịch tả vịt trong cơ thể và được miễn dịch Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì vịt khỏi bệnh có thể

bị mắc trở lại Bệnh tái phát thường ở thể ẩn, không có triệu chứng rõ Nếu khám vịt ốm, chỉ thấy bên dưới lưỡi có nốt rộp, từ nốt rộp có tác giả đã phân lập được virus dịch tả vịt Do mang đặc tính của một virus Herpes, nên khi gặp

điều kiện thuận lợi, virus lại tiếp tục phát triển và gây bệnh làm thành nốt rộp mới Tác giả đã đề xuất phương pháp kiểm tra bệnh dịch tả vịt ẩn tính bằng

khám nốt rộp ở mặt dưới của lưỡi (trích Trần Minh Châu, 1987) [ 6]

* Về miễn dịch chủ động nhân tạo: Vịt có được khả năng miễn dịch này

nhờ được tiêm vacxin Hiệu lực và độ dài đáp ứng miễn dịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại vacxin, đường đưa vacxin vào cơ thể, Trên thực tế, khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn vịt khi sử dụng vacxin dịch tả vịt vô hoạt thấp

Trang 34

hơn khi dùng vacxin nhược độc (Butterfield W.K and Dardiri A H., 1969) [37] Việc tiêm nhắc lại nhiều lần hoặc tiêm nhắc lại với số lượng lớn kháng nguyên làm sản sinh ra một lượng kháng thể lớn hơn (Fenner, 1974) [41] Còn

về đường đưa vacxin, Shawky S.A và Sandhu T.S (1997) [57] cho rằng đường

đưa vacxin vào cơ thể tốt nhất là tiêm bắp hoặc tiêm dưới da; phương pháp nhỏ mắt, nhỏ mũi đòi hỏi nhiều thời gian mà hầu như không gây được miễn dịch Tuy nhiên, tại Việt Nam, nghiên cứu về hiệu lực miễn dịch phòng bệnh của vacxin dịch tả vịt khi áp dụng quy trình tiêm chủng khác nhau trong sản xuất, Nguyễn Đức Hiền (1999) [16] cho biết với phương pháp nhỏ mắt hay tiêm bắp hoặc phối hợp cả hai phương pháp trên đều cho đáp ứng miễn dịch không khác nhau nhiều Tuổi tiêm chủng đầu tiên là 14 ngày tuổi thì có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả sử dụng vacxin

* Về miễn dịch bị động tự nhiên: Fenner (1974) [41]; Rohrer (1969) [62]

và Leibovitz (1991) [50] đều cho rằng: trong bệnh dịch tả vịt, kháng thể của vịt mẹ được truyền cho vịt con qua lòng đỏ trứng Lượng kháng thể dịch tả vịt

ở trong lòng đỏ cao hơn hay thấp phụ thuộc vào hàm lượng kháng thể trong huyết thanh vịt mẹ ở những vịt con 1 ngày tuổi, hàm lượng kháng thể dịch tả vịt trong máu xấp xỉ bằng hàm lượng kháng thể trong lòng đỏ Theo thời gian, hàm lượng kháng thể này sẽ giảm dần và chỉ tồn tại ở vịt con tối đa là tới ngày

21 Ngoài ra, dù vịt con có được hưởng thụ được kháng thể ở vịt mẹ, nhưng nếu bị nhiễm nhiều virus thì vẫn có thể bị chết vì bệnh dịch tả vịt Như vậy, kháng thể do vịt mẹ truyền cho chỉ có thể bảo vệ vịt con trong những ngày đầu sau khi nở nếu chúng bị nhiễm một lượng virus rất ít

ở vịt 1 tháng tuổi, sự hình thành kháng thể chủ động kháng virus dịch tả vịt sẽ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của kháng thể do tiêm huyết thanh miễn dịch ở vịt con có kháng thể tiếp thu của mẹ thì sự hình thành kháng thể chủ động bị hạn chế khi được tiêm vacxin lúc một ngày tuổi Trần Minh Châu (1986) [5] cho biết: ở vịt con được tiêm vacxin nhược độc dịch tả vịt

Trang 35

lúc một ngày tuổi thì tỷ lệ miễn dịch bảo hộ giai đoạn 20 - 30 ngày tuổi đạt

25 - 50% (nếu là con của vịt mẹ được tiêm vacxin trước 6 tháng) Tỷ lệ miễn dịch bảo hộ của vịt con chỉ đạt 20 - 40% trong giai đoạn 10 - 20 ngày tuổi (nếu là con của vịt mẹ đã được miễn dịch bằng vacxin 1 hay 2 lần) Còn với vịt con mà vịt mẹ không được tiêm vacxin thì tỷ lệ bảo hộ đạt 100% cho đến 45 ngày tuổi

