Với mong muốn được tìm hiểu kĩ hơn phần chủ nghĩa duy vật biện chứng giữa vật chất với ý thức, em quyết định nghiên cứu đề tài: “Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====000=====
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Bảo Ngọc
Mã sinh viên : 2114110229 Lớp tín chỉ : TRI114.6
GV hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Tùng Lâm
Hà Nội – Tháng 3 năm 2021
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, công cuộc đổi mới đã mang lại vô số thành tựu và chúng tạo ra lợi thế để đất nước ta bước vào một thời kỳ phát triển mới Mối quan hệ hợp tác song phương giữa nước ta và các quốc gia khác trên thế giới đang ngày càng được mở rộng, tiền đề cần thiết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa được đặt ra để phục vụ cho nhu cầu phát triển nền kinh tế đất nước Cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục có những bước tiến lớn với trình độ được nâng cao, từ đó thúc đẩy chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội Các nước đều có cơ hội để phát triển, tuy nhiên do lợi thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước đang phát triển khiến cho các nước chậm phát triển đang phải đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn Là một đất nước có xuất phát điểm thấp và đi lên từ môi trường cạnh tranh khốc liệt, chính điều đó khiến nguy cơ tụt hậu của đất nước ta là vô cùng cao
Trước tình hình đó cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước ta cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Việc này sẽ góp phần đưa đất nước ta ngày càng phát triển và khẳng định được vị thế của mình trên các châu lục Việc đổi mới xã hội có mối quan hệ chặt chẽ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giúp cho công cuộc đổi mới diễn
ra ngày càng mạnh mẽ, đưa đất nước phát triển ngày càng giàu mạnh
Với mong muốn được tìm hiểu kĩ hơn phần chủ nghĩa duy vật biện chứng giữa vật chất với ý thức, em quyết định nghiên cứu đề tài: “Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay” Bên cạnh đó, với tư cách là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
em muốn bài tiểu luận không dừng lại ở những dòng chữ khô khan mà sẽ là một dự án nghiên cứu có mục đích và ý nghĩa, cụ thể là góp phần vào sự nghiệp Cách mạng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân – xây dựng đất nước
Do kiến thức bản thân còn hạn chế nên bài tiểu luận khó tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô cùng các bạn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC
I VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA NÓ
1 Định nghĩa phạm trù vật chất
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước C Mác về phạm trù vật chất
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại về phạm trù vật chất
1.1.1.a Phương Đông cổ đại
- Triết học Ấn Độ có nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù vật chất Điển hình là phái Samkhya cho rằng vật chất đầu tiên là Padhana Padhana không có hình dạng, không khu biệt, không giới hạn…Phái Nyanya và phái Vaisesika cho rằng vật chất chính là nguyên tử Nguyên tử là hạt vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, là cơ sở tồn tại của mọi sự vật trong thế giới Quan điểm của hai trường phái này về cơ bản giống với Thuyết Nguyên tử luận của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
- Triết học Trung Quốc cổ đại có hai học thuyết lớn Thứ nhất là thuyết Âm-Dương cho rằng có hai lực lượng âm-dương đối lập nhau nhưng cố kết, gắn bó, liên hệ chặt chẽ với nhau trong mọi sự vật, hiện tượng, là khởi nguyên của mọi sự sinh thành và biến hóa của sự vật, hiện tượng trong thế giới Thứ hai là thuyết Ngũ Hành, hay còn gọi là quan điểm đa nguyên thể cho rằng có 5 yếu tố vật chất đầu tiên: Kim (kim loại), Mộc (cây cối), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất) liên kết, chuyển hóa tạo nên vạn vật, nằm trong mối quan hệ tương sinh và mối quan hệ tương khắc Tuy học thuyết này còn chưa đầy đủ nhưng so với học thuyết nhất nguyên thì đây là một bước tiến rất lớn trong quá trình nhận thức về vật chất bởi cơ
sở hình thành của mọi vật là một số tương đối rộng lớn
1.1.1.b Phương Tây cổ đại
- Quan niệm của các nhà duy vật thời cổ đại về vật chất mang tính trực quan, cảm tính
Các nhà triết học đồng nhất vật chất với những vật thể cụ thể, họ thừa nhận rằng có một bản nguyên vật chất độc lập tạo nên thế giới Ví dụ Talet cho rằng bản nguyên của thế giới là nước, Anaximen cho rằng bản nguyên của thế giới là không khí, Heraclit lại cho rằng là lửa Đó là những quan niệm thô sơ và chưa thoát khỏi những vật thể hữu hình
Trang 4- Một số nhà duy vật cổ đại ở Hy Lạp và La Mã đã cố gắng đi sâu hơn để tìm ra khối nguyên vật chất chung hơn, sâu kín hơn các vật thể hữu hình như nước, lửa, không khí,… Anaximan cho rằng cơ sở đầu tiên và vĩnh viễn của các hiện tượng tự nhiên
là Apâyron Apâyron là một dạng vật chất vô định và vô tận, trong Apâyron nảy sinh ra các mặt đối lập bao hàm trong nó như nóng-lạnh, khô-ướt Quan niệm về vật chất của Anaximan là một bước phát triển quan trọng trong quá trình nghiên cứu khái niệm vật chất Theo quan niệm của ông, vật chất đạt mức trừu tượng, vượt qua khỏi sự vật cụ thể, cảm tính, hữu hình giống các quan niệm trực quan của Talet, Heraclit…
Thành tựu quan trọng nhất phải kể đến các nhà nguyên tử luận, điển hình là nhà triết học Lờxíp (khoảng 500- 440 TCN) và Đêmôcrít (khoảng 427- 374 TCN) Họ cho rằng nguyên
tử là các hạt vật chất nhỏ nhất và không thể phân chia được nữa Các nguyên tử đồng nhất
về chất nhưng khác nhau về lượng, từ những nguyên tử nhỏ bé tạo thành các vật thể phức tạp và muôn màu muôn vẻ khác
Nhận xét: các nhà duy vật về cơ bản đã xuất phát từ chính thế giới vật chất, từ giới tự nhiên để giải thích cho giới tự nhiên, là cơ sở để các nhà duy vật thời sau phát triển quan điểm về vật chất Vật chất được coi là cơ sở đầu tiên của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Đây cũng chính là cơ sở để đấu tranh chống lại các quan niệm duy tâm tôn giáo Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, quan niệm của các nhà duy vật thời
cổ đại về vật chất vẫn còn một số hạn chế sau Họ đã đồng nhất vật chất với một dạng vật thể cụ thể, lấy một vật chất cụ thể để giải thích cho toàn bộ thế giới vật chất ấy Những yếu tố khởi nguyên mà các nhà tư tưởng đưa ra mới chỉ là các giả định, còn mang tính chất trực quan cảm tính mà chưa được chứng minh trên cơ sở khoa học
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời cận đại về phạm trù vật chất Trong thời kỳ này, cơ học phát triển mạnh và chiếm ưu thế, Niuton là người có công lao
vĩ đại trong lĩnh vực cơ học và đạt nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu cấu tạo và các thuộc tính của vật chất Từ quan niệm khối lượng của các vật thể là bất biến, không phụ thuộc vào vận động, Niuton đồng nhất khối lượng với vật chất, coi vận động của vật chất chỉ là vận động cơ học Nguồn gốc vận động được ông đưa từ bên ngoài vào vật chất và gắn vận động của vật chất chính với “cái hích đầu tiên của Thượng đế” Có thể thấy, nét đặc trưng nổi bật của triết học duy vật thời kỳ cận đại là quy vật chất về nguyên tử, coi nguyên tử là những hạt vật chất nhỏ không phân chia được nữa, đồng nhất vật chất với nguyên tử Đồng thời, trong thời này còn đồng nhất vật chất với khối lượng, tách rời vận động, không gian và thời gian Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này không đưa ra được sự khái quát triết học trong quan niệm về thế giới vật chất do bị hạn chế bởi phương pháp luận siêu hình
Năm 1895, Rơnghen đã phát hiện ra tia X Năm 1896, Béccơren phát hiện được hiện tượng phóng xạ của nguyên tố Urani Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử-một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối
Trang 5lượng của điện tử không hề bất biến mà nó thay đổi theo vận tốc vận động của nguyên tử Năm 1905, A Einstein đã tìm ra thuyết Tương đối hẹp và 1906 tìm ra thuyết Tương đối rộng 2 học thuyết này chứng minh: không gian, thời gian và khối lượng luôn biến đổi cùng với sự vận động của vật chất Thế giới có rất nhiều điều kỳ diệu mà con người đã và đang tiếp tục khám phá: sự chuyển hóa giữa hạt và trường, song và hạt, hạt và phản hạt, hụt khối lượng,v.v Điều này đã khẳng định dự đoán của Ph Ăngghen: “Không thể coi nguyên tử là phần tử nhỏ nhất của vật chất đã biết”, và của V.I.Lênin: “Điện tử cũng vô cùng tận như nguyên tử, tự nhiên là vô tận” là hoàn toàn đúng đắn
1.2 Quan niệm của triết học Mác-Lênin về vật chất
1.2.1 Quan niệm của Ph Ăngghen
Theo Ph Ăngghen, để có một quan niệm đúng đắn về vật chất, phải phân biệt rõ ràng giữa vật chất với tính cách là một phạm trù triết học- một sáng tạo, một công trình trí óc của tư duy con người trong quá trình phản ánh hiện thực chứ không phải là sản phẩm chủ quan của tư duy Các sự vật, hiện tượng của thế giới dù rất phong phú và đa dạng nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung và thống nhất đó là tính vật chất (tính tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào ý thức) Thông qua hai tác phẩm “Chống Duhring” và “Biện chứng của tự nhiên”, Ăngghen cho rằng sai lầm của các nhà khoa học tự nhiên là cho thế giới vật chất và mọi dạng vật chất đều có cơ sở đầu tiên của mình Ăngghen đưa ra quan niệm
“Thực thể, vật chất không phải cái gì khác hơn là tổng số những vật thể” Từ đó người ta rút ra khái niệm ấy bằng con đường trừu tượng hoá; vận động với tính cách là vận động không phải là cái gì khác hơn là tổng số những hình thức vận động có thể cảm biết được bằng các giác quan; những từ như “vật chất”, “vận động” chỉ là sự tóm tắt mà trong
đó chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung của chúng, rất nhiều sự vật khác nhau
có thể cảm biết được bằng các giác quan, vì thế chỉ có thể nhận thức được vật chất và vận động bằng cách nghiên cứu những vật thể riêng biệt và những hình thức riêng lẻ của vận động, khi chúng ta nhận thức được những cái đó thì chúng ta cũng nhận thức được vật chất và vận động với tính cách là vật chất và vận động Ở một góc độ khác, Ăngghen cho rằng: “Vật chất, với tính cách là vật chất, là một sáng tạo thuần túy của tư duy và là một
sự trừu tượng thuần túy.”
1.2.2 Quan niệm của V.I.Lênin
Lê nin đã tiến hành tổng kết toàn diện các thành tựu của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ, đồng thời đấu tranh với mọi biểu hiện của chủ nghĩa hoài nghi, duy tâm Lênin đã tìm kiếm phương pháp định nghĩa mới cho phạm trù vật chất, đặt nó đối lập với phạm trù ý thức
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, với tư cách là một phạm trù triết học thì triết học là một sự trừu tượng Vì vậy,
“chúng ta không biết, vì chưa có ai nhìn được và cảm thấy vật chất với tính cách là vật chất…bằng con đường cảm tính nào khác” Sự trừu tượng này chỉ các đặc điểm và tính chất chung nhất, bản chất nhất mà mọi sự vật, hiện tượng cụ thể nào của vật chất cũng có
Đó là đặc tính tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người Đặc tính này là
Trang 6tiêu chuẩn cơ bản duy nhất để phân biệt đâu là vật chất, đâu không phải là vật chất Vật chất luôn có hai mặt phân biệt nhau nhưng lại gắn bó với nhau, đó là tính trừu tượng và tính cụ thể
Thứ hai, thực tại khách quan đã đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác Trong nội dung này, Lênin làm rõ mối quan hệ giữa thực tại khách quan và cảm giác thực tại khách quan (tức vật chất) là cái có trước ý thức, không phụ thuộc và hoàn toàn độc lập với ý thức, còn cảm giác (tức ý thức) của con người là cái có sau và phụ thuộc vào vật chất Vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách quan của tri thức,
là nguyên nhân phát sinh ra ý thức, không có cái bị phản ánh là vật chất sẽ không có cái phản ánh là ý thức
Thứ ba, thực tại khách quan được cảm giác của chính chúng ta ghi chép lại để phản ánh.
Lênin chứng minh rằng vật chất là thứ tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại một cách vô hình mà tồn tại một cách hiện thực dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể mà con người có thể nhận biết được bằng các giác quan của mình (theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp) Ngoài dấu hiệu tồn tại khách quan, vật chất còn có 1 dấu hiệu quan trọng khác
là tính có thể nhận thức được Chính vì vậy, theo nguyên tắc, không có đối tượng nào là không thể nhận biết được, chỉ có những đối tượng chưa thể nhận thức Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã đưa ra lời giải đáp đúng đắn và vô cùng khoa học cho vấn đề cơ bản của triết học
2 Các hình thức tồn tại của vật chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng vật chất tồn tại bằng vận động và vận động của vật chất diễn ra ở trong không gian và thời gian Vì thế ta nói, vận động, không gian và thời gian là các hình thức tồn tại của vật chất Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng như sự phát triển của khoa học hiện đại đã chứng minh rằng: chúng ta không thể hiểu vận động chỉ theo nghĩa cơ học mà phải hiểu theo nghĩa chung nhất Theo Ph Ăngghen: “Vận động-hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi
và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ kể từ thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.”
Vận động là một thuộc tính cố hữu của vật chất
Với sự phát triển của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên đã khẳng định quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vận động là đúng đắn Bất kì sự vật hiện tượng nào cũng là một hệ thống có kết cấu nhất định Các yếu tố của hệ thống ấy không tách rời nhau mà ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Thông qua việc tác động qua lại đã làm cho sự vật, hiện tượng đó biến đổi các thuộc tính và quan hệ, trạng thái của sự vật hiện tượng Khoa học đã chứng minh trong nguyên tử có sự tác động qua lại giữa hạt nhân và các điện tử, trong cơ thể sống có sự tác động giữa phân tử của các tế bào và các cơ quan để tạo nên cơ thể sống đó, đồng thời là sự tác động giữa cơ thể sống và môi trường bên ngoài Xã hội loài người vận động nhờ sự trao đổi hoạt động giữa con người và chủ thể với nhau, giữa con người với con người, giữa xã hội với tự nhiên Vận động của vật chất là tự thân vận động, nguyên nhân,
Trang 7nguồn gốc của vận động nằm trong chính bản thân vật chất, chứ không phải nhờ 1 lực lượng siêu tự nhiên nào làm cho thế giới vận động
Vận động là một phương thức tồn tại của vật chất
Vật chất chỉ tồn tại bằng cách vận động và chỉ thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình Con người chỉ nhận thức sâu sắc về sự vật thông qua trạng thái vận động của giới vật chất Vật chất không do ai sáng tạo ra, cũng không thể bị tiêu diệt, vận động là một thuộc tính vốn có của vật chất, không một ai có thể tạo ra nó và nó không thể bị tiêu diệt
Các hình thức vận động của vật chất
+ Vận động cơ giới: là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian + Vận động vật lý: là vận động của các phân tử, của các hạt cơ bản, của các điện tử, quá trình nhiệt, điện,…
+ Vận động hóa học: là vận động của các nguyên tử, của các quá trình hóa học
và phân giải các chất
+ Vận động sinh học: là quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống vs môi trường + Vận động xã hội: là sự biến đổi, thay thế của các hình thái kinh tế xã hội
5 hình thức trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Một hình thức vận động nào đó được thực hiện là do có sự tác động qua lại với nhiều hình thức vận động khác Một hình thức vận động này luôn có khả năng chuyển hóa thành hình thức vận động khác Các hình thức vận động có sự khác nhau về chất, từ vận động cơ học đến vận động xã hội là sự khác nhau về trình độ của sự vận động Các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp hơn Trong khi các hình thức vận động thấp hơn không có khả năng bao hàm các hình thức ở trình độ cao Trong sự tồn tại của mình, mỗi một sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khác nhau Tuy nhiên bản thân sự tồn tại của sự vật bao giờ cũng đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất
II NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, KẾT CẤU CỦA Ý THỨC
1 Nguồn gốc của ý thức
- Chủ nghĩa duy tâm cho rằng: ý thức là bản thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình đã chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa ý thức với vật chất Họ xuất phát từ thế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc của ý thức Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức xuất hiện là kết quả của quá tình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử của con người
1.1 Nguồn gốc tự nhiên
Nguồn gốc tự nhiên dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh
lý học thần kinh Các nhà duy vật biện chứng cho rằng nguồn gốc tự nhiên của ý thức có 2 yếu tố không thể tách rời nhau: bộ óc con người và thế giới bên ngoài tác
Trang 8động lên não người Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là não bộ con người Chỉ con người mới có ý thức, không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật thông minh Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não con người Tuy nhiên nếu chỉ có bộ não mà không có thế giới bên ngoài tác động lên nó thì cũng sẽ không có ý thức Bởi vậy nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai là thế giới khách quan Vậy tại sao não người lại có ý thức? Đó là nhờ vào lý thuyết phản ánh-đóng góp to lớn của Lênin
Phản ánh là thuộc tính phổ biến của vật chất, là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau Kết quả của phản ánh phụ thuộc vào cái phản ánh và cái được phản ánh Các vật thể ở trình độ kết cấu cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng hiệu quả,
ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc
1.2 Nguồn gốc xã hội
Bên cạnh nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội cũng là điều kiện tiên quyết trực tiếp và quan trọng trong sự ra đời của ý thức Nguồn gốc xã hội bao gồm lao động
và ngôn ngữ Lao động là hoạt động có mục đích sáng tạo của con người Nhờ vào lao động, con người tác động lên các đối tượng hiện thực, bắt chúng bộc lộ những kết cấu, thuộc tính, những quy luật vận động thành các hiện tượng nhất định và các hiện tượng này tác động vào bộ não con người Sự hình thành của ý thức không chỉ phụ thuộc vào thế giới khách quan tác động lên bộ não con người mà còn do hoạt động của con người cải tạo thế giới khách quan và làm biến đổi thế giới đó Nhờ lao động mà các bộ phận của cơ thể, các giác quan được hoàn thiện trong quá trình phản ánh thế giới xung quanh Lao động góp phần cải tạo chế độ dinh dưỡng, làm cho bộ não và hệ thần kinh phát triển
Bản thân quá trình lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể và tính xã hội Vì vậy xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm lao động và trao đổi tư tưởng, tình cảm, chính nhu cầu đó đòi hỏi sự xuất hiện của ngôn ngữ Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, nếu không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội đồng thời là công cụ tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết thực tiễn, trao đổi thông tin và tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Theo C Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức Ngôn ngữ là hình thức vật chất của các hình thức và quy luật của tư duy Con người không thể tư duy nếu không dùng tới ngôn ngữ
2 Bản chất của ý thức
Trang 92.1 Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Ý thức là “hình ảnh” về hiện thực khách quan trong óc người: nội dung phản ánh
là khách quan, hình thức phản ánh là chủ quan Ý thức là sự phản ánh tích cực, sáng tạo gắn với thực tiễn xã hội, ý thức là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng và mục đích rõ rệt, thông qua thực tiễn con người làm biến đổi thế giới, ý thức phản ánh ngày càng sâu sắc, từng bước xâm nhập vào các tầng bản chất, quy luật, từ đó hình thành nên các tri thức mới để chỉ đạo con người trong hoạt động thực tiễn và sáng tạo ra thiên nhiên thứ hai in đậm dấu ấn con người Sáng tạo là đặc trưng bản chất nhất của ý thức, sự phản ánh của ý thức là một quá trình thống nhất gồm 3 mặt:
Mặt thứ nhất là trao đổi thông tin giữa chủ thể với đối tượng phản ánh Sự trao đổi
này mang tính chất hai chiều, có định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết
Mặt thứ hai là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới hình ảnh tinh thần Thực
chất đây là quá trình sáng tạo lại hiện thực, mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất Dựa trên cơ sở đó con người mới xây dựng được các giả thuyết khoa học và các học thuyết khoa học
Mặt thứ ba là vận dụng để cải tạo hoạt động thực tiễn, con người chuyển hóa mô
hình từ tư duy sang hiện thực khách quan Biến các quan niệm thành thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực và từ
đó cải tạo hoạt động của con người cho phù hợp với nhu cầu đời sống của chính chúng ta
2.2 Ý thức mang bản chất lịch sử, xã hội
Ý thức được thực hiện thông qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người, nhưng không phải sản phẩm thuần túy mang tính chất hoạt động riêng lẻ của mỗi cá nhân riêng biệt Trái lại nó mang tính xã hội và được thể hiện từ nguồn gốc hình thành đến phương thức tồn tại và phát triển của nó, gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và nhu cầu giao tiếp của con người Do đó khi đề cập đến vấn đề này C Mác khẳng định rằng:
“Ý thức là một sản phẩm của xã hội và vẫn là như vậy, chừng nào con người còn tồn tại.”
3 Kết cấu của ý thức
Nếu ta cắt dọc thì ý thức bao gồm 3 bộ phận là vô thức, tiềm thức và tự ý thức Nếu chúng ta cắt ngang thì ý thức bao gồm tri thức, tình cảm và ý chí
III Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được coi là “vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại” Tùy theo lập trường và thế giới quan khác nhau mà khi giải quyết vấn đề trên đã xuất hiện nhiều đường lối khác nhau Trong số đó có
Trang 10các nhà triết học của chủ nghĩa Mác lê nin đã nắm vững phép biện chứng duy vật
và luôn theo sát kịp thời các tiến bộ của khoa học tự nhiên, họ đã nêu lên các quan điểm khoa học đúng đắn nhất về mặt triết học hai lĩnh vực lớn nhất là vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng Theo triết học Mác Lênin: “Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.”
1 Vật chất quyết định ý thức
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Vật chất “sinh ra” ý thức, ý thức chỉ xuất hiện khi loài người xuất hiện và bộ óc người phát triển Ý thức còn là kết quả của quá trình phản ánh hiện thực khách quan, gắn liền với hoạt động lao động và biểu hiện thông qua ngôn ngữ Do đó, nếu không có vật chất, cụ thể là các yếu tố như bộ não người, sự tác động của thế giới khách quan lên bộ não người, quá trình phản ánh, lao động và ngôn ngữ thì ý thức không thể được sinh ra, tồn tại và phát triển
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức
Ý thức là “hình ảnh” của thế giới khách quan cho nên nội dung của nó là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở của thực tiễn Sự phát triển của hoạt động thực tiễn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu là động lực mạnh mẽ quyết định tính phong phú và độ sâu sắc của tư duy và ý thức con người
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức.
Trên cơ sở của hoạt động thực tiễn, ý thức con người là sự phản ánh một cách tự giác, tích cực và sáng tạo thế giới khách quan Do đó, hoạt động thực tiễn, cải biến thế giới của con người là cơ sở để hình thành và phát triển ý thức
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức.
Khi vật chất biến đổi thì sớm hay muộn ý thức cũng biến đổi theo Khi đời sống vật chất thay đổi thì đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm cũng sẽ thay đổi theo
Do đó, muốn giải thích một cách đúng đắn các hiện tượng trong đời sống chính trị, văn hóa phải xuất phát từ hiện thực sản xuất, từ đời sống kinh tế
2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có “đời sống
riêng”, quy luật vận động, biến đổi và phát triển không phụ thuộc một cách máy móc vào vật chất Do đó, ý thức có thể thay đổi nhanh hoặc chậm hơn so với hiện thực Thông thường ý thức thay đổi chậm so với sự biến đổi của thế giới vật chất
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với thế giới vật chất phải thông qua hoạt động
thực tiễn của con người Bản thân ý thức tự nó không thể làm biến đổi hiện thực