Nền văn hóa thời kì Bắc thuộc I.Nguồn gốc bối cảnh lịch sử : Vào những thế kỉ cuối của thiên niên kỉ TCN; nền văn hoá Việt cổ bắt đầu chịu những thử thách ghê gớm.. Đáng chú ý là ở Th
Trang 1Nền văn hóa thời kì Bắc thuộc
I.Nguồn gốc ( bối cảnh lịch sử) :
Vào những thế kỉ cuối của thiên niên kỉ TCN; nền văn hoá Việt cổ bắt đầu chịu những thử thách ghê gớm Quốc gia Văn Lang; sau đó là Âu Lạc và dân tộc hầu như vừa được xác lập và tồn tại chưa được bao lâu
đã rơi vào tình trạng bị đô hộ Năm 179 TCN; Triệu Đà vua nước Nam Việt đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Đông- Trung Quốc ngày nay) xâm chiếm nước Âu Lạc; chia Âu Lạc ra thành hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân Năm 111 TCN; nhà Hán chiếm được nước Nam Việt; đổi vùng đất của Âu Lạc thành châu Giao Chỉ; dưới đó là bảy quận; với chức quan đầu châu là thứ sử; đầu quận là thái thú
Thời kì này kéo dài từ năm 179 TCN (tuy vậy nó được bắt đầu thực
sự sau thất bại của khởi nghĩa Hai Bà Trưng; năm 43 sau công nguyên) tới năm 938 với chiến thắng của Ngô Quyền mở đầu cho kỉ nguyên độc lập thời tự chủ của quốc gia Đại Việt Thời kì này thường được gọi là thời nghìn năm Bắc thuộc; song có lẽ đúng hơn là thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc; vì người Việt chưa bao giờ chịu khuất phục Tổ tiên ta đã “mất nước” Bấy giờ không còn một nước Việt cổ đại; và nếu nói như F Ăngghen thì bấy giờ dân Việt cổ “không còn
có một hành động độc lập trong lịch sử ”
II.Những yếu tố đặc trưng
1, Địa lý:
Trang 2Năm 179tcn nhà Triệu chia Âu Lạc làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân Giao Chỉ (nay là miền Bắc Việt Nam và phía đông Quảng Tây), Cửu Chân (nay là 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) Năm 111tcn, nhà Hán chiếm đc Nam Việt, lãnh thổ cũ bị chia thành 6 quận, đồng thời xác nhập thêm 3 quận mới trong đó
có Nhật Nam (nay là từ đèo Ngang đến Quảng Nam
2, Niên đại
A.Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 218 TCN hoặc 179 TCN hoặc 111 TCN đến năm 39, dưới sự cai trị của phong kiến Trung Quốc
+Thời điểm bắt đầu
Dấu mốc xác định thời Bắc thuộc đầu tiên chưa thống nhất giữa các sử gia, do quan niệm khác nhau về nước Nam Việt và Triệu Đà
- Quan điểm thừa nhận Triệu Đà là vua chính thống của Việt Nam (Đại Việt
sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam sử lược) xác định rằng khi nhà Triệu bị Hán Vũ Đế diệt năm 111 TCN lúc bắt đầu thời
Trang 3Bắc thuộc Theo mốc thời gian này, thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 150 năm Theo quan điểm này, thời Bắc thuộc lần 1 thực chất là thời thuộc Hán
- Quan điểm không thừa nhận Triệu Đà là vua chính thống của Việt Nam (Việt sử tiêu án, các sách Lịch sử Việt Nam của các sử gia hiện đại) xác định thời Bắc thuộc bắt đầu từ khi Triệu Đà diệt An Dương Vương:
+ Sử cũ thường xác định An Dương Vương và nước Âu Lạc bị tiêu diệt năm 207 TCN Theo mốc thời gian này, thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 246 năm + Sử hiện đại căn cứ theo ghi chép của Sử ký Tư Mã Thiên là Triệu Đà diệt nước Âu Lạc "sau khi Lã Hậu mất", tức là khoảng năm 179 TCN Theo mốc thời gian này, thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 218 năm
B.Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 43 đến năm 543 Thời kỳ này bắt đầu khi Mã Viện theo lệnh Hán Quang Vũ Đế nhà Đông Hán đánh chiếm lại bộ Giao Chỉ từ tay Trưng Vương, kéo dài đến khi Lý