* Về miễn dịch bị động nhân tạo: Là trường hợp can thiệp vào đàn vịt (đã

bị mắc bệnh dịch tả vịt tự nhiên) bằng kháng thể dịch tả vịt Tuy nhiên, việc tạo miễn dịch dạng này không tồn tại lâu trong cơ thể và cũng không mang lại nhiều ý nghĩa trong thực tiễn

2.2.3.2.2 Các loại kháng thể chống virus dịch tả vịt

Để chống virus dịch tả vịt, có hai loại kháng thể đặc hiệu được sản sinh

ra là kháng thể dịch thể và kháng thể tế bào

* Kháng thể dịch thể: Là các Globulin miễn dịch hoạt động chủ yếu khi

virus còn trong máu Chúng phong bế sự hấp thụ virus lên bề mặt tế bào, ngăn cản sự hoà màng vỏ virus vào màng tế bào, ngăn cản virus phá vỡ màng của hốc thực bào hoặc phá mạng phân tử vỏ của virus, ngăn cản sự tái sao của chúng (Vũ Triệu An, 1997) [1]

Đối với bệnh dịch tả vịt, lượng kháng thể dịch thể được sinh ra trong những trường hợp vịt bị nhiễm bệnh tự nhiên thường thấp và sự tồn tại trong một thời gian ngắn (Trần Minh Châu, 1987) [6]

* Kháng thể tế bào: Có thể nói rằng, đáp ứng miễn dịch tế bào có

vai trò rất quan trọng trong miễn dịch của cơ thể với virus dịch tả vịt (Dardini, 1968) [38] Qua kết quả nghiên cứu của Jansen thấy rằng: Một

số vịt sau khi được tiêm vacxin có hàm lượng kháng thể dịch thể rất thấp nhưng khi đem thử thách với virus dịch tả vịt cường độc thì vẫn được bảo

hộ Như vậy ở những trường hợp này rõ ràng có vai trò đáng kể của kháng thể tế bào

Trang 36

đánh giá mức độ miễn dịch của đàn vịt Phản ứng trung hoà được sử dụng rộng rãi để phát hiện kháng thể trung hoà trong huyết thanh Tiến hành phản ứng trên phôi vịt, phôi gà hoặc trên môi trường nuôi cấy tế bào xơ phôi vịt, xơ phôi ngan trong trường hợp đàn vịt chưa được miễn dịch hoặc chưa gây được bệnh

Theo Dardini, 1968 [38] chỉ số trung hoà từ 0 - 1,5 được coi là cơ thể không

bị nhiễm virus dịch tả vịt, cơ thể bị nhiễm virus khi chỉ số trung hoà ≥ 1,75

* Phương pháp công cường độc: Được sử dụng với mục đích xác định

mức độ đáp ứng miễn dịch của cơ thể sau khi tiếp xúc với virus vacxin Phương pháp này đánh giá đúng mức độ bảo hộ cho đàn vịt Do một số khó khăn, đặc biệt là vấn đề an toàn dịch bệnh nên không phải lúc nào phương pháp này cũng được sử dụng

2.3 Những nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt và vacxin phòng bệnh ở việt nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt ở Việt Nam

ở Việt Nam, năm 1963 tại Cao Bằng, bác sĩ thú y Đặng Trần Dũng (1963) [11] cho biết; bệnh dịch tả vịt đã xuất hiện làm thiệt hại trên 3000 vịt Tháng 5/ 1969, trong vòng 3 tháng bệnh dịch tả vịt đã làm thiệt hại tới 15000 vịt ở 4 huyện ngoại thành Hà Nội Chính từ ổ dịch này đã phân lập ra virus và

có thể nuôi cấy virus này trên màng niệu và xoang niệu phôi vịt 10 ngày tuổi ( Trần Minh Châu, 1987) [6] Qua nghiên cứu thấy virus gây được bệnh điển

Trang 37

hình cho vịt và không có đặc tính gây ngưng kết hồng cầu gà Năm 1969, Vũ

Đình Tiếu và Mai Anh đã nghiên cứu và thấy rằng dùng vacxin dịch tả vịt để tiêm cho vịt sẽ ngăn chặn được dịch Từ đó bệnh dịch tả vịt chính thức được công nhận có tại Việt Nam

Tiếp theo, bệnh dịch tả vịt đã lan tràn rất mạnh mẽ ở nhiều tỉnh trong cả nước Năm 1969, dịch phát ra ở Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình, Vĩnh Phúc,

