1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò mới của độc quyền

13 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 41,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có lịch sử hình thành, phát triển hàng trăm năm Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng không ngừng vận động, biến đổi Nói cách khác, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có những giai đoạn phát triển khác nhau giai đoạn tự do cạnh tranh và độc quyền Sống trong giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, V I Lênin đã xây dựng lí thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền Đó cũng chính là sự phát triển chủ ng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có lịch sử hình thành, phát triển hàng trăm năm Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng không ngừng vận động, biến đổi Nói cách khác, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có những giai đoạn phát triển khác nhau: giai đoạn tự do cạnh tranh và độc quyền

Sống trong giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, V.I Lênin đã xây dựng lí thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền Đó cũng chính là sự phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới Theo Lênin: " tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền"[1]

Thuật ngữ chủ nghĩa tư bản đương đại được dùng để chỉ giai đoạn phát triển cao hơn của chủ nghĩa tư bản, xét về mặt thời gian bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 cho đến nay Hiện nay, mặc dù độc quyền có những vai trò và biểu hiện mới, nhưng bản chất của chúng vẫn không thay đổi Lý thuyết của V.I Lênin về chủ nghĩa

tư bản độc quyền vẫn là cơ sở lí luận và phương pháp luận để giải thích những vấn đề kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản đương đại

Trang 2

NỘI DUNG

1 Nguyên nhân hình thành độc quyền

Độc quyền là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn, có khả năng thâu tóm việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá, có khả năng định ra giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao

Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự xuất hiện quá trình tích tụ sản xuất và dẫn tới ra đời tư bản độc quyền do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học – kỹ thuật, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới Ngay từ đầu, nó đã là những ngành có trình độ tích tụ tư bản cao

Hai là: Cạnh tranh tự do Một mặt, buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật, tăng quy mô tích tụ tư bản; mặt khác, đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuật kém hoặc bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứng vững trong cạnh tranh làm cho quá trình tích tụ tư bản tăng lên Vì vậy, xuất hiện một

số xí nghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trị một ngành hay trong một số ngành công nghiệp

Ba là: Khủng hoảng kinh tế làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản; một số sống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng, do đó thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất

Bốn là: Tín dụng tư bản chủ nghĩa mở rộng, trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tích tụ sản xuất trong nền kinh tế tăng cao hơn Trong điều kiện đó, những xí nghiệp và công ty lớn có tiềm lực kinh tế mạnh tiếp tục cạnh tranh với nhau ngày càng khốc liệt, khó phân thắng bại, làm nảy sinh xu hướng thỏa hiệp, từ đó hình thành các tổ chức độc quyền Các tổ chức độc quyền xuất hiện phổ biến và thống trị toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia đã tạo ra thời đại của CNTB độc quyền

Xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản độc quyền là một nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản

Chủ nghĩa tư bản độc quyền là chủ nghĩa tư bản trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của tòan bộ nền kinh tế TBCN

Trang 3

Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do nhưng không thủ tiêu cạnh tranh mà đẩy cạnh tranh ngày càng mạnh hơn và gay gắt hơn, do đó V.I.Lênin cho rằng: Bản chất đích thực của độc quyền là nền kinh tế vận động trên hai nguyên tắc ngược chiều nhau: Đó là tự do và độc quyền Độc quyền ra đời không làm bản chất các qui luật trong CNTB không thay đổi, song về hình thức biểu hiện có khác: Nếu trong giai đoạn cạnh tranh tự do quy luật giá trị thặng dư và quy luật giá trị biểu hiện thành qui luật lợi nhuận bình quân và quy luật giá cả sản xuất, thì trong độc quyền biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền và lợi nhuận độc quyền

2 Vai trò độc quyền trong nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa

Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, độc quyền có vai trò to lớn đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động ở các nước tư bản

Thứ nhất, độc quyền tạo ra khả năng to lớn trong việc nghiên cứu và triển khai hoạt động khoa học – kĩ thuật thúc đẩy tiến bộ kĩ thuật.

Độc quyền là kết quả của quá trình tích tụ và tập trung sản xuất ở mức độ cao

Do đó, các tổ chức độc quyền có khả năng tập trung được các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực về tài chính trong việc nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học – kĩ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kĩ thuật

Thứ hai, độc quyền có thể làm tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân tổ chức độc quyền.

Là kết quả của tập trung sản xuất và sự liên minh các doanh nghiệp lớn, độc quyền tạo ra được ưu thế về vốn trong việc ứng dụng những thành tựu kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới, hiện đại, áp dụng những phương pháp sản xuất tiên tiến, làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, do đó nâng cao được năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Thứ ba, độc quyền tạo được sức mạnh kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng sản xuất lớn hiện đại.

Với ưu thế tập trung được sức mạnh kinh tế to lớn vào trong tay mình, nhất là sức mạnh về tài chính, tạo cho độc quyền có điều kiện đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế trọng tâm, mũi nhọn, do đó thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển theo hướng sản xuất tập trung, quy mô lớn, hiện đại V.I.Lênin viết: “Nhưng trước mắt chúng ta cạnh

Trang 4

tranh tự do biến thành độc quyền và tạo ra nền sản xuất lớn, loại bỏ nền sản xuất nhỏ, thay thế nền sản xuất lớn bằng một nền sản xuất lớn hơn nữa”[1]

3 Đặc điểm kinh tế trong giai đoạn độc quyền

Theo V.I.Lênin, thì CNTB độc quyền có năm đặc điểm kinh tế cơ bản sau:

Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền

Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền Tổ chức độc quyền là tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở liên minh giữa những nhà tư bản lớn

để tập trung vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành bảo đảm có thể khống chế các điều kiện sản xuất và lưu thông của ngành đó nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao Tổ chức độc quyền là tế bào kinh tế của CNTB độc quyền, trong đó chứa đựng QHSX của CNTB Nhờ vị thế chi phối được các điều kiện của sản xuất và lưu thông một ngành nên các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền Giá cả độc quyền được hình thành nhờ mua các yếu tố đầu vào của sản xuất thấp hơn giá cả sản xuất và bán sản phẩm đầu ra cao hơn giá cả sản xuất nhờ vị trí độc quyền, qua đó thu được lợi nhuận độc quyền cao Như vậy, giá cả độc quyền hình thành trên cơ sở điều tiết một bộ phận của lợi nhuận bình quân từ các doanh nghiệp ngoài độc quyền và một bộ phần tiền công của người lao động Về liên kết, các

tổ chức độc quyền thường tồn tại nhờ hai hình thức:

• Liên kết ngang trong cùng ngành, từ đó ra đời loại Cácten, Xanhđica, Tờ rớt Trong đó, Cácten, xanhđica là chưa chín muồi nên dễ bị phá vỡ bởi qui luật phát triển không đều giữa các thành viên Trong thời đại ngày nay, chúng phát triển thành các conson (concern)

• Liên kết dọc (liên kết hỗn hợp) đa ngành hoặc đa hình thức bao gồm cả những cacten, xanhđica…Hình thức đơn giản là congxoocxiom và hình thức hiện đại

là cônglômêrat (conlomerate) khổng lồ

Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính

Trong nền kinh tế TBCN thời đại độc quyền, tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng diễn ra nhanh nhất, từ đó dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc Trong nền kinh tế TBCN thời đại độc quyền, tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng diễn ra nhanh nhất, từ đó dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền lớn trong ngân hàng

Từ chỗ làm trung gian trong việc thanh toán và tín dụng nay do nắm được phần lớn tư

Trang 5

bản tiền tệ trong xã hội, ngân hàng biến chức năng kỹ thuật của mình thành chức năng chi phối hoạt động của các tư bản chức năng của nhiều ngành khác nhau Trong điều kiện đó, tư bản hoạt động trong các ngành khác nhau, đặc biệt là tư bản công nghiệp không chịu sự chi phối của ngân hàng Chúng tìm cách xâm nhập vào ngân hàng bằng cách mua cổ phiếu khống chế, đưa người vào hội đồng quản trị hoặc tự lập ra các ngân hàng chuyên doanh phục vụ cho mình, nhờ đó mà xuất hiện ra quá trình xâm nhập và dung hợp giữa chúng để hình thành một loại tư bản mới là tư bản tài chính và biến ngân hàng và công nghiệp thành các chức năng của mình Tư bản tài chính là sự thâm nhập và dung hợp vào nhau giữa tư bản độc quyền trong ngân hàng và tư bản độc quyền trong công nghiệp

Bọn đầu sỏ tài chính thực hiện sự thống trị của mình bằng "chế độ tham dự" Thực chất của chế độ tham dự là nhà tư bản tài chính lớn hoặc một tập đoàn tài chính, nhờ nắm được số cổ phiếu khống chế mà chi phối được công ty gốc hay "công ty mẹ", rồi công ty mẹ chi phối các công ty phụ thuộc hay các "công ty con", các công ty này lại chi phối các "công ty cháu" v.v Từ đó hình thành các tập đoàn tư bản chứa đựng nhiều yếu tố vật chất quan trọng giúp các nước đang phát triển tiến hành CNH, HĐH nền kinh tế Do đó, nhiều quốc gia đã mở cửa đón dòng xuất khẩu tư bản cả dưới hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp

Xuất khấu tư bản trở thành phổ biến

V.I.Lênin vạch rõ, xuất khẩu hàng hoá là đặc điểm cơ bản của giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh còn xuất khẩu tư bản là đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa

tư bản độc quyền

Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản Vào cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu vì: Một số ít nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư bản lớn

và có một số "tư bản thừa" tương đối, nghĩa là lượng tư bản này nếu đầu tư ở trong nước thì lợi nhuận thấp, nên họ cần tìm nơi đầu tư ra nước ngoài có 90 nhiều lợi nhuận cao hơn Đồng thời, nhiều nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới nhưng lại rất thiếu vốn để phát triển kinh tế, giá cả ruộng đất tương đối

Trang 6

hạ, tiền lương lại thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao, rất hấp dẫn đầu tư nước ngoài

- Xét về hình thức, xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

+ Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đâu tư đê trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao, biến nó thành một chi nhánh của “công ty mẹ” ở chính quốc Các xí nghiệp mới hình thành thương tổn tại dưới dạng hỗn hợp song phương hoặc đa phương, nhưng cũng có những xí nghiệp toàn bộ vốn là của công ty nước ngoài

+ Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc cho vay để thu lợi tức, mua có phần, có phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các đinh chế tài chánh trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư

- Xét về chủ thể xuất khẩu, thì xuất khẩu tư bản được chia thành: xuất khẩu tư bản tư nhân và xuất khẩu tư bản nhà nước

+ Xuất khấu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu do tư bản tư nhân thực hiện Hình thức này có đặc điểm cơ bản là thường được đầu tư vào những ngành kinh tế có vòng quay vốn ngắn và thu được lợi nhuận độc quyền cao, dưới hình thức các hoạt động cắm nhánh của các công ty xuyên quốc gia

+ Xuất khẩu tư bản nhà nước là nhà nước tư bản độc quyền dùng nguồn vốn từ ngân quỹ của mình, tiền của các tổ chức độc quyền để đầu tư vào nước nhập khấu tư bản; hoặc viện cớ hoàn lại hay không hoàn lại để thực hiện những mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự nhất định của chúng

Về kinh tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường hướng vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư của tư bản tư nhân Nhà nước tư bản độc quyền còn thực hiện hình thức “viện trợ” không hoàn lại cho nước nhập khấu

tư bản để ký được những hiệp đình thương mại và đầu tư có lợi

Về chính trị, “viện trợ” của nước tư bản thường nhằm duy trì và bảo vệ chế độ chính trị "thân cận" đã bị lung lay ở các nước nhập khẩu tư bản, tăng cường sự phụ

Trang 7

thuộc của các nước đó vào các nước tư bản phát triển, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, tạo điều kiện cho tư nhân đẩy mạnh xuất khấu tư bản

Về quân sự “viện trợ” của nhà nước tư bản nhằm lồi kéo các nước phụ thuộc vào khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải cho các nước xuất khẩu tư bản lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình

Xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài, là công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị của tư bản tài chính trên phạm

vi toàn thế giới

Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc quyền

Việc xuất khẩu tư bản tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất yếu dẫn đến việc phân chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh vực đầu tư tư bản, phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền Cuộc đấu tranh giành thị trường tiêu thụ, nguồn nguyên liệu và lĩnh vực đầu tư có lợi nhuận cao ở nước ngoài càng trở nên gay gắt Những cuộc đụng đầu trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quyền quốc gia có sức mạnh kinh tế hùng hậu lại được sự ủng hộ của nhà nước "của mình"

và các cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chúng tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp, ký kết hiệp định để củng cố địa vị độc quyền của chúng trong những lĩnh vực và những thị trường nhất định Từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế, các tập đoàn xuyên quốc gia…

Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc

Cuối thế kỷ XIX đầu XX, lãnh thổ thế giới đã chia xong, nhưng sự phân chia không đều, các đế quốc như Anh, Pháp, Mỹ…chiếm phần lớn lãnh thổ thế giới làm thuộc địa để khai thác nguyên liệu, bóc lột lao động làm thuê và tiêu thụ hàng hóa, tức

là chiếm lĩnh và khai thác độc quyền thị trường thuộc địa nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao Trong khi đó, những đế quốc trẻ như: Đức, Áo, Hungari, Italia, Nhật Bản

có nền kinh tế phát triển nhanh, thị trường trong nước bão hòa, hàng hóa sản xuất ra không xuất được sang các nước khác bởi hàng rào hành chính và thuế quan cao Chính

vì vậy mà các trùm tư bản tài chính ở các nước này đã liên kết với nhà nước thực hiện hai cuộc chiến tranh thế giới đòi phân chia lại thuộc địa nhằm chiếm lĩnh và khai thác thị trường

Trang 8

Hai cuộc chiến tranh thế giới 1914 - 1918 và 1939 - 1945 đã để lại hậu quả nặng nề do hủy hoại sức người và sức của của nhân loại Ngay từ khi nghiên cứu về CNTB độc quyền, V.I.Lênin đã khẳng định: Đế quốc là một trong các đặc trưng cơ bản của CNTB độc quyền, Người gọi CNTB độc quyền là Chủ nghĩa đế quốc

Như vậy, Chủ nghĩa đế quốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền, biểu hiện trong đường lối xâm lược nước ngòai, biến những nước này thành hệ thống thuộc địa của các cường quốc nhằm đáp ứng yêu cầu thu siêu lợi nhuận độc quyền của

tư bản độc quyền

4 Biểu hiện mới về vai trò của độc quyền ở các nước tư bản phát triển hiện nay

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, thế giới chứng kiến nhiều sự thay đổi lớn: sự ra đời của Liên hợp quốc và các tổ chức kinh tế khu vực, toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt

là sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của lực lượng sản xuất, tạo ra sự biến đổi to lớn trong sản xuất và toàn bộ nền kinh tế toàn cầu Trong điều kiện mới của chủ nghĩa tư bản, xuất hiện những biểu hiện mới trong vai trò của độc quyền và các tổ chức độc quyền Đó là hình thành nên những tổ chức độc quyền quốc tế hay còn gọi là tập đoàn xuyên quốc gia, đa quốc gia (TNC) Các tập đoàn này hiện nay có vai trò to lớn trên phạm vi thế giới

Thúc đẩy thương mại thế giới

Một trong những vai trò nổi bật của tnc là thúc đẩy thương mại quốc tế thật vậy tổng giá trị thương mại của các chi nhánh tnc ở nước ngoài đã tăng 8% bình quân hàng năm trong giai đoạn 1982-1994.sản phẩm phần lớn tập trung vào hàng chế tạo và hướng về xuất khẩu.vào giữa thập kỷ 90 giá trị thương mại của các chi nhánh tnc ở nước ngoài đã lớn hơn giá trị nhập khẩu của các khu vực nam ,đông và đông nam á Trong những năm gần đây với chiến lược đa quốc gia và tạo ra các liên kết giữa thương mại và đầu tư các công ty mẹ thường chuyển giao trực tiếp các công nghệ nguyên liệu và dịch vụ cho các chi nhánh của mình ở nước ngoài.do vậy tỷ lệ xuất khẩu trong tổng giá trị sản lượng của các chi nhánh tnc ở nước ngoài tăng nhanh.tuy nhiên trao đổi giữa các chi nhánh của tnc thường đi cùng với giá chuyển giao tức là giá cả không dựa trên quan hệ cung cầu mà là giá thoả thuận giữa các chi nhánh trong cùng một TNC điều này đã làm thiệt hại đến nước chủ nhà.đây là vấn đề cần phải

Trang 9

được quan tâm đối với những nước đang phát triển.như vậy vai trò của tnc đối với thúc đẩy thương mại thế giới là tỷ trọng trao đổi của các tnc ngày càng lớn trong tổng giá trị thương mại thế giới ,tăng cường kiểm soát để hạn chế TNC sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh như giá chuyển giao và giá độc quyền, khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu với các khuyến khích đầu tư và phát triển dịch vụ trong thu hút TNC

Thúc đẩy đầu tư nước ngoài

Thực tế hầu hết các hoạt dộng đầu tư nước ngoài đều thực hiện qua kênh TNC.với lợi thế của mình về nhiều vốn kỹ thuật hiện đại quản lý tiên tiến và mạng lưới thị trường rộng lớn các tnc luôn tích cực đầu tư ra nước ngoài nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu

Nguồn đầu tư chính ra nước ngoài là các nước phát triển ,trước hết là các nước

G-7 và một số nước châu âu.FDI chiếm một tỷ trọng rất lớn trong GDP của các nước.năm 1996 tỷ trọng FDI vào và ra trong GDP thế giới chiếm 10,6%và 10,8%đối với các nam và đông nam á tỷ trọng đó là 15,8% và 8,1% đối với việt nam tỷ trọng FDI vào trong gdp rất lớn chiếm tới 40.2%.trong nhưng năm gần đây với tốc độ phát triển mạnh của mạng lưới các chi nhánh tnc đã tăng nhanh hình thức sát nhập và mua lại hơn là hình thức xây dựng doanh nghiệp mới để mở rộng đầu tư ra thị trường ngoài nước,xu hướng gia tăng việc sát nhập và thôn tính các công ty ngoại quốc của tnc trong đó chủ yếu ở mỹ và tây âu là một trong những nguyên nhân quan trọng gây bùng nổ đầu tư nước ngoài.cơ cấu dòng vốn đầu tư nước ngoài đã thay đổi lớn do điều chỉnh chiến lược kinh doanh của TNC.với sự phát triển mạnh của thị trường tài chính quốc tế hình thức đầu tư gián tiếp ngày càng gia tăng

TNC thúc đẩy nhanh tiến trình tự do hoá đầu tư nước ngoài thông qua tham gia sâu rộng vào quá trình quốc tế hoá sản xuất.Nhờ mở rộng chính sách tự do hoá trong những năm gần đây FDI đã tăng lên nhanh chóng.TNC ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thúc đẩy dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển.từ giữa thập kỷ 80

cơ cấu đầu tư giữa các khu vực của TNC ở các nước đang phát triển có sự thay đổi đáng kểtheo chiều hướng tăng mạnh vào các nước đang phát triển châu á và giảm dần vào các nước mỹ la tinh và caribê.Những nước đang phát triển đã thu hút được lượng

Trang 10

và 45,5 tỷ usd năm 1998.Nhưng những năm gần đây nền kinh tế của các nước mỹ-latinhvà caribê có sự phục hồi nhanh nên TNC đã tăng đáng kể đầu tư vào các nước này

Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm

TNC đã tác động rất lớn đến phát triển nguồn lực lao động theo hai cách trực tiếp

và gián tiếp.cách trực tiếp là thông qua các dự án đầu tư,TNC đào tạo lực lượng lao động địa phương để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của dự án.Trong khi đó cách gián tiếp là tạo ra các cơ hội động lực cho sự phát triển của lực lượng lao động theo đuổi mục tiêu thu nhập cao.ở các nước đang phát triển các tác động này có vai trò rất lớn đối với phát triển nguồn lực lao động đặc biệt là đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý.đây là tiền đề quan trọng để nâng cao năng suât lao động ở các nước này

Các TNC vừa và nhỏ cũng có vai trò quan trọng đối với đào tạo việc làm.ở việt nam vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu do tnc thực hiện là một nguồn vốn quan trọng để tiến hành công nghiệp hoá đất nước.Với các nước đang phát triển việc thu hút fdi là rất quan trọng, muốn vậy cần phải có những chính sách xây dựng thu hút fdi vì tnc tác động thúc đẩy tích cực dòng FDI vào các nước đang phát triển phụ thuộc quan trọng vào chính sách và môi trường của nước đó.các tnc thường có các hoạt động trợ giúp tài chính cho các chương trình nghiên cứu và đào tạo nghề,quản lý.,cung cấp các thiết

bị khoa học cho các trường đại học viện nghiên cứu.xây dựng các trung tâm đào tạo quản lý và đồng thời cũng phát triển cả hình thức đào tạo từ xa

TNC đã tạo được khoảng 45 triệu lao động vào giữa những năm1970 và 10năm sau đạt được gần 65 triệu lao động con số này tăng lên đến 70 triệu vào giữa những năm của thập kỷ 90.nhưng nhìn chung tnc thường tạo việc làm ở các ngành công nghiệp và dịch vụ hơn là trong ngành nông nghiệp và các ngành khác.điều đó đã phản ảnh đặc điểm của tnc chủ yếu đầu tư trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.một số việc làm được tạo ra một cách gián tiếp thông qua các liên kết kinh tế cung cấp dịch

vụ của các công ty nội địa.nếu tính số việc làm được tạo ra một cách trực tiếp và gián tiếp thì ước tính TNC đã tạo ra khoảng 150 triệu lao động và phần lớn số lao động này làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ đây là đội ngũ lao động quan trọng

để phát triển nguồn lực lao động của nền kinh tế thế giới nhất là các nước đang phát

Ngày đăng: 21/04/2022, 10:48

w