1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận CÔNG NGHỆ sinh học

14 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 136,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tượng băng tan và mực nước biển dâng cao do sự nóng lên của toàn cầu đã làm gia tăng quá trình xâm nhập mặn vào đất liền gây ra những hậu quả nghiêm trọng.. Nước biển chảy theo sông

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-o0o -TIỂU LUẬN MÔN: CÔNG NGHỆ MÀNG

Học viên: Trịnh Thị Thủy

Mã học viên: 19812025 Lớp: Kỹ thuật Môi trường 2020A Khoa: Công nghệ Môi trường

Hà Nội, năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

GIỚI THIỆU 1 HỆ THỐNG MÀNG ƯU NHƯỢC ĐIỂM, SO SÁNH VỚI PP TRUYỀN THỐNG

Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đang đứng trước hiện tượng ô nhiễm môi trường sinh thái đất, nước, không khí nghiêm trọng mà nguyên nhân là do các hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây đã làm tăng đáng kể những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt động công nghiệp, giao thông, sự gia tăng dân số…), làm trái đất nóng dần lên,từ đó gây ra hàng loạt những thay đổi bất lợi và không thể đảo ngược của môi trường tự nhiên Biến đổi khí hậu mà biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng đã tạo nên các hiện tượng thời tiết cực đoan hiện nay Đây là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI

vì biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái, tài nguyên môi trường và cuộc sống của con người Nói một cách dễ hiểu, biến đổi khí hậu chính là sự thay đổi của

hệ thống khí hậu từ sinh quyển, khí quyển, thủy quyền tới thạch quyển trong hiện tại và tương lai Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương Những lãnh nguyên bao la từng được bao phủ bởi một lớp băng vĩnh cữu rất dày giờ đây được cây cối bao phủ Hiện tượng băng tan và mực nước biển dâng cao do sự nóng lên của toàn cầu đã làm gia tăng quá trình xâm nhập mặn vào đất liền gây ra những hậu quả nghiêm trọng

Ở Việt Nam hiện nay quá trình nhiễm mặn ngày càng gia tăng làm cho diện tích đất trồng bị thu hẹp Hiện tượng xâm nhập mặn là vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với vấn đề biến đổi khí hậu Vì vậy việc ngăn chặn quá trình xâm nhập của nước biển và cải tạo đất mặn là cấp bách và cần sự quan tâm của tất cả mọi người

Trang 4

1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1 Sự xâm lấn của nước biển

Sự xâm lấn của nước biển là quá trình nước biển dâng lên do tác động của biến đổi khí hậu xâm lấn vào đất liền khiến diện tích đất đai vùng ven biển bị thu hẹp Bên cạnh

đó nước biển từ các cửa sông sẽ chảy theo sông và kênh vào phía trong nội đồng Càng vào trong thì lượng nước sẽ giảm do tràn và thấm vào đất tương ứng với hệ số dòng sông

và kênh giảm Nước biển chảy theo sông/kênh sẽ thấm vào đất hoặc tràn lên đất (nếu mực nước cao hơn độ cao của địa hình) làm cho đất bị ngập úng và nhiễm mặn

Tình hình xâm lấn của nước biển dâng gây ra ngập úng và xâm nhập mặn đến vùng quy hoạch sản xuất nông nghiệp

Số liệu thống kê của Liên hợp quốc cho thấy, do tác động trực tiếp của tình trạng biến đổi khí hậu, mực nước biển trên đại dương toàn cầu đã tăng từ 15-20cm kể từ năm

1900 Cho đến gần đây, mực nước biển gia tăng là do thể tích nước tăng lên vì nền nhiệt cao hơn Theo dự thảo báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), nếu con người kiểm soát được tốc độ ấm dần lên toàn cầu ở mức tăng 2 độ C so với thời

kỳ tiền công nghiệp – như mục tiêu đặt ra của Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu – mực nước biển sẽ dâng khoảng 0,5m