Hà Tây, Nam Hà (cũ), Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Cao Bằng, Hải Hưng (cũ) đều có dịch, số vịt bị thiệt hại lên tới 121.245 con (Trần Minh Châu, 1987 [6]) Ngay sau đó, vào năm 1971, dịch lại phát ra ồ ạt ở các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Bắc và thành phố Hải Phòng Nhờ có tiêm phòng vacxin nên diện dịch đã thu hẹp lại, chỉ còn âm ỉ ở một số cơ sở chăn nuôi phân tán Tuy nhiên, vào năm 1980, dịch lại phát ra mạnh mẽ ở Hà Nam Ninh (cũ), Thanh Hoá và đồng bằng sông Cửu Long Từ đó, dịch lan ra tới tận Nghệ Tĩnh, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp

Năm 1989, Phạm Thị Lan Thu, Thân Thị Hạnh [30] cho biết đàn vịt của Phú Khánh trong những năm 1980 - 1986 thường phát ra bệnh và lây lan nhanh ở nhiều nơi Các tác giả đã tiến hành phân lập virus dịch tả vịt trên đàn vịt ở Phú Khánh

Nguyễn Đức Hiền (1999) [17] đã chẩn đoán xác định virus gây bệnh dịch tả vịt ở Cần Thơ và theo kết quả chẩn đoán lâm sàng bệnh vịt vào năm 2000 -

2002 của Nguyễn Đức Hiền và cộng sự thì trên 1.176 vịt bệnh được mổ ra khám có 455 vịt được chẩn đoán là mắc bệnh dịch tả vịt

Rõ ràng, bệnh dịch tả vịt là căn bệnh cần được quan tâm, nghiên cứu sâu nhằm góp phần giảm thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi

2.3.2 Tình hình nghiên cứu vacxin dịch tả vịt ở Việt Nam

ở Việt Nam từ năm 1969 đã sử dụng chủng virus nhược độc dịch tả vịt thích nghi trên phôi vịt để sản xuất vacxin phòng bệnh cho đàn vịt Khi nuôi cấy trên phôi vịt, virus gây bệnh phôi ổn định, thời gian chết phôi trung bình

Trang 38

là 100 ± 0,24 giờ Trong nước niệu nang, hàm lượng virus có ELD50 lúc 72 giờ

là 10-4,75/0,2ml Vacxin khi sử dụng pha 1/200 tiêm vào dưới da cho vịt con với liều 0,2ml/con và tiêm cho vịt lớn với liều 1ml/con, Vacxin cho kết quả an toàn Nghiên cứu về độ dài miễn dịch của loại vacxin này, Trần Minh Châu (1987) [6] cho biết Vacxin được tạo miễn dịch tốt cho đàn vịt: vịt con 1 ngày tuổi sau khi tiêm Vacxin được bảo hộ chắc chắn 100% đến 45 ngày tuổi, vịt lớn kéo dài miễn dịch đến 9 tháng

Trần Minh Châu (1987) [6] đã nghiên cứu chủng virus vacxin nhược độc dịch tả vịt thích nghi trên phôi gà Tác giả cho biết, chủng virus này gây chết phôi gà rất ổn dịnh, thời gian chết phôi trong vòng 72 -120 giờ, virus vacxin có ELD50 từ 10-3,31/0,2ml đến 10-4,5/ 0,2ml Vacxin khi sử dụng an toàn cho vịt nhưng

về hiệu lực cần nghiên cứu thêm Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu chế thử 4 loại vacxin vô hoạt và đưa ra kết luận: Vacxin vô hoạt cũng tạo được miễn dịch cho

đàn vịt nhưng đáp ứng miễn dịch không mạnh mà giá thành lại cao

Lê Văn Lãnh (1991) [22] nghiên cứu đặc tính sinh học của virus vacxin dịch tả vịt chủng Jansen và cho biết virus vacxin có tính ổn định khi nuôi cấy trên phôi gà và tế bào xơ phôi gà 1 lớp; chỉ số ELD50 biến động trong khoảng

từ 10-3,31/ 0,2ml đến 10-3,66/0,2ml ; CPE50 biến động từ 10-4,36 đến 10-4,54 Vacxin

an toàn khi dùng cho vịt ở mọi lứa tuổi, hiệu lực của vacxin cao

Năm 1999, Nguyễn Đức Hiền [16] nghiên cứu hiệu lực miễn dịch phòng bệnh của vacxin dịch tả vịt khi áp dụng quy trình tiêm chủng khác nhau trong

điều kiện sản xuất Tác giả kết luận: phương pháp nhỏ mắt hoặc tiêm bắp hoặc kết hợp cả hai đều cho đáp ứng miễn dịch tương đối giống nhau và đạt tỷ lệ bảo hộ hơn 70% Tuổi tiêm chủng đầu tiên có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả sử dụng vacxin là 14 ngày

Gần đây, bộ môn VSV - TN - BL trường Đại học Nông Nghiệp I đang nghiên cứu về việc chế tạo vacxin mới với chủng virus nhược độc dịch tả vịt DP-EG-2000 có xuất xứ từ nước ngoài Những kết quả thử nghiệm ban đầu khá khả quan, dần đáp ứng được yêu cầu trong nghiên cứu và sản xuất