Bí khởi binh đánh đuổi thứ sử[1] nhà Lương là Tiêu Tư năm 542 rồi lập ra nước Vạn Xuân năm 544
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 2 kéo dài khoảng 500 năm
C.Thời kỳ Bắc thuộc lần ba
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 602 đến năm 905
Thời kỳ này bắt đầu khi Tùy Văn Đế sai Lưu Phương đánh chiếm nước Vạn Xuân, bức hàng Hậu Lý Nam Đế, kéo dài cho đến khi Khúc Thừa Dụ tiến vào Đại La, giành quyền cai quản toàn bộ Tĩnh Hải quân năm 905 - thời Đường Ai
Đế, ông vua bù nhìn trong tay quyền thần Chu Ôn
3, Hiện vật
Âu Lạc rơi vào ách thống trị của Nam Việt trong bối cảnh hóa Đông Sơn đang phát triển đến đỉnh cao, tiêu biểu là trống đồng Cổ Loa (loại I) bên trong có gần
200 hiện vật đồng gồm vũ khí (giáo, lao, mũi tên đồng, rìu xéo), công cụ sản xuất (lưỡi cày đồng, dao nhỏ); khuôn đúc mũi tên 3 cạnh và hàng vạn mũi tên đồng… tìm được trong lòng đất Cổ Loa Thời kỳ này văn hóa Đông Sơn vẫn phát triển và giữ vai trò chủ đạo trong dòng chẩy văn hóa trên địa bàn Âu Lạc
Trang 4cũ, tuy nhiên cũng đã có sự tiếp xúc với văn hóa Hán và cũng bắt đầu có sự dung hợp văn hóa Hán – Việt
Trong một số ngôi mộ Đông Sơn, các nhà khảo cổ học đã nhận ra bên cạnh đồ đồng “kiểu Đông Sơn” đã có một ít đồ đồng kiểu Hán Mộ thuyền Việt Khê (Thủy Nguyên, Hải Phòng) ngoài những đồ đồng dáng vẻ Đông Sơn như trống đồng loại I, rìu lưỡi xéo… là một số đồ đồng Trung Quốc như đỉnh đồng, chuông đồng nhỏ có chữ triện Đáng chú ý là ở Thiệu Dương, Đông Sơn (Thanh Hóa), Châu Can (Phú Xuyên, Hà Nội) có nhiều ngôi mộ cổ thuộc thời kỳ cuối Tây Hán, đầu Đông Hán được khai quật có nhiều công cụ và vũ khí bằng đồng, gương đồng, tiền Ngũ Thù… về hình loại có nhiều nét tương tự như các đồ đồng phát hiện được trong các mộ cổ quách gỗ tại Quảng Châu (Trung Quốc) Bên cạnh đồ đồng ở các di chỉ Đông Sơn và Thiệu Dương, khảo cổ học còn tìm được một số đồ sắt như rìu, dao, kiếm Những đồ sắt này có thể do người Trung Quốc mang sang, do mua bán, trao đổi, nhưng chắc chắn không ít trong đó là được chế tạo tại chỗ mà chứng tích còn có thể tìm thấy ở các địa điểm thuộc văn hóa Đường Cồ như Gò Chiền Vậy, Cổ Loa… Kỹ thuật rèn đúc sắt bắt đầu phát triển đánh dấu một bước chuyển biến rất quan trọng của nền văn hóa vật chất và kinh tế vùng Giao Chỉ, Cửu Chân
Tư liệu khảo cổ học cho phép hình dung trong hơn hai thế kỷ Bắc thuộc lần thứ nhất trên đất Âu Lạc cũ, bên cạnh những xóm làng của người Việt là những nhà sàn dựng dọc theo bờ một con sông hay cụm lại ở khu vực ngã ba sông cổ còn
có thành quách với nhà cửa, giếng nước, bếp lò, chuồng trại của người Hán Bên cạnh những mộ đất, mộ quan tài hình thuyền với những đồ tùy táng thuộc loại hình văn hóa Đông Sơn và những mộ đất, mộ quách gỗ với những hiện vật chôn theo thuộc văn hóa Hán hoặc mang những nét đặc trưng của văn hóa phương Bắc Các công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí trong các mộ Việt như đồ gốm Đường Cồ, Đông Sơn, rìu lưỡi xéo, trống đồng và trong các mộ Hán như đỉnh, bình miệng vuông, kiếm, dao, sắt, cốc đốt trầm, móc đai lưng, gương đồng, các hiện vật thuộc văn hóa Hán được chôn cùng với các hiện vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn trong mộ Việt và các hiện vật Đông Sơn hay mang kiểu dáng đặc trưng Đông Sơn trong mộ Hán… không chỉ xác nhận sự tồn tại song song của hai lối sống, hai phương thức sinh hoạt, mà bước đầu đã có sự thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau giữa hai khu vực Việt – Hán Như thế lúc này trên
cơ tầng văn hóa Việt đã vận hành một cơ chế Hán, trong đó lối sống và văn hóa Việt do tiếp xúc lâu dài và trực tiếp với văn hóa Hán đã diễn tiến dưới ảnh hưởng của văn hóa Hán và đang biến đổi từ mô hình Đông Sơn cổ truyền sang
mô thức mới Việt – Hán
Trang 54, Kiến trúc
Hàng nghìn năm dưới ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, với âm mưu đồng hóa và áp đặt, song nền văn hóa dân tộc Việt Nam vẫn trường tồn chắc chắn đã có sự đổi mới để phát triển Những di sản kiến trúc trên mặt đất từ thế
kỷ X trở về trước đến nay không còn; chỉ còn lại một số di tích dưới lòng đất
Đó là những ngôi mộ thời Hán , các di tích khảo cổ này nói lên kỹ thuật xây dựng cổ truyền Hán Việt trên đất Việt Nam thể hiện qua những viên gạch nung
có hoa văn xây trong mộ cổ, cũng như kỹ thuật xây mộ
Trong gần 1000 năm độc lập phát triển, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, kiến trúc truyền thống Việt Nam có những đặc điểm sau:
Đô thị: đã hình thành được một số các đô thị cổ Trong đô thị cổ có thành cổ (nơi vua quan và binh lính ở), khu thị dân, chợ và hệ thống các công trình tôn giáo tín ngưỡng Đô thị được hình thành theo thuật phong thủy; cụ thể dựa vào địa hình thiên nhiên và mối quan hệ thiên – địa - nhân Các phố phường trong
đô thị được hình thành và sự quản lý phố phường không khác gì ở các làng xã Ngăn giữa các phố phường là các cổng ngõ kiến trúc nhà ở buôn bán là các nhà hình ống chủ yếu là 1 tầng và một tầng có kèm gác lửng, hạ tầng kỹ thuật đô thị
Trang 6rất sơ lược các khu phố cổ trong đô thị Việt Nam còn đến nay là dấu ấn của các khu thị dân đô thị cổ
Kiến trúc công trình từ cung điện đến kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng, nhà ở truyền thống…đều có chung một đặc điểm là cấu trúc theo gian trên cơ sở của một hệ khung kết cấu gỗchịu lực kích thước không gian của nhà vừa đủ cho sử dụng và phù hợp với tỷ lệ kích thướchoạt động của người Việt Nam.Sự khác nhau về kiến trúc truyền thống qua các triều đại là ởcấu trúc của các thể loại vì kèo, kẻ hiên, độ cong của mái và kỹ thuật, nghệ thuật thể hiệncác hoa văn trang trí trên các thành phần kiến trúc truyền thống
Trang 8-Từ tổng thể đến công trình kiến trúc đều không có bản vẽ thiết kế trước khi xây dựng, phần lớn làm theo kinh nghiệm truyền khẩu – dựa trên thước tầm
- Công trình được xây dựng bằng vật liệu địa phương.Từ những tổng thể công trình kiến trúc truyền thống Việt Nam;
Nhiều nhà nghiên cứu kiến trúc Việt Nam đều thấy thống nhất những nhận định
về bản sắc dân tộc sau:
-Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc gồm 54 dân tộc, dân tộc Kinh là chủ đạo, chiếm 87,1%; kiến trúc truyền thống của dân tộc Kinh là tiêu biểu cho cả nước và cho các đô thị Việt Nam, đặc biệt là các đô thị vùng đồng bằng miền
Trang 9biển.Bên cạnh kiến trúc truyền thốngcủa dân tộc kinh, kiến trúc dân gian của các dân tộc khác ở Việt Nam cũng là bản sắc riêngcủa từng địa phương Tính bảo lưu của đặc trưng kiến trúc truyền thống có tính bền vữnghơn Trong các kiến trúc truyền thống của các dân tộc có:
- Kiến trúc Chàm với các tháp Chàm:
–Di tích của nền văn hóa Chăm – pa chịu ảnh hưởng của nền văn hóa cổ trung đại Ấn Độ Nghệ thuật kiến trúc tháp Chàm là nghệ thuật của kiến trúc xây bằng gạch với kỹ thuật vànghệ thuật đặc sắc tiêu biểu của miền Trung đất nước -Kiến trúc Khơ – me tiêu biểu củamiền Đông Nam Bộ, kiến trúc đồng bào các dân tộc Tây nguyên tiêu biểu cho khu vực miền Nam Trung Bộ
Kiến trúc Mường tiêu biểu cho vùng Hòa Bình, kiến trúc Thái vùng núi TâyBắc Bắc Bộ và kiến trúc đồng bào Tày Nùng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc…
Trang 10Kiến trúc dân tộc Kinh tiêu biểu cho cả nước vời các bản sắc sau:
1 Kiến trúc có ý đồ bố cục, có tính biểu tượng,ẩn dụ, hàm súc, có hình tượng nghệ thuật, từ nội dụng đến hình thái chứa đựng tính triết lý ( triết học phuơng Đông) nghệ thuật thâm trầm, tế nhị, kín đáo nhưng sâu lắng và thâm thúy trí tuệ
2 Kiến trúc xinh xắn, dàn trải, gắn bó, hài hòa với thiên nhiên, không gian
và hình khối kiến trúc như là một yếu tố hữu cơ của cảnh quan thiên nhiên (Tháp chùa Phật tuy nhiều tầng nhưng cũng bé nhỏ, điểm xuyết cho không gian)
Trang 112 Không gian sử dụng linh hoạt, đa năng, dể dàng biến đổi thích ứng cho các điều kiện sinh hoạt, hoạt động trong không gian kiến trúc Có sự kết hợp khéo léo 3 loại không gian:không gian kín; không gian bán kín, bán hở và không gian hở
4 Tỷ lệ không gian rất gần gũi, gắn bó với hoạt động của con người Tỷ lệ giữa các bộ phận công trình hài hòa, thống nhất
5 Kiến trúc sử dụng điêu khắc, chạm khắc màu sắcnhư một yếu tố phụ trợ tích cực tăng tính nghệ thuật cho công trình, mặt khác là phương tiện diễn đạt ýnghĩa biểu trưng, cái thần của công trình, như sửdụng các hoa văn ( động vật quý, cây cối hoa lá…)đầy ý nghĩa tượng trưng
Trang 126 Tính hợp lý của kết cấu, tính đơn giản, thốngnhất tính điển hình và tính tiêu chuẩn thấy rõ trong bộ khung gỗ chịu lực của công trình
7 Về ngoại hình của kiến trúc truyền thống Việt Nam là loại có mái dốc thẳng – đấu dốc mái có loại uốn cong với các trang trí trên dốc mái, trên góc mái phong phú – có loại hai đầu hồi thẳng mái che cho than nhà than nhà là
hệ cột khung với hang hiên
Trang 135, Hán hóa hay còn gọi là Trung Quốc hóa hoặc Hoa hóa dùng để chỉ quá trình tiếp thu, chuyển đổi của các nền văn hóa của các dân tộc khác sang nền văn hóa Hán
Về mặt thời gian Năm 207 tr.CN (sử liệu khác: 179) sau khi đánh chiếm Âu Lạc, Triệu Đà lập ra nước Nam Việt Năm 111 trước công nguyên, nước Nam Việt bị thôn tính vào đế quốc Hán, nước Âu Lạc lúc ấy thuộc nước Nam Việt cũng bị thôn tính theo Từ đó nước ta rơi vào ách đô hộ của PKPB trong suốt hơn 1000 năm Giai đoạn đau thương này kết thúc khi Ngô Quyền với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 mở ra thời kì độc lập tự chủ cho dân tộc
Về mặt không gian, lịch sử Nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc chia thành quận, huyện Địa bàn trải rộng từ biên giới Việt Trung ngày nay đến bắc Trung bộ (Quảng Bình)
Đặc điểm VH thời kì này Lịch sử các cộng đồng dân tộc Việt Nam trong suốt thời kỳ Bắc thuộc là lịch sử của một cuộc đấu tranh đề kháng dai dẳng, bền bỉ
để bảo tồn giống nòi, bảo vệ nền văn hoá dân tộc và giải phóng đất nước Cuộc đấu tranh chống ách đô hộ của phong kiến phương Bắc thành công nên mới tồn tại nền văn hoá Việt Nam hiện nay
6, Văn hóa vật chất
Ngay trong khi vay mượn; nhân dân ta vẫn thể hiện được tinh thần sáng tạo
Về văn hoá vật chất; từ chỗ tiếp thu được kĩ thuật làm giấy của Trung Quốc; nhân dân ta đã biết tìm tòi; khai thác nguyên liệu địa phương (gỗ trầm; rêu biển)
để chế tác những loại giấy tốt; chất lượng; có phần hơn giấy sản xuất ở miền nội địa Trung Hoa Trong khi chịu ảnh hưởng của kĩ thuật gốm sứ Trung Quốc; ta vẫn sản xuất ra các mặt hàng độc đáo như sanh hai quai (Trung Quốc chỉ có chảo); ống nhổ; bình con tiện đầu voi; bình gốm có nạm hạt đá ở chung quanh
cổ tựa như loại “iang”của đồng bào Mơnông gần đây
7, Văn hoá tinh thần:
Chủ thể mang truyền thống văn hoá ngàn xưa và sáng tạo nền văn hoá mới trong khi không ngừng hấp thu và hội nhập những yếu tố văn hoá ngoại sinh là người Việt cổ Đấu tranh văn hoá; trước tiên là sự đấu tranh thường xuyên chống âm mưu đồng hoá của kẻ thù để bảo tồn nòi giống Việt
Biểu hiện rõ rệt của sự bảo tồn giống nòi và văn hoá Việt đặng chống đồng hoá
là sự bảo tồn tiếng Việt; tiếng mẹ đẻ; tiếng nói của dân tộc
Trang 14Tiếng nói là một thành tựu văn hoá; là một thành phần của văn hoá Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ được xác lập từ xưa ở miền Đông Nam Á và điều đó chứng tỏ cái gốc tích lâu đời; bản địa của dân tộc ta trên dải đất này
Khi bị đế chế Trung Hoa chinh phục và kiểm soát chặt chẽ; tiếng Hán- và chữ Hán- được du nhập ồ ạt vào nước ta Song nó không thể tiêu diệt được tiếng Việt bởi một lí do rất đơn giản là chỉ một lớp người thuộc tầng lớp trên học Nhân dân lao động trong các xóm làng Việt cổ vẫn sống theo cách sống riêng của mình; cho nên họ duy trì tiếng nói của tổ tiên; tiếng nói biểu hiện cuộc sống
và tâm hồn người Việt
Cố nhiên; dưới ách thống trị lâu năm của người ngoài; trong cuộc sống đã xảy
ra những biến đổi về vật chất và tinh thần; đã nảy sinh những nhu cầu mới Cho nên tiếng Việt cũng phải biến đổi và phát triển Trải qua nhiều thế kỉ; tiếng Việt ngày càng xa với trạng thái ban đầu của nó Nó đã hấp thu những yếu tố ngôn ngữ Hán Tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán
Người ta thấy nhiều từ gốc Hán ngay cả trong vốn từ vị cơ bản và trong các hư
từ Nhưng nhân dân ta đã hấp thu ảnh hưởng của Hán ngữ một cách độc đáo; sáng tạo; đã Việt hoá những từ ngữ ấy bằng cách dùng; cách đọc; tạo thành một lớp từ mới mà sau này người ta gọi là từ Hán- Việt (Có một quá trình ngược lại; nhiều từ Việt được hội nhập vào Hán ngữ và tạo nên một lớp từ Việt- Hán)
Từ thời Hán; nền văn học nghệ thuật Trung Quốc đã đạt đến trình độ cao và có ảnh hưởng lớn ở vùng Đông Á Nền văn học nghệ thuật ấy cũng dần dần được
du nhập vào nước ta Do du nhập bằng con đường nô dịch; với mục đích nô dịch nên mức độ truyền bá cũng chậm và mức độ tiếp thu của ta cũng hạn chế nhiều Nhưng dù sao nó cũng để lại dấu ấn trên sự phát triển của nền văn hoá Việt Thời Văn Lang; Âu Lạc; ta chưa có một nền văn học chính thức và thành văn tuy vẫn có một đời sống văn hoá khá cao
Nét đặc trưng của nó là văn hoá ngôn từ (chứ không phải chữ nghĩa sách vở) với phương thức thông tin truyền miệng Nền văn nghệ dân gian của ta khá giàu
có và tiếp tục phát triển dưới dạng các huyền thoại; huyền thích hay cao dao; tục ngữ Cuộc sống của nông dân còn hạn chế trong khuôn khổ xóm làng; vùng địa phương; với những điều kiện còn chật hẹp; cho nên sự sáng tạo về nghệ thuật còn mang tính chất giản dị Sự du nhập nền văn học nghệ thuật Trung Quốc đã
có một tác dụng tích cực nhất định đối với đời sống văn hoá Việt Nam; nhất là ở một số trung tâm chính trị và buôn bán tập trung như Luy Lâu; Long Biên… Cho đến một hai thế kỉ sau công nguyên; văn hoá Đông Sơn và nghệ thuật Đông Sơn vẫn tiếp tục tồn tại tuy đang trên đà suy thoái mạnh