Trong trường hợp nhiệt độ trái đất tăng 3-4 độ C với nỗ lực kiểm soát khí thải gây hiệu ứng nhà kính không hiệu quả, mực nước biển có thể sẽ tăng cao gần 1 m, đủ để phá hủy hàng chục đại đô thị ven biển, thậm chí nhấn chìm nhiều quốc đảo trên thế giới Thảm họa hơn nữa, nếu mực nước biển tăng cao hơn 1,2m thì không chỉ là các thành phố, mà nhiều quốc gia ven biển hoàn toàn có thể bị xóa sổ khỏi bản đồ thế giới Tại Việt Nam, mực nước biển dâng không những làm diện tích đất đai bị thu hẹp,

mà còn làm nhiễm mặn một số nguồn nước ngọt, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp

Dự báo đến năm 2030, khoảng 45% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị nhiễm mặn cục bộ và gây thiệt hại nặng nề cho ngành trồng trọt (khoảng 17 tỉ USD) cũng như

hệ thống cấp nước ở các vùng trũng của Nam Bộ Theo số liệu năm 2018, nếu mực nước biển dâng cao 1m, sẽ có khoảng 40% diện tích Đồng bằng Sông Cửu Long (nơi sản xuất

12 triệu tấn gạo/năm), với khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP Gần đây, các dự báo cũng đều khẳng định, mực nước biển của nước ta có thể tăng thêm 33,3cm vào năm 2050 và 45cm vào năm 2070, khoảng 1m vào năm 2100 Nếu kịch bản này diễn ra, nhiều khu vực đất liền ven biển và vùng đất trũng sẽ

bị chìm trong nước Thậm chí, có khu vực sẽ bị ngập sâu vĩnh viễn.[1]

1.2 Mặn hóa

Trang 5

Mặn hóa là quá trình xâm nhiễm và tích tụ các muối và kim loại kiềm trong môi trường đất, nước khi các môi trường thành phần này từ chỗ chưa bị mặn trở thành mặn Các quá trình mặn hóa

Đất mặn là do kết hợp của nhiều yếu tố: đất chứa muối, địa hình trũng không thoát nước, mực nước ngầm mặn nông, khí hậu khô hạn và sinh vật ưa muối Trong tất cả các yếu tố trên, nước ngầm mặn thường là nguyên nhân trực tiếp làm cho đất bị mặn

Nước nhiễm mặn là quá trình của nước biển xâm nhập vào trong đất liền, khiến cho

ao hồ, sông suối và các nguồn nước ngầm bị nhiễm muối, lượng muối trong nước tăng lên khiến nước có vị mặn hoặc lợ, không thể dùng để sinh hoạt, tưới tiêu Theo tiêu chuẩn QCVN về chất lượng nước dùng để phục vụ sinh hoạt và ăn uống mà vượt quá 300mg / l thì nguồn nước này đã bị nhiễm mặn

Phân loại mặn hóa:

Môi trường có thể nhiễm các loại mặn sau:

- Mặn hóa do muối: bao gồm các muối NaCl, Na2SO4, MgSO4, MgCl2, NaNO3, Mg(NO3)2, CaCl2, …nghĩa là muối kim loại kiềm và kiềm thổ, gốc axit là những anion:

Cl-, SO42-, NO3-, CO32-,…trong đó vai trò của Cl- là quan trọng nhất

- Mặn hóa do kiềm: quá trình tích lũy nhiều kim loại, chủ yếu là kim loại kiềm và kiềm thổ, có thể là Na, K, Ca, Mg, Ba trong đó vai trò Na là quan trọng nhất

Dựa vào nguồn gốc, đặc điểm tích lũy muối, người ta chia quá trình mặn hóa này thành 3 loại:

Ảnh hưởng của nước biển:

Xảy ra ở miền nhiệt đới do ảnh hưởng trực tiếp của biển Nước biển xâm nhập vào nội đồng theo con sông ngoài khi thủy triều lên cao, qua các trận mưa bão vỡ đê biển hoặc vào mùa khô khi nước ngọt ở các con sông chảy ra biển có lưu lượng thấp, nước ngọt không đủ lực để đẩy nước mặt khi thủy triều mạnh Nước mặn cũng theo các mao mạch, đường nứt trong đất, đi qua các con đê biển thấm sâu vào nội đồng Có nơi cách xa biển tới 40 km vẫn bị ảnh hưởng của quá trình này Ở Việt Nam, đất mặn có xấp xỉ 2 triệu hecta, chiếm gần 6% tổng diện tích đất tự nhiên và quá trình mặn hóa là do ảnh hưởng của nước biển, do đó thành phần các loại muối tan ở đất mặn Việt Nam giống như thành phần muối tan của nước biển

Quá trình mặn hóa lục địa:

Ở những vùng khô hạn và bán khô hạn, các loại muối khó tan vẫn còn lại trong đất, chỉ những muối dễ tan như: NaCl, MgCl2, Na2SO4,…mới bị hòa tan, rửa trôi nhưng cũng

Trang 6

không được vận chuyển đi xa, mà tích đọng ở những địa hình trũng không thoát nước dưới dạng nước ngầm Do hanh khô và mực nước ngầm nông,muối được di chuyển và tập trung lên mặt đất thành một lớp vỏ muối trắng xóa dày đến 1-2 cm

Quá trình mặn hóa thứ sinh:

Thường xảy ra ở những vùng khô hạn và bán khô hạn,lượng giáng thủy rất thấp(200-500 mm), do đó nền nông nghiệp có tưới và cần tưới phổ biến Do việc quản lý đất tưới và dùng nguồn nước tưới bị nhiễm mặn, nên tầng đất bề mặt bị nhiễm mặn Như vậy do tác động nhân sinh đã làm mặn hóa tầng mặt

1.3 Mặn hóa do sự xâm nhập của nước biển

Xâm nhập mặn hay còn gọi là đất bị nhiễm mặn Với hàm lượng nồng độ muối vượt mức cho phép do nước biển xâm nhập trực tiếp vào đất liền Nước biển mang theo lượng muối hòa tan và bị kết cấu của đất giữ lại, tích tụ và gây mặn Dựa vào hàm lượng NaCl trong muối biến Người ta có thể phân loại mức độ xâm nhập mặn theo các mức độ ít, trung bình và cao Nước nhiễm mặn thường là do quá trình xâm thực của nước biển vào sâu trong đất liền làm nguồn nước ở các sông, hồ, ao, suối, làm nồng độ các chất muối

có thể hòa tan chủ yếu là Natri Clorua trong nước vượt quá mức bình thường

Thông thường, khi nước biển xâm nhập vào đất liền Lượng nước ngọt từ những con sông từ thượng lưu chảy về hạ lưu Giúp trung hòa nước mặn đồng thời đẩy ngược ra biển Tuy nhiên trong những tháng mùa khô, thời tiết không có mưa và nước sông bị bốc hơi do nắng nóng Khiến lượng nước ngọt không đủ đẩy, làm hiện tượng xâm nhập diễn

ra biển

Một trong các lý do khác khiến mức độ xâm nhập mặn diễn ra với mức độ nghiêm trọng Do các hoạt động khai thác đất trồng nông nghiệp bừa bãi, mở rộng diện tích phá rừng Việc xây dựng công trình thủy lợi được thực hiện dày đặc Cơ sở vật chất được đầu

tư ngày càng nhiều Và diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh Ảnh hưởng đáng kể đến kết cấu đất Nguyên nhân hiện tượng nóng lên toàn cầu tác động tiêu cực đến biến đổi khí hậu Gây ra các thiên tai nước biển dâng cao Kéo theo hậu quả mức độ xâm nhập mặn diễn ra mạnh mẽ hơn

Xâm nhập mặn là vấn đề nghiêm trọng đối với nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam những năm gần đây, vấn đề này ngày càng trở nên cấp bách khi diện tích bị xâm nhập mặt ngày càng lớn do biến đổi khí hậu toàn cầu gây nên Xâm nhập mặn đang gây nhiều khó khăn cho chính quyền địa phương, vấn đề này đã được nỗ lực giải quyết trong

Trang 7

bối cảnh đang diễn ra biến đổi khí hậu như nước biển dâng, tăng nhiệt độ, khai thác nước ngầm quá mức để đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển, những nguyên nhân này đang

làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn.

2 NGUYÊN NHÂN GÂY RA SỰ XÂM NHẬP CỦA NƯỚC BIỂN

2.1 Các yếu tố tự nhiên

Tình trạng băng tan nhanh ở cực bắc và cực nam bán cầu do hiệu ứng nhà kính làm mực nước biển dâng cao, hậu quả là làm cho tình trạng nước biển xâm thực sâu vào đất liền làm tình trạng nước nhiễm mặn ở sông, hồ, ao, suối càng nghiêm trọng Nước biển xâm nhập vào nội đồng theo con sông ngoài khi thủy triều lên cao,qua các trận mưa bão

vỡ đê biển hoặc vào mùa khô khi nước ngọt ở các con sông chảy ra biển có lưu lượng thấp,nước ngọt không đủ lực để đẩy nước mặt khi thủy triều mạnh Nước mặn cũng theo các mao mạch, đường nứt trong đất, đi qua các con đê biển thấm sâu vào nội đồng Có nơi cách xa biển tới 40 km vẫn bị ảnh hưởng của quá trình này Ở Việt Nam, đất mặn có xấp xỉ 2 triệu hecta, chiếm gần 6% tổng diện tích đất tự nhiên và quá trình mặn hóa là do ảnh hưởng của nước biển, do đó thành phần các loại muối tan ở đất mặn Việt Nam giống như thành phần muối tan của nước biển.[2]

Các yếu tố khí tượng: gió từ biển hướng vào đất liền, nhiệt độ cao, mưa ít, sẽ là tác nhân làm mặn lấn sâu vào nội địa Những thay đổi do biến đổi khí hậu như lượng mưa

và nhiệt độ, thay đổi mục đích sử dụng đất cũng có thể làm thay đổi đáng kể tốc độ bổ sung nước ngầm cho các hệ thống tầng ngậm nước, gây ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn Lượng mưa bị thay động liên tục do tình trạng khí hậu biến đỗi, lượng nước ở những nơi bị hạn hán kéo dài thiếu nước trầm trọng càng làm tình trạng hạn mặn xảy ra càng nghiêm trọng hơn

Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng sâu sắc đến chu trình thủy văn thông qua thay đổi mô hình lượng mưa, lượng nước bốc hơi và độ ẩm của đất Lượng mưa có thể tăng hoặc giảm và phân bố không đồng đều trên toàn cầu Hiện tượng này sẽ làm thay đổi lượng nước ngầm được bổ sung, đồng thời thay đổi tốc độ xâm nhập mặn vào tầng ngậm nước ven biển Vì vậy, thông tin về các tác động của biến đổi khí hậu ở địa phương hoặc khu vực, các quá trình thủy văn và tài nguyên nước ven biển trở nên rất quan trọng

2.2 Các yếu tố nhân tạo

Tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng nhanh chóng, dẫn đến việc bê tông hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ Sự bổ sung các tầng nước ngầm từ nước mặt bị hạn chế Bên cạnh

đó, việc khai thác quá mức nguồn nước ngầm phục vụ cho các mục đích dân sinh, phát

Trang 8

triển kinh tế xã hội cũng gây ra sự cạn kiệt nguồn nước ngầm hiện có trong khi không có

sự bổ sung cần thiết bù đắp lại lượng nước đã bị khai thác

Trong tự nhiên, bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn hiếm khi ổn định

Sự gia tăng dân số nhanh chóng cùng các khu công nghiệp, sản xuất cũng gây ra áp lực cho các mạch nước ngầm, đặc biệt là vấn đề xả thải, gây ô nhiễm và khai thác quá mức

dẫ tới cạn kiệt nguồn nước ngầm Quá trình bổ sung nước hoặc khai thác nguồn nước ngầm đều dẫn đến sự dịch chuyển bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn từ vị trí này sang vị trí khác Sự dịch chuyển đó có thể làm mực nước dâng lên hoặc hạ xuống tùy thuộc vào việc nước ngọt đổ vào tầng ngậm nước tăng hay giảm Do đó, sự thay đổi lượng nước ngầm gây ảnh hưởng trực tiếp đến xâm nhập mặn Tình trạng này sẽ tăng nhanh hơn nếu giảm bổ sung nước ngầm

Bên cạnh đó, các hoạt động thay đổi mục đích sử dụng đất và quản lý đất cũng có thể làm thay đổi trực tiếp đến hệ thống thủy văn, chế độ bốc hơi nước và dòng chảy Do

đó, sử dụng đất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá nguồn nước ngầm Đối với các cửa sông tiếp giáp với biển, hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào các sông xảy ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô Khi đó lượng nước từ sông đổ ra biển giảm, thủy triều từ biển sẽ mang nước mặn lấn sâu vào lòng sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn Nồng độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến sâu vào đồng bằng

Mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Lượng nước từ thượng nguồn đổ về, lưu lượng càng giảm, nước mặn càng tiến sâu vào đất liền Biên độ triều vùng cửa sông: vào giai đoạn triều cường, nước mặn càng lấn sâu vào Địa hình: địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập mặn

Hoạt động kinh tế của con người: Nhu cầu sử dụng nước ngọt vào mùa khô tăng sẽ

làm giảm nguồn nước ngầm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn.

3 ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ XÂM NHẬP NƯỚC BIỂN

3.1 Ảnh hưởng đối với sức khỏe con người

Sử dụng nước nhiễm mặn trong thời gian dài sẽ bị những bệnh ngoài da như ghẻ lở, lác, viêm da, …

Dùng nước có nồng độ muối cao hơn mức bình thường trong nấu ăn cũng làm giảm hương vị của món ăn ảnh hưởng đến sức khỏe dinh dưỡng

Đối với người bệnh, khi dùng thuốc với nước bị nhiễm mặn thì sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc và còn có thể gây rac tác dụng phụ

3.2 Ảnh hưởng tới phát triển kinh tế xã hội

Trang 9

Ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp

Sử dụng nước nhiễm mặn để phục vụ cho công việc tưới tiêu cây trồng sẽ làm giảm sức phát triển của cây trồng thậm chí còn có khả năng làm chết cây, đối với những khu vực bị hạn mặn thì thường kết quả là mất trắng Ngoài ra dùng nước bị nhiễm mặn tưới tiêu còn làm giảm chất lượng đất trồng trọt dẫn đến việc bắt buộc phải thay đổi loại cây trồng, mục đích sử dụng đất

Nước biển dâng và triều cường làm gia tăng tình trạng xâm nhập mặn của nước biển, gây ngập úng các diện tích trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và các khu dân cư sát biển Diện tích đất trồng trọt bị thu hẹp Các ao nuôi tôm do tình hình hạn mặn dẫn đến tôm chết hàng loạt, mầm bệnh cũng tăng làm thiệt hại rất lớn cho các hộ nuôi tôm tại đây Ngoài ra các ao nuôi cá tra, trê, mè cũng xảy ra tình huống tương tự, diện tích nuôi thủy hải sản bị thu hẹp một cách đáng kể và có nguy cơ phá vỡ quy hoạch nuôi thủy hải sản Tình hình xâm nhập nặm sâu vào đất liền nên đã ảnh hưởng đến việc nuôi nước ngọt khiến diện tích nuôi ngày càng giảm

Do đặc thù địa hình của các vùng cửa sông ven biển và tiếp giáp trực tiếp với biển nên chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi những thay đổi của thời tiết Trong đó, các hiện tượng nước biển dâng, triều cường, mưa bão và nắng nóng kéo dài gây ra những tác động lớn nhất đối với các hoạt động sinh kế, sinh hoạt và sức khỏe của người dân địa phương, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của khu vực ven biển Dưới tác động của nước biển dâng hệ thống thủy lợi của các vùng ven biển dễ bị tổn thương, tình trạng xâm nhập mặn cũng vì vậy mà có chiều hướng gia tăng.[5]

Xâm nhập mặn gây ra những hậu quả nặng nề đến đời sống của bà con khu vực nơi đây Tình trạng thiếu nước ngọt là một trong những thiệt hại to lớn nhất Người dân không thể sử dụng nước nhiễm mặn để phục vụ cho các mục đích sinh hoạt như tắm rửa,

vệ sinh, giặt giũ Do nước muối cho tính ăn mòn cao, gây hư hại hệ thống dẫn nước, vật dụng chứa nước, Con người tiếp xúc trực tiếp bị nước mặn ăn mòn da tay nghiêm trọng

Không có nước ngọt, nông dân không thể tươi tiêu các loại cây ăn quả, cây hoa màu, lương thực, Dẫn đến hệ quả việc sản xuất nông nghiệp bị trì trệ Hơn thế nữa đất nhiễm mặn, gây ra tác động tiêu cực đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Cây không thích nghi được môi trường mặn xảy ra vấn đề chết hàng loạt Việc nuôi trồng các giống thủy sản cũng bị thiệt hại nặng nề bởi hiện tượng xâm nhập mặn Ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của các hộ dân và địa phương

Trang 10

Ở Việt Nam, hiện tượng xâm nhập mặn thường diễn ra tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Vào mùa khô, nước sông bắt đầu cạn dần do không có mưa Khiến nước ngọt trong các con sông ít dần Thêm hiện tượng nước biển dâng, xâm nhập trực tiếp vào đất liền thông qua các sông Từ đó, thành phần muối trong nước tăng dân bắt đầu được đất liền hấp thụ Vì vậy, hiện tượng xâm nhập mặn vừa gây mặn cho nước và đất trồng Việt Nam là nước nằm trong nhóm các quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu -nước biển dâng và trong điều kiện hiện tại, Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang gánh chịu những tác động tiêu cực đáng kể như: xâm nhập mặn sâu, ô nhiễm nguồn nước mặt,

lũ lụt, hạn hán kéo dài, cạn kiệt nguồn nước (Đoàn Thu Hà, 2014) Ngoài các tác động của sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa thì nước biển dâng cũng có tác động đến động của tình trạng ngập lụt và xâm nhập mặn (Keskinen et al., 2010) Xâm nhập mặn

và khô hạn là hai trong số những mối đe dọa đáng quan tâm đối với sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân vùng Đồng băng sông Cửu Long Khi xâm nhập mặn

và khô hạn kéo dài sẽ ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất, điển hình là tình trạng thiếu nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp, nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế của người dân Cụ thể, xâm nhập mặn làm thiếu hụt nguồn nước mặt cho canh tác lúa; điều này đã làm cho một số nông dân sử dụng nước giếng thay vì nước từ các con sông, từ đó làm suy giảm nguồn tài nguyên nước dưới đất.[3,4]

Ngoài gây sụt lún, sạt lở trên diện rộng, tình hình hạn hán, xâm nhập mặn còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sản xuất, sinh hoạt của người dân trong vùng ngọt hóa của tỉnh Cà Mau Tính đến giữa cuối tháng 2-2020, hơn 41.000 ha lúa của Cà Mau được đánh giá là thiệt hại và nguy cơ bị thiệt hại Trong đó, 18.000 ha đã bị thiệt hại Ngoài ra, đang có trên 20.500 hộ gia đình bị thiếu nước sinh hoạt

Khi người nuôi tôm (nước mặn) và trồng lúa (nước ngọt) có ruộng kề nhau đang gây ra những thiệt hại nặng, dẫn đến những xung đột gay gắt Theo khuyến cáo của các nhà khoa học, đối với các tỉnh quy hoạch vùng sản xuất tôm - lúa cần hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi đồng bộ, đảm bảo điều tiết nguồn nước phục vụ nuôi tôm, trồng lúa theo từng vùng, tiểu vùng trên cơ sở quy hoạch chung Chủ động kiểm soát, quản lý nguồn nước, nồng độ mặn và chất lượng nước theo yêu cầu sản xuất tôm - lúa

Ảnh hưởng tới sản xuất của một số ngành công nghiệp

Trong những nghành công nghiệp sản xuất sử dụng nồi hơi nước, khi nước bị nhiễm mặn sẽ làm nổ hoặc phá hủy lò gây nguy hiểm và tổn thất về kinh tế Ngoài ra, thành phần muối NaCl có trong nguồn nước nhiễm mặn có thể phản ứng và ảnh hưởng với thành phẩm trong sản xuất công nghiệp Bên cạnh đó việc xâm nhập mặn gây thiệt hại

Ngày đăng: 22/04/2022, 10:23

w