Trang 39

3 Nội dung - nguyên liệu - phương pháp

nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Nghiên cứu tình hình bệnh dịch tả vịt tại một số địa bàn thuộc ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận

Trang 40

3.1.5 Nghiên cứu khả năng bảo hộ của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng DP-EG-2000

- ứng dụng của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng DP-EG-2000 trong phòng bệnh

- Can thiệp dịch ở thực tế sản xuất

3.1.6 Sử dụng chủng virus dịch tả vịt cường độc VG-2004 trong việc nghiên cứu vacxin nhược độc dịch tả vịt DP-EG-2000

- Phương pháp công cường độc với virus cường độc dịch tả vịt chủng VG-2004 trong phòng thí nghiệm

- Phương pháp công cường độc với virus cường độc dịch tả vịt chủng

+ Chủng virus vacxin nhược độc dịch tả vịt DP-EG-2000 thích nghi trên phôi

gà có xuất xứ từ nước ngoài, được bảo quản ở - 860C trong trạng thái đông khô

3.2.4 Trang thiết bị phòng thí nghiệm

Tủ ấm 370C, tủ sấy khô, nồi hấp cao áp, tủ lạnh, tủ lạnh âm sâu- 860C, máy

ly tâm, buồng cấy vô trùng, dụng cụ làm tiêu bản vi thể và các dụng cụ thường

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình bệnh dịch tả vịt ở một số n−ớc châu á - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 2.1 Tình hình bệnh dịch tả vịt ở một số n−ớc châu á (Trang 14)
Bảng 3.1: Thành phần và số l−ợng từng thành phần tham gia PCR - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 3.1 Thành phần và số l−ợng từng thành phần tham gia PCR (Trang 48)
Bảng 4.1: Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi vịt ở một số địa bàn thuộc Hà Nội và các vùng phụ cận - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.1 Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi vịt ở một số địa bàn thuộc Hà Nội và các vùng phụ cận (Trang 54)
Bảng 4.2: Tình hình mắc bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt thuộc địa bàn  điều tra - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.2 Tình hình mắc bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt thuộc địa bàn điều tra (Trang 57)
Bảng 4.4: Kết quả phân lập virus cường độc dịch tả vịt  trên phôi vịt - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.4 Kết quả phân lập virus cường độc dịch tả vịt trên phôi vịt (Trang 63)
Bảng 4.6: Kết quả xác định chỉ số ELD 50  của chủng virus cường độc - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.6 Kết quả xác định chỉ số ELD 50 của chủng virus cường độc (Trang 69)
Bảng 4.7: Kết quả xác định chỉ số EID 50  của chủng virus cường độc - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.7 Kết quả xác định chỉ số EID 50 của chủng virus cường độc (Trang 71)
Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra bệnh tích đại thể của phôi sau khi gây nhiễm - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra bệnh tích đại thể của phôi sau khi gây nhiễm (Trang 73)
Bảng 4.10: Tỷ lệ triệu chứng, bệnh tích đại thể của vịt sau khi gây nhiễm - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.10 Tỷ lệ triệu chứng, bệnh tích đại thể của vịt sau khi gây nhiễm (Trang 79)
Bảng 4.11: Kết quả phản ứng trung hoà trên phôi - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.11 Kết quả phản ứng trung hoà trên phôi (Trang 83)
Hình 4.1 trình bày kết quả thực hiện phản ứng PCR và dòng hoá sản phẩm  PCR thu được từ khuôn là hệ gen DNA của virus cường độc dịch tả vịt phân lập  tại Việt Nam - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Hình 4.1 trình bày kết quả thực hiện phản ứng PCR và dòng hoá sản phẩm PCR thu được từ khuôn là hệ gen DNA của virus cường độc dịch tả vịt phân lập tại Việt Nam (Trang 84)
Bảng 4.12: Kết quả tiêm phòng bệnh của vacxin nh−ợc độc dịch tả vịt chủng DP-EG-2000 - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.12 Kết quả tiêm phòng bệnh của vacxin nh−ợc độc dịch tả vịt chủng DP-EG-2000 (Trang 88)
Bảng 4.13: Kết quả can thiệp dịch của vacxin nh−ợc độc dịch tả vịt - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.13 Kết quả can thiệp dịch của vacxin nh−ợc độc dịch tả vịt (Trang 90)
Bảng 4.15: Kết quả xác định hiệu lực của vacxin nhược độc dịch tả vịt DP-EG-2000 bằng phương pháp công - Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc
Bảng 4.15 Kết quả xác định hiệu lực của vacxin nhược độc dịch tả vịt DP-EG-2000 bằng phương pháp công (